Tài liệu Tục cưới xin truyền thống của người hà nhì ở huyện bát xát, lào cai

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 192 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận nay, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy giáo – Thạc sĩ Hoàng Xuân Thành – giảng viên môn lịch sử Việt Nam – khoa Sử - Địa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này. Em cũng xin chân thành cảm ơn thư viện trường Đại học Tây Bắc, thư viện huyện Bát Xát cùng các cô, chú ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình sưu tầm tài liệu và cung cấp những thông tin quan trọng. Do thời gian thực hiện khóa luận còn nhiều hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 5 năm 2013 Người thực hiện: Hà Văn Việt MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 2 3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ sở tư liệu ..................................................................................................................... 2 4. Mục đích, ý nghĩa và đóng góp của đề tài ....................................................... 4 5. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................... 4 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN BÁT XÁT – TỈNH LÀO CAI .................................................................................................................... 5 1.1. Nguồn gốc lịch sử........................................................................................ 5 1.2. Những đặc trưng văn hóa truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát Tỉnh Lào Cai ...................................................................................................... 6 CHƯƠNG 2: PHONG TỤC CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN BÁT XÁT – TỈNH LÀO CAI ...................................... 13 2.1. Quan niệm về tình yêu, hôn nhân của người Hà Nhì.................................. 13 2.2. Những công việc mà người con trai, con gái phải làm để xây dựng gia đình.. 15 2.3. Đám cưới của người Hà Nhì ...................................................................... 16 2.3.1. Công tác chuẩn bị cho đám cưới ............................................................. 16 2.3.2. Trang phục của cô dâu – chú rể .............................................................. 18 2.3.3. Tổ chức đám cưới của người Hà Nhì ...................................................... 19 2.3.4. Tình hình hôn nhân sau đám cưới và những vấn đề phát sinh, luật lệ giải quyết ................................................................................................................ 28 2.4. Một số điểm khác biệt trong tục cưới xin của người Hà Nhì với các dân tộc cư trú trên địa bàn huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai………………………………36 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ CHUYỂN BIẾN TRONG PHONG TỤC CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN BÁT XÁT –TỈNH LÀO CAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY............................................... 38 3.1. Một số biến đổi trong phong tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay .................................... 38 3.2. Những giải pháp bảo tồn, gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu trong phong tục cưới xin của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai và một số kiến nghị ...................................................... 43 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 46 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá đa dạng trong thống nhất, đa dạng trước hết có thể thấy đất nước ta trải dài từ Lũng Cú (Hà Giang) đến đất Mũi Cà Mau. Trên dải đất hình chữ S đó, 54 dân tộc anh em cùng tồn tại, chung sống và phát triển. Mỗi một cộng đồng dân tộc với những đặc trưng văn hoá khác nhau, phong tục tập quán riêng, đã tạo nên một nền văn hoá Việt Nam đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Nó đã tạo thành sợi chỉ đỏ xuyên xuất toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức mạnh giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn để phát triển và lớn mạnh. Người Hà Nhì cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng các tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên. Nhưng Hà Nhì ở Lào Cai chiếm một số dân khá đông. Mặc dù là dân tộc thiểu số, cư trú trên địa bàn đồi núi hiểm trở, đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, tuy nhiên cùng với quá trình lao động và sản xuất của dân tộc mình người Hà Nhì đã góp phần to lớn vào quá trình phát triển cũng như làm phong phú thêm bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam. Do vậy, việc tìm hiểu đời sống văn hoá tinh thần của người Hà Nhì đăc biệt là phong tục cưới xin truyền thống là một việc vô cùng quan trọng. Bởi nó không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về họ mà còn góp phần nâng cao hiểu biết một cách toàn diện, sâu sắc cũng như nhìn nhận chính xác hơn về dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát nói riêng và ở Lào Cai nói chung. Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Hà Nhì. Nhưng do nhiều lí do khác nhau mà phong tục cưới xin của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Lào Cai nói riêng, ở Việt Nam nói chung vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu. Đất nước ta, với hơn 20 năm đổi mới đã thay da đổi thịt từng ngày, nền kinh tế không ngừng phát triển, sự phát triển đó đã tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội. Sự giao lưu văn hoá cũng ngày càng được mở rộng giữa các dân tộc nói riêng và các quốc gia nói chung. Bên cạnh việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hoá, dân tộc Hà Nhì đang tiếp thu những nét văn hoá mới. Xuất phát từ những lý do trên, cùng với sự ham hiểu biết của bản thân đã thôi thúc tôi tìm hiểu, nghiên cứu về tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Lào Cai. Với hi vọng góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn và 1 phát huy các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Lào Cai nói riêng và của các dân tộc Việt Nam nói chung. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trải trên mảnh đất Việt Nam hình chữ S có 54 dân tộc anh em cùng chung sống. Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng của mình, chính những nét văn hoá riêng ấy đã góp phần dệt nên bức tranh văn hoá Việt Nam sống động và muôn màu. Việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đời sống văn hoá của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Hà Nhì nói riêng đã thu hút sự quan tâm, lòng ham mê, hứng thú của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà tác giả. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về dân tộc Hà Nhì như sau: + Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thái, Tục cưới hỏi ở Việt Nam, nhà xuất bản Thanh Niên (2004), nghiên cứu về văn hóa cưới hỏi của các dân tộc ở Việt Nam, trong đó có nghiên cứu đến tục cưới hỏi của dân tộc Hà Nhì với những nét chung nhất, khái quát nhất. + Trần Hữu Sơn (1997), văn hoá dân gian Lào Cai, nhà xuất bản văn hóa thông tin, đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Lào Cai, qua đó nghiên cứu khá rõ về bản sắc văn hóa người Hà Nhì ở huyện Bát Xát. Đặc biệt, cuốn sách này đã nghiên cứu khá bài bản về tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở Bát Xát theo chiều rộng. + Chu Thùy Liên (2010), văn hóa dân gian dân tộc Hà Nhì, khái quát về nguồn gốc lịch sử và các giá tri truyền thống văn hóa của người Hà Nhì ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên. Trong đó sơ lược qua về tục cưới hỏi của người Hà Nhì ở một phạm vi rất hẹp. Qua các tác phẩm trên, các tác giả đã phần nào đề cập đến cuộc sống con người, bản sắc văn hóa và tục cưới xin của dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên các tác phẩm còn tản mạn, mang tính khái quát cao. Việc tìm hiểu về phong tục cưới xin truyền thống hầu như sơ sài, chưa có một tác phẩm nào đề cập một cách cụ thể, chuyên sâu. Do đó, đây là một vấn đề mới cần được quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn. 3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ sở tư liệu 2 Đối tượng nghiên cứu: Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Lào Cai. Nhiệm vụ nghiên cứu: Tái hiện một cách sinh động và phong phú thêm phong tục cưới xin của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Lào Cai. Phạm vi nghiên cứu: Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp bao trùm của đề tài gồm: tái hiện, mô tả, thống kê, liệt kê một cách cụ thể các sự kiện, hiện tượng để làm rõ tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – Lào Cai - Phương pháp thu thập thông tin: Đây là phương pháp rất quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề. Những tài liệu thu thập được về mặt lí luận giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát Lào Cai cũng như tác động của xã hội tới nó. - Phương pháp lôgic kết hợp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được qua một số sách báo, internet,… chúng tôi đi sâu vào phân tích cụ thể. Sau đó tổng hợp lại thành tài liệu chi tiết, hoàn chỉnh về vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống. Phương pháp này Giúp chúng ta phát hiện ra những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề còn bỏ ngỏ, từ đó đưa ra những nhận định, nhận xét, đánh giá chính xác về vấn đề đang nghiên cứu. - Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp rất cần thiết khi nghiên cứu về lịch sử địa phương. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tới 1 số xã có người Hà Nhì sinh sống ở huyện Bát Xát - Lào Cai để quan sát, tìm hiểu, trao đổi và phỏng vấn một số người biết về phong tục, nghi lễ truyền thống trong đám cưới của người Hà Nhì. Sau đó chụp ảnh tài liệu về các họat động thực tế, đồng thời ghi chép lại những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu. Cơ sở dữ liệu: - Các văn kiện của Đảng và nhà nước ban hành. - Các chuyên khảo, các bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Các tài liệu nghiên cứu điền dã của nhóm nghiên cứu đề tài trong quá trình nghiên cứu. 3 4. Mục đích, ý nghĩa và đóng góp của đề tài Mục đích: Đi sâu nghiên cứu một góc cụ thể của văn hoá người Hà Nhì: tục cưới xin truyền thống, để giúp cho bạn đọc có một cái nhìn khái quát, và khám phá ra được nét đẹp truyền thống của dân tộc Hà Nhì - một dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ý nghĩa: Giữ gìn, bảo lưu truyền thống văn hoá tốt đẹp của dận tộc Hà Nhì nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Đóng góp của đề tài: Đề tài góp phần làm rõ, phong phú thêm sự hiểu biết về những nét văn hóa riêng, độc đáo trong tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì, đóng góp vào sự đa dạng phong phú của nền văn hoá truyền thống nước nhà. Tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, kích thích tình yêu dân tộc và ý thức bảo tồn văn hoá truyền thống. 5. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần mục lục, đề tài gồm 3 chương: Chương 1 Vài nét khái quát về nguồn gốc lịch sử và đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Chương 2 Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai Chương 3 Một số chuyển biến trong phong tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay 4 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI 1.1. Nguồn gốc lịch sử Hà Nhì tên gọi khác là U Ní, XÁ U Ní là một trong 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, là một gia đình nhỏ tạo nên đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Vì vậy đã có nhiều bài viết, nhiều tác phầm…Viết về nguồn gốc của dân tộc Hà Nhì nói chung và người Hà Nhì ở huyện Bát Xát (Lào Cai) nói riêng. Cho đến ngày nay, nguồn gốc của dân tộc Hà Nhì vẫn đang là một vấn đề khoa học cần được nghiên cứu. Theo lời truyền miệng thì dân tộc Hà Nhì có nguồn gốc từ người Di (Yi) tách ra thành bộ tộc riêng khoảng 50 đời về trước. Theo các nhà khoa học, thuỷ tổ của người Hà Nhì là tộc người Khương đã di cư từ vùng cao nguyên Thanh Tạng (Trung Quốc) xuống phía Nam từ trước thế kỉ III đến thế kỉ VIII, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của dân tộc Hà Nhì ở Tây Bắc Việt Nam. Mặc dù, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của dân tộc Hà Nhì, song tất cả đều có một điểm thống nhất đó là người Hà Nhì đã có mặt ở nước ta từ khá sớm. Họ sống tập trung ở các tỉnh giáp Trung Quốc như: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai. Ở Việt Nam, có khoảng 17500 người Hà Nhì (năm 1999) và gồm ba nhóm địa phương: Cồ Chồ (sinh sống ở tỉnh Lai Châu), Lạ Mí (Điện Biên) và Hà Nhì Đen (Lào Cai). Huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai là nơi cư trú của bảy tộc người: H”Mông, Dao đỏ và Dao Tuyển, Giáy, Hà Nhì, Hán, Tày và Kinh. Trong đó dân tộc Hà Nhì sống ở nơi đây khá đông, với số dân khoảng 4150 người. Ngôn ngữ của người Hà Nhì thuộc nhánh ngôn ngữ Di (Yi), ngữ hệ Tạng Miếu. sử dụng ngữ hệ là các dân tộc: Hà Nhì, Cô Lô, Xá…Theo lời truyền miệng, thì người Hà Nhì đã có chữ viết, nhưng trong quá trình di cư từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) xuống phía Nam, chữ viết đã bị thất lạc. Thực tế, qua nhiều nghiên cứu thì người Hà Nhì không có chữ viết riêng, đây cũng là một hạn chế trong việc giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Hà Nhì. Chính vì không có chữ viết nên tất cả các truyền thống tốt đẹp, các tác phẩm văn học nghệ thuật…của người Hà Nhì đều được lưu truyền bằng hình thức truyền 5 miệng từ người này sang người khác và từ đời này sang đời này sang đời khác. Hiện nay người Hà Nhì sử dụng chữ cái La Tinh làm chữ viết. Trải qua bao biến động thăng trầm của lịch sử, qua quá trình giao lưu, tiếp biến với văn hoá của các dân tộc khác, các vùng khác, văn hoá truyền thống của người Hà Nhì nói chung và người Hà nhì ở huyện Bát Xát nói riêng vẫn còn nguyên những giá trị văn hoá to lớn. 1.2. Những đặc trưng văn hóa truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Tỉnh Lào Cai Huyện Bát Xát nằm dọc theo con sông Hồng, phía Bắc giáp với huyện Kim Bình (Vân Nam - Trung Quốc), phía Nam giáp thị xã Lào Cai, phía Đông là sông Hồng, phía Tây giáp với Sa Pa (Lào Cai). Tên gọi “Bát Xát” được phiên âm từ ngôn ngữ của dân tộc Giáy. Gọi đúng từ, đúng âm là “Pạc Srạt” với hai kiểu chữ khác nhau: Thứ nhất “Một trăm tấm cót” bởi “Pạc” là “một trăm”, ”Srạt” là “tấm cót”. Thứ hai, ”miệng thác” hay “bến thác” vì “Pạc” cũng có nghĩa là “miệng”, ”Srạt” cũng có thể hiểu là “thác”. Như vậy, dù có hiểu theo nghĩa nào thì tên gọi Bát Xát cũng rất đặc biệt và mang ý nghĩa sâu xa. Trong quá trình xây dựng và phát triển huyện Bát Xát, nơi đây đã diễn ra quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất. Bởi vậy, mỗi dân tộc nơi đây lại có nét truyền thống văn hoá riêng phù hợp với tâm tư và điều kiện sống của họ. Hiện nay, người Hà Nhì ở huyện Bát Xát nói riêng và ở Việt Nam nói chung đã định cư. Họ sống tập chung thành từng bản đông đúc, mỗi bản thường lên tới trăm hộ. Bản là đơn vị cư trú của người Hà Nhì, thường đặt ở chân núi cạnh suối hay khe. Tên bản của người Hà Nhì thường đặt theo vị trí mà bản đó đặt như bản đó có bằng phẳng không? cạnh suối nào và nhiều đá hay không mà đặt tên bản như: Lao Chải (làng lớn), Suối Tả