Tài liệu Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 173 |
  • Lượt tải: 0
sarykim

Tham gia: 27/05/2016

Mô tả:

Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019Tuyển tập đề thi thử thpt quốc gia môn ngữ văn 2019
TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC NINH TỔ NGỮ VĂN (Đề thi có 1 trang) ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN 1 NĂM HỌC 2018 – 2019 Môn thi: Ngữ văn Thời gian làm bài: 120 phút không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Trong rất nhiều tin tức, những câu chuyện tiêu cực đầy rẫy trên báo chí, mạng xã hội trong năm qua, trong đó nhiều tội ác đáng sợ, những vụ cướp của, giết người, những vụ hành hạ trẻ nhỏ … xuất phát từ những người có lòng dạ độc ác, bất lương, trong đó phần lớn là thanh niên, thì hành động quên mình, cứu người của Hoàng Đức Hải sẽ khiến người ta phần nào quên đi những tin tức đó và duy trì niềm tin về những điều tốt đẹp sẽ còn mãi trong đời thường. Chỉ cách đây 3 tháng, trên Dân trí đã có bài viết về một giám đốc doanh nghiệp trẻ, Nguyễn Bá Luân cũng đã tự huy động, tổ chức tàu bè cứu thoát được tới 200 người dân bị nạn, trôi dạt trên biển ở Vạn NinhKhánh Hòa trong tâm cơn bão số 12. Nếu không có hành động kịp thời của anh Luân, đó thực sự là một thảm họa lớn về thiên tai trong năm 2017. Tất nhiên, anh Luân cũng đã được Nhà nước, từ Chính phủ đến các cơ quan, đoàn thể địa phương khen thưởng, tôn vinh Trước đó nữa, báo chí cũng đã từng đăng một bản tin cảm động về một thanh niên tên Trần Hữu Hiệp (Thạch Thành, Thanh Hóa) đã ra tay cứu thoát 5 người trong một vụ tai nạn đường thủy trên sông Soài Rạp (huyện Cần Giờ, TPHCM). Anh tử nạn do nhường áo phao của mình cho một thai phụ bị đuối nước, còn chính mình thì đuối sức và chìm trong dòng nước. Không dễ kể hết những gương dũng cảm, cứu người trong thời gian gần đây và điều đó cũng cho thấy,ở ta, những người tốt như những thanh niên trên không phải là hiếm. Rõ ràng là họ đều ý thức được rất rõ những nguy hiểm rất lớn cho bản thân và thực tế, đã có nhiều người mất mạng vì cứu ngươi, nhưng đúng lúc nguy hiểm nhất hì họ dường như chỉ nghĩ đến việc cứu người. Đó là những phút giây sinh tử không phải ai cũng làm được, đó thực sự là những hành động của những người hùng – những anh hùng trong đời thực. Đã có nhiều hình thức khen thưởng, vinh danh xứng đáng chó những người quên mình cứu người nói trên, những cá nhân người viết bài này vẫn mong muốn có những cách thức vinh danh họ đặt biệt hơn nữa: Phong tặng danh hiệu anh hùng, hay tạc tượng, đặt tên cho những con đường … để người dân sẽ nhớ mãi, ghi long những hành động nghĩa hiệp, phi thường của họ. (Trích Những anh hùng trong đời thực – Mạnh Quân, báo Dân Trí, 12/02/2018) Câu 1: Nhận biết Xác định phong cách ngôn ngữ chính của văn bản Câu 2: Nhận biết 1 Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! Theo tác giả, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, hành động quên mình cứu người của Hoàng Đức Hải có ý nghĩa gì? Câu 3: Thông hiểu Tại sao tác giả khẳng định những người như Hoàng Đức Hải, Nguyễn Bá Luân, Trần Hữu Hiệp là những anh hùng trong đời thực? Câu 4: Thông hiểu Anh /chị có đồng tình với ý kiến: Phong tặng danh hiệu anh hùng, hay tạc tượng, đặt tên cho những con đường … để người dân sẽ nhớ mãi, ghi long những hành động nghĩa hiệp, phi thường của họ. Vì sao? II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1: (2.0 điểm) Vận dụng cao Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan niệm về người anh hùng trong thời đại ngày nay. Câu 2: (5,0 điểm) Vận dụng cao Về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng”. Qua sự cảm nhận đoạn thơ sau, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. (Trích Tây Tiến – Quang Dũng, SGK Ngữ văn 12, tập 1) 2 Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN VÀ LỜI GIẢI CHI TIẾT THỰC HIỆN BAN CHUYÊN MÔN Tuyensinh247.com PHẦN I.