Tài liệu Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam trong thời kỳ hội nhập

  • Số trang: 38 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 191 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN HỌC VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ Đề tài: Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập A – PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tên đề tài Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập 2. Lý do chọn đề tài Quản lý là một lĩnh vực của hoạt động tổng hợp, không chỉ được nhìn nhận từ những góc độ của khoa học, mà cần phải được nhìn nhận cả từ góc độ văn hóa. Cuộc đấu tranh văn hóa bao giờ cũng gắn liền với các cuộc đấu tranh khác, trước hết là cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị, nhưng tất cả đều thống nhất vào một mục tiêu: Vì con người, tất cả cho con người. Quan hệ kinh tế và văn hóa là quan hệ biện chứng, không thể nói cái nào quyết định cái nào. Kinh tế là một nền tảng của xã hội: Nền tảng kinh tế. Văn hóa là một nền tảng của xã hội: Nền tảng văn hóa. Nói một cách khác, kinh tế và văn hóa là hai nội dung cốt lõi của sự sinh tồn và phát triển của một dân tộc, một quốc gia. Sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường là quy luật của kinh tế, tác động trực tiếp và gián tiếp đến toàn bộ hoạt động của xã hội. Văn hóa không đứng ngoài tác động đó. Nhưng văn hóa có đặc điểm và quy luật riêng của nó. Không thể loại trừ hoạt động kinh tế trong văn hóa, cũng không thể loại trừ hoạt động văn hóa trong kinh tế. Sự tác động qua lại và đồng thời là đúng quy luật khách quan. 1 Dù xét từ giác độ nào thì mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh nên bản chất của kinh doanh là để kiếm lời. Trong kinh tế thị trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra. Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề văn hóa kinh doanh. Và trong các yếu tố cấu thành nên văn hóa kinh doanh, ta không thể không nhắc đến triết lý kinh doanh. Một hệ thống các giá trị cốt lõi có vai trò như kim chỉ nam định hướng các hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Nằm trong một hệ thống tạo nên văn hóa kinh doanh, triết lý kinh doanh giữ vị trí đầu tiên và cũng là vị trí quan trọng quyết định giá trị của tổ chức. Nó quy chiếu trong mình những giá trị mang tính chiến lược trong hoạt động của doanh nghiệp mà qua quá trình thực hiện theo hệ triết lý này, cả khách hàng – đối tác và những cá nhân trong tổ chức sẽ nhận thức ra những “đặc sắc”, “độc đáo” và điều tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp. 3. Mục tiêu nghiên cứu Như trên nhóm đã trình bày, càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người và sự tham gia đó ngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành các lĩnh vực văn hóa đặc thù như văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa gia đình và…văn hóa kinh doanh. Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với hàng hóa và thị trường. Tuy nhiên, khi xã hội chúng ta phát triển đến một mức nào đó, những điều còn lại sau đồng tiền, sau lợi nhuận, sau những cạnh tranh, bon chen…trên trường kinh tế sẽ là những giá trị nhân bản thuộc về con người. Tất cả những giá trị ấy quy tụ trong văn hóa kinh doanh. Tìm hiểu về vấn đề này, nhóm chúng tôi đã lựa chọn Triết lý kinh doanh như một nhân tố quan trọng tạo nên văn hóa kinh doanh xưa và 2 nay. Nhìn nhận một cách khách quan chúng ta có thể thấy triết lý kinh doanh chính là nền tảng chi phối đến các hoạt động của doanh nghiệp... Ở Việt Nam, kể từ sau những quyết định mở cửa nền kinh tế tiến hành từ Đại hội VI, hoạt động kinh doanh trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, tuy nhiên thực tế cho thấy – ta gặp phải không ít khó khăn trong quá trình xác định mục tiêu, sứ mệnh của mình. Vì thế cần học tập kinh nghiệm xây dựng triết lý kinh doanh và kinh nghiệm khai thác vai trò triết lý kinh doanh trong quản lý doanh nghiệp để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa các doanh nghiệp nước ta với các doanh nghiệp nước ngoài. Bài tiểu luận này của Nhóm xin phép được trình bày về quá trình phát triển của Triết lý kinh doanh, đồng thời chú trọng phân tích vai trò của triết lý kinh doanh trong giai đoạn hiện tại nhằm làm nổi bật nên giá trị của yếu tố này trong mỗi tổ chức vào mỗi thời kỳ. 4. Câu hỏi nghiên cứu Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập như thế nào ? 