Tài liệu Vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái, nghiên cứu trường hợp 9 phường thuộc thành phố tuy hoà, tỉnh phú yên

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 453 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐÀO THỊ VIÊN VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON CÁI (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP 9 PHƢỜNG THÀNH PHỐ TUY HOÀ – TỈNH PHÚ YÊN) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI, năm 2017 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐÀO THỊ VIÊN VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON CÁI (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP 9 PHƢỜNG THÀNH PHỐ TUY HOÀ – TỈNH PHÚ YÊN) Chuyên ngành: Xã hội học Mã số: 60 31 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ NGỌC VĂN HÀ NỘI, năm 2017 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Khoa Xã hội học, cơ sở học viện tại thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy, cô trong Học viện Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức mới về chuyên ngành Xã hội học và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học tại Học viện. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS. Lê Ngọc Văn, một người thầy chân thành, trách nhiệm đã hướng dẫn tôi với tất cả lòng nhiệt tình của người thầy giáo trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Phú Yên, Trường THPT Nguyễn Huệ, Trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Chuyên Lương Văn Chánh, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trường và các gia đình có con em theo học THPT tại 9 phường thuộc Thành phố Tuy Hoà đã hỗ trợ cung cấp số liệu, thông tin và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Xin chân thành cảm ơn cơ quan nơi tôi công tác, đồng nghiệp, bạn bè, người thân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Hà Nội, tháng 2 năm 2017 ĐÀO THỊ VIÊN LỜI CAM ĐOAN Học viên cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng học viên. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Học viên ĐÀO THỊ VIÊN MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ............................. 21 1.1. Các khái niệm công cụ ............................................................................. 21 1.2. Các lý thuyết áp dụng trong đề tài nghiên cứu: ....................................... 25 Chƣơng 2 VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON Ở CÁC GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ ...................... 35 2.1 Vai trò định hướng của cha mẹ cho con cái trong việc học tập ................ 36 2.2. Mức độ quan tâm của cha mẹ về việc học của con cái ............................ 39 Chƣơng 3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƢỚNG HỌC TẬP CHO CON CÁI TỪ CHA MẸ.................................................... 44 3.1 Định hướng chọn nghề cho con theo khu vực làm việc............................ 44 3.2 Định hướng nghề nghiệp cho con cái xét theo học vấn của cha mẹ. ........ 45 3.3 Dự định nghề nghiệp cho con xét theo nghề nghiệp của cha mẹ.............. 46 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở TH : Tiểu học TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp TCN : Trung cấp nghề CĐ : Cao đẳng ĐH : Đại học KD : Kinh doanh ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc, viết tắt UNESCO (tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) TW2 : Trung ương 2 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1: Vai trò của gia đình trong việc định hướng học tập cho con ............ 36 Bảng 2: Mức độ quan tâm của cha mẹ đối với việc học tập của con (%)....... 39 Bảng 3 : Bảng tần suất dự định khu vực làm việc cho con (%). ........................ 41 Bảng 4: Bảng tần suất về định hướng nghề nghiệp cho con .............................. 42 Bảng 5: Tương quan giữa học vấn của cha mẹ đối với việc định hướng nghề nghiệp cho con (%) ......................................................................................... 45 Bảng 6: Bảng tương quan về dự định nghề nghiệp cho con cái xét theo nghề nghiệp cha mẹ (%) ............................................................................................ 47 Bảng 7: Dự định nghề nghiệp cho con trai xét theo nghề nghiệp cha mẹ (%) ....... 48 Bảng 8: Dự định nghề nghiệp cho con gái xét theo nghề nghiệp cha mẹ (%) 50 Bảng 9: Bảng tương quan giữa mức sống của gia đình với nhận thức của cha mẹ về việc học của con. .................................................................................. 51 Bảng 10: Bảng tương quan về độ tuổi của bố mẹ đến lựa chọn nghề nghiệp cho con. ........................................................................................................... 54 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, sự bùng nổ cách mạng tri thức, cách mạng thông tin, xã hội loài người đã và đang có những biến đổi sâu sắc, toàn diện. Nền kinh tế công nghiệp chuyển dần sang nền kinh tế tri thức. Nguồn tri thức ngày ngày càng đóng vai trò quyết định tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia. Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành một trong các trọng tâm chính trong chiến lược xây dựng và phát triển quốc gia toàn diện, bền vững. Theo bà Pratibha Mehta - Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam Phát biểu tại “Hội thảo quốc gia về xây dựng xã hội học tập từ tầm nhìn đến hành động” diễn ra vào tháng 12/2013 tại Hà Nội thì xây dựng xã hội học tập là yếu tố căn bản để Việt Nam chuyển giao sang nền kinh tế kĩ thuật và tay nghề cao, đặt nền tảng cho sự tăng trưởng, hội nhập và bền vững. Hiện tượng thất nghiệp hoặc chọn không đúng ngành nghề dẫn đến việc sau khi ra trường làm trái với ngành, nghề mình đã chọn đang diễn ra ngày càng gia tăng, theo thống kê cả nước có 225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, năm 2015 tỉ lệ thất nghiệp tăng 2,31% (năm 2013 là 2,18%, năm 2014 là 2,10%). Trong quá trình phát triển và đổi mới của đất nước, có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường, thực tế cho thấy hàng năm trước mỗi kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông, khắp cả nước việc phổ biến việc học, thi, quy chế thi, tỷ lệ chọn ngành, tỉ lệ chọi ở các trường, nhu cầu nhân lực ở mỗi ngành nghề và địa phương, nhu cầu nhân lực của các công ty nước ngoài, nhu cầu nhân lực cho các tổ chức Phi chính phủ có trụ sở tại Việt Nam, nhu cầu nguồn lao động đi xuất khẩu ra nước ngoài... đều tăng. 1 Điều này nói lên được tầm quan trọng của việc lựa chọn đúng ngành nghề, qua đó sẽ tránh được tình trạng học “ nhầm lớp”, làm “nhầm nghề” gây tổn thất tiền bạc và công sức của các gia đình và tiếc nuối cho các em học sinh, sinh viên khi chưa có định hướng rõ ràng và khi ra trường mới biết mình làm nhầm nghề, ngược với sở thích và mong đợi của bản thân, điều này dẫn đến sự nhàm chán, hiệu quả công việc vì thế không cao, gây ra sự lãng phí cho cá nhân, gia đình lẫn xã hội. Thực tế đó cho thấy việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Với tư cách là một thiết chế, đơn vị cơ sở của xã hội, gia đình có chức năng giáo dục - xã hội hóa trẻ em. Định hướng nghề nghiệp cho con cái là một trong những nội dung của chức năng này. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các thiết chế xã hội khác chưa làm tốt việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh thì gia đình lại càng phải phát huy vai trò của mình. Hơn ai hết, các bậc cha mẹ là người hiểu rõ năng lực, phẩm chất, năng khiếu của con em mình, do đó sự tham gia của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái không những giúp cho trẻ em phát huy được năng lực mà còn giúp cho xã hội có được nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. Thành Phố Tuy Hoà có diện tích 10.682 ha với dân số 202.030 người và 16 đơn vị hành chính (12 phường, 4 xã) trực thuộc, nơi đây tập trung 7 trường Trung học phổ thông, 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, 1 Trung tâm kĩ thuật – hướng nghiệp, 1 trường Trung học Phổ thông dân tộc nội trú với hơn 12 000 học sinh, học viên đang theo học. Phần đa lực lượng trong độ tuổi lao động đều tham gia sản xuất nông - công - ngư nghiệp tại địa phương, không có việc làm ổn định, trong đó số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường chưa xác định được việc cần học trường gì, ngành nào phù hợp nhất với bản thân chiếm một số lượng rất lớn. Đánh giá của ngành Giáo dục về công tác hướng nghiệp cho học sinh trong những năm gần đây cho thấy: hầu hết các 2 trường Trung học phổ thông vẫn chưa thực hiện nghiêm túc công tác hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh. Việc tổ chức các hoạt động hướng nghiệp còn nhiều lúng túng, mang nặng tính hình thức, nên nhiều em không xác định được nghề phù hợp để học và theo đuổi sau khi ra trường. Đặc biệt, nội dung giáo dục hướng nghiệp chưa phù hợp với nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tếxã hội của từng vùng. Do đó, tỷ lệ học sinh được học các ngành nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương còn thấp. Một trong những nguyên nhân chính của hệ quả trên là do công tác hướng nghiệp cho học sinh trong quá trình học chưa được chú trọng đúng mức. Chủ thể định hướng nghề nghiệp là các em học sinh đang là những đối tượng bị áp đặt, bị động, chưa được thỏa mãn nguyện vọng chính đáng về nghề nghiệp của mình. Đặc biệt là đối với các em học sinh là người dân tộc thiểu số (học sinh trường Dân tộc nôi trú tỉnh) thì con đường duy nhất sau khi học xong phổ thông cơ sở, trung học là việc làm. Tuy nhiên, để có việc làm và thu nhập ổn định đòi hỏi các em phải có tay nghề. Đây là vấn đề đang đặt ra không chỉ riêng cho Phú Yên mà toàn xã hội. Trong những năm tới, số lượng học sinh đang có xu hướng tăng, đây là vốn quý của tỉnh với lực lượng trẻ có trình độ văn hoá Trung học phổ thông, có nhiều hứa hẹn trở thành công nhân kĩ thuật lành nghề, lao động có kĩ luật, có năng suất phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá. Thực tế này đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ về công tác hướng nghiệp, nắm bắt tâm lý nghề nghiệp của các em để các em chọn nghề phù hợp với khả năng của mình. Điều này sẽ giúp gia đình nói riêng và xã hội nói chung tránh được sự lãng phí về thời gian và tiền bạc khi học sinh học không đúng nghề, góp phần khắc phục được sự mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực là người dân tộc cho địa phương. Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài khoa học: “Vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề 3 nghiệp cho con cái, nghiên cứu trường hợp 9 phường thuộc Thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên làm luân văn tốt nghiệp cho mình. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Định hướng nghề nghiệp đã có lịch sử ra đời và phát triển với bề dày trên dưới 100 năm trên thế giới và trên thực tế đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và chính sách được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, dịch vụ và chính sách của nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục trung học phổ thông là giai đoạn học tập chính quy cuối cùng của đa phần thanh thiếu niên học sinh. Giáo dục trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học mà cần phải chuẩn bị cho học sinh – những con người trưởng thành bước vào cuộc sống lao động xã hội kiến thức về hướng nghiệp. Họ phải được trang bị những tri thức khoa học, kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng lao động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trên thực tế, lĩnh vực khoa học - kĩ thuật liên tục phát triển và thay đổi, đặc biệt là trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, người lao động thường không có khả năng để thích ứng kịp thời. Trong khi đó, số học sinh phổ thông khi rời ghế nhà trường với vốn kiến thức “văn hoá chay” không có cơ sở và khả năng hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội. Xuất phát từ thực tiễn như vậy, trong xã hội có giai cấp, đã có các nhà tư tưởng và giáo dục học tiến bộ đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với cuộc sống. Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” [21, 7] Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của 4 nghề do sự phát triển công nghiệp. Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi. Đến năm 1975, nước Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữa vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hướng tới thế kỉ 21” của Magumi Nishino (Xuất bản năm 1995, Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông. Theo tác giả, học sinh trung học phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” [34, 49]. Từ lâu, giáo dục Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông. Ttrong vòng 30 năm từ 1952 – 1982 nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành, với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước. Trong đó, nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường tiểu học và trung học cơ sở. 5 Ở Cộng hoà liên bang Đức, người ta cũng quan tâm đến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp, tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ. Khu vực các nước ASEAN trong những năm qua đã và đang tăng cường Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông : Tại Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề. Chính vì thế mà ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp, và chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề. Sang cấp III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp – dạy nghề. Tại Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Sang cấp II đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III. Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề. Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO khi phân tích “ Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại ", đó là 4 trụ cột mà Uỷ ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục [28, 8] . Theo tác giả vấn đề Giáo dục hướng nghiệp và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn 6 mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc Ở Việt Nam, trước hết phải kể đến quan điểm mang tính định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Bác, một nhà trường vì nhu cầu “học, làm, sống tốt” của xã hội học tập là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”: “Học đi với lao động. Lý luận đi với thực hành. Cần cù đi với tiết kiệm” [1, 55], học tốt (học đi với lao động, với thực hành), làm tốt (lao động, thực hành đi với học), sống tốt (cần, kiệm). Nghị quyết TW2 của Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cả nước là cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp. Trong Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”. Tới Đại hội X và XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp Trung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ Trung học cơ sở. Đây cũng là cơ sở mở đường cho công tác nghiên cứu và hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề phổ thông hiện nay. Liên tiếp từ 1981 – 2005, Ban Giáo dục hướng nghiệp, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu biên soạn tài liệu Sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp Trung học cơ sở và các lớp khối Phổ thông trung học, như “Một số cơ sở của công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000; “Hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp năm học 2000 - 2001 và phương hướng năm học 2001 – 2002”, Hà Nội, 2001; Tài liệu sinh hoạt 7 hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, Hà Nội, 2003… cùng với đó là hệ thống bộ hoạ đồ nghề, hệ thống test được mở rộng, một số thiết bị tư vấn nghề được nghiên cứu cải tiến, hoàn chỉnh theo hướng hiện đại hoá, trong đó có đề cập đậm nét vấn đề tư vấn nghề, đã xây dựng được nhiều bản hoạ đồ nghề có giá trị thực tiễn để phục vụ tư vấn nghề. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy Nghề Phổ Thông và hoạt động Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau. - “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường. Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển các “Trung tâm Kĩ thuật - Hướng nghiệp - Dạy nghề” (Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trung tâm lao động - hướng nghiệp, Hà Nội, 1992) của GS - TS Phạm Tất Dong. Kết quả cho thấy “Trong số những người không kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên. Trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề”. Trên cơ sở đó, tác giả xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh... đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”. - Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác giả Hoàng Đức [2008] làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”. Học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá ở mức phổ thông. Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác Giáo dục hướng nghiệp được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. 8 Kết quả nghiên cứu của tác giả hoàn toàn phù hợp với xu thế đổi mới của giáo dục trung học hiện nay, giáo dục trung học đang ngày càng không còn là nền giáo dục cho một số ít người như vào đầu thế kỷ XX, giáo dục trung học ngày nay không phải chỉ để cho người học lên, mà còn chuẩn bị cho thanh niên đi vào thế giới lao động nghề nghiệp, đặc biệt cho những ai chỉ có thể học hết bậc trung học. - Công trình nghiên cứu Những bài giảng về quản lý trường học (NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1984) của GS -TSKH Nguyễn Văn Hộ [24]đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam”. Trong đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề trên cả nước. - Đề tài KX07- 09 mang tên “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”1994 của Trung tâm nghiên cứu gia đình và phụ nữ - Nhà xuất bản khoa học xã hội có những nội dung chủ yếu sau: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về xã hội hóa con người, về chức năng xã hội hóa của gia đình trong lịch sử và hiện đại. Phân tích vai trò của giáo dục gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam. Trách nhiệm và những điều kiện biện pháp chính sách cần thiết nhằm giúp gia đình làm tròn chức năng của nó. - Tác phẩm: “Gia đình Việt Nam với chức năng Xã hội hóa” của tác giả Lê Ngọc Văn đề cập đến vai trò của gia đình trong việc thực hiện chức năng Xã hội hóa giáo dục cho các thành viên. Tác phẩm nhằm hệ thống hóa những nội dung quan trọng về gia đình và biến đổi gia đình, được cập nhật trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển đổi hiện nay. 9 Nội dung đề cập đến những vấn đề lý luận về gia đình và biến đổi gia đình gồm những khái niệm then chốt trong nghiên cứu gia đình, cấu trúc gia đình, chức năng gia đình, thiết kế gia đình, văn hóa gia đình và biến đổi gia đình. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại (Hồ Ngọc Đại, 1990); và từ “gia đình” có lẽ là từ sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hằng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong nghiên cứu về gia đình. Ngày nay, chúng ta vừa biết nhiều hơn lại vừa biết ít hơn về gia đình, bởi sự biến đổi và đa dạng của gia đình. Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ở trong nước và ngoài nước, những quan điểm, những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng của Thủ tướng Chính phủ, cũng như Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo rất có giá trị về phương pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện luận án này. Với tư cách là tế bào, thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình đảm nhận những chức năng xã hội đặc thù; chức năng tái sản xuất ra con người - duy trì nòi giống, cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội; chức năng giáo dục; chức năng kinh tế - đảm bảo nhu cầu sống cho các thành viên trong gia đình…Chính vì thế, sự tồn tại và biến đổi của gia đình không chỉ liên quan đến cuộc sống của từng cá nhân mà có sự liên quan đến sự tồn tại và biến đổi của xã hội. Cùng với những nhân tố và quá trình ảnh hưởng đến biến đổi gia đình như công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, chính sách, pháp luật của nhà nước về gia đình. Những quan điểm lý thuyết cơ bản dùng để nghiên cứu gia đình cũng được giới thiệu và phân tích như quan điểm tiếp cận xung đột, quan điểm tiếp cận nữ quyền, quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đình là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội… 