Tài liệu Tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước luận văn ths. luật

  • Số trang: 127 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 521 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Tham gia: 10/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGÔ THIÊN VÂN TƯ TƯỞNG VỀ HẠN CHẾ SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGÔ THIÊN VÂN TƯ TƯỞNG VỀ HẠN CHẾ SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học:TS. Nguyễn Minh Tuấn Hà Nội - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin, dữ liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Ngô Thiên Vân MỤC LỤC Trang Trang bìa phụ Lời mở đầu Mục lục MỞ ĐẦU..........................................................................................................1 Chƣơng 1 - LÝ DO RA ĐỜI VÀ LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG VỀ HẠN CHẾ SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC.........................................................................................8 1.1 Lý do ra đời tƣ tƣởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lựcnhà nƣớc......................................................................................................8 1.1.1 Quyền lực nhà nước..............................................................................8 1.1.2 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là nhu cầu tất yếu khách quan............................................................................................11 1.1.3 Vai trò của hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước.........................14 1.1.3.1 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là cơ sở ra đời Hiến pháp.....................................................................................................14 1.1.3.2 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là điều kiện để ngăn ngừa, giảm thiểu sự vi phạm quyền con người..................................20 1.2 Lƣợc sử phát triển tƣ tƣởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhànƣớc...............................................................................................24 1.2.1 Các tư tưởng thời kỳ cổ đại...................................................................24 1.2.2 Các tư tưởng thời kỳ cận đại.................................................................31 1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề tổ chức quyềnlực nhànước......38 Kết luận chương 1...........................................................................................42 Chƣơng 2 - NHỮNG PHƢƠNG THỨC CƠ BẢN ĐỂ HẠN CHẾ SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM..........................................44 2.1 Những phƣơng thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lựcnhà nƣớc........................................................................................44 2.1.1 Hiến pháp..............................................................................................45 2.1.2 Chủ nghĩa hợp hiến...............................................................................54 2.1.3 Nhà nước pháp quyền...........................................................................60 2.1.4 Bảo hiến................................................................................................69 2.1.5 Học thuyết phân quyền.........................................................................77 2.1.6 Tư pháp độc lập....................................................................................82 2.1.7 Sự ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.................88 2.1.8 Sự giám sát của nhân dân......................................................................93 2.1.9 Những phương thức khác hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ bên ngoài nhà nước...........................................................................97 2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam...........................................103 Kết luận chương 2.........................................................................................112 KẾT LUẬN..................................................................................................113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................115 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của