ĐỌC HIỂU II.LÀM VĂN 3 NỘI DUNG Câu 1. *Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học *Cách giải: - Phong cách ngôn ngữ báo chí. Câu 2. *Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn văn *Cách giải: Theo tác giả, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, hành động quên mình cứu người của Hoàng Đức Hải sẽ khiến người ta phần nào quên đi những tin tức đó (những tin tức không hay, những chuyện tiêu cực đầy rẫy trên báo chí, mạng xã hội) và duy trì niềm tin về những điều tốt đẹp sẽ còn mãi trong đời thường. Câu 3. *Phương pháp: phân tích, lí giải *Cách giải: Họ là những người anh hùng trong đời thực vì: trong cuộc sống đời thường những người như họ không hiếm gặp. Họ là những con người tốt bụng, dung cảm cứu người mà không màng đến sự nguy hiểm của bản thân. Rõ rang là họ đều ý thức được những nguy hiểm cho bản thân minh và thực tế đã có nhiều người mất mạng vì cứu người, nhưng đúng lúc nguy hiểm nhất thì họ dường như chỉ nghĩ đến việc cứu người. Câu 4. *Phương pháp: phân tích, lí giải *Cách giải: Học sinh có thể đồng ý hoặc không đồng ý với quan điểm của tác giả nhưng lập luận phải chặt chẽ, thuyết phục - Đồng ý: Họ là những người anh hùng, có những hành động nghĩa hiệp nhiều khi hi sinh cả tính mạng để cứu người bị nạn. Hành động đó xuất phát từ lòng tốt, như vậy để bày tỏ lòng biết ơn, Nhà nước cần có những hình thức khen thưởng, vinh danh họ một cách xứng đáng bằng những danh hiệu có giá trị tinh thần bền vững. Phong tặng danh hiệu anh hùng, tạc tượng, đặt tên cho những con đường. Việc vinh danh như vật còn có tác dụng giáo dục, nêu gương tốt cho mọi người. - Không đồng ý: Phong tặng anh hùng, tạc tượng, đặt tên cho những con đường là cách vinh danh đặc biệt, có ý nghĩa lớn lao với Nhà nước và nhân dân dành cho những người anh hùng có sự ảnh hưởng rộng lớn, có cống hiến vĩ đại cho cộng đồng, dân tộc. Việc khen thưởng, vinh danh những tấm gương anh hùng trong đời thực là một việc nên làm nhưng chúng ta cần chọn hình thức phù hợp - Vừa đồng tình vừa không đồng tình: kết hợp cả hai ý kiến trên. Câu 1: *Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận (bàn luận, so sánh, tổng hợp,…) *Cách giải: a.Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách khác nhau. b.Xác định vấn đề nghị luận: Người anh hùng trong thời đại ngày nay. Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! c.Triển khai vấn đề cần nghị luận: vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút ra bài học nhận thức và hành động. -Mở đoạn: giới thiệu vấn đề cần nghị luận. -Thân đoạn: có thể triển khai một số nội dung như: +Giải thích: Anh hùng là người có những hành động phi thường, phẩm chất cao đẹp, có đóng góp lớn cho cộng đồng. +Biểu hiện của anh hùng thời nay: Quan niệm về anh hùng được mở rộng .Anh hùng trong chiến đấu: Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, các chú bộ đội, các chú công an… ngày đêm bảo vệ sự bình yên cho nhân dân. .Anh hùng trong lao động: Lao động sản xuất trực tiếp trong nông nghiệp, công nghiệp Lao động trí tuệ trong các ngành khoa học. .Anh hùng trong đời thường: Những người dân thường nhưng có những đóng góp lớn, có những hành động dũng cảm cứu người. Họ tuy khác nhau về công việc, địa vị xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi nhưng đều có những đóng góp lớn cho cộng đồng, dân tộc và được Nhà nước và xã hội tôn vinh. +Mở rộng: Tuy nhiên trong xã hội hiện nay còn một bộ phận không nhỏ sống thiếu trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những vấn đề chung của cộng đồng, những người như vậy đáng bị lên án. +Bài học nhận thức: Bản thân mỗi người cần tích cực tu dưỡng nhân cách, có những việc làm thiết thực cho gia đình và xã hội. Bắt đầu từ những việc nhỏ nhất để chúng ta trở thành anh hùng trong chính những người thân yêu. d.Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. e.Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tắc. Câu 2: *Phương pháp: _Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). _Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học. *Cách giải: a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: có đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. b.Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ trong Tây Tiến của Quang Dũng – những hoài niệm về đồng đội của nhà thơ, chân dung người lính Tây Tiến với vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa bi tráng. Từ đó bình luận về cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng trong đoạn thơ. c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau. *Giới thiệu khái quát tác giả Quang Dũng, tác phẩm Tây Tiến, đoạn thơ và trích dẫn ý kiến về bài thơ Tây Tiến. -Về tác giả: Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu và tài hoa. -Về tác phẩm: Tây Tiến (in trong tập Mây đầu ô, 1986), tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây Tiến còn là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về người lính Cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. 