Tài liệu Tư tưởng chính trị của phan châu trinh, 2013

  • Số trang: 271 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 64 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -----o0o----- TRẦN MAI ƯỚC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MNH – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -----o0o----- TRẦN MAI ƯỚC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH Chuyên ngành: Lịch sử triết học Mã số: 62.22.80.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC [ Người hướng dẫn khoa học: HD.1: PGS.TS. LƯƠNG MINH CỪ HD.2: TS. NGUYỄN ANH QUỐC Phản biện: 1. PGS.TS. VŨ VĂN GẦU 2. PGS.TS. NGUYỄN THANH 3. PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TẾ Phản biện độc lập: 1. PGS.TS: ĐẶNG HỮU TOÀN 2. PGS.TS: TRẦN NGUYÊN VIỆT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013 LÔØI CAM ÑOAN Toâi xin cam ñoan ñaây laø coâng trình nghieân cöùu cuûa caù nhaân, döôùi söï höôùng daãn khoa hoïc cuûa PGS.TS. Lương Minh Cừ và TS. Nguyễn Anh Quốc. Toâi xin hoaøn toaøn chòu traùch nhieäm veà keát quaû nghieân cöùu cuûa coâng trình khoa hoïc naøy. Tp. Hồ Chí Minh, tháng … năm 2013 Tác giả TRẦN MAI ƯỚC MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................... 1 PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................. 20 CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH ............... 20 1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH ..............................................................................................20 1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh...................20 1.1.2. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh .......................................40 1.2. TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH ......................................................................................... 54 1.2.1. Tư tưởng yêu nước của dân tộc Việt Nam với việc hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh ......................................................................... 55 1.2.2. Tư tưởng Tân thư với việc hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh ........................................................................................................... 58 1.2.3. Tư tưởng Canh tân với việc hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh .................................................................................................. 64 1.3. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHAN CHÂU TRINH ......................................................................................... 72 1.3.1. Vài nét về thân thế của Phan Châu Trinh ................................................. 72 1.3.2. Các giai đoạn hình thành, phát triển của tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh ................................................................................................. 74 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 84 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH ................................................................ 88 2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH ......................................................................................... 93 2.1.1. Tư tưởng về thể chế nhà nước và quản lý nhà nước của Phan Châu Trinh ................................................................................................. 95 2.1.2. Tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh .................................................. 102 2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH ....................................................................................... 140 2.2.1. Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính chất thực tiễn .............. 140 2.2.2. Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính chất cải lương ............. 142 2.2.3.Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc ......................................................................................................... 148 2.2.4. Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính chất quá độ ......................................................................................................... 153 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................. 157 CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH ĐỐI VỚI THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY .............. 160 3.1. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH ...................................................................................... 161 3.1.1. Giá trị của tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh ....................................... 161 3.1.2. Mặt hạn chế trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh .................... 175 3.2. NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH VỚI THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY .................................................................................... 186 3.2.1. Khái quát quá trình xây dựng, đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay .............................................................................................................. 186 3.2.2. Những bài học lịch sử từ tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh ................ 201 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................. 231 KẾT LUẬN CHUNG ....................................................................................... 233 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 239 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .............................. 251 PHẦN PHỤ LỤC ............................................................................................ 253 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu, kinh nghiệm của 27 năm đổi mới đã tạo cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều lần so với trước đây. Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta [41, 29]. Thể chế và đường lối chính trị giữ vai trò quyết định rất lớn đến vận mệnh của một dân tộc. V.I. Lênin đã từng nói: “Chính trị là vận mệnh thực tế của hàng triệu con người” [82, 142]. Với tình hình và bối cảnh nêu trên, đã tạo ra cả những thời cơ và thách thức đan xen, đối với quá trình phát triển của đất nước. Những yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, hiệu quả là một vấn đề có tính chất nền tảng. Do vậy, để xây dựng hệ thống chính trị ưu việt, việc học tập, tiếp thu, kế thừa giá trị của nhân loại, nói chung là một việc làm cần thiết. Độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [41, 70] luôn luôn là khát vọng của con 1 2 người Việt Nam. Chính mục đích và lý tưởng ấy đã thôi thúc các thế hệ người Việt Nam phấn đấu, vượt mọi khó khăn, thử thách để vươn lên tìm con đường bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Lịch sử Việt Nam, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một giai đoạn đặc biệt, đó là giai đoạn Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược, biến nước ta từ một nước phong kiến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam đi vào thời kỳ suy tàn, thực dân Pháp đặt ách thống trị trên cả nước ta, kể từ Hiệp ước Patơnốt (1884). Từ một nước phong kiến, với nền kinh tế nông nghiệp nhỏ là chủ yếu, nước ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế phát triển theo tư bản chủ nghĩa. Sự chuyển biến này do tác động từ bên ngoài vào, chứ không phải do mâu thuẫn nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nước qui định. Trên thế giới, chủ nghĩa thực dân đang bành trướng, mở rộng các cuộc chiến tranh xâm lược, tìm thuộc địa, đã tạo những ảnh hưởng lớn đến các dân tộc. Nhưng cũng trong thời kỳ đó, phong trào cách mạng vô sản thế giới đang ngày càng phát triển nhanh chóng, được mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công đã