Hồ… Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất, kết cấu nhà ở khá đơn giản và vững chãi. Bộ khung nhà cũng khá đơn giản, không cầu kì và cần nhiều xà, cột như nhà sàn của người Thái. Nhà có mái hiên rộng, hiên cũng là nơi ngồi nghỉ, hóng gió của người dân Hà Nhì sau ngày làm việc mệt nhọc trên nương, trên ruộng. Đồng thời, mái hiên rộng còn có một tác dụng lớn đó là tránh nắng, mưa rọi vào tường nhà. Người ta còn làm thêm một cột để trở thành vì bốn cột. Nhà tường trình rất dày, không có cửa sổ và cửa ra vào cũng ít phổ biến nhất là 6 nhà có một cửa ra vào được đặt ở mặt trước của nhà. Điều này phù hợp với điều kiện sống của đồng bào Hà Nhì ở miền núi cao mưa nắng khắc nghiệt, cũng nhằm tránh việc trộm cắp, thú rừng… Nhà ở thường có ba gian ít nhà có bốn gian trở lên. Những nhà có nhiều thế hệ sinh sống thì mới làm nhà bốn gian trở lên. Các gian trong nhà lại chia thành các buồng nhỏ, làm phòng riêng cho các thành viên trong gia đình, nhất là đối với thiếu nữ Hà Nhì thì ai cũng có một phòng dành riêng cho họ. Gian giữa được coi là phòng khách, ở đây cũng có một bếp phụ và một cái giường dành cho khách đến nhà. Bếp nấu cơm của người Hà Nhì được làm bằng đất, họ làm bếp cũng khá kì công và được coi là một việc quan trọng. Khu bếp cũng được người dân Hà Nhì coi là nơi thiêng liêng và họ không dẫm đạp chân lên bếp, đặc biệt là không đặt bát cơm và thức ăn để ăn trên đó. Hiện nay, nhà ở của người Hà Nhì đã có nhiều đổi mới, họ làm nhà xây không có bếp phụ ở phòng khách, nhà bếp được làm riêng một nhà tách biệt hẳn với nhà ở…Sự đổi mới này phù hợp với môi trường sống hiện đại ngày nay. Về đặc điểm kinh tế: Người Hà Nhì là một trong số những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và đào nương, đắp đập lấy nước làm ruộng để sớm đã biết tận dụng sức của trâu, bò để cày kéo. Mỗi nhà có một mảnh vườn cạnh nhà, họ phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên. Nghề trồng bông dệt vải khá phát triển nhằm đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống. Bên cạnh nghề trên, đan lát cũng là một hoạt động khá phổ biến với các sản phẩm nổi bật như Nón Giang của phụ nữ Hà Nhì, hay sọt để gùi hàng hoá, thúng, giỏ…Nghệ thuật cao và đẹp mắt. Trồng chàm và nhuộm chàm là một hoạt động rất đặc sắc ở người Hà Nhì. Hái lượm còn chiếm một vị trí đáng kể trong đời sống hàng ngày. Về thiết chế chính trị: Người Hà Nhì thường sống tập trung thành các bả, làng nhỏ bên cạnh khe suối, gần nguồn nước. Với những ngôi nhà san sát nhau chứ không phân tán theo không gian như một số dân tộc khác (Dao, H’Mông…). Ở đó họ có cả một hệ thống các tập tục, lễ nghi, các khuân phép, lệ làng có vai trò như luật pháp, buộc mọi người phải tuân theo . Mỗi bản làng đều có một Trưởng bản và một Phó bản, làm nhiệm vụ chủ trì các buổi hội họp bàn về những vấn đề của bản làng, thực hiện các nghi thức quan trọng trong những ngày lễ tết chung của bản làng, các lễ hội và đưa ra các luật lệ của làng… 7 Bản làng người Hà Nhì được khoanh vùng trong một phạm vi không gian địa lý nhất định. Hàng năm, vào đầu năm mới có tục “Ka tu tu” để cắm mốc địa giới của làng, nhằm khẳng định địa giới của làng mình với làng khác và để xua đuổi tà ma khỏi làng. Trong phạm vi địa giới đó, thành lập ba miếu thờ thần bảo vệ cho cuộc sống dân bản, đó là các thần “Rừng” lập miếu thờ ở đầu làng; thần “Nông” lập miếu ở ngang làng; thần “Bảo vệ” lập miếu ở cuối làng. Mỗi miếu thờ một cây cổ thụ lâu năm. Ngoài phạm vi không gian địa giới của làng, mỗi làng đều có một khu “rừng cấm” để bảo vệ nguồn lâm sản xung quanh khu vực sinh sống, không ai được tự ý chặt phá cây cối, khai thác lâm sản trong rừng cấm, chỉ trừ những ai lấy gỗ làm nhà mới được phép khai thác và phải xin phép người quản lý khu rừng cấm do dân làng bầu chọn. Hệ thống Hương ước của người Hà Nhì đen vô cùng chặt chẽ và khắt khe, nhằm đảm bảo những giá trị văn hóa, quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân cũng như bảo vệ trật tự trị an trong làng. Bao gồm các Hương ước về: bảo vệ rừng cấm; công tác hòa giải khi có trán chấp tài sản, ly hôn; xử phạt tội hoang thai, hiếp dâm, trộm cắp; quy định về phép ứng xử giữa các thế hệ ttrong cùng một gia đình… Về ngôn ngữ giao tiếp: Người Hà Nhì thuộc ngữ hệ Tạng - Miến. Tuy nhiên, ở ba nhóm địa phương khác nhau lại có cách phát âm khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, do quá trình giao lưu văn hoá cũng như là chung sống hoà hợp cùng với các dân tộc khác, mà điển hình là dân tộc kinh nên trong giao tiếp hàng ngày người Hà Nhì cũng sử dụng tiếng kinh. Song tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn ngữ chủ đạo của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát nói riêng và Hà Nhì ở Việt Nam nói chung. Về ẩm thực: Trong bữa ăn hàng ngày, người Hà Nhì quen ăn cơm tẻ và cơm nếp, thực phẩm chủ yếu là từ săn bắt và hái lượm. Vào dịp lễ tết, họ thường làm nhiều loại bánh mà nguyên liệu chính là bột gạo như bánh trưng, bánh dầy, bánh trôi…và cả nhiều món ăn truyền thống khác như thịt nướng, thịt xào và đặc biệt trong ngày tết của người Hà Nhì không thể