5. Giả thuyết nghiên cứu Mỗi một khu vực kinh tế khác nhau thì có triết lý kinh doanh khác nhau. 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần lời mở đầu đi kèm, đề tài gồm 3 chương Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về Triết lý kinh doanh Chương 2: Triết lý kinh doanh Việt Nam thời kỳ hội nhập Chương 3: Giải pháp phát huy triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập 3 B- PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ KINH DOANH 1.1.Khái niệm chung về Triết lý: Triết lý là phương châm, nguyên tắc mà cá nhân hay tổ chức luôn cố gắng tuân thủ theo nó để đạt được mục tiêu hay nguyện vọng mà họ đang theo đuổi. Trong cuộc sống có bao nhiêu lĩnh vực thì con người có thể đưa ra bằng đó triết lý để thực hiện theo nó. Do vậy, ta thường bắt gặp các khái niệm rất phổ biến liên quan đến triết lý như “triết lý sống”, “triết lý kinh doanh”,… Khái niệm triết lý có quan hệ chặt chẽ với khái niệm “triết học”. Theo từ điển Hán – Việt: “Triết” nghĩa là trí ( sự nhận thức, hiểu biết sâu rộng về thế giới : trời, đất, người…và đạo lý). Ở phương Tây “triết học” ( philosophy) xuất phát từ tiếng Hy Lạp thời cổ đại, chuyển sang tiếng Latinh là philosophia = philo (yêu) +sophia (sự thông thái)  “Triết học” có nghĩa là môn học về sự thông thái. Bàn về khái niệm triết lý, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng, tuy ở phương Tây không có sự phân biệt giữa “triết lý” và “triết học”, nhưng trong tiếng Việt quan niệm đó lại được dùng để biểu đạt và phản ánh những đối tượng khác nhau. Các tác giả sách “ Triết lý phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt lõi” nêu định nghĩa triết lý là: “ Kết quả của sự suy nghẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội. Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy”. 4 “Triết lý là những tư tưởng có tính triết học ( tức là sự phản ánh đã đạt đến trình độ sâu sắc và khái quát cao ) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người – Theo “Bài giảng văn hóa kinh doanh” – Trường Đại học kinh tế quốc dân. Theo PGS. PTS. Đỗ Thị Doan và PTS. Đỗ Minh Cường trong cuốn “Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp” cho rằng triết lý là những tư tưởng có tính triết học được con người rút ra từ cuộc sống của họ; là thứ triết học về đạo lý, triết học của hành động. Như vậy so với “triết học”, “triết lý” được hiểu ở trình độ thấp hơn, có phạm vi hẹp hơn, chỉ là cơ sở lý luận của một hệ thống quan điểm, một học thuyết và theo nghĩa ở mức độ cao, nó chính là những quan niệm, tư tưởng sâu xa nhất của con người về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhưng dù hiểu theo cách nào cũng có thể thấy rằng, “triết lý” không phải là duy tâm siêu hình mà nó là kết quả của những kinh nghiệm và lẽ sống của nhiều thế hệ trước đúc kết lại. 1.2.Triết lý kinh doanh: 1.2.1. Khái niệm kinh doanh “Kinh doanh” hiểu theo nghĩa rộng và nói chung là một số hoặc toàn bộ hoạt động của quá trình sản xuất, thương mại, dịch vụ…có mục đích là đạt được lợi nhụân cho chủ thể. Như vậy kinh doanh là một hình thái đặc thù của kinh tế. Nó không chỉ là hoạt động buôn bán, lưu thông, mà còn bao gồm các hoạt động sản xuất và các loại dịch vụ khác ( giải trí, thông tin, du lịch…). Chủ thể kinh doanh cũng là một khái niệm hệ thống gồm nhiều cấp độ (một cá nhân, một tập thể, doanh nghiệp…) cho 5 nên triết lý kinh doanh chính là các triết lý hình thành trong quá trình kinh doanh của các chủ thể khác nhau. 1.2.2. Triết lý kinh doanh Kinh doanh, như ta đã biết là tất cả những hành vi và hoạt động có mục đích là đem lại lợi nhuận cho chủ thể. Như vậy, Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh - Theo PGS. PTS. Đỗ Thị Doan và PTS. Đỗ Minh Cường trong cuốn “Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp” định nghĩa. Nó là sản phẩm phản ánh có mục đích phục vụ cho chủ thể kinh doanh nên sự khác nhau trong ngành, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp sẽ quy định tính đặc thù của triết lý kinh doanh. Bởi vì sẽ là sơ lược và giản đơn nếu nghiên cứu các triết lý kinh doanh chúng ta lại bỏ qua những nét đặc thù của khách thể và môi trường kinh doanh của chủ thể. Ở đây, nhóm chúng tôi lưu ý tới thực tế - trong các nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh thành công đều trở thành những nhà quản lý, chủ thể kinh doanh thành đạt; cho nên triết lý kinh doanh chỉ có giá trị thực sự khi nó áp dụng được cho doanh nghiệp và tạo nên bản sắc cũng như phong cách của doanh nghiệp. 