xã hội loài người, từ khi ra đời đến nay con người đã mất rất nhiều công sức tìm hiểu bản chất, quy luật vận động của nó trong tiến trình lịch sử nhân loại để nhằm mục đích tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước sao cho hiệu quả nhất nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của nó. Vì, nhà nước tuy là một thiết chế xã hội đặc biệt để duy trì trật tự, ổn định giữa những con người cùng sống trong một khu vực địa lý nhất định, nhưng nhà nước cũng chính là nguyên nhân của sự đàn áp, bóc lột của nhóm người này đối với nhóm người khác trong khu vực địa lý nhất định ấy. Chính vì thế, từ thời cổ đại đến nay đã xuất hiện rất nhiều tư tưởng, học thuyết khác nhau về việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, mà nội dụng trọng tâm là để tìm ra phương thức hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước sao cho hiệu quả nhất. Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy nhận thức của con người phát triển cùng với quá trình tích lũy những kiến thức của thời đại, nêntheo thời gian con người đã tìm ra những biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước xu hướng tha hóa của chính quyền nhà nước bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng quyền lực nhà nước. Điều này đã giới hạn quyền lực nhà nước tránh sự chuyên quyền, lạm quyền của những chủ thể thực hiện quyền lực công để mưu cầu lợi ích riêng. Lịch sử và hiện tại đã ghi nhận rất nhiều cách thức, biện pháp để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước, tùy vào bản chất của từng kiểu nhà nước khác nhau. Có những cách thức chỉ đem lại hiệu quả trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhưng có những cách thức vẫn còn phù hợp đến hiện tại. Vấn đề quan trọng của bất kỳ một nhà nước hiện đại nào là tìm ra được những phương thức hiệu quả, phù hợp để vận dụng cho mình. 1 Đối với Việt Nam cũng thế, nhất là khi chúng ta đang trên con đường thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, thì vấn đề này lại càng cấp bách hơn nữa. Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất không phân chia, mà chỉ phân công, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" [44, tr.85]; với mục đích nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước và đẩy lùi nạn quan liêu tham nhũng ở nước ta hiện nay. Nhưng mục đích này chỉ thành côngkhi sự lạm dụng quyền lực nhà nước được hạn chế bằng những phương thức hiệu quả, thực tế; đồng thời khi đó quyền con người, sự công bằng, dân chủ mới được đảm bảo - đây là những nội dung quan trọng phải đạt được nếu muốn xây dựng thành công mô hình nhà nước pháp quyền. Đứng trước yêu cầu cấp bách đó, tôi đã chọn đề tài: “ Tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước” để nghiên cứu. Qua đó, tôi mong rằng những nội dung được đề cập đến trong luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm, tìm hiểu đến lĩnh vực hạn chế quyền lực nhà nước. 2. Tình hình nghiên cứu Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là một lĩnh vực phức tạp, có những thời kỳ vấn đề này còn mang tính nhạy cảm cao. Ở Việt Nam trong hơn 10 năm gần đây, nội dung về hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước mới được các nhà nghiên cứu về chính trị học, luật học đề cập đến một cách phổ biến và rộng rãi. Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu như: 2 - Sự hạn chế quyền lực nhà nước (2005) Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung. Tác giả đã nêu ra sự cần thiết của nhà nước đối với xã hội, nhà nước luôn có xu hướng tha hóa quyền lực, vì vậy, cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước; và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế quyền lực nhà nước thông qua cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài nhà nước. - Kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay – vấn đề và giải pháp (2007), Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Hà Nội, Th.s Trịnh Thị Xuyến. Luận án đi sâu phân tích về vấn đề quyền lực nhà nước và tính tất yếu phải kiểm soát quyền lực nhà nước. - Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới (2008), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tô Huy Rứa (chủ biên). Tác phẩm trình bày lí luận chung về giám sát quyền lực trong bộ máy nhà nước trong mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới. Các