thiếu cháo ám nấu với thịt gà hoặc thịt lợn. Trong các bữa ăn sáng, bữa trưa và bữa tối người Hà Nhì rất coi trọng bữa sáng. Từ sáng sớm thiếu nữ Hà Nhì đã dậy để chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà. Trước khi đi làm, cả nhà phải ngồi quây quần bên nhau ăn sáng mới đi làm. Trong các bữa ăn không thiếu bát canh. Bữa trưa với người Hà Nhì không quan trọng bằng bữa sáng hay tối và đồ ăn cũng không được chuẩn bị chu đáo như bữa tối hay sáng. 8 Người Hà Nhì thích nhuộm răng, trồng đay và bông để dệt vải là những nghề thủ công mà người Hà Nhì làm. Tất cả các loại vải may mặc phải là vải màu hoặc nhuộm chàm chứ không dùng vải trắng, họ quan niệm màu trắng là màu của tang tóc và chia ly. Ngoài ra, họ còn trồng cây chàm để làm thuốc nhuộm. Về trang phục: Ở mỗi nhóm địa phương có cách ăn mặc và trang trí trang phục có sự khác biệt nhỏ. Tuy nhiên, trang phục của người Hà Nhì gần giống với các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ, đặc biệt ở trang phục phụ nữ. Mũ, hai ống tay và nẹp áo có trang trí và đính những hạt cườm, đồng bạc. Phong cách trang trí ở hai ống tay là rực rỡ nhất, tốn công nhất và đẹp nhất, cách trang trí ở hai ống tay cũng gần giống phong cách của dân tộc Lô Lô và H’Mông. Hai ống tay được trang trí bằng những mảnh vải khác nhau và xem người may có đảm trong việc may vá hay không là xem ở cách phối các vải màu trong việc trang trí ống tay áo. Vòng tay là đồ trang sức phổ biến của nam nữ Hà Nhì, vòng tay cũng là minh chứng cho tình yêu của đôi trai gái. Về tôn giáo tín ngưỡng: Người Hà Nhì không có tôn giáo, cũng giống với đại bộ phận các dân tộc Việt Nam, một trong những truyền thống tín ngưỡng nổi bật của người Hà Nhì là thờ cúng tổ tiên. Thờ cúng tổ tiên được coi là một nhiệm vụ cao cả của thế hệ con cháu đối với tổ tiên, với những người thân đã khuất. Bàn thờ của người Hà Nhì được đặt ở nơi đầu giường, ngang xà nhà mà người thờ cúng ngủ. Người Hà Nhì không có tục cúng chung toàn dòng họ mà chỉ thờ cúng theo gia đình. Việc thờ cúng do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận. Nếu dòng trưởng không có người thừa kế thì việc thờ cúng chuyển cho con trai út. Các thành viên trong gia đình, dù đã ra ở riêng, nếu chết phải đưa xác về trước bàn thờ bố mẹ thì người quá cố mới được thờ chung với tổ tiên. Hàng năm, vào tối 30 tết một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện. Đó là lễ tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, đọc tên từng tổ tiên và mọi người cùng nhắc lại. Tên từng người được gọi theo cách gọi phù tử liên danh, tên cha nối với tên con, nên có vần điệu dễ nhớ. Có nơi nghi lễ này cũng được thực hiện trong lễ nhập quan cho người chết. Việc thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa lớn cho thế hệ sau, nó vừa nhắc nhở con cháu phải giữ gìn truyền thống tốt đẹp của gia đình dòng họ, dân tộc vừa là sự tôn kính, sự cảm tạ của con cháu đối với những người đã khuất và cầu mong họ trở che, phù hộ độ trì cho gia đình khoẻ mạnh, no ấm và hạnh phúc. Về ma chay: Người Hà Nhì không chôn cất người chết vào mùa mưa, vào mùa mưa nếu có chôn cất thì cũng chỉ là quan tài của người được treo xuống 9 huyệt nhưng không lấp mà làm mái che để vậy, hết mùa mưa họ làm lễ chôn cất. Theo quan niệm của họ, mùa mưa là mùa vạn vật sinh nở, đất ẩm ướt và mát vì thế khi chôn vào mùa mưa xác người sẽ không thể tan mà xác sẽ sống lại. Với người Hà Nhì xác chết sau một quãng thời gian dài mà sống lại là một điểm gở đối với gia đình và dòng họ. Ngoài ra, người Hà Nhì chọn điểm huyệt bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào huyệt ở đấy. Còn có một số lễ cúng như là lễ cúng bản vào tháng 3 (âm lịch) và các nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Khu Già Già”, ăn lúa mới… Đó là những nét cơ bản về hệ thống tôn giáo tín ngưỡng truyền thống của người Hà Nhì. Về thể loại văn học dân gian: Văn học dân gian của người Hà Nhì cũng rất phát triển bao gồm nhiều thể loại như: truyện thần kì, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ…Dân ca, dân vũ là những hình thức được mọi lứa tuổi ưa thích. Tuy nhiên, tất cả các tác phẩm văn học của người Hà Nhì thì không được ghi chép lại cụ thể mà truyền miệng từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác vì vậy không ai biết rõ tác phẩm ra đời vào thời kì nào và là công trình của sáng tác tập thể. Các thể loại văn học của người Hà Nhì mang ý nghĩa sâu sắc, đó là những tác phẩm về lòng tự hào dân tộc, giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng yêu quê hương, đất nước. Các loại nhạc cụ của người Hà Nhì có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo. Nam nữ thanh niên Hà Nhì có điệu múa riêng theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ. Khèn lá, đàn môi, sáo dọc là những nhạc cụ để trai gái Hà Nhì tỏ tình với nhau. Thiếu nữ Hà Nhì thích thổi am - ba, mét - du, tuy - huý hay nát - xi vào ban đêm. Tiếng sáo theo quan niệm của người Hà Nhì là tiếng gọi bạn, với những ai chưa có người yêu thì thổi sáo với ý tìm bạn đời. Còn với ai đã có người yêu rồi thì tiếng sáo thay đối phương nói