1.2.3. Đặc điểm của triết lý kinh doanh Triết lý kinh doanh chỉ nảy sinh trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa nhiều thành phần kinh tế và các chủ thê kinh doanh khác nhau. Triết lý kinh doanh được hình thành dần từ kinh nghiệm kinh doanh, nghĩa là những người thành lập doanh nghiệp sau một thời gian dài làm kinh doanh và quản lý đã từ kinh nghiệm rút ra triết lý kinh doanh; hoặc là ngay thời kỳ đầu mới thành lập, những người lánh đạo doanh nghiệp đã chủ động xây dựng triết lý làm định hướng phát 6 triển tổ chức của mình và được tiến hành thông qua sự thảo luận và đóng góp của hầu hết số thành viên. Triết lý kinh doanh có thể biểu diễn bởi nhiều loại hình văn bản hoặc nghệ thuật khác nhau. Triết lý kinh doanh thường gồm ba bộ phận cơ bản có quan hệ mật thiết với nhau: mục tiêu của doanh nghiệp; phương thức hành động; quan hệ của doanh nghiệp với môi trường kinh tế xã hội, nghĩa vụ chung của doanh nghiệp và nguyên tắc của thành viên trong doanh nghiệp. Triết lý kinh doanh chứa đựng những chuẩn mực, giá trị, hệ tư tưởng, lý tưởng phấn đấu và nguyên tắc hành động của các thành viên, định huớng mọi người theo một mục tiêu đã đặt ra. Triết lý kinh doanh tuy rất bền vững nhưng vẫn có thể thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh và đời sống. 1.2.4. Mối quan hệ giữa triết lý kinh doanh, triết lý doanh nghiệp và triết lý quản lý Kinh doanh là một lĩnh vực hoạt động và nghề nghiệp đầy khó khăn, phức tạp. Triết lý kinh doanh rất phong phú và nhiều loại khác nhau. Có thể phân loại triết lý kinh doanh dựa theo hai tiêu chí cơ bản: Chức năng – nghiệp vụ và quy mô của chủ thể kinh doanh. Dựa theo chức năng – nghiệp vụ tồn tại các loại hình triết lý như: Triết lý (kinh doanh) về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; triết lý về marketing, quản lý chất lượng hàng hóa … 7 Dựa vào quy mô của các chủ thể kinh doanh – quy mô tổ chức người có thể chia làm ba loại cơ bản: Triết lý áp dụng cho các cá nhân kinh doanh; triết lý cho các tổ chức kinh doanh, chủ yếu là triết lý về quản lý của doanh nghiệp; triết lý vừa có thể áp dụng cho các cá nhân lại vừa có thể áp dụng cho các tổ chức kinh doanh. Triết lý kinh doanh của các cá nhân(loại 1) chính là các triết lý được rút ra từ những kinh nghiệm, bài học thành công và thất bại trong quá trình kinh doanh. Còn các triết lý loại 2, 3 thực chất là triết lý chung của tổ chức kinh doanh – triết lý quản lý doanh nghiệp. Trên thực tế trong các nền kinh tế thị trường thì các nhà kinh doanh; chủ thể kinh doanh thành đạt, phát triển là các tổ chức kinh doanh – các doanh nghiệp cho nên triết lý kinh doanh chỉ có giá trị phổ quát khi nó áp dụng được trong các doanh nghiệp. Mặt khác, quản lý một doanh nghiệp bao giờ cũng phức tạp, khó khăn hơn hoạt động của một cá thể tự kinh doanh. Với những lý do trên có thể nhận thấy “ phần chủ yếu và thực chất của triết lý kinh doanh là bộ phận triết lý chung của tổ chức kinh doanh – triết lý chung của doanh nghiệp còn gọi tắt là triết lý doanh nghiệp”. Nói cách khác, triết lý doanh nghiệp là triết lý kinh doanh của tất cả các thành viên của một doanh nghiệp cụ thể. Triết lý doanh nghiệp là triết lý kinh doanh chung của tất cả các thành viên của một doanh nghiệp cụ thể. Khi một chủ thể kinh doanh trở thành người lãnh đạo doanh nghiệp, họ sẽ cố gắng vận dụng các tư tưởng triết học về kinh doanh và tổ chức quản lý của họ, phát triển nó thành triết lý chung của doanh nghiệp đó. Nó là lý tưởng, là phương châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanh nghiệp chỉ dẫn cho hoạt động nhằm làm cho doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Thực tế cho thấy, sự phát triển của doanh nghiệp được định hướng chủ yếu từ triết lý doanh nghiệp đúng đắn. 8 Triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp: Xác định sứ mệnh, các giá trị cốt lõi và phương thức hoạt động, quản lý của doanh nghiệp, nên triết lý kinh doanh trở thành yếu tố quan trọng nhất của văn hóa doanh nghiệp. Sứ mệnh và giá trị cốt lõi có ý nghĩa định hướng sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, hướng mọi thành viên trong doanh nghiệp tới một mục đích chung. Trong khi các yếu tố khác của văn hóa doanh nghiệp có thể thay đổi, thì sứ mệnh và giá trị cốt lõi doanh nghiệp thường không thay đổi. Vì vậy, triết lý doanh nghiệp trở thành nền tảng của văn hóa doanh nghiệp. Các kế hoạch chiến lược mang tính lâu dài phải được bắt nguồn từ sứ mệnh chung của doanh nghiệp. Vì vậy, triết lý doanh nghiệp chính là công cụ để hướng dẫn cách thức kinh doanh phù hợp với văn hóa doanh nghiệp. Nó chính là cơ sở đào tạo, phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp: Mọi thành viên trong doanh nghiệp gắn kết với nhau bởi một mục tiêu chung mà họ cùng hướng tới. Triết lý doanh nghiệp chính là sợi dây kết nối các thành viên trong doanh nghiệp với nhau, đồng thời là tiêu chuẩn chung để đánh giá mỗi thành viên. Việc tuyển dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phải dựa trên các giá trị chung và sứ mệnh chung của doanh nghiệp. Triết lý quản lý là định hướng cơ bản có tính sống còn, gắn liền với sứ mệnh của tổ chức trong hoạt động của con người để đạt đến mục tiêu đã xác định. Triết lý quản lý phản ánh thái độ, mong đợi mà tổ chức biểu thị đối với quan hệ nhóm có liên quan, trở thành cơ sở rộng lớn cho việc giải quyết các vấn đề của tổ chức. Triết lý quản lý là phần cốt lõi trong hệ giá trị , nó dẫn đến bộ tiêu chuân chung điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình quản lý. Từ triết lý quản lý các công tác tổ chức, các chức năng của quản lý phải được triển khai một cách đồng bộ, hướng theo triết lý đã xác định. Đây thường là triết lý do những người sáng lập ra 9 doanh nghiệp đưa ra để đạt được mục tiêu của mình. Triết lý kinh doanh là một dạng cụ thể của triết lý quản lý. Thông qua những hệ giá trị, tư tưởng cốt lõi, phương châm hoạt động của mình việc hình thành triết lý kinh doanh cũng không ngoài mục đích vận hành tổ chức một cách hiệu quả và đem đến những giá trị cho con người. Việc hình thành và phát triển triết lý kinh doanh là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình vận hành doanh nghiệp. Ví dụ: Đối với những quốc gia phát triển như Nhật Bản, triết lý kinh doanh có vai trò như sứ mệnh kinh doanh; là hình ảnh của doanh nghiệp trong ngành và trong xã hội; là mục tiêu định hướng cho một thời kỳ phát triển dài. Mặt khác, các doanh nghiệp Nhật Bản coi triết lý kinh doanh như một yếu tố cấu thành thương hiệu khi mà họ sớm ý thức được rằng, kinh doanh sẽ được xã hội hoá với mức độ ngày càng gia tăng. Dù là bất cứ loại triết lý nào đã được đề cập ở trên, người lãnh đạo muốn tạo nên nó rất cần phải có sự hiểu biết về các yếu tố hình thành, có tham vọng biến nó thành sự thật, xuất phát từ chính hoàn cảnh thực tế để tạo nên những giá trị cần thiết… 1.2.5. Vai trò của triết lý kinh doanh trong việc hình thành văn hóa và đạo đức quản lý của doanh nghiệp Triết lý kinh doanh là công cụ định hướng và cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp Triết lý kinh doanh là một lực lượng hướng dẫn, tạo sức mạnh to lớn cho thành công của doanh nghiệp. Triết lý kinh doanh có vai trò: 10 Thiết lập một tiếng nói chung hoặc môi trường của doanh nghiệp. Đảm bảo nhất trí về mục đích trong doanh nghiệp. Định rõ mục đích của doanh nghiệp và chuyển dịch các mục đích này thành các mục tiêu cụ thể. Nội dung của triết lý kinh doanh là điều kiện hết sức cần thiết thiết lập các mục tiêu và soạn thảo các chiến lược một cách hiệu quả. Một kế hoạch mang tính chiến lược bắt đầu với việc xác định một triết lý kinh doanh một cách rõ ràng. Triết lý kinh doanh được xem là bước chuẩn bị đầu tiên trong quản lý của doanh nghiệp mà cụ thể là quản lý chiến lược. Triết lý kinh