4 Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! Tây Tiến ra đời cuối năm 1948 tại Phù Lưu Chanh – Hà Đông, khi Quang Dũng đã rời xa đơn vị Tây Tiến. Lúc đầu, bài thơ có tên Nhớ Tây Tiến, sau được đổi thành Tây Tiến. Cảm xúc chủ đạo của Tây Tiến là nỗi nhớ… -Về đoạn thơ: Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và chất bi tráng”, biểu hiện đậm nét trong đoạn thơ khắc tạc bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến anh hùng: *Giải thích: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng. -Cảm hứng lãng mạn trong văn học là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc, hướng về lý tưởng, thích đắm mình vào thế giới phi thường, bí hiểm và những vẻ đẹp xa lạ. Cảm hững lãng mạn thường đề cao những cảm nhận chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng, liên tưởng. Bút pháp lãng mạn thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, sử dụng nhiều yếu tố cường điệu, thủ pháp đối lập, tương phản để tô đậm cái khác thường, gây ấn tượng mạnh mẽ. Với cảm hững lãng mạn, không chỉ có vẻ hào hùng bay bổng hay cái cao cả mà nỗi đâu, cái buồn, nỗi cô đơn, cảnh chia li, cái chết… cũng là phạm trù thẩm mĩ. -Trong Tây Tiến, cảm hứng lãng mạn gắn liền với tinh thần bi tráng: vừa gợi những buồn đau, mất mát, bi thương vừa hào hùng, mạnh mẽ - bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng giọng điệu, âm hưởng tráng lệ, hào hùng. *Cảm nhận vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ – gắn liền với cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. 1)Cảm nhận đoạn thơ: Tây Tiến là dòng hồi ức về đồng đội của nhà thơ. Trên nền thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội mà thơ mộng, Quang Dũng đã khắc tạc một bức tượng đài sừng sững về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng. -Hình tượng người lính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua dáng vẻ, ngoại hình: Tác giả không miêu tả cụ thể mà bằng bút pháp lãng mạn đã khái quát chân dung của cả một đoàn binh kì dị, khác thường. +Hai câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm” là lời giới thiệu độc đáo, một lối định nghĩa đầy tự hào về lính Tây Tiến: .đoàn binh không mọc tóc .quân xanh màu lá .dữ oai hùm +Hai câu thơ gợi tả dáng vẻ mà cho ta hiểu về cuộc sống chiến đấu gian khổ của đoàn binh Tây Tiến. Quang Dũng không thể né tranh sự thật nhưng nhà thơ đã lãng mạn hóa hiện thực. Bút pháp tương phản, cách nóitrẻ trung, ngang tàng đậm chất lính của thơ Quang Dũng đã tạo ấn tượng khác lạ. Người linh Tây Tiến ốm mà không yếu. Bề ngoài tiều tụy nhuốm chút phong sương nhưng vẫn toát lên vẻ oai phong lẫm liệt, ẩn chứa một sức mạnh tinh thần lớn lao. -Hình tượng người lính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua đời sống tâm hồn/ thế giới nội tâm: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm… +Vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến: .Mắt trừng: sự dồn nén cảm xúc căm thù biểu hiện qua ánh mắt bừng bừng lửa giận. Chữ trừng vừa gợi hình vừa gợi cảm, dữ dội và mạnh mẽ, gắn liền với chất hùng tráng của hình tượng người lính Tây Tiến. .gửi mộng qua biên giới: giấc mộng chiến trường, mộng diệt thù lập công của người anh hùng thời loạn. +Vẻ đẹp hào hoa với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ của lính Tây Tiến. 5 Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! .Đêm mơ Hà Nội… .dáng kiều thơm. Ở nơi biên cương viễn xứ, niềm thương nhớ hằng đêm vẫn hướng về HN, về một dáng kiều thơm. Ẩn bên trong vẻ ngoài bệnh tật, đau ốm và vẻ dữ dằn là tâm hồn vô cùng lãng mạn, bay bổng. Thế giới tâm hồn phong phú, giàu tình cảm khiến hình ảnh người lính trở nên thật hơn, đẹp hơn, con người hơn, rất đỗi đời thường, gần gũi. Cảm hứng anh hùng kết hợp với bút pháp lãng mạn, sự tương phản đối lập trong ngôn từ và hình ảnh thơ (mắt trừng >< mơ Hà Nội dáng kiều thơm) làm nổi bật vẻ đẹp của những người anh hùng mơ mộng. -Hình tượng người lính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua tư thế lên đường vì lí tưởng: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh +Những nấm mồ nằm rải rác dọc biên giới phản ánh hiện thực khốc liệt, gợi nỗi bùi ngùi thương cảm. Tuy nhiên, câu thơ bi mà không lụy. Những từ HV trang trọng, thiêng liêng biêncương, viễn xứ đã biến những nấm mồ hoang lạnh thành mộ chí tôn nghiêm vĩnh hằng, khiến câu thơ mang âm hưởng bi hùng của những vần thơ biên tái xưa. +Câu thơ tiếp theo khẳng định khí phách của tuổi trẻ một thời, tôn lên vẻ đẹp anh hùng, át đi cảm giác bi thương khi nói về cái chết: Chiến trường… đời xanh. Hai chữ chẳng tiếc thể hiện sự dứt khoát, tinh thần hoàn toàn tự nguyện, thanh thản khi hiến dâng tuổi trẻ, quãng đời đẹp nhất cho Tổ quốc. =>Vẻ đẹp chói ngời lí tưởng cao cả, coi cái chết là