tác giả trong công trình đã lý giải tại sao phải hạn chế quyền lực nhà nước, vì bản thân mỗi con người luôn tồn tại bản tính hai mặt trong đời sống xã hội là tích cực và tiêu cực, thiện và ác nên cần phải có những biện pháp kiểm soát tương ứng. - Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước (2005), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, TS. Nguyễn Thị Hồi. Tác giả làm rõ việc cần thiết phân chia quyền lực nhà nước, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế việc lạm dụng quyền lực, chuyên quyền, độc đoán. - Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, GS.TS. Trần Ngọc Đường. Tác phẩm trình bày khá đầy đủ và hệ thống cơ sở lí luận, thực tiễn về quyền lực nhà nước, kiểm 3 soát quyền lực nhà nước trong các nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản); làm rõ điểm tiến bộ của Việt Nam trong việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực khi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước ( 2011), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng. Tác giả đã phân tích và lý giải cách thức tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước trong các kiểu và mô hình nhà nước khác nhau như nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà nước tư sản; tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước của Nga, Trung Âu, Đông Âu trước năm 1991, nhà nước liên bang Nga và nhà nước Việt Nam hiện nay. Ngoài ra còn có một số tác phẩm như Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài – Sách tham khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn - Sách chuyên khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, vv… Những công trình nghiên cứu kể trên đã đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu lĩnh vực hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước. Từ việc tham khảo những tác phẩm này đã giúp học viên có thêm những kinh nghiệm quý để triển khai những vấn đề, nội dung chưa được đề cập, tiếp cận sâu. Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ của mình, tôi sẽ đi sâu nghiên cứu về việc ra đời tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước cũng như những phương pháp hạn chế và bài học kinh nghiệm quý giá đối với Việt Nam. Đây là những nội dung mà các công trình kể trên chưa hệ thống bao quát, toàn diện. 3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài - Mục đích: Làm rõ quá trình hình thành tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. So sánh, đánh giá những phương thức để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 4 - Nhiệm vụ: Từ mục đích ở trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau: + Phân tích những tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước trong các thời kỳ lịch sử nhân loại. Cũng như quan điểm của các nhà tư tưởng mác - xít và quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đế này để rút ra những điểm kế thừa trong Hiến pháp 2013. + Phân tích những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước cả từ bên trong lẫn bên ngoài nhà nước, từ đó đề xuất những phương thức phù hợp với Việt Nam hiện nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: là tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. - Phạm vi nghiên cứu: là quá trình hình thành, phát triển các tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước trong lịch sử và hiện tại, cũng như sự vận dụng tư tưởng này trên thực tế, thể hiện thông qua các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước từ bên ngoài và từ bên trong nhà nước ( tự hạn chế) ở trên thế giới và ở Việt Nam. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu * Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết Qua việc phân tích các tài liệu, lý luận về tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thành các giai đoạn và cách thức khác nhau, để tìm hiểu sâu sắc hơn tư tưởng này. Từ đó tổng hợp các giai đoạn, cách thức đã phân tích để hệ thống đầy đủ và khoa học về lý do ra đời và lược sử phát triển của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. * Phương pháp lịch sử Qua việc nghiên cứu lý do ra đời và lược sử phát triển của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, từ đó hiểu rõ hơn bản chất và xu hướng 5 phát triển của tư tưởng này trong xã hội hiện đại. Thông qua đó, rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. * Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết Thông qua việc sắp xếp những cách thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước theo bản chất của hiện tượng này, để hệ thống các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thành các phương thức bên trong và phương thức bên ngoài. 