doanh là cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối nguồn lực của tổ chức. Sứ mệnh hay mục đích của doanh nghiệp là một môi trường bên trong có ảnh hưởng đến các bộ phận chuyên môn như sản xuất, kinh doanh, quản trị nhân sự. Một bộ phận chuyên môn phải dựa vào mục đích hay sứ mệnh của công ty để viết ra mục tiêu của bộ phận mình. Đối với tầng lớp cán bộ quản trị, triết lý kinh doanh là một văn bản pháp lý và cơ sở văn hoá để họ có thể đưa ra các quyết định quản lý quan trọng, có tính chiến lược. Theo Peters & Waterman, nhờ có sự định hướng của triết lý kinh doanh mà những nhà quản lý có được “chìa khoá vàng” mở cánh cửa thành công. Triết lý kinh doanh là một công cụ để giáo dục, phát triển nguồn nhân lực và tạo ra một phong cách làm việc đặc thù của doanh nghiệp Triết lý kinh doanh cung cấp các giá trị, chuẩn mực hành vi nhằm tạo nên một phong cách làm việc , sinh hoạt chung của doanh nghiệp, đậm đà văn hoá của tổ chức đó. 11 Với việc vạch ra lý tuởng và mục tiêu kinh doanh thể hiện ở phần sứ mệnh, triết lý kinh doanh giáo dục cho công nhân viên chức đầy đủ về lý tưởng, về công việc trong một môi trường văn hoá tốt, nhân viên sẽ tự giác phấn đấu vươn lên. Do triết ký kinh doanh đề ra một hệ giá trị đạo đức chuẩn làm căn cứ đánh giá mọi hành vi của các cá nhân trong tổ chức nên nó có vai trò trong việc điều chỉnh hành vi của nhân viên trong việc xác định bổn phận, nghĩa vụ của mỗi nhân viên đối với tương lai của sự phát triển của tổ chức. Như vậy, vai trò của triết lý kinh doanh với doanh nghiệp có thể so sánh với bất kì nguồn lực nào khác trong tổ chức.Nhận xét về tầm quan trọng của triết lý kinh doanh Uwayaki : “Bí mật của các doanh nghiệp trong cuốn “chưa hề thất bại” viết : “Nguồn tài sản trong kinh doanh của doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng, ngoài người, tiền của hay vật tư hàng hoá, còn bao gồm những nguồn tài sản mắt thường không nhìn thấy được nhưng lại có tác dụng vô cùng to lớn. Bộ phận quan trọng nhất của nguồn tài sản vô hình đó là triết lý kinh doanh và phong thái kinh doanh là cốt lõi của phong thái doanh nghiệp”. CHƯƠNG 2: TRIẾT LÝ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THỜI KỲ HỘI NHẬP 2.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội thời kỳ hội nhập Cơ sở lý luận cho sự đổi mới về thể chế nền kinh tế Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12 -1986) đã khẳng định phải xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp và chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Những năm tiếp sau đó, tư tưởng này được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách và văn bản pháp.luật. Cơ chế thị trường đang từng bước được hoàn thiện để tạo ra những cơ hội bình đẳng trong kinh 12 doanh cho tất cả mọi thành phần kinh tế, cho mọi người đều có thể có điều kiện làm giàu cho bản thân và xã hội. Nghị quyết của Đại hội lần VI là cơ sở lý luận cho sự đổi mới về thể chế và được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách, văn bản pháp luật trong những năm tiếp theo. Tháng 11 – 1987, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 217/HĐBT về việc mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các doanh nghiệp Nhà nước. Năm 1998, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã chính thức thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn, có quyền tự chủ kinh doanh toàn diện. Tháng 1 – 1998, Quốc hội đã thông qua luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Những thay đổi về pháp luật và chính sách trên đã từng bước tạo ra nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta. Có thể xem tháng 3 – 1989 là thời điểm Việt Nam thực sự đi vào quá trình chuyển biến sang kinh tế thị trường bởi vì: - Thứ nhất, tới thời gian đó, Chính phủ đã đổi mới thành công trong chính sách tài chính – tiền tệ, kiểm soát được lạm phát. - Thứ hai, Nhà nước đã có những giải pháp đa dạng hóa thành phần kinh tế, xóa bỏ chế độ độc quyền kinh doanh của Nhà nước, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. - Thứ ba, thực hiện một bước tự do hóa thương mại, Chính phủ đã xóa bỏ các trạm kiểm soát “ngăn sông cấm chợ” và nới lỏng xuất nhập khẩu. Từ năm 1990 đến nay, xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường cả về chiều rộng và chiều sâu. Đặc biệt có hai sự kiện lớn trong những năm 2000 đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Việt Nam thực sự phát triển nhảy vọt đó là sự ra đời 13 của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư sửa đổi; sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tình hình kinh tế, xã hội nước ta thời kỳ hội nhập Kinh tế phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt. Song, cũng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế nên nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và ngày càng phức tạp. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng lớn, là những mầm mống cho những bất ổn định xã hội. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến hàng triệu lao động nông nghiệp bị mất đất, di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm và phải chấp nhận cuộc sống bấp bênh, đầy rủi ro. Nguy cơ thất nghiệp, bệnh tật, ốm đau đang đe dọa một bộ phận lao động, nhất là lao động phổ thông, trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, đói nghèo được thu hẹp nhưng tái nghèo vẫn là nguy cơ đối với hàng chục triệu người. Hậu quả của tình trạng xã hội trên đã và đang cản trở sự phát triển kinh tếxã hội đất nước, ngăn trở mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh. Thời cơ và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế là thách thức với mọi nền kinh tế, kể cả các nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam. Thách thức ngày càng khắc nghiệt hơn khi nước ta là một nước đang phát triển đồng thời là nền kinh tế chuyển đổi. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cho Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng những cơ hội và thách thức mới. 14 Trước hết, Hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO đã tạo cho Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn, hàng hóa thâm nhập thị trường này cũng không gặp bất kỳ trở ngại nào. Việt Nam được đối xử tối huệ quốc vô điều kiện, thuế thu nhập vào các nước thành viên sẽ giảm đáng kể. Việt Nam sẽ tiếp nhận và tiếp cận được nguồn nhân lực, vật lực lớn từ những nước phát triển là thành viên của WTO. Việt Nam sẽ bình đẳng với các nước thành viên của WTO, Việt Nam sẽ nâng cao vị thế trong các mối quan hệ kinh tế, trong việc biểu hiện những vấn đề liên quan đến WTO đặc biệt trong việc giải quyết những tranh chấp trong kinh doanh thương mại quốc tế. Ngoài ra, khi nước ta hội nhập kinh tế quốc tế thì hàng hóa các nước sẽ xâm nhập thị trường trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành nâng cao sức cạnh tranh nhằm tồn tại và phát triển. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức lớn là cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn, cạnh tranh không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn với các doanh nghiệp nước ngoài để xuất khẩu hàng hóa và dich vụ. Trong khi đó khả năng cạnh tranh cả các doanh nghiệp nước ta chưa cao. Doanh nghiệp yếu về tiềm lực kinh tế cũng như thương hiệu không có khả năng cạnh tranh sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Điều này gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của Nhà nước, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và con người yếu kém. Hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội. Thách thức ở đây là để ra những chính sách đúng đắn nhằm tăng cường khả năng kiểm soát vĩ mô, nâng cao tính năng động và khả năng thích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế, củng cố và tăng cường các giải pháp an sinh xã hội để khắc phục những khó khăn ngắn hạn 15 Trước tình hình đó những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã và đang ban hành những chủ trương, chính sách nhằm giải quyết vấn đề xã hội nói chung và vấn đề an sinh xã hội nói riêng. Các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội được Nhà nước ban hành, sửa đổi và bổ sung ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế nước ta Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý. Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật có liên quan đến kinh tế và thương mại, các quy định về cạnh tranh để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng khi hội nhập. Các bộ, ngành đã tập trung rà soát và góp ý sửa đổi các quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực điện ảnh, viễn thông, an toàn thực phẩm cho phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam đồng thời kiến nghị ban hành hàng loạt Nghị định để thi hành những lĩnh vực trên. Bộ tài chính đã ban hành danh mục sửa đổi thuế xuất khẩu, danh mục sửa đổi biểu thuế nhập khẩu ưu đãi để thực hiện đúng cam kết về cắt giảm thuế theo biểu cam kết đối với WTO cho bước cắt giảm của năm 2009..Ngoài những chính sách trên thì Đảng và nhà nước còn ban hành rất nhiều chính sách về kinh tế- xã hội, đang tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Đánh giá chung về việc hình thành và phát triển triết lý kinh doanh của các doanh nghiệpViệt nam thời kỳ hội nhập Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã có cố gắng nhất định trong việc xây dựng triết lý để định hướng cho hoạt động kinh doanh cũng là thể hiện văn hóa kinh doanh và đạo đức kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp ở các 16 khu vực kinh tế khác nhau đã xây dựng nên những triết lý kinh doanh khác nhau và mỗi triết lý kinh doanh ấy đã thể hiện bản sắc riêng của mỗi doanh nghiệp. Ví dụ về triết lý kinh doanh của “Cà phê Trung Nguyên” và “Viettel”. • Triết lý kinh doanh của Vietel : “ Vietel caring innovator” thông qua đó Vietel muốn nhấn mạnh triết lý của mình cho toàn bộ các nhân viên của mình và những người quản lý coi trọng, đó là: Tinh thần Caring – quan tâm, chăm sóc, hướng nội và Innovatorv – sáng tạo, hiện đại, đột phá mang hơi thở kĩ thuật. • Triết lý kinh doanh của Café Trung Nguyên: “Tạo dựng thương hiệu hàng đầu qua việc mang lại cho người thưởng thức cà phê nguồn cảm hứng sáng tạo và niềm tự hào trong phong cách Trung Nguyên đầm đà văn hóa Việt”. Tuy nhiên, nhìn chung triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam vần là hiện tượng mới mẻ, chưa có sự thống nhất trong nhìn nhận và đánh giá. 2.2. Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước: Vị trí của các doanh nghiệp Nhà nước: Bộ phận doanh nghiệp Nhà nước từ trước đến nay vẫn được xem là thành phần kinh tế chủ đạo của nền kinh tế nước ta. Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp: Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp còn ở mức thấp so với các nguồn lực của nó. Số lượng các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô nhỏ, phấn tán nhưng với số doanh nghiệp nhiều nên số tài sản trong khu vực kinh tế khá lớn. Quá trình hình thành và phát triển của Triết lý kinh doanh: Đại đa số các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay chưa có triết lý kinh doanh bến vững, được trình 17 bày rõ ràng với đầy đủ chức năng, giá trị của nó. Nhà nước chưa đặt vấn đề cần xây dựng một triết lý kinh doanh chung cũng như các triết lý kinh doanh phù hợp với đặc thù mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu nhấn mạnh vào các yếu tố lượng của kinh doanh thể hiện trong các chỉ tiêu cụ thể như: doanh số, lợi nhuận, nộp ngân sách, thuế… mà chưa chú ý tới các hệ giá trị của doanh nghiệp, điều này chứng tỏ chưa có sự chú trọng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trên thực tế, các điều kiện như thực tiễn kinh doanh và sự kế thừa về lý tưởng, kinh nghiệm và triết lý ở các doanh nghiệp Nhà nước ở ta còn yếu ớt, thời hạn, quyền hạn, chức năng của người lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước chưa rõ ràng và ổn định. Như chúng ta đã biết, muốn có một bản triết lý kinh doanh giá trị, thường người lãnh đạo doanh nghiệp cần có khoảng 10, 20 năm lăn lộn trong kinh doanh và quản lý kinh doanh và giữa họ và người kế nhiệm phải có sự kế thừa về lý tưởng, kinh nghiệm và triết lý. Cả hai điều kiện trên ở nước ta còn yếu. Công tác cán bộ trong các doanh nghiệp Nhà nước còn thiếu những quy chế khoa học, còn nhiều định kiến phiến diện. Chúng ta thường ngại sử dụng và đề bạt những cán bộ dám làm, dám nói. Tuyệt đại đa số các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay đều không có triết lý kinh doanh được trình bày rõ ràng với