mở ra một thời đại mới cho nhân loại. Trong bối cảnh ấy, lịch sử dân tộc Việt Nam đã đặt ra các câu hỏi lớn cho các bậc sĩ phu, những nhà yêu nước: Dân tộc ta lựa chọn con đường nào và phải làm gì để giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước? Trước yêu cầu cấp thiết của lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu, trong đó có Phan Châu Trinh (1872 - 1926), với tư tưởng cấp tiến về dân chủ, dân quyền, dân sinh, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, về thể chế nhà nước, về quản lý nhà nước… sâu sắc, đã có giá trị lịch sử to lớn không chỉ với thời đại lúc bấy giờ mà còn cả với thời đại hiện nay. Có thể nói, trong tiến trình lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tư tưởng Phan Châu Trinh đã góp phần làm phong phú thêm sinh khí của tư tưởng dân chủ tư sản, làm rõ thêm yêu cầu chống chế độ phong 2 3 kiến - một vấn đề lịch sử có tính thời đại mới, được đặt ra trong xã hội Việt Nam. Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh đã góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển đối với tư duy của dân tộc Việt Nam, đó là làm cuộc vận động từng bước về tư tưởng từ bỏ chế độ quân chủ, chuyển sang chế độ dân chủ, từ tư duy phong kiến chuyển sang tư duy thời cận – hiện đại trong những năm đầu của thế kỷ XX. Tư tưởng của Phan Châu Trinh là hồi chuông thức tỉnh dân tộc ta thoát khỏi chế độ quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm, như Hồ Chí Minh đã nhận xét, Phan Châu Trinh là người “chọc trời quấy nước tiếng đùng đùng” [145, 491]. Trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng “Năm 1926, có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp sau cái chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa già – Phan Châu Trinh. Khắp trong nước đều có lễ truy điệu. Chữ “chủ nghĩa quốc gia” từ đó được nói và viết một cách công khai. Những giáo viên Pháp tìm cách ngăn cấm học sinh tham gia các cuộc mít tinh đó. Nam nữ học sinh ở nhiều trường, đặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức đám tang, đã tuyên bố bãi khóa. 20.000 người đi theo linh cữu mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Người An Nam chưa hề được chứng kiến một việc to lớn như vậy bao giờ trong lịch sử” [145, 491]. Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi nói về Phan Châu Trinh đã nhận định rằng: “Phan Châu Trinh là một người chí sĩ, có bản lĩnh yêu nước rất kiên cường” [145, 90]. Cụ Hoàng Xuân Hãn, một học giả lớn, một nhân sĩ nổi tiếng trong giới Việt kiều ở Pháp và nước ngoài, đồng thời cũng là một nhân chứng lịch sử quan trọng, đã cho rằng: “những tư tưởng của Phan Châu Trinh về cơ bản vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta ngày nay” [145, 131]. Nhà sử học người Pháp Daniel Héméry lại cho rằng : "Những nhan đề do Phan Châu Trinh xác định từ thế kỉ XX các thế hệ người Việt Nam còn phải đảm nhận lâu dài" [66, 128]. 3 4 Bằng cả cuộc đời đấu tranh gian khổ, Phan Châu Trinh đã có những cống hiến lớn lao cho dân tộc về phương diện tư tưởng chính trị. Nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không chỉ làm rõ sự chuyển biến sâu sắc của toàn bộ phong trào cách mạng, mà còn làm rõ vai trò to lớn của các chí sĩ cách mạng trong việc xác định đường lối, xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tìm phương pháp tiếp cận để hội nhập với khu vực và thế giới, đồng thời để từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm về vai trò và tầm quan trọng của chủ nghĩa yêu nước trong phong trào giải phóng dân tộc ở những năm đầu của thế kỷ XX. Việc đánh giá tư tưởng và sự nghiệp của Phan Châu Trinh là việc làm hết sức cần thiết, nhất là những tư tưởng chính trị có tính cách mạng của ông, đã góp phần quan trọng vào phong trào Duy tân, đầu thế kỷ XX ở nước ta. Chính tinh thần quật cường và niềm tin tất thắng của dân tộc, của các bậc tiền bối trong đó có chí sĩ Phan Châu Trinh, đã đúc kết nên giá trị độc lập tự do cho đất nước ngày hôm nay. Hiện nay, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Kinh tế phát triển và đã đạt được tốc độ tương đối nhanh. Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng an ninh được giữ vững, tình hình chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng. Đạt được những thành tựu đó, một trong những yếu tố then chốt chính là nhờ đổi mới tư duy, nhất là đổi mới tư duy chính trị, kinh tế của Đảng và dân tộc ta. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã chỉ rõ: “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường 4 5 quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [41, 103]. Việc nhìn nhận một cách khoa học và đúng đắn những nội dung, đặc điểm, giá trị tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh trong những năm đầu của thế kỷ XX để rút ra bài học đối với thực tiễn xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay là yêu cầu cấp thiết. Do vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh” làm luận án tiến sĩ triết học của mình. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Có thể nói rằng, Phan Châu Trinh là một trong những nhà cách mạng, nhà Duy tân , nhà yêu nước, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam vào những năm đầu thế kỉ XX. Nghiên cứu về Phan Châu Trinh và tư tưởng của ông, đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về nhiều vấn đề khác nhau, với nhiều công trình khác nhau. Các công trình đó tập trung một số hướng nghiên cứu chính như sau: Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu riêng về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Phan Châu Trinh như: Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) của Giáo sư Huỳnh Lý. Nội dung của tác phẩm, ngoài phần tổng luận và phụ lục, được kết cấu gồm 6 chương, với gần 250 trang sách. Chủ đề của công trình là nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Phan Châu Trinh qua các mốc thời gian, trải dài từ năm 1872 đến năm 1926. Trong công trình Tuyển tập Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995) của Nguyễn Văn Dương, in lần thứ hai, có sữa chữa, bổ sung và tăng cường (Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 2006). Công trình là kết quả của một quá trình nghiên cứu nhiều năm, chủ yếu là những năm 1977 – 1981 của nhóm nghiên cứu Phan Châu Trinh thuộc Khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Huế. Nội dung của công trình được kết cấu thành 3 phần, 1262 trang sách đã 5 6 chứng tỏ đây là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của tác giả về vấn đề này. Trong đó, phần thứ nhất bao gồm thơ ca quốc âm (từ trang 88 đến trang 362), phần thứ hai gồm các tác phẩm chính luận chữ Hán của Phan Châu Trinh (từ trang 385 đến trang 679), với các tác phẩm nổi tiếng của Phan Châu Trinh như: Đầu pháp chính phủ thư; Trung Kì dân biến tụng oan thủy mạt ký; Đông Dương chính trị luận; Pháp Việt liên hiệp hâu chi tân Việt Nam; Khảo về sưu thuế, Thư thất điếu… Phần thứ ba (từ trang 680 đến trang 1262), bao gồm các bài báo (Bài báo chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp), thư tín (Thư viết trước và sau khi sang Pháp; thư viết tại nhà giam Santé; thư viết về vụ Khải Định; thư viết cho người khác; thư viết trước và sau khi về nước), và các bài diễn thuyết (Đạo đức là luân lý Đông Tây; Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa…). Với công trình này, tác giả đã giúp cho người đọc có cái nhìn cụ thể, gần như toàn diện những di cảo phong phú của Phan Châu Trinh. Hơn nữa, việc hiệu đính văn bản công phu giúp người đọc tiếp xúc gần như không sai những trước tác của cụ Phan. Bên cạnh đó, các chú thích dồi dào, tỉ mỉ những tiếng cổ, tiếng địa phương, những điển tích thành ngữ trong những trước tác của cụ Phan Châu Trinh còn giúp người đọc hiểu rõ kho ngôn ngữ phong phú của Phan Châu Trinh. Nghiên cứu nội dung lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng Phan Châu Trinh nói riêng thời kỳ này còn có cuốn sách Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) của