hộ rằng “anh (em) hãy ra để tâm sự cùng em (anh)”. Con trai Hà Nhì gảy đàn “Lạ Khư” rất giỏi. Người Hà Nhì còn có nhiều loại bài hát như: Các bà mẹ hát ru con, thanh niên nam - nữ hát đối…có hát đám cưới, đám ma, hát mừng nhà mới, hát tiếp khách quý, hát trong ngày tết… Người Hà Nhì theo lịch mặt trăng chúng ta thường gọi đó là âm lịch, lịch của người Hà Nhì mỗi năm có 12 tháng, tháng ít là 29 ngày, tháng nhiều là 30 ngày. Tết “Ka tho tho” là một lễ tết rất quan trọng của người Hà Nhì, có ý nghĩa và tầm quan trọng như tết nguyên đán của người Kinh, diễn ra trước tết nguyên 10 đán của người Kinh chừng trên dưới 2 tháng. Với họ, đây là thời điểm thư thái nhất, việc đồng áng đã gọn ghẽ, còn mùa vụ sau chưa đến lúc. Việc ăn tết không ấn định ngày nào (vào khoảng cuối tháng 10 đầu tháng 11) thời gian và quy mô tổ chức là do hội đồng già làng, trưởng bản bàn bạc và thống nhất trên cơ sở các yếu tố như: Thời tiết, mùa màng, khả năng kinh tế của mỗi gia đình… Tết Ka tho tho của người Hà Nhì diễn ra khá sôi động. Theo phong tục, buổi chiều tất niên mỗi gia đình mổ một con gà để cúng tiễn biệt năm cũ, đêm đó được gọi là đêm giao thừa, khắp bản tiếng giã bánh dầy, bánh trôi thật sôi động và làm rung cả vùng trời rừng núi. Vào đầu canh ba, nhà nhà thi nhau mổ lợn, họ quan niệm rằng nhà nào mổ lợn xong sớm, chọc tiết lợn một lần được ngay thì sang năm sẽ phát tài phát lộc, cuộc sống no ấm, con cháu sum vầy. Tết diễn ra chừng 4 tuần lễ, suốt một tuần đó ngày cũng như đêm tưng bừng, nhộn nhịp, trẻ thơ, nam nữ thanh niên vui chơi, hẹn hò, người già thì kể lại cho nhau nghe những câu chuyện về lai lịch dòng tộc từ 9, 10 đời trước hoặc nói về những ước nguyện sâu xa, về dâu hiền cháu thảo… Ngoài ra, đồng bào Hà Nhì còn một số tết như tết tháng 6 khu già già.Tết diễn ra vào thời điểm cuối hè khi cây lúa bắt đầu lên đồng, ngô gieo đã lên xanh với ý nghĩa cầu mong một vụ mùa bội thu. Bằng các nghi lễ cổ truyền, người Hà Nhì thể hiện sự tôn kính đối với thần rừng, núi, trời và thần đất. Về các trò chơi giải trí: Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm, khéo léo như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay. Bên cạnh đó còn có một số trò chơi giải trí như ném Còn. Ném Còn của người Hà Nhì khác với ném Còn của người Thái. Người Hà Nhì ném Còn chỉ cần 2 đội ở cách xa nhau đến vài chục mét, hai đội thi nhau ném, khi nhóm này ném sang thì nhóm bên kia phải bắt quả còn, nếu bắt trượt sẽ phải cởi bỏ một thứ đồ trên người như mũ, vòng tay, dép…Bên nào hết đồ trước thì bên đó thua. Nói chung, những ngày lễ tết với các trò chơi giải trí đều mang ý nghĩa lành mạnh. Nó nói lên mong ước của người dân lao động muốn làm sao cho mùa màng bội thu, đời sống no ấm, hạnh phúc. Đồng thời cũng nhằm cải thiện phần nào đời sống của người lao động sau những ngày lao động vất vả trên đồng ruộng, trên nương rẫy. Với những bản sắc văn hoá riêng, người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai đã góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm cho bức tranh văn hoá chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ngày nay, cùng với sự quan tâm của các 11 cấp uỷ đảng, nhà nước, những tập quán cổ hủ, lạc hậu dần được loại bỏ thay vào đó là những nếp sinh hoạt văn hoá lành mạnh, góp phần xây dựng văn hoá huyện Bát Xát nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung ngày càng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 12 CHƯƠNG 2 PHONG TỤC CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN BÁT XÁT – TỈNH LÀO CAI 2.1. Quan niệm về tình yêu, hôn nhân của người Hà Nhì Như chúng ta đã biết gia đình là “tế bào” của xã hội, một xã hội muốn phát triển thịnh vượng thì cuộc sống phải ấm no, hạnh phúc, phải có những “gia đình văn hóa”. Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, yên bề gia thế, duy trì nòi giống cho thế hệ mai sau thì phải bắt đầu từ một cuộc hôn nhân lành mạnh tốt đẹp. Hôn nhân người Hà Nhì cũng không nằm ngoài mục đích đó, do vậy vấn đề tình yêu, hôn nhân được người Hà Nhì thường xuyên quan tâm và đặt lên hàng đầu. Đối với một số dân tộc ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến và hủ tục lạc hậu nên nên vấn đề tình yêu, hôn nhân có nhiều rằng buộc. Thuận theo sự sắp đặt của bố mẹ theo thông lệ “cha mẹ đặt đău con ngồi đố” hoặc những đôi nam nữ muốn tiến đến hôn nhân phải đi bói toán để xem sự “xung khắc”... Đối với dân tộc Hà Nhì hoàn toàn không phải như vậy, do quan niệm tốt đẹp về tình yêu, hôn nhân và các mối quan hệ xã hội mà trai gái Hà Nhì được tự do yêu đương, tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời của mình. Đến khi được một người thật ưng ý, tình yêu đến độ chín muồi thì cả hai mới thông báo cho bố mẹ nguyện vọng muốn tiến đến hôn nhân. Do đó những bậc làm cha, làm mẹ người Hà Nhì cũng không phải lo lắng đến chuyện tìm vợ, gả chồng cho con cái, chỉ cần đợi đến ngày con cái lớn khôn và thông báo chuyện cưới hỏi mới phải lo liệu đám cưới cho con. Đó là một quan niệm rất tiến bộ trong tình yêu, hôn nhân của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai, vừa phù hợp với