6. Tính mới của đề tài - Luận văn đã hệ thống tương đối đầy đủ, toàn diện quá trình hình thành, phát triển cũng như nguyên nhân ra đời của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. - Luận văn đã bước đầu so sánh, đánh giá được các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và qua đó đề xuất phương thức phù hợp cho Việt Nam. 7. Ý nghĩa của luận văn Trên cơ sở những phân tích về sự hình thành, tồn tại và phát triển của nhu cầu hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước cũng như các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước trong lịch sử và hiện tại, luận văn sẽ nêu được nhu cầu tất yếu, khách quan của việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, cũng như những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, cũng từ kết quả nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ trở thành một tài liệu tham khảo có giá trị, mang tính hệ thống về lý thuyết hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và các phương thức của nó. Qua đó, giúp cho việc tìm hiểu về lý thuyết hạn chế quyền lực nhà nước được dễ dàng hơn. 8. Kết cấu của luận văn 6 Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương: - Chương 1: Lý do ra đời và lược sử phát triển tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. - Chương 2: Những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. 7 Chƣơng 1 LÝ DO RA ĐỜI VÀ LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG VỀ HẠN CHẾ SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC 1.1. Lý do ra đời tƣ tƣởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nƣớc 1.1.1. Quyền lực nhà nước Quyền lực là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu và bởi nhiều nhà tư tưởng của nhiều thời đại, song cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa về quyền lực được đông đảo mọi người, từ các học giả đến các nhà hoạt động thực tiễn thừa nhận. Do đó, có nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực, song với nghĩa chung nhất có thể hiểu quyền lực là sức mạnh mà nhờ đó một chủ thể có thể bắt các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình. Quyền lực công cộng mang tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội, nó là tiền đề đầu tiên để hình thành xã hội và nhờ nó mà các thành viên trong cộng đồng xã hội gắn kết với nhau. Theo nghĩa này, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự tồn tại của con người, bởi vì, hoạt động phối hợp, hoạt động mang tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con người. Bất kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có người tổ chức, người chỉ huy và những kẻ phục tùngcái vốn tạo thành nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện tại của phạm trù quyền lực. Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể có đủ khả năng chỉ huy và phối hợp hoạt động của tất cả các chủ thể khác chính là nhà nước nên quyền lực nhà nước là thứ quyền lực quan trọng nhất. Quyền lực nhà nước là việc tối đa hóa quyền lực công để hiện thực hóa lợi ích chính trị của giai cấp cầm quyền, trên cơ sở vẫn đảm bảo ở mức độ nhất định lợi ích chung của cộng đồng. Từ quan niệm chung thống nhất về quyền lực, có thể hiểu quyền lực nhà nước là sức mạnh của nhà nước có thể bắt các chủ thể khác trong quốc 8 gia phải phục tùng ý chí của nó. Nhờ có quyền lực này mà nhà nước có đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp hoặc giữ cho xung đột ấy ở trong vòng một trật tự nhất định để xã hội có thể tồn tại và phát triển được. Cũng nhờ có quyền lực đó mà nhà nước có thể thực hiện và bảo vệ được quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp thống trị, có thể tổ chức và quản lý xã hội, thiết lập, củng cố, bảo vệ trật tự và sự ổn định của xã hội, làm cho xã hội phát triển theo chiều hướng mà nó mong muốn. Hầu hết hiến pháp các quốc gia đều tuyên bố, quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho nhà nước nên được thực hiện nhân danh nhân dân và đại diện cho lợi ích của toàn xã hội. Song thực tế, xét về bản chất thì