Đỗ Thị Hòa Hới. Nội dung của tác phẩm được kết cấu thành 3 chương, với 166 trang sách. Công trình đi vào kháo sát quá trình hình thành và phát triển tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh trong suốt cuộc đời như là một quá trình thống nhất, kể cả thời kỳ trước và sau năm 1908. Tác phẩm đã làm rõ sự nối tiếp truyền thống dân tộc trong tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, cũng như những ảnh hưởng tốt đẹp của ông đến thế hệ tiếp nối như 6 7 Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh… và nhất là Nguyễn Ái Quốc [55, 11]. Đồng thời, trong khuôn khổ những tìm hiểu bước đầu theo hướng lịch sưt tư tưởng Việt Nam, cuốn sách đã chỉ ra những hạn chế trong tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh. Cũng nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của Phan Châu Trinh, còn có công trình Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm (Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 1987) của Nguyễn Quang Thắng. Nội dung của tác phẩm, ngoài các phần phụ lục 1 và phụ lục 2, được kết cấu thành 6 chương chính: một là, Tình hình nước nhà hồi đầu thế kỷ XX; hai là, Mấy nét về xứ Quảng; ba là, con người và cuộc đời; bốn là, tác phẩm tiêu biểu; năm là, trước tác; sáu là, bài học lịch sử. Qua nội dung của cuốn sách, tác giả đã khẳng định, Phan Châu Trinh là người có hoài bão lớn, muốn cởi bỏ ách thống trị của người Pháp, giành lại chủ quyền cho đất nước, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang hàng với các dân tộc khác trên thế giới. Ông cổ súy tinh thần yêu nước, quảng bá công cuộc Duy tân, đem tâm huyết, tác phẩm và cả cuộc đời để đóng góp vào sự nghiệp chung [121, 9]. Ngoài ra, tác giả cũng đã có cùng nhận định với các nhà nghiên cứu khác, khi cho rằng “Đường lối đấu tranh cho dân tộc của ông tuy có hác với đường lối của Phan Bội Châu hoặc đường lối của một vài nhà yêu nước khác, nhưng tựu trung vẫn biểu lộ một tấm lòng trung dân ái quốc tha thiết, rõ ràng và sáng chói” [121, 9]. Với tác phẩm Phong trào Duy tân với các khuôn mặt tiêu biểu (Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006) cũng của Nguyễn Quang Thắng, quyển sách đã ra mắt độc giả nhân kỉ niệm một trăm năm ngày phong trảo Duy tân bị người Pháp ở Đông Dương và chính phủ Nam triều dập tắt (1908 - 2008). Nội dung của tác phẩm được kết cấu thành 10 chương, với 737 trang, tác giả đã chỉ ra rằng, phong trào Duy tân là một phong trào cách mạng tân văn hóa, được các nhà yêu nước Việt Nam cận đại khởi xướng từ các năm 1903 – 1908 7 8 và có thể có trước nữa (1900). Cuốn sách cũng giúp chúng ta thấy rằng, phong trào Duy tân là một cuộc vận động cách mạng dân chủ đầu tiên trong lịch trình cách mạng Việt Nam. Phong trào được dẫn dắt bởi các nhà trí thức xuất thân từ khoa bảng, nhưng họ lại biết quí chuộng cái học thực nghiệm phương Tây. Tác giả đã “tìm hiểu rõ nội hàm vấn đề một cách khách quan và khoa học” [124, 6] về phong trào Duy tân thông qua các lãnh tụ và chiến sĩ phong trào tiêu biểu như: Trần Quí Cáp, nhà cách mạng dân quyền (từ trang 231 đến trang 255); Phan Châu Trinh, lãnh tụ phong trào (từ trang 284 đến trang 315); Huỳnh Thúc Kháng, sử gia của phong trào Duy tân (từ trang 341 đến trang 390); Lê Cơ với công tác thực hành Duy tân (từ trang 390 đến trang 399); Lê Bá Trinh, chiến sĩ trên mặt trận văn hóa (từ trang 408 đến trang 413); Phan Thúc Duyện, chiến sĩ văn hóa trên mặt trận thương nghiệp (từ trang 414 đến trang 437); Phan Thành Tài, nhà giáo dục trở thành nhà tổ chức khởi nghĩa (từ trang 438 đến trang 457); Hồ Tá Bang và các đồng sự trong phong trào Duy tân tại Phan Thiết (từ trang 493 đến trang 505)... Vào năm 2005, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã cho ra mắt bộ sách Phan Châu Trinh toàn tập nhân dịp giỗ lần thứ 79 ngày mất của nhà chí sĩ họ Phan (24-3-2005). Hội khoa học lịch sử VN, trực tiếp là giáo sư Chương Thâu, nhà sử học Dương Trung Quốc và bà Phan Thị Minh - hậu duệ của cụ Phan Châu Trinh - đã sưu tập tòan bộ trước tác của cụ Phan và lần đầu tiên công bố đầy đủ nhất trong ba tập sách với tổng cộng hơn 2000 trang in khổ lớn. Bộ sách đã cho người đọc cái nhìn tổng thể về sự nghiệp văn chương và tư tưởng chính trị của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh qua số lượng lớn các tác phẩm của ông còn để lại. Có thể nói đây là công trình đầu tiên đã sưu khảo toàn bộ trước tác của Phan Châu Trinh, dựa vào nguồn di cảo của gia đình, và từ các nguồn tư liệu từ nhiều người đã từng nghiên cứu về Phan Châu Trinh, là một công trình 8 9 đánh dấu sự nỗ lực của người đời sau trong việc gìn giữ di sản văn hóa, tư tưởng của một nhà cách mạng tiền bối. Trong tập 1 của bộ sách đã giới thiệu các tác phẩm văn vần bao gồm cả thơ, phú, câu đối. Phần này ngoài số lượng thơ chữ Hán được xem là các sáng tác hàn lâm của một nhà nho, các tập thơ quan trọng của Phan Châu Trinh đều được tập hợp ở đây như: Tây Hồ thi tập với 74 bài thơ thất ngôn với nhiều nội dung chủ đề: thơ thù tạc với bạn, làm khi cảm khái thế sự nhân tình, nói chuyện với ông nghè Trương Gia Mô, xướng họa với một số thi hữu. Đặc biệt trong Tây Hồ thi tập có đến 20 bài liên hoàn họa vận 10 bài tự thuật của Tôn Thọ Tường (cụ Phan họa liên hoàn hai lần), đủ thấy sự bức xúc của Phan Châu Trinh trước thái độ theo Pháp của Tôn Thọ Tường lúc bấy giờ. Tập thơ đồ sộ “Santé thi tập” với hơn 220 bài thơ ông viết trong thời gian mười tháng bị giam ở nhà ngục Santé của Pháp từ tháng 9-1914 đến tháng 7-1915, đủ thấy sức viết của ông cực kỳ sung mãn. Điều đặc biệt của tập thơ Santé thi tập là cụ Phan đã dùng thơ thất ngôn bát cú Đường luật chú giải, vịnh những ca dao tục ngữ, thành ngữ của VN. Tư tưởng chính trị của cụ Phan cũng thể hiện qua những bài văn vần trường thiên như Tỉnh quốc hồn ca (I và II). Đặc biệt, tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (cụ Phan dịch từ tác phẩm Kajin no Kigu của Tokai Sanshi thời Minh Trị) cũng được in đầy đủ với phần dịch của cụ Phan 8 hồi, và của ông Trần Tiêu 7 hồi. Trong tập 2 của bộ sách chủ yếu là các tác phẩm chính luận của Phan Châu Trinh. Đặc biệt có những chuyên khảo quan trọng như: Đầu Pháp chính phủ thư (thư gửi toàn quyền Đông Dương), Đông Dương chính trị luận, Điều trần gửi hội nhân quyền, và Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký (đây là bài ký quan trọng kể lại đầu đuôi vụ dân biến ở Trung Kỳ vào năm 1908), ngoài ra còn một số thư tín và bài báo. 9 10 Tại tập 3 của bộ sách, đã giới thiệu các bức thư quan trọng của Phan Châu Trinh trong cuộc đời hoạt động yêu nước và cách mạng. Lại có cả các mật báo của chỉ điểm Pháp, ghi lại những tư liệu quan trọng như: cuộc gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Marseille, thư gửi Phan Văn Trường (qua báo cáo của điệp viên Jolin), thư gửi Sarraut năm 1922. Ngòai ra, còn có tác phẩm Thư thất điều gửi đương kim hoàng đế An Nam và một số bài báo. Ngoài ra, bộ sách còn sưu tập các bài viết, các ý kiến của những nhà cách mạng, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết về Phan Châu Trinh, như một cách giới thiệu “những lời bình” về thơ văn và tư tưởng, sự nghiệp của Phan Châu Trinh. Cùng một số thủ bút chữ Hán của cụ Phan. Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu bước chuyển tư tưởng trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là tác phẩm Đại cương lịch sử Việt Nam, (Toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2005) của các tác giả GS. Trương Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn (Chủ biên). Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách khá hệ thống về đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng… của giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (3 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) của GS. Trần Văn Giàu. Đây clà một công trình nghiên cứu lớn, đề cập đến quá trình chuyển biến của ba hệ tư tưởng nối tiếp nhau, xen kẽ và đấu tranh với nhau, đó là: hệ ý thức phong kiến; hệ ý thức tư sản; hệ ý thức vô sản. Đặc biệt, trong tập 2, với tiêu đề là Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, ở chương thứ năm, Phan Châu Trinh, nhà cổ động của chủ nghĩa dân chủ (từ trang 431 đến trang 455), trong mục 2. Tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về tư 10 11 tưởng của Phan Châu Trinh để cho thấy rằng, Phan Châu Trinh là nhà cổ động của chủ nghĩa dân chủ. Song song đó, còn có công trình nghiên cứu như: Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) của tập thể tác giả, do PGS, TS. Trương Văn Chung, PGS,TS. Doãn Chính đồng chủ biên. Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu là cuốn sách hai tác giả, gồm PGS,TS. Doãn Chính và ThS Phạm Đào Thịnh. Theo hướng này, các công trình trên đã giới thiệu, phân tích, nêu bật ý nghĩa của những tư tưởng tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử nhất định của dân tộc. Cụ thể, trong cuốn Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) của tập thể tác giả, do PGS, TS. Trương Văn Chung, PGS,TS. Doãn Chính đồng chủ biên. Cuốn sách là sự tổng hợp những bài viết của các giảng viên các trường đại học, học viện, trung tâm nghiên cứu lý luận trong cả nước, từ việc tổ chức nghiên cứu, hội thảo khoa học của Khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung của cuốn sách gồm ba phần, trong đó, phần thứ nhất đi vào bối cảnh lịch sử và những vấn đề chung về tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; phần thứ hai của cuốn sách nghiên cứu về bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhà tư tưởng tiêu biểu, và phần thứ ba, nêu lên thực chất, ý nghĩa của bước chuyển trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu là cuốn sách hai tác giả, gồm PGS,TS. Doãn Chính và ThS Phạm Đào Thịnh biên soạn. Trong tác phẩm này, các tác giả đã làm rõ ba vấn đề: một là, tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thế giới; những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, khoa học – kỹ thuật ở Việt Nam; 11 12 những tiền đề lý luận và yếu tố chủ quan của các nhà tư tưởng tạo nên bước chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; hai là, từ những tiền đề hình thành tư tưởng chính trị, các tác giả đã trình bày khái quát nội dung, đặc điểm của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng của các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh. Từ những nội dung và đặc điểm đó, cuốn sách cũng chỉ ra những bài học lịch sử của quá trình chuyến biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đối với nước ta hiện nay. Như vậy, ở hướng này, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau khi tìm hiểu về Phan Châu Trinh, như cuộc đời, tư tưởng, giá trị lịch sử của tư tưởng, trong đó tập trung hệ thống hóa tư tưởng, đi sâu phân tích làm rõ những quan điểm tiến bộ, tinh thần sáng tạo, vạch rõ những yếu tố hạn chế cũng như chỉ ra các bài học lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu đánh giá từng mặt, từng nội dung và giá trị lịch sử tư tưởng Phan Châu Trinh trong những năm đầu thế kỷ XX. Với chủ đề này, có các công trình tiêu biểu như: Luận đề về Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Thăng Long, Sài Gòn, 1957) của Chu Đăng Sơn. Nội dung tác phẩm với 139 trang, được chia thành 2 phần. Trong đó, phần 1, tiểu dẫn, với mục 1 là thời đại của hai tác giả; mục 2 bàn về Phan Bội Châu, với các nội dung như: thân thế, sự nghiệp đấu tranh, văn nghiệp; mục 3, đề cập đến Phan Châu Trinh, với các nội dung như: thân thế, đời chí sĩ, văn nghiệp; mục 4, tác phẩm đi vào so sánh hai nhà chí sĩ qua các nội dung: mục đích đấu tranh, chủ trương, đường lối đấu tranh, động lực thúc đẩy, kết qủa. Trong mục này, khi nói về mục đích đấu tranh, tác giả đã khẳng định “Hai cụ Phan cùng một hướng: cứu quốc. Muốn cứu quốc tất nhiên phải tìm cách đánh đổ chính quyền bảo hộ, tranh thủ độc lập, thực hiện chủ quyền 12 13 Việt Nam” [117, 32]. Từ đó, tác giả đã đi vào so sánh