quy luật tình yêu trong sáng, tự nguyện, vừa phù hợp pháp luật Nhà Nước. Hai cách dẫn tới hôn nhân: - Hôn nhân được tiến hành giữa đôi trai gái trên cơ sở tình yêu đôi lứa, qua quá trình tìm hiểu với nhau từ trước Nam nữ Hà Nhì khi đến tuổi “trăng tròn” đã có những hiểu biết xã hội cơ bản và làm được những công việc của người lớn thì tự ý thức được số phận của bản thân, lo lắng cho tương lai sau này của mình và bắt đầu đi tìm một người yêu có cùng lý tưởng sống, cùng hoàn cảnh và cùng sở thích cá nhân. Tình yêu đôi lứa được xây dựng và lớn lên trong các lễ hội “chùm chăn”, “khu già già”, 13 “ka tho tho”, những đêm hẹn hò, hát giao duyên dưới ánh trăng tròn... họ tâm tình với nhau, kể cho nhau nghe về hoàn cảnh gia đình, ước mơ trong cuộc sống sau này, những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày... khi tìm hiểu kỹ về nhau, thấy có cùng chung chí hướng, tin tưởng vào nhau thì đôi trai gái quyết định đi đến hôn nhân và cùng hẹn ước. Lúc này, người con trai sẽ đưa cho người con gái một vật giao ước, người con trai xin của bố mẹ hoặc anh, chị năm đồng bạc trắng, một nắm thuốc lào, kèm theo một số đồ nữ trang tất cả được gói gọn trong một cái khăn mùi xoa làm vật giao ước. Vật giao ước mà người con trai đưa cho người con gái được coi là vật đính hôn đồng thời là lời thề ước sẽ ở bên nhau trọn đời. Khi người con trai trao vật giao ước cho người con gái, người con gái không chìa tay ra nhận ngay mà e thẹn lấy tà áo đỡ vật giao ước, điều đó nói lên rằng người con gái đón nhận tình cảm và lời cầu hôn của người con trai bằng cả tấm lòng chân thành và nguyện đi theo chàng trai suốt đời. - Hôn nhân được tiến hành trên cơ sở sự tác hợp của gia đình và dòng họ Như đã nói trên, nam nữ Hà Nhì được tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời không bị lệ thuộc vào sự sắp đặt của bố mẹ. Tuy nhiên, nếu ai đó nhất là con trai đã đến tuổi mười tám đôi mươi mà vẫn không tìm được cho mình một người yêu, không thông báo cho bố mẹ chuyện lấy vợ thì bị coi là người kém cỏi, bị bạn bè chê bai. Bố mẹ cũng lo lắng và hối thúc con. Lúc này, bố mẹ sẽ cất công đi thăm dò, dặm hỏi vợ cho con hoặc nhờ bạn bè, anh chị của người con trai dẫn đi tìm vợ hoặc có thể nhờ người lớn tuổi trong dòng họ, làng xóm làm mối. Đến khi tìm được mối rồi thì bố mẹ người con trai sẽ trực tiếp đến gạn hỏi bố mẹ nhà gái và người con gái xem có đồng ý có lấy con trai mình làm vợ hay không. Nếu bên nhà gái đã đồng ý thì hai bên chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành lễ cưới. Tuổi đời kết hôn và việc chọn ngày cưới Ngày xưa, do trình độ dân trí thấp và chịu ảnh hưởng từ những quan niệm lạc hậu mà người con trai, con gái Hà Nhì thường kết hôn ở tuổi đời còn rất trẻ, con trai thì khoảng 16 tuổi đến 17 tuổi, con gái từ 15 tuổi đến 16 tuổi. Khi cả đôi bên nam nữ quyết định đi đến hôn nhân thì việc chọn ngày cưới cũng rất quan trọng. Nam nữ Hà Nhì thường kết hôn vào mùa xuân (tháng 2 âm lịch) hoặc mùa thu (tháng 8 âm lịch), vì đây là thời gian khá rảnh rỗi của người Hà Nhì, là thời gian trước mùa cấy và mùa gặt. Sau khi tổ chức xong lễ cưới đôi vợ chồng trẻ sẽ bước vào mùa vụ mới, thể hiện tài lao động và sự cần cù của họ. Ngày 14 cưới phải chọn ngày lành, tháng tốt, tránh vào các ngày giỗ của ông bà, tránh vào ngày sinh của bố mẹ và các anh chị em bên nhà gái. Đặc biệt là ngày cưới không được trùng với ngày rồng (thìn) và ngày rắn (tỵ) trong mười hai vòng giáp vì cả hai ngày này đều là ngày thiêng. Người Hà Nhì quan niệm ngày rồng là ngày tốt, còn ngày rắn là ngày sinh của cả làng. Bởi vậy, trong hai ngày này không muốn cho ai vay mượn, lấy đi thứ gì, càng không thể gả con gái mình cho làng khác, vì đó là sự mất mát chung của cả làng. Nếu ai đó vi phạm quy tắc sẽ bị làng phạt vạ, số lượng tùy thuộc vào hệ thống hương ước của làng. 2.2. Những công việc mà người con trai, con gái phải làm để xây dựng gia đình Những công việc mà người con trai phải làm Với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính, con trai Hà Nhì từ nhỏ đã phải theo bố mẹ ra đồng học cày, theo mẹ lên nương làm rẫy, đi chăn trâu, tụ họp bạn bè, do vậy, trước khi sang tuổi thành niên, con trai Hà Nhì đã trở nên vạm vỡ, trưởng thành, có sức khoẻ dẻo dai, khéo léo, đảm đương được những công việc nặng nhọc như: Đi cày, bừa, vác gỗ làm nhà, biết trình tường, rào vườn, đào ruộng bậc thang…biết giao lưu bạn bè bốn phương để mở mang tầm mắt, đi tìm người yêu, đi kiếm vợ. Ở tuổi 15, 16 bố mẹ cũng thường lưu tâm dạy dỗ con trai về những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, dạy con trai biết đan địu, đan mâm cơm, đóng bàn ghế để sớm trở thành trụ cột trong gia đình Nếu không làm được những công việc kể trên thì người con trai sẽ bị coi là kém cỏi, chưa trưởng thành và thua xa bạn bè. Do đó sẽ rất khó kiếm được người yêu và khó lấy được vợ. Những công việc mà người con gái phải làm Nếu người con trai Hà Nhì từ nhỏ được bố mẹ cho đi học cày bừa, biết trình tường, đan địu...thì người con gái Hà Nhì ngay từ khi mới 11 tuổi, 12 tuổi đã được bố mẹ dạy bảo chu đáo. Trong cuộc sống của dân tộc Hà