quyền lực nhà nước chủ yếu là quyền lực của giai cấp thống trị và một phần quyền lực xã hội. Sự vân động của quyền lực nhà nước luôn chịu sự quy định của mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của quyền lực. Ở một mức độ nhất định quyền lực nhà nước cũng chịu ảnh hưởng từ phía các lực lượng xã hội , tổ chức xã hội. Do vậy, khi hoạt động trước hết vì lợi ích của một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định, nhà nước phải tính tới lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác và khi có tính độc lập nhất định, nó có thể thực hiện một số chức năng trọng tài trong cuộc cạnh tranh giữa các lực lượng không thống nhất; nhà nước còn phải nhân dân toàn quốc gia dân tộc để thực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm trật tự an toàn và ổn định xã hội. bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng. Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được thực hiện bởi các cơ quan trong bộ máy, với những con người cụ thể trong bộ máy ấy. Vì vậy, việc thực thi quyền lực cụ thể phụ thuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước và con người trong bộ máy ấy. Nếu như người cầm quyền được trao quyền, không biết thực thi quyền lực cho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích vụ lợi thì sức mạnh của quyền lực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội. Vì 9 thế muốn có một xã hội tốt đẹp, quyền tự do con người được đề cao, xã hội không phải gánh chịu những lộng hành sai phạm vô ý thức hoặc có ý thức của nhà nước thì phải có cơ chế hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, kiểm soát hoạt động của công chức, viên chức nhà nước. Đây là một yêu cầu tất yếu trong tổ chức và hoạt động của một nhà nước dân chủ, kể cả trong nền dân chủ XHCN của chúng ta. Sự lạm quyền không chỉ diễn ra giữa giai cấp thống trị với giai cấp bị trị, với nhân dân và với cộng đồng xã hội, mà còn diễn ra chính trong nội bộ giai cấp thống trị. Trong giai cấp thống trị chỉ có một bộ phận cầm quyền, bộ phận này vì lợi ích riêng có thể lạm quyền vi phạm đến lợi ích của giai cấp mình. Điều đó cũng có thể diễn ra trong nội bộ đảng cầm quyền, khi trở thành bộ phận lãnh đạo cầm quyền có thể vì lợi ích riêng mà vi phạm đến lợi ích chung của đảng. Có thể nói xu hướng lạm quyền thường xuyên diễn ra trong các nhà nước ở bất kỳ loại chế độ chính trị nào. Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tế rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên có thể tựu chung lại thành hai cơ chế cơ bản là tập quyền và phân quyền. Tập quyền có nghĩa là lực cao nhất của nhà nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan, cá nhân và cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước khác. Còn phân quyền nghĩa là quyền lực nhà nước được phân tách thành các loại lập pháp, hành pháp, tư pháp và được giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau.Các cơ quan này độc lập với nhau và ngang bằng nhau hoặc phụ thuộc với nhau ở một mức độ nhất định, có thể chịu trách nhiệm trước nhau, trong hoạt động có sự phân công, phối hợp, kiểm soát thậm chí đối trọng nhau để tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực càng tập trung, thì khả năng hạn chế nó càng khó. Mục đích của việc hạn chế quyền lực nhà nước là đảm bảo cho quyền lực nhà nước không bị lạm dụng, ngăn chặn các hiện tượng, xu hướng, quan liêu, độc tài, 10 chuyên quyền, độc đoán trong bộ máy nhà nước, không bị sử dụng trái với ý chí của nhân dân. Nếu không đặt ra những giới hạn rõ ràng của việc sử dụng quyền lực nhà nước thì nó sẽ trở thành bức rào cản của tự do và dân chủ, kìm hãm sự tiến bộ xã hội. Xã hội càng phát triển, quyền lực của nhà nước càng lớn thì yêu cầu của việc hạn chế quyền lực nhà nước tránh khỏi sự lạm quyền càng tăng lên. 1.1.2. Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là nhu cầu tất yếu khách quan Vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước là một lĩnh vực phức tạp của đời sống chính trị xã hội ở bất kỳ nhà nước nào. Theo giải thích của từ điển Tiếng Việt thì: "hạn chế là ngăn lại, giữ lại trong một giới hạn nhất định, không để hoặc không thể cho vượt qua". Từ giải thích này, có thể thấy khi nói đến hạn chế là đồng nghĩa với việc phải xác định một giới hạn cụ thể cho hành động. Cũng theo từ điển Tiếng Việt thì: "lạm dụng là sử dụng quá mức, quá quyền hạn". Như vậy có thể hiểu: Lạm dụng quyền lực nhà nước chính là sự tha hoá của quyền lực thể hiện dưới dạng chủ thể nắm quyền lực tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Khuynh hướng này diễn ra trong hầu hết các quá trình nắm quyền lực của chủ thể nhưng diễn biến tăng lên về sau với những hậu quả khó lường trước được. Lạm quyền có thể là sự tạo ra thêm quyền lực, có thể là mang lại lợi ích không chính đáng cho mình. Đây thực chất là việc trái phép dưới dạng vượt quá giới hạn, làm biến dạng quyền lực. Nó thường phụ thuộc nhiều vào mục đích của người nắm quyền lực. Nói cách khác thì sự lạm quyền chính là sự lợi dụng địa vị có sẵn của chính chủ thể nắm quyền lực.Suy ra, khi muốn hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước nghĩa là phải đặt ra những giới hạn trong việc thực hiện quyền lực nhà nước để tránh sự lạm quyền, chuyên quyền. Theo phân tích ở trên thì quyền lực có tính tất yếu vì trong xã hội có tổ chức thì quyền lực là 11 vấn đề không thể thiếu để duy trì xã hội trong vòng trật tự và ổn định, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, nó vừa là sợi dây vô hình để liên kết mọi người theo một trật tự xã hội nhất định, đồng thời nó lại vừa là công cụ để đảm bảo cho các liên kết này không bị phá vỡ theo hướng triệt tiêu luôn cả xã hội. Ngay từ khi bắt đầu xuất hiện, quyền lực nhà nước có mục đích trước hết là để điều hòa những mâu thuẫn giai cấp, duy trì sự cân bằng trong xã hội, nhưng chủ thể nắm giữ, sử dụng quyền lực nhà nước đó là con người, với bản chất ham muốn không có giới hạn làm cho khả năng lạm quyền, lộng quyền, chuyên quyền của những người nắm giữ quyền lực nhà nước rất dễ xảy ra, làm cho quyền lực mất đi ý nghĩa tích cực ban đầu của nó. Đó cũng là lý do mà các vị vua, chúa giàu có thời xưa với quyền lực vô hạn, hay các nước đế quốc thực dân hùng mạnh thế kỳ 19, thế kỷ 20 tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược những quốc gia khác. Khi con người chưa có quyền lực thì họ cố giành lấy quyền lực, khi có quyền lực rồi họ lại cố tăng cường, mở rộng quyền lực, vì quyền lực chính là phương tiện đơn giản, nhanh chóng nhất để đạt được những mục đích của con người.Với bản tính vị kỷ của mình, con người bị điều khiển bởi khát vọng về quyền lực vừa là mục tiêu, vừa là công cụ để đạt các khát vọng khác. Hobbes nhấn mạnh rằng, tinh thần vị kỷ trong loài người là một khát vọng không ngừng đối với quyền lực và điều này chỉ mất đi khi con người chết. Do đó, ngay từ khi nhà nước được hình thành, cùng với việc tìm kiếm những phương thức nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc sử dụng quyền lực, người ta cũng đi tìm những cách thức hạn chế quyền lực nhà nước khỏi sự lạm quyền, chuyên quyền- đây là một tất yếu khách quan. James Madison- cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ đã khằng định: "Nhưng để hình thành một chính phủ được điều hành giữa người với người, khó khăn lớn nhất là chính quyền phải kiểm soát được những gì cơ quan này điều hành và bước tiếp theo phải tự kiểm soát chính mình. Một sự phụ thuộc vào dân 12 chúng rõ ràng là sự kiểm soát cơ bản nhất đối với mọi chính quyền"[1, tr.438439]. Thực tế đã cho thấy, quyền lực luôn có xu hướng tự mở rộng và tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực là xuất hiện xu hướng lạm quyền, chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai cũng vậy, chính điều này và khát vọng quyền lực của con người đã được các nhà tư tưởng chính trị từ trước đến nay đề cập đến như một nội dung quan trọng trong quá trình phân tích về hành vi chính trị. Bên cạnh đó, bộ máy nhà nước và những người nắm giữ quyền lực nhà nước thường có xu hướng lạm quyền, chuyên quyền, bất kể là trong chế độ quân chủ hay dân chủ, nếu quyền lực không được hạn chế hiệu quả. Một trong những đặc trưng quan trọng của nhà nước đó là nó có sự độc quyền về việc ban hành pháp luật và độc quyền sử dụng bộ máy cưỡng chế. Đây là các công cụ hết sức quan trọng mà bất cứ giai cấp nào, tổ chức, cá nhân nào có nó cũng muốn sử dụng sao cho có lợi nhất cho mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của quá trình đấu tranh cho tự do,, dân chủ và quyền con người. Trong đó. vấn đề hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là một trong những phương tiên, công cụ chính trị- pháp lý quan trọng để đảm bảo thực thi điều đó. Mục