sự hiến dâng đem lại tính chất bi tráng cho đoạn thơ, biến những nấm mồ nằm rải rác nơi biên viễn trở thành đài tưởng niệm sừng sững ghi danh người lính Tây Tiến anh hùng. -Hình ảnh người lính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua sự hi sinh lặng thầm mà cao cả: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành +Người lính Tây Tiến hi sinh nơi núi rừng miền Tây không có cả manh chiếu bọc thân, chỉ có tấm áo vải bạc màu sờn rách vì nắng gió, thấm mồ hôi và thấm cả máu, giờ bao bọc hình hài, đưa anh về với đất mẹ. +Tuy nhiên, câu thơ Quang Dũng không dừng ở tả thực mà tràn đầy cảm hứng bi tráng. Qua cái nhìn của nhà thơ, người lính hi sinh như được bọc trong tấm áo bào sang trọng. Chiếc áobào khiến cuộc đưa tiễn bi thương trở thành trang nghiêm cổ kính, tôn vinh sự hy sinh cao cả. Những người chiến sĩ Tây Tiến không chết đi mà về đất, hóa thành sông núi quê hương. =>Nói về cái chết nhưng lại bất tử hóa người lính. Nói về sự bi thương nhưng hình ảnh thơ thật hùng tráng: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Sông Mã đại diện cho giang sơn sông núi, tiễn đưa người chiến sĩ vào cõi bất tử. Lần thứ hai trong bài thơ, Quang Dũng đã dùng chữ gầm nhân hóa dòng sông, vừa bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, vừa tạo không khí bi hùng, làm toát lên hào khí 1 thời Tây Tiến. 2)Đánh giá khái quát: Tám câu thơ đã làm nổi bật phong cách nghệ thuật Quang Dũng: phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Âm hưởng cổ kính và trang trọng từ những câu thơ thất ngôn, những từ Hán Việt được sử dụng đắc địa và hình ảnh chiếc áo bào; giọng thơ đầy hào khí pha chút ngang tàng, ngạo nghễ, phong sương; những biện pháp tu từ nói giảm nói tránh anh về đất hay nhân hóa Sông Mã gầm lên khúc độc hành, ngôn ngữ thấm đẫm chất văn chương của những chàng trai Hà thành lãng mạn (gửi mộng, dáng kiều thơm, đời xanh,…) đã đem đến cho đoạn thơ một vẻ đẹp đặc biệt, góp phần khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến vô cùng độc đáo: “tiều tụy mà lẫm liệt, lam lũ mà hào hùng, dữ dằn mà đa cảm và đầy 6 Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! thơ mộng” (GS.Nguyễn Đăng Mạnh). *Bình luận ý kiến: -Đoạn thơ phảng phất phong thái anh hùng, trượng phu của con người Quang Dũng. Bức tượng đài người lình Tây Tiến được khắc tạc bằng bút pháp tương phản, vừa hiện thực vừa lãng mạn, từng đường nét như được khắc đậm bằng những ngôn từ, hình ảnh đầy ấn tượng, làm nên vẻ đẹp riêng của hình tượng người lính Tây Tiến, thật khác lạ so với những bài thơ vầ người lính Cách mạng cùng thời. -Bằng sự kết hợp bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã khắc tạc bức tượng đài người lính Cách mạng vừa chân thực với những nét độc đáo của lính Tây Tiến, vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp và sức mạnh của dân tộc trong thời đại gian khổ mà hào hùng. Tám câu thơ mà nói đủ diện mạo, tâm hồn, khí phách, thái độ trước cái chết và vẻ hào hoa rất Hà Thành của người lính Tây Tiến. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến, được khắc tạc bằng tình yêu thương gắn bó, niềm trân trọng tự hào và cảm hứng ngợi ca của Quang Dũng đối với đồng đội, với cuộc kháng chiến gian khổ của cái thời mơ mộng, lãng mạn và hào hùng một đi không trở lại. d.Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện những suy nghĩ sâu sắc mới mẻ về vấn đề nghị luận. e.Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tắc. 7 Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán – Lý – Hóa – Sinh – Anh – Văn – Sử - Địa – GDCD tốt nhất! BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI THAM KHẢO KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2019 Bài thi: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích dưới đây: Nhiều người cho rằng phát triển là điều tốt. Nhưng chỉ ít người dám cống hiến cả cuộc đời mình cho sự phát triển đó. Tại sao vậy? Bởi vì muốn phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi, trong khi đó họ lại không sẵn sàng cho bất cứ sự thay đổi nào. Tuy nhiên, một sự thật hiển nhiên là nếu không thay đổi thì không thể có sự phát triển. Nhà văn Gail Sheehy đã khẳng định: “Nếu không thay đổi thì sẽ không bao giờ phát triển. Nếu không phát triển thì không phải là cuộc sống. Phát triển đòi hỏi phải tạm thời từ bỏ cảm giác an toàn. Điều này có nghĩa là phải từ bỏ lối sống quen thuộc nhưng luôn bị hạn chế bởi tính khuôn mẫu, tính an toàn, những điều không bao giờ khiến cuộc sống của bạn tốt hơn được. Những điều đó sẽ khiến bạn không còn tin tưởng vào các giá trị khác, mọi