Nhì, vai trò của người phụ nữ luôn luôn được đề cao, người Hà Nhì quan niệm: Trong cuộc sống, nếu không có sự dung hợp của cả nam và nữ thì sẽ không duy trì được nòi giống, xã hội sẽ mất cân bằng, bị đảo lộn. Để xứng đáng với vai trò và vị trí của mình, con gái Hà Nhì phải học rất nhiều việc hơn con trai trước khi làm dâu, làm mẹ và làm vợ. 15 Trước hết, các bà mẹ dạy con gái biết ăn ở sạch sẽ, gọn gàng, biết giặt giũ, quét dọn nhà cửa, dạy con gái biết sắp xếp đồ đạc trong gia đình, dạy con cách chăn gà, chăn vịt…dạy cách trồng các loại hoa màu. Đặc trưng kinh tế của người Hà Nhì là sống tự cấp, tự túc vì vậy, con gái Hà Nhì phải biết trồng các loại hoa màu và thực phẩm thiết yếu như: đỗ tương, lạc, khoai, sắn…và đặc biệt là biết trồng ớt. Cũng như các dân tộc khác sinh sống trên dải đất hình chữ S, tiêu chuẩn một phụ nữ hoàn thiện của người Hà Nhì đó là biết thêu thùa, biết may vá, biết dệt vải, xen tơ. Vì vậy, con gái Hà Nhì khi đến tuổi trưởng thành bắt buộc phải học được cách dệt vải, thêu, may. Đầu tiên, các cô gái sẽ được mẹ dạy cho đường kim mũi chỉ đơn giản, dần dần học các công việc khó hơn như dệt vải, xen tơ, thêu hoa văn trên trang phục dân tộc… Ngoài những công việc trên, một cô gái Hà Nhì muốn trở thành một cô con dâu, người vợ, người mẹ thì phải đảm việc bếp núc, đảm các công việc “nữ công” như: Biết gói bánh chưng, biết làm bánh dầy, biết giã gạo, biết sàng gạo, biết chuẩn bị mâm cỗ trong ngày lễ tết. Phải học cách tiếp khách khi về nhà chồng, biết gánh rau xuống chợ để bán. Đặc biệt, con gái Hà Nhì phải có sức khoẻ dẻo dai để địu củi từ núi cao về nhà dự trữ để sử dụng trong những ngày đông giá rét và mùa hè mưa tầm tã, ẩm ướt. Chàng trai, thiếu nữ Hà Nhì được dạy dỗ, hoàn thành được những công việc trên thì cha mẹ có thể yên tâm về con cái của mình, yên tâm cho con cái tự do đi tìm bạn đời. Như vậy, cả con trai và con gái Hà Nhì đều có các điều kiện cần thiết để sẵn sàng cho cuộc sống mới - cuộc sống hôn nhân gia đình 2.3. Đám cưới của người Hà Nhì 2.3.1. Công tác chuẩn bị cho đám cưới Nếu như các dân tộc khác (Tày, Thái, Dao), sự chuẩn bị cho một đám cưới đòi hỏi nhiều giai đoạn phức tạp, lắm đồ sính lễ, tốn nhiều tiền của dẫn đến tình trạng phải chờ đến khi có đủ tiền rồi mới cưới được vợ. Đám cưới của người Hà Nhì đơn giản hơn rất nhiều, không đòi hỏi nhiều lễ vật và khâu đoạn rườm rà. Người xưa có câu: “Chỉ cần một con gà trống, ba quả trứng, ba bọc xôi có thể cưới được vợ về nhà”. Nói như thế không có nghĩa trong đám cưới của người Hà Nhì không cần sính lễ, thiếu đi các lễ nghi truyền thống. Trong đám cưới của người Hà Nhì vẫn có nghi lễ thách cưới, các công đoạn, lễ nghi độc đáo như lễ đón dâu, lễ cúng bái tổ tiên, lễ lại mặt, vừa hợp lí, tương tấp nhưng lại giản đơn 16 tiết kiệm. Do đó, bất cứ chàng trai Hà Nhì nào dù hoàn cảnh có khấm khá hay nghèo khó đều có thể lấy được vợ. Đám cưới của người Hà Nhì chia làm hai lần cưới, lần cưới thứ nhất là đám cưới bên nhà trai, lần cưới này đơn giản và không tốn kém, sau lần cưới này đôi trai gái chính thức trở thành vợ chồng. Lần cưới thứ hai, cưới bên nhà gái. Lần cưới này được tổ chức sau lần cưới thứ nhất từ 5 đến 6 tháng hoặc có thể lâu hơn, không bị giới hạn về thời gian, cho đến khi nào nhà trai đã làm ăn khấm khá mới tổ chức lần cưới thứ hai. Vì ở lần cưới thứ hai này đòi hỏi phải chuẩn bị nhiều lễ vật, tốn nhiều tiền của hơn lần cưới thứ nhất. Sự chuẩn bị cho đám cưới lần 1 (bên nhà trai) Con trai Hà Nhì sau khi đã tìm được người yêu thì cùng người yêu chọn ngày cưới thích hợp rồi đến nhờ bạn bè hoặc anh, chị, em báo giúp cho bố mẹ biết là mình muốn lấy vợ. Việc thông báo sẽ cưới vợ cho bố mẹ có thể cách 3 ngày trước khi cưới, cũng có trường hợp chỉ cách có 1 ngày. Do con trai báo tin mừng “đột ngột”, bố mẹ không có sự chuẩn bị từ trước nên việc chuẩn bị diễn ra khẩn trương và nhanh gọn. Trong nhà có con lợn, con gà béo nào thì bố mẹ đem ra mổ, hàng xóm láng riềng cũng góp gạo, góp rau, góp gà…để mừng cho lễ cưới của đôi bạn trẻ. Đại thể ở lần cưới thứ nhất này gồm có: một con lợn (khoảng 40 - 50kg), một con gà trống, một gói xôi, nếu nhà nào có điều kiện thì sự chuẩn bị có thể nhiều hơn. Ngoài ra, bố mẹ chú rể phải đi tìm hai người phụ nữ có tuổi trong làng để giữ nhiệm vụ “bà đón dâu”, chú rể phải tìm một người bạn thân nhất để làm “phù rể”, cùng chú rể đi rước dâu bên nhà gái. Một cô đón dâu nữa không thể thiếu trong đoàn đón dâu, và cô đón dâu này thường là em gái của chú rể. Đối với bên nhà gái, người cô cũng báo tin “đột ngột” và trước ngày cưới 2 đến 3 ngày, khoảng thời gian ấy, bố mẹ nhà gái dạy con cách búi tóc, dạy con gái cách làm dưa chua, chuẩn bị cho con bộ trang phục mới mặc trong ngày cưới, một cái túi đeo cũng là vật không thể thiếu trong hành trang người thiếu nữ Hà Nhì về nhà chồng. Sự chuẩn bị cho đám cưới lần 2 (bên nhà gái) Đám cưới lần thứ hai bên nhà gái thường được tổ chức sau đám cưới bên nhà trai từ 5 đến 6 tháng, khi nhà trai đã chuẩn bị đầy đủ đồ sính lễ theo yêu cầu của nhà gái. Tuy nhiên, lần cưới thứ hai này không giới hạn về thời gian, có 17
- Xem thêm -