10 Nghiên cứu gia đình như một thiết chế xã hội là chú ý đến mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa gia đình với các thiết chế xã hội khác như Nhà nước, kinh tế, tôn giáo, giáo dục…giữa các cá nhân trong đời sống gia đình như quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, những mối quan hệ tiền hôn nhân, vai trò các thành viên trong gia đình, phân công lao động theo giới, trong gia đình, mâu thuẫn xung đột giữa các thành viên gia đình, những nguyên nhân tan rã của mối liên hệ hôn nhân và gia đình. Sự biến đổi chức năng gia đình được phân tích về sự biến đổi cấu trúc gia đình với nhiều vấn đề và quan hệ cụ thể như các quan hệ hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình. Mỗi loại quan hệ lại được chi tiết hóa bằng các “biến số”. Chẳng hạn, xung quanh các quan hệ hôn nhân là nhiều biến số cơ bản như tuổi kết hôn, không gian địa lý của hôn nhân, tiêu chuẩn chọn bạn đời, quyết định hôn nhân, nơi ở sau khi kết hôn… Một số hiện tượng mới trong mô hình gia đình như gia đình người mẹ đơn thân, gia đình ly hôn, tái hôn, gia đình có người di cư, đi làm ăn xa, xuất khẩu lao động, phụ nữ lấy chống nước ngoài, hiện tượng sống chung không kết hôn, bạo lực giữa vợ chồng, quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu, quan hệ giữa cha mẹ và con cái…cũng đã được đề cập như là sự phản ánh một xu hướng hiện đại hóa các khuôn mẫu hôn nhân và gia đình ở Việt Nam trong hơn hai thập niên vừa qua. Ngoài ra còn có các giải pháp - kiến nghị chủ yếu xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế như: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và sự chỉ đạo, tổ chức, quản lý của Nhà nước đối với công tác gia đình. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và hệ thống dịch vụ xã hội liên quan đến gia đình. Xây dựng các mô hình gia đình Việt Nam phát triển bền vững tùy vào các loại hình gia đình, nghề nghiệp và các nhóm xã hội… 11 Các nghiên cứu trên được tiến hành với quy mô rộng lớn cả về phạm vi nghiên cứu cũng như nội dung nghiên cứu đó là vai trò của giáo dục gia đình nói chung trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam. Thông qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, việc nghiên cứu về vai trò của gia đình đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và công bố các tài liệu hết sức đầy đủ và hoàn chỉnh, riêng nghiên cứu này chỉ tập trung hướng tới một khía cạnh trong giáo dục gia đình tại 9 phường thuộc Thành phố Tuy Hoà tỉnh Phú Yên, đó là “Vai trò của cha mẹ trong giáo dục tri thức và hướng nghiệp cho con”, được xem là một công trình nghiên cứu mới và chưa được công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đề tài góp phần làm cụ thể và chi tiết hơn về việc định hướng nghề nghiệp, vai trò của gia đình và xu hướng chọn ngành nghề của giới trẻ tại Phú Yên, thông qua đó có được một mô hình nhằm xây dựng hệ thống giáo dục mang tính thực tế, phù hợp hơn ở từng địa phương cụ thể trên cả nước. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con trên cơ sở đó nêu lên một số khuyến nghị về việc phát huy vai trò hướng nghiệp của mỗi gia đình trong giai đoạn hiện nay. 3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: 1. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nhằm biết được những thành tựu và hạn chế của các công trình nghiên cứu đã có, từ đó học viên có cơ sở xây dựng mục tiêu, nội dung, câu hỏi, giả thuyết, phương pháp, lựa chọn lý thuyết nghiên cứu. 2. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài. 12 3. Điều tra khảo sát thực tế, lấy số liệu thống kê liên quan đến đề tài. 4. Phân tích, đánh giá về vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái (xét ở các gia đình đô thị, cụ thể là ở 9 phường thuộc Thành Phố Tuy Hoà tỉnh Phú Yên) 5. Đưa ra một số khuyến nghị về vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái. 4. Đối tƣợng, phạm vi, khách thể nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái, nghiên cứu các gia đình đô thị tại 9 phường thuộc Thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên. Ở đây tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống, với phương pháp như sau: Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên một đơn vị trong danh sách, sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra một đơn vị vào mẫu…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu. Dựa vào danh sách các em học sinh đang học tại các trường Trung học phổ thông tại 9 phường của thành phố Tuy Hòa, ta có danh sách thứ tự vần của tên các em học sinh có kèm tên bố mẹ của các em, bao gồm 5.000 em. Ta muốn chọn ra một mẫu có 120 mẫu (là bố mẹ có con đang học các trường Trung học phổ thông). Vậy khoảng cách chọn là: k= 5000/120 = 41, có nghĩa là cứ cách một lớp học thì ta chọn mộl lớp một cha/mẹ của học sinh vào mẫu để phỏng vấn. Dưới đây là bảng số liệu về tuổi, học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế của các gia đình có con đang theo học, bậc cha mẹ được phỏng vấn có độ tuổi từ 38 đến 68 tuổi sinh sống trên địa bàn 9 phường thuộc Thành phố Tuy Hòa Tỉnh Phú Yên 13
- Xem thêm -