mối quan hệ đều không còn ý nghĩa. Nhà văn Dostoevsky nói: “Tiến thêm một bước, nói thêm một lời là những điều đáng sợ nhất”. Nhưng trên thực tế, điều ngược lại mới là điều đáng sợ nhất.” Tôi nghĩ không có gì tồi tệ hơn là cứ sống mãi một cuộc sống trì trệ, không bao giờ thay đổi và không bao giờ phát triển. (John C. Maxwell - Cách tư duy khác về thành công, NXB Lao động - Xã hội, 2015, tr.130) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Chỉ ra tác hại của việc không dám từ bỏ lối sống quen thuộc được nêu trong đoạn trích. Câu 2. Theo anh/chị, “điều ngược lại” được nói đến trong đoạn trích là gì? Câu 3. Việc tác giả trích dẫn ý kiến của Gail Sheehy có tác dụng gì? Câu 4. Anh/Chị có cho rằng việc từ bỏ lối sống an toàn, quen thuộc để phát triển đồng nghĩa với sự liều lĩnh, mạo hiểm không? Vì sao? II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về điều bản thân cần thay đổi để có thể thành công trong cuộc sống. Câu 2 (5.0 điểm) Trong truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân hai lần miêu tả cung cách ăn uống của người vợ nhặt. Chiều hôm trước, khi được Tràng đồng ý đãi bánh đúc ở ngoài chợ: “Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì.” và sáng hôm sau, khi nhận bát “chè khoán” từ mẹ chồng: “Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng.” (Kim Lân - Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.27 và tr.31) Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật này. ------------------ HẾT ------------------ Mức độ cần đạt Nội dung Phần I. Đọc hiểu Nhận biết - Ngữ liệu: - Chỉ ra văn bản nhật phương dụng. thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản Thông hiểu Vận dụng -Anh/chị hiểu thế nào về ý nghĩa 2 câu thơ sau: "Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Chắc gì ta đã nhận ra ta” - Bày tỏ thông điệp nào có ý nghĩa nhất với anh/chị? Vận dụng Tổng số cao - Phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ. Tổng Phần II. Làm văn Số câu 1 2 1 4 Số điểm 0,5 1,5 1,0 3,0 15% 10% 30% Tỉ lệ 5 Câu 1: Hãy viết 01 đoạn . văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về 2 câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu: "Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó Sao ta không tròn ngay tự trong tâm” Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com -Viết 01 đoạn văn. Mức độ cần đạt Nội dung Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Câu 2: Phân tích đoạn trích mở đầu Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh). Từ đó liên hệ tới phần mở đầu của Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) để nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả. Tổng Tổng cộng Vận dụng Tổng số cao Viết 01 bài văn. Số câu 1 1 2 Số điểm 2,0 5,0 7,0 Tỉ lệ 20% 50% 70% Số câu 1 2 2 1 6 Số điểm 0,5 1,5 3,0 5,0 10,0 Tỉ lệ Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com 100% SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ ĐỀ THI KHẢO SÁT CĐ LẦN 1, LỚP 12 NĂM HỌC 2018-2019 MÔN THI: NGỮ VĂN (Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề). I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: TỰ SỰ Dù đục, dù trong con sông vẫn chảy Dù cao, dù thấp cây lá vẫn xanh Dù người phàm tục hay kẻ tu hành Đều phải sống từ những điều rất nhỏ. Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó Sao ta không tròn ngay tự trong tâm? Đất ấp ôm cho muôn hạt nảy mầm Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Chắc gì ta đã nhận ra ta Ai trong đời cũng có thể tiến xa Nếu có khả năng tự mình đứng dậy. Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy Đâu chỉ dành cho một riêng ai. (Lưu Quang Vũ) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên. Câu 2. Anh/chị hiểu thế nào về ý nghĩa 2 câu thơ sau: "Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Chắc gì ta đã nhận ra ta” Câu 3. Tìm các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ đầu của văn bản. Nêu ngắn ngọn tác dụng của các biện pháp tu từ đó. Câu 4. Thông điệp nào của văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa được gợi nên từ 2 câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu: "Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó Sao ta không tròn ngay tự trong tâm” Câu 2 (5.0 điểm) Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết: Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com Hỡi đồng bào cả nước. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. (Trích SGK Ngữ văn 12 tập 1- NXB Giáo dục Việt Nam 2016) Anh chị hãy phân tích đoạn trích trên. Từ đó liên hệ tới phần mở đầu của Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) để nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả. -------------HẾT------------Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm Họ tên học sinh…………………….....…………..;Số báo danh………………………. Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ Phần Câu HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI KHẢO SÁT CĐ LẦN 1, LỚP 12 NĂM HỌC 2018-2019 MÔN THI: NGỮ VĂN (Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề). Nội dung I. Đọc hiểu Điểm 3.0 1 - Phương thức biểu đạt: Nghị luận và biểu cảm 0.5 2 - “Đường đời trơn láng” tức là cuộc sống quá bằng phẳng, yên ổn, không có trở ngại, khó khăn. Con người không được đặt vào hoàn cảnh có vấn đề, có thách thức; không phải nỗ lực hết mình để vượt qua trở ngại, để chinh phục thử thách mới đến được đích. Khi đó con người không có cơ hội để thể hiện mình nên cũng không khám phá và khẳng định được hết những gì mình có; không đánh giá hết ưu điểm cũng như nhược điểm của bản thân. Con người có trải qua thử thách mới hiểu rõ chính mình và trưởng thành hơn. - Các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ đầu của văn bản: Điệp ngữ, liệt kê, đối (đục-trong, cao- thấp, phàm tục - tu hành, vẫn chảy, vẫn xanh…) -Tác dụng của các biện pháp tu từ: Từ những điều tất yếu trong cuộc sống, nhà thơ khẳng định: cho dù điều kiện trái ngược nhau nhưng mọi sự vật vẫn đi theo quy luật của nó. Mặt khác giúp câu thơ có nhịp điệu, sinh động hơn . *Học sinh có thể chọn một trong những thông điệp sau và trình bày suy nghĩ thấm thía của bản thân về thông điệp ấy: - Dù là ai, làm gì, có địa vị xã hội thế nào cũng phải sống từ những điều rất nhỏ; biết nâng niu, trân trọng những cái nhỏ bé trong cuộc sống mới có được hạnh phúc lớn lao. - Con người có trải qua thử thách mới hiểu rõ chính mình và trưởng thành hơn. - Muốn có được hạnh phúc phải tự mình nỗ lực vươn lên. - Cuộc sống không phải lúc nào cũng như ta mong muốn, biết đòi hỏi nhưng cũng phải biết chấp nhận, biết nhìn đời bằng con mắt lạc quan, biết cho đi thì mới được nhận lại… * Vì sao? (Lí giải thuyết phục) 0.5 3 4 Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com 0,5 0,5 0,25 0,75 II.Làm văn 7.0 Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của 2.0 anh/chị về 2 câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu: "Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó/ Sao ta không tròn ngay tự trong tâm” 1 a. Đảm bảo hình thức của đoạn văn 0.25 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: đứng trước cái “méo mó” của 0.25 nhân sinh, cần có thái độ tích cực, chủ động, lạc quan. c. Nội dung đoạn văn 1.0 -Ý nghĩa 2 câu thơ: Bản chất cuộc đời là không đơn giản, không bao giờ hoàn toàn là những điều tốt đẹp, thậm chí có vô vàn những điều “méo mó”, thử thách bản lĩnh, ý chí của con người. Thái độ “tròn tự trong tâm” là thái độ tích cực, chủ động trước hoàn cảnh. - Thái độ “tròn tự trong tâm” sẽ giúp ích nhiều cho cá nhân và xã hội. Thái độ, suy nghĩ của bản thân sẽ chi phối hành động, từ đó quyết định công việc ta làm cùng một hoàn cảnh có người chỉ ngồi than khóc còn người “tròn tự trong tâm” sẽ nỗ lực để đi qua thử thách đó và hướng đến thành công. Đây là thái độ sống đúng, làm đúng, không gục ngã trước khó khăn, trước phi lý bất công. - Nêu và phê phán một số hiện tượng tiêu cực: “ta hay chê”, chỉ biết than thở, không tích cực suy nghĩ và hành động - Rút ra bài học cho bản thân: đứng trước cái “méo mó” của nhân sinh, cần có cái nhìn lạc quan, hành động quyết đoán, tôi rèn nghị lực để chống chọi với hoàn cảnh, để cải tạo hoàn cảnh…để cuộc sống có ý nghĩa hơn. d. Sáng tạo: có quan điểm riêng, suy nghĩ mới mẻ, phù hợp 0.25 e. Chính tả, ngữ pháp: đảm bảo các quy tắc về chính tả, dùng từ, 0.25 đặt câu,... Anh chị hãy phân tích đoạn trích mở đầu Tuyên ngôn độc 5.0 lập (Hồ Chí Minh). Từ đó liên hệ tới phần mở đầu của Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) để nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả. 2 a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, Thân 0.25 bài triển khai được vấn đề, Kết bài kết luận được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích đoạn trích mở đầu 0.5 Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh). Từ đó liên hệ tới phần mở đầu của Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) để nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com 3.5 * Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích 0,25 * Phân tích đoạn trích mở đầu Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí 2,25 Minh). Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau: - Nội dung: đoạn trích đã khẳng định những quyền thiêng liêng cao cả của con người không ai có thể xâm phạm. Mọi người, mọi dân tộc trên thế giới đều bình đẳng, có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do… + Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ hai bản tuyên ngôn của người Pháp và người Mĩ. + Dùng phép suy luận tương đồng, sau khi trích Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, Người còn “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. + Rồi cuối cùng khẳng định: “đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được”. - Nghệ thuật lập luận: Cách lập luận của Hồ Chí Minh vừa ngắn gọn, súc tích, vừa khéo léo vừa kiên quyết, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo và đầy sức thuyết phục. + Khéo léo: Hồ Chí Minh tỏ ra trân trọng những tư tưởng tiến bộ, những danh ngôn bất hủ của người Mĩ, người Pháp… + Kiên quyết: một mặt Hồ Chí Minh khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam dựa trên những chân lí mà người Mĩ và người Pháp đã đưa ra, đồng thời cảnh báo nếu thực dân Pháp tiến quân xâm lược Việt Nam một lần nữa thì chính họ đã phản bội lại tổ tiên của mình, làm nhơ bẩn lá cờ nhân đạo, thiêng liêng mà những cuộc cách mạng vĩ đại của cha ông họ đã dành được + Lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo: lời suy rộng ra của Người mang tư tưởng lớn của nhà cách mạng. Người đã phát triển quyền lợi của con người lên (thành) quyền tự quyết, quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới. Đây là một đóng góp riêng của tác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX. * Từ đó liên hệ tới phần mở đầu của Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) để nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả. - Phần đầu Bình Ngô đại cáo: Nêu luận đề chính nghĩa. + Nguyễn Trãi chắt lọc lấy hạt nhân cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa và đem đến nội dung mới: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo. Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com + Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại 1,0 Việt: Cương vực lãnh thổ, nền văn hiến, phong tục, lịch sử riêng, chế độ riêng, hào kiệt... + Giọng điệu: trang trọng, hào hùng mang tính chất của một lời tuyên ngôn. - Nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả. + Giống nhau: Cả hai tác phẩm đều mang giá trị văn học -nhân văn sâu sắc. Cả hai đoạn trích đều xác lập cơ sở pháp lí cho mỗi tuyên ngôn. + Khác nhau: Mỗi tác giả đều sáng tạo với vẻ đẹp độc đáo riêng. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi dựa trên lập trường "Nhân nghĩa" của dân tộc Việt Nam (yên dân, trừ bạo) còn Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh đứng trên lập trường quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự do của các dân tộc. Bình Ngô đại cáo có phạm vi nội bộ trong nước Đại Việt còn Tuyên ngôn độc lập ngoài việc tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập kế thừa và đưa lên tầm cao mới tư tưởng độc lập dân tộc. Tác phẩm của Nguyễn Trãi theo thể cáo khi văn sử bất phân còn tác phẩm của Hồ Chí Minh theo thể tuyên ngôn… - Lí giải (khuyến khích HS) + Giống: bởi vì cả hai tác giả đều là những danh nhân lớn của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa dân tộc từ bao đời, có lòng yêu nước, yêu nhân dân. + Khác: bởi vì hoàn cảnh sống giữa hai tác giả khác nhau, vốn sống, vốn hiểu biết và tài năng nghệ thuật cũng khác nhau, đặc biệt là ngoài tinh hoa của dân tộc, Hồ Chủ tịch còn tiếp thu cả tinh hoa văn hoá thế giới một cách có chọn lọc… d. Sáng tạo: có quan điểm riêng, suy nghĩ mới mẻ, phù hợp với đặc 0.5 trưng tiếp nhận văn học. e. Chính tả, ngữ pháp: đảm bảo các quy tắc về chính tả, dùng từ, 0.25 đặt câu,... Tổng điểm Đăng tải bởi: https://dethi.exam24h.com 10.0 SỞ GD&ĐT HẢI PHÒNG TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN ĐỀ THI THỬ LẦN I (Đề thi gồm 01 trang) KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2019 Bài thi: NGỮ VĂN 12 (Ngày thi 27/12/2018) Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu: “ (1)Tôi năm nay 27 tuổi, là nữ, độc thân, trước nay đều tìm niềm vui từ công việc, học tập. Tôi tốt nghiệp một đại học có tiếng ở Hà Nội, ngành Kinh tế, có thể làm việc bằng tiếng Nhật. Hai năm đầu mới ra trường, tôi có công việc khá ổn định tại công ty sản xuất lớn. Tôi muốn phấn đấu nên đã tìm cơ hội mới. Tuy nhiên, mọi thứ không như tôi mong muốn. (2)Ba năm trở lại đây, công việc có nhiều biến cố, tôi phải