tiêu cao nhất của việc giới hạn quyền lực nhà nước là đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, đồng thời với nó là giới hạn phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước ở một mức độ nhất định sao cho nó có đủ thẩm quyền để duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Ngoài ra, khi hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước còn nhằm đảm bảo tính cẩn trọng trong các quyết định do nhà nước ban hành. Hơn thế nữa, việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước còn là yêu cầu khách quan của thời đại mới. Thời đại ngày nay, các quốc gia, dân tộc muốn phát triển không thể đứng ngoài guồng máy quá trình hội nhập quốc tế. Quá trình này đặt ra nhiều vấn đề, vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho mỗi quốc gia. Trong đó, 13 dân chủ hóa là xu thế tất yếu. Quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, dân chủ là phương thức để hình thành nên quyền lực nhà nước và cũng chính là phương thức hiệu quả nhất để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Xu thế hội nhập đòi hỏi các nhà nước cần phát triển và hoàn thiện hệ thống các thể chế dân chủ, tạo cơ sở pháp lý để các cấp chính quyền hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nguyện vọng của đa số nhân dân và là cơ sở pháp lý để nhân dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Trong xã hội dân chủ, pháp luật quy định rõ quyền của người dân: quyền sở hữu, quyền tự do ngôn luận, chủ động tham gia các hoạt động xã hội, có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước để hạn chế sự lạm quyền, chuyên quyền. 1.1.3. Vai trò của hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước 1.1.3.1. Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là cơ sở ra đời Hiến pháp Hiến pháp theo cách hiểu ngày nay là đạo luật cơ bản của một quốc gia, quy định về thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và cơ chế bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của một quốc gia. Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với hiến pháp. Sự ra đời của Hiến pháptrong xã hội tư sản đánh dấu một tiến bộ lớn lao trong lịch sử lập pháp, tiêu biểu là Hiến pháp Hoa Kỳ - bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới, nó có ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ trong phạm vi nước Mỹ mà còn lan rộng trên toàn thế giới. Sự thành công của Hiến pháp Hoa Kỳ thể hiện ở việc: cho đến tận bây giờ, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia giàu có nhất, tự do nhất, hùng mạnh nhất trên thế giới với một bản hiến pháp tồn tại lâu nhất ( ra đời ngày 17 tháng 9 năm 1787). Để lý giải được sự thành 14 công ấy, chúng ta phải trở lại thời điểm soạn thảo Hiến pháp của các nhà lập quốc Hoa Kỳ: "Các nhà lập quốc ( Mỹ) đã phải trả lời câu hỏi: vì cần có con người mới làm được công việc cai trị, thì làm sao thiết lập được một chế độ cai trị theo luật chứ không phải cai trị theo người? Tựu chung là vì các vị đó cũng là những nhà chính trị thực tế nên muốn gắn liền tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến vào những đặc điểm độc đáo đương thời của mình. Vấn để nan giải vừa có tính chất triết lý vừa có tính chất thực tiễn này có lẽ được diễn tả rõ nhất bởi James Madison trong Luận cương Liên bang số 51. Madison nói rằng phải dùng tham vọng để trị tham vọng. Tư lợi của con người cần phải được gắn liền vào quyền do hiến pháp quy định. Chỉ cần hiểu biết một chút ít về bản chất của con người cũng cho ta thấy rằng " cần phải có những cơ chế như vậy mới ngăn chặn được sự lạm dụng quyền lực của chính quyền". Nếu con người đều là thần thánh cả thì sẽ không cần có các cơ chế bên trong và bên ngoài để kiểm soát chính quyền. Nhưng Madison là con người thực tế. Cũng theo lời của Madison, chủ nghĩa hợp hiến đòi hỏi phải có một chính sách " dùng các sự mâu thuẫn và đối nghịch trong tư lợi để khai thác những điểm yếu của ( luôn luôn có ngay cả trong) các động cơ cao thượng". Một thể chế hợp hiến, xây dựng trong tinh thần khôn ngoan tôn trọng con người, cần phải cho chính quyền có thể kiểm soát được những người dưới quyền cai trị của chế độ. Tuy nhiên, đi đôi với điều đó, nhưng không kém phần quan trọng là phải có một cơ cấu đề phòng để kiểm soát và giữ quân bằng ngay trong chính quyền ( chính quyền tự kiểm soát lấy mình)"[28, tr.61-62]. 15
- Xem thêm -