đầy đủ chức năng, giá trị của nó. Mặt khác, những triết lý chung, giáo điều đúng nhưng khó thực thi, “vô thưởng, vô phạt” cũng được các nhà quản lý kinh doanh trong khu vực Nhà nước tuyên truyền thay thế cho các giá trị của các triết lý kinh doanh đích thực. Có thể kể ra một số triết lý kinh doanh như: “Vì nhân dân phục vụ”; “chúng ta phải biết hi sinh cho lợi ích tập thể”; “kinh tế phải phục tùng chính trị”. Đây là những triết lý rất chung chung, khó thực hiện, khó đo lường hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh. 18 Rõ ràng, vấn đề vai trò, tác dụng của các triết lý kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước có liên quan mật thiết tới công tác quản lý và công tác cán bộ. Tuy nhiên, trong tình hình đó đến nay đã có một số doanh nghiệp Nhà nước đã đưa ra triết lý kinh doanh của mình trong quá trình phát triển công ty, ví dụ như Xí nghiệp Thương mại Mặt đất Nội Bài (NIAGS) thuộc Tổng Công ty hàng không Việt Nam (Vietnam Arlines). Triết lý kinh doanh của Xí nghiệp Thương mại Mặt đất Nội Bài (NIAGS) thuộc Tổng Công ty hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines ):  Nhận thức rằng một danh tiếng bền vững về cách ứng xử văn hóa tự nó là một tài sản vô giá của doanh nghiệp, toàn thể cán bộ, công nhân viên Xí nghiệp thương mại Mặt đất Nội Bài luôn hướng tới xây dựng đơn vị mình thành một cộng đồng những con người có văn hóa.  Thông qua công việc mỗi ngày, chúng ta phấn đấu không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao lợi ích vật chất – điều kiện để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho từng cá nhân, cho từng gia đình và cho toàn xí nghiệp.  Chúng ta cam kết cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ chất lượng ổn định và không ngừng được nâng cao bằng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000 vì không có khách hàng chúng ta không có lí do để tồn tại. Chúng ta làm cho khách hàng thấy họ đang được phục vụ bởi đội ngũ những nhân viên lành nghề ,đáng tin cậy và hết mình. Đồng thời chúng ta thấu hiểu rằng giá trị của sản phẩm, dịch vụ không chỉ giới hạn ở chính bản thân chúng ta mà còn ở cách thức chúng ta cung cấp chúng cho khách hàng. Do vậy việc tuân thủ nghiêm khắc các quy trình, hướng dẫn công việc chúng ta còn quan tâm đến những chuẩn mực, hành vi, quy tắc ứng xử trong quá trình tạo ra sản 19 phẩm, dịch vụ trong quá trình chúng ta sống và làm việc bên nhau. Chính những chuẩn mực này tạo nên bản sắc riêng của NIAGS chúng ta.  Chúng ta tạo ra và duy trì một môi trường để mỗi thành viên đều cảm thấy được tin yêu và quý trọng như những tài sản quý giá nhất, tự hào khi đứng trong đội ngũ NIAGS và sẵn sàng thể hiện đầy đủ những khả năng và phẩm chất cao quý của mình; một môi trường mà sự đóng góp của bất kì thành viên nào vào thành công của NIAGS đều được thưởng xứng đáng và ngược lại, những hành vi ứng xử trái với văn hóa NIAGS, làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, tổn hại lợi ích của khách hàng đều phải bị lên án và không còn chỗ đứng ở NIAGS.  Chúng ta phấn đấu xây dựng một NIAGS mà hình ảnh của nó trong khách hàng không chỉ là một sản phẩm, dịch vụ hoàn hảo mà còn là sự liên tưởng ngay đến một cộng đồng, một tập thể những con người sôi nổi, đoàn kết gắn bó, tương thân tương ái. Có thể thấy triết lý kinh doanh của công ty đã nói lên ý nghĩa tồn tại của công ty và cũng chính là nét văn hóa tổ chức của công ty đó. Luôn hướng tới khách hàng, đáp ứng những nhu cầu của khách hàng ở mọi lúc, mọi nơi là sứ mệnh cũng như mục đích tồn tại của công ty. Vấn đề con người được quan tâm từ bên trong nội bộ công ty đến khách hàng cho thấy giá trị nhân văn của NIAGS cũng là một phần trong đạo đức quản lý của doanh nghiệp. 2.3. Triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Phát huy vai trò của triết lý kinh doanh trong quản lý doanh nghiêp Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là khu vực kinh tế phát huy vai trò của triết lý kinh doanh tốt nhất ở nước ta hiện nay. Hầu hết các công ty nước ngoài thành đạt, đặc biệt là các công ty Mỹ và Nhật Bản đều mang vào Việt Nam và sử dụng triết lý kinh doanh của họ như là một công cụ quản lý 20
- Xem thêm -