hai lần thay đổi công việc. Cho tới giờ tôi làm tại một văn phòng công ty nước ngoài, công việc nhàm chán, đồng nghiệp chỉ có một sếp và giám đốc kỹ thuật. Tôi đã làm được gần một năm, nhưng không hề yêu môi trường này. Tôi nhận thấy ở đây không có tương lai, không động lực phấn đấu. (3)Tôi biết mình sẽ nghỉ trong thời gian tới nhưng quan trọng tôi không có định hướng gì cho tương lai, không rõ mình muốn làm gì tiếp. Năm năm với ba công ty, nghiệp vụ khác nhau và tôi không biết mình có nghề gì trong tay. Tôi rất bế tắc và đang nghĩ tới việc nghỉ việc, đi học thêm tiếng Anh. (4)Tôi đã dành đủ tiền cho việc trang trải học tập trong vòng một năm nhưng vẫn đầy lo lắng, sợ hãi về tương lai, công việc sắp tới. Đặc biệt, nỗi lo sợ bắt đầu ở tuổi 28 và lại là nữ giới... Rất mong nhận được những chia sẻ, ý kiến tư vấn từ bạn đọc VnExpress. Cảm ơn mọi người nhiều!” (​Bùi Như Hà​ - ​https://vnexpress.net​) Câu 1​.​ X ​ ác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 2​. ​Trong đoạn văn (2), tác giả đã đưa ra những lí do nào khiến bản thân không còn động lực phấn đấu trong công việc? Câu 3​. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn (3). Câu 4​. Anh/chị hãy đưa ra lời khuyên giúp tác giả thoát khỏi tâm trạng “​lo lắng, sợ hãi về tương lai”. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1(2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị h​ãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về: Tuổi trẻ trước những cơ hội mới. Câu 2(5,0 điểm) Bàn về về hình tượng Nhân dân trong đoạn trích Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm), có ý kiến cho rằng vẻ đẹp nổi bật của hình tượng Nhân dân là sự bình dị, gần gũi, thân thiết. Lại có ý kiến nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của hình tượng này là sự lớn lao, cao cả, phi thường. Từ cảm nhận của mình về đoạn trích sau, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên. “... Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại ...” (Trích Đất Nước- Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam) ---------- HẾT ---------Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm. Họ, tên thí sinh:.……………..…………………………………………​ ​Số báo danh:……………….. SỞ GD&ĐT HẢI PHÒNG TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN ĐỀ THI THỬ LẦN I (Đề thi gồm 01 trang) KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2019 Bài thi: NGỮ VĂN 12 (Ngày thi 27/12/2018) Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề A. HƯỚNG DẪN CHUNG Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách đếm ý cho điểm. Do đặc trưng bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần linh hoạt trong quy trình chấm, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. B. HƯỚNG DẪN CHẤM CỤ THỂ Điểm Đáp án PHẦN I. ​ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 3,0 Phương thức biểu đạt: Tự sự Câu 1 0,5 Câu 2 - Lí do: công việc có nhiều biến cố ...; công việc hiện tại: nhàm chán, “​đồng nghiệp chỉ có một sếp và giám đốc kỹ thuật”, “​không hề yêu môi trường” làm 0,5 việc này, “nhận thấy ở đây không có tương lai, không động lực phấn đấu”. - Nêu tên và chỉ rõ 02 biện pháp tu từ trong đoạn văn: liệt kê, điệp từ Câu 3 0,5 - Hiệu quả: Nhấn mạnh, làm rõ, cụ thể hơn tâm trạng “​lo lắng”, “​hoang mang​”, “​bế tắc” của tác giả khi nhận thức rõ tình cảnh hiện tại của bản thân: không có 0,5 định hướng gì cho tương lai, không rõ mình muốn làm gì, không biết mình có nghề gì trong tay; và đang cố gắng thay đổi tình cảnh này. Học sinh có thể tự do trình bày ý kiến của bản thân. Song, cần đảm bảo suy Câu 4 1,0 nghĩ đúng đắn, diễn đạt hợp lí. Giáo viên linh hoạt cho điểm. PHẦN 2. LÀM VĂN Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị h​ãy viết một đoạn văn Câu 1 (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về: Tuổi trẻ trước những cơ hội 2,0 mới. a) Đảm bảo cấu trúc đoạn nghị luận Trình bày đầy đủ các phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn. Phần Mở đoạn biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân đoạn biết triển khai liên kết chặt 0,25 chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết đoạn chốt lại được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân. b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tuổi trẻ trước những cơ hội mới. 0,25 c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các ý phù hợp; các ý được triển khai theo 1,0 trình tự hợp lí có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các ý (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm rõ những ý cơ bản sau:
- Xem thêm -