giữa Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu dưới các góc độ như: đường lối đấu tranh; động lực thúc đẩy và kết quả đấu tranh (từ trang 32 đến trang 39). Khi so sánh về chủ trương đấu tranh của hai cụ Phan, tác giả cũng đã chỉ rõ rằng “Trên đường cách mạng, tuy cùng nhắm một mục đích, và cũng có danh vọng thế lực ngang nhau, hai cụ Phan đã không cùng một chủ trương. Cụ Phan Bội Châu, trong việc tôn Kỳ Ngoại hầu Cường Để làm minh chủ cho cuộc đấu tranh, đã tỏ ra khuynh hướng bảo hoàng và thuần túy quốc gia. Để đánh hất thực dân ra khỏi đất nước và cởi ách nô lệ cho toàn dân, cụ chủ trương bạo động, dùng máu sắt và tiềm lực chống đối để gây áp lực với thực dân Pháp. Trái lại, cụ Phan Tây Hồ lại đề xướng chủ nghĩa dân chủ. Nhìn vào bản chất của dân tộc, và tin tưởng ở sự giác ngộ của Pháp, cụ chủ trương lấy dân trí làm gốc, nghĩa là cố gắng tạo nên một thực lực sung túc cho mình đã” [117, 33 - 34]. Tại phần 2, tác phẩm đi vào luận đề về Phan Bội Châu (từ trang 41 đến trang 83); luận đề về Phan Châu Trinh (từ trang 84 đến trang 135). Tác giả đã nhấn mạnh rằng “Trên đường lập chí, ta không tránh được muôn vàn thử thách, xúc bức vây quanh mình. Sống trong công lệ ấy, người ta chỉ hơn nhau ở chí kiên hùng và bền gan chịu đựng. Thơ văn của cụ Phan, phản ánh trung thành đời sống cách mạng, đã để lộ ra cái bản chất tự cường ấy” [117, 93]. Cũng trong phần này, tác giả đã giải thích chủ nghĩa của Phan Châu Trinh khi nhấn mạnh “Con đường dẫn đến độc lập hùng cường không phải là con đường hoa gấm. Con đường ấy cần được sửa dọn bằng những nỗ lực cá nhân tập thể. Cá nhân tự cảnh giác để tiến bộ, quần chúng nhất trí đấu tranh. Làm thế nào để nâng cao dân trí, dân khí. Bỏ cái học từ chương khoa cử. Chỉnh đốn phong tục. Đua tranh học hỏi về những khoa học thực nghiệm. Thực hiện một cuộc canh tân trong chính sách guồng máy công quyền. Đó là những chủ điểm của thế tự cường” [117, 99 - 100]. 13 14 Tiếp đến, phải kể đến công trình tìm hiểu Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh của Tôn Quang Phiệt (Ban nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản, 1956). Nội dung tác phẩm với 125 trang viết, được tác giả phân làm 4 phần, 12 tiết. Phần 1 với tiêu đề là tìm hiểu Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh (từ trang 7 đến trang 11), trong phần này tác giả đã đi vào làm rõ các xu hướng cứu nước trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tác giả cho rằng “Tiêu biểu cho xu hướng võ trang cách mạng là Phan Bội Châu, tiêu biểu cho xu hướng dựa vào Pháp để tiến bộ là Phan Châu Trinh” [105, 11], và đi đến nhận định “Phái Phan Bội Châu cũng như phái Phan Châu Trinh đều bị thực dân Pháp và phong kiến Nam triều thẳng tay đàn áp mà đi đến thất bại. Tuy nhiên các phong trào Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh vẫn để lại cho đời sau những bài học kinh nghiệm quý báu” [105, 11]. Trong phần 2 với tiêu đề là Phan Bội Châu (từ trang 12 đến trang 66), và phần 3 với tiêu đề là Phan Châu Trinh (từ trang 67 đến trang 113), tác giả đã đi vào tìm hiểu: tiểu sử, chủ trương, điều kiện giai cấp, văn chương của hai chí sĩ, để từ đó đi đến đánh giá vị trí, vai trò của Phan Bội Châu (từ trang 58 đến trang 66) và Phan Châu Trinh (từ trang 113 đến trang 124) trong lịch sử vận động giải phóng dân tộc. Nhận định về Phan Châu Trinh, tác giả đã cho rằng: “Phan Châu Trinh đã giữ vững cái bản lĩnh của một người văn thân yêu nước của Việt Nam. Ông thấy quan trường thối nát đã bỏ quan ra về, đã công kích quan trường kịch liệt, gây một phong trào phản phong quyết liệt trong nước. Ông đã không bị bọn thực dân mua chuộc với danh lợi, đã suốt đời chịu đựng gian khổ. Cái phần tích cực của Phan Châu Trinh có thể làm gương cho mọi trí thức yêu nước” [105, 120 - 121]. Trong phần 4 với tiêu đề là một thời đại, hai xu hướng, tác giả đã đi vào giải thích những nguyên nhân vì sao trong phong trào yêu nước ở nước ta vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 14
- Xem thêm -