Tài liệu Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng việt (các bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng)

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1849 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH -------------------------- TĂNG THỊ TUYẾT MAI TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT (CÁC BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 62 22 02 40 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NƯỚC NGOÀI Thành phố Hồ Chí Minh – 2017 Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Dũng Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Công Đức Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Trang Phản biện 3: PGS. TS. Nguyễn Văn Huệ Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:……………………………………... …………………………………………………………….. …………………………………………………………….. Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: - Thư viện Quốc gia Việt Nam - Thư viện Đại học Sư phạm TP.HCM - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM 1 MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Một từ tốt nghĩa như đẹp, tốt… không phải bao giờ cũng dùng để khen (chẳng hạn như trong câu: “Đẹp lắm đấy!”, “Đẹp lắm đấy à?”) và ngược lại, các từ ngữ chuyên dùng để chửi rủa như “Thằng cha mày!”, “Thằng chó!”… cũng có lúc được dùng như một lời mắng yêu (lời của người bà nói với đứa cháu nhỏ của mình). Đây không phải là vấn đề của ngữ nghĩa học từ vựng mà là câu chuyện ngữ dụng học. Trong luận án này, người viết sẽ trình bày những vấn đề chung của hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt từ hai góc độ: ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ nghĩa học dụng pháp với mục đích đem đến cho người đọc một hình dung trọn vẹn về vấn đề này. 1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tốt nghĩa và xấu nghĩa thường được chú ý dưới dạng danh từ: sự biến đổi tốt nghĩa (amelioration) và sự biến đổi xấu nghĩa (pejoration). Hầu như các công trình ngôn ngữ học lịch sử đều đề cập đến quá trình biến đổi tốt nghĩa và biến đổi xấu nghĩa. Tốt nghĩa và xấu nghĩa mang tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ. Có lẽ vì vậy mà vấn đề này được nghiên cứu ở nhiều ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Italia... Trong vài năm gần đây, xấu nghĩa (pejoratives) và đặc biệt là phỉ báng (slurs) được giới nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới dành cho một sự quan tâm đặc biệt. Hướng nghiên cứu chủ yếu của các tác giả là từ góc độ ngữ nghĩa học và ngữ dụng học, theo quan điểm ngôn ngữ học đồng đại. C. Hom (2010) dựa vào nghĩa, chia từ xấu nghĩa ra ba loại: thề thốt (swear words), chửi rủa (insults) và phỉ báng (slurs). Adam M. Croom (2011) cũng đề cập đến hiện tượng xấu 2 nghĩa trong các từ phỉ báng. Năm 2014, một hội thảo dành riêng cho vấn đề xấu nghĩa đã được tổ chức tại Đức và có 14 báo cáo ở hội thảo này được chọn để in trong tuyển tập Pejoration. Trong tiếng Việt, ngoài nghiên cứu của chúng tôi, hầu như chưa có công trình nào tập trung bàn về vấn đề này. Trong số đó, đáng kể nhất là các công trình của Nguyễn Ngọc Trâm (1991), Chu Bích Thu (1996) và Nguyễn Thị Bảo (2003). Mặc dù đã chú ý đến hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt nhưng các tác giả chỉ gói gọn vấn đề trong một phạm vi hẹp. Hơn nữa, các công trình này vẫn chưa đưa ra một quy trình đủ hiệu lực để chứng minh sắc thái tốt nghĩa hay xấu nghĩa trong tiếng Việt. Năm 2010, luận văn thạc sĩ Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt của chúng tôi mang đến một cái nhìn tương đối toàn diện hơn về vấn đề tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học đồng đại, dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng dựa trên việc khảo sát một số lượng lớn các đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt có biểu hiện thú vị về sắc thái ngữ nghĩa (STNN): danh từ đơn vị (DTĐV) và vị từ trạng thái (VTTT). Cũng trong công trình này, lần đầu tiên chúng tôi đưa ra một quy trình xác lập sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa và thứ tự ưu tiên trong việc kết hợp STNN tốt / xấu. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu Từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng, luận án tìm hiểu STNN của ba bộ phận từ loại trong tiếng Việt (DTĐV, VTTT, VTHĐ). Từ góc độ ngữ nghĩa học dụng pháp, chúng tôi quan tâm đến STNN của các loại phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu. 3 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu STNN của ba bộ phận từ loại cơ bản của tiếng Việt đồng thời tìm hiểu STNN của các loại phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu. 1.4. Phương pháp nghiên cứu 1.4.1. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ Phương pháp này được dùng để miêu tả ngữ nghĩa các đơn vị, đặc biệt là các đơn vị có biểu hiện phức tạp về STNN. 1.4.2. Phương pháp thống kê ngôn ngữ Luận án sử dụng phương pháp này để thống kê số lượng các tiểu loại DTĐV, VTTT và VTHĐ dựa trên STNN tốt, xấu, trung hoà cũng như khả năng kết hợp của chúng. Bên cạnh đó, việc khảo sát mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và STNN của các yếu tố chỉ mức độ cao theo sau VTTT cũng cần đến phương pháp này. 1.5. Tư liệu nghiên cứu  Các loại từ điển (trong đó, Từ điển tiếng Việt (2002) do Hoàng Phê chủ biên được xem là nguồn tư liệu chính.)  Các văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác nhau 1.6. Đóng góp của luận án 1.6.1. Về mặt lý luận Từ những tiền đề lý thuyết về ngữ cảnh, chúng tôi khái quát một phương pháp phân tích STNN dựa trên ngữ cảnh. Theo đó, phân loại và miêu tả STNN của ba bộ phận từ loại tiếng Việt dựa theo phương pháp này là đóng góp chủ yếu của luận án. Ngoài ra, chúng tôi còn dựa vào những tiền đề lý thuyết về các loại nghĩa của phát ngôn, các phương châm hội thoại, tiền giả định… để xác lập cơ chế tạo ra STNN tốt, xấu của phát ngôn, từ đó miêu tả STNN của bốn loại phát ngôn cơ bản (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, 4 mắng yêu) dưới cái nhìn dụng học, giúp làm sáng tỏ phần nào đặc trưng văn hoá tư duy người Việt. 1.6.2. Về mặt thực tiễn Luận án nghiên cứu hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong ba loại đơn vị từ vựng tiếng Việt (DTĐV, VTTT, VTHĐ) trên phương diện đồng đại, từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và bốn loại phát ngôn cơ bản (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu) dưới cái nhìn dụng học, từ đó hình thành cái nhìn bao quát về STNN của các đơn vị này, giúp sinh viên người Việt có thể hiểu rõ hơn ngôn ngữ mẹ đẻ của mình đồng thời giúp giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài có thể hướng dẫn học viên sử dụng các đơn vị từ vựng vốn được xem là tinh tế và khó phân biệt trong quá trình học tiếng Việt. 1.7. Bố cục của luận án Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được chia làm năm chương. Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong danh từ đơn vị tiếng Việt Chương 3: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong vị từ trạng thái tiếng Việt Chương 4: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong vị từ hành động tiếng Việt Chương 5: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong các phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu CHƯƠNG MỘT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Giới thiệu chung về tốt nghĩa, xấu nghĩa 1.1.1. Khái niệm tốt nghĩa, xấu nghĩa Một từ hay một sự biểu đạt nào đó có thể xem là tốt nghĩa nếu nó mang những hàm ý quy ước như: tích cực, tán thành, trân trọng, ca tụng… và ngược lại, nếu nó có xu hướng tiêu cực, không tán thành, 5 không trân trọng, coi thường… thì được xem là xấu nghĩa. 1.1.2. Tốt nghĩa, xấu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới góc độ ngữ dụng học Nếu tốt nghĩa và xấu nghĩa được ký mã trong hệ thống từ vựng và không phụ thuộc vào tình huống phát ngôn thì có nghĩa nó đang được xem xét từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng. Nếu STNN được xem xét có tính đến tình huống phát ngôn thì có nghĩa nó đang được xem xét từ góc độ ngữ dụng học. 1.2. Sắc thái ngữ nghĩa của từ và quy trình xác lập STNN của từ 1.2.1. Sắc thái ngữ nghĩa của từ 1.2.1.1. Các thành phần nghĩa Nghĩa từ vựng (lexical meaning) của một đơn vị từ vựng gồm: nghĩa miêu tả (descriptive meaning), nghĩa xã hội (social meaning) và nghĩa biểu cảm (expressive meaning). Bên cạnh đó, người ta hay nhắc đến nghĩa thêm vào – nghĩa liên tưởng (connotation). 1.2.1.2. Sắc thái ngữ nghĩa trong quan hệ với các thành phần nghĩa STNN không thuộc về nghĩa miêu tả mà thuộc về nghĩa biểu cảm, nghĩa xã hội và nghĩa liên tưởng. 1.2.2. Quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ 1.2.2.1. Các phương pháp phân tích ngữ nghĩa a. Phương pháp phân tích thành tố b. Phương pháp sử dụng ngữ cảnh 1.2.2.2. Ngữ cảnh và sắc thái ngữ nghĩa của từ Khi sử dụng ngữ cảnh trong phân tích STNN của từ, việc đầu tiên là thu thập ngữ cảnh và phân loại chúng thành những loạt ngữ cảnh cùng loại. Sau đó, chúng ta tiến hành phân tích STNN của từ.  Nếu từ biểu hiện một STNN duy nhất trong toàn bộ ngữ cảnh, chúng ta kết luận từ mang STNN đó trong toàn bộ ngữ cảnh. 6  Nếu STNN của từ (1) biến đổi trong một (hay một vài) loạt ngữ cảnh nhất định với cơ chế biến đổi rõ ràng hoặc (2) biến đổi trong các nghĩa (đối với từ đa nghĩa), chúng ta kết luận từ đã biến đổi STNN. 1.3. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn và cơ chế tạo ra sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa của phát ngôn 1.3.1. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn 1.3.1.1. Các loại nghĩa của phát ngôn Các nhà ngữ dụng học phân chia nghĩa của một phát ngôn theo những cách phổ biến sau: nghĩa tường minh (explicit meaning) / nghĩa hàm ẩn (implicit meaning), nghĩa tự nhiên (natural meaning) / nghĩa không tự nhiên (nonnatural meaning), nghĩa của người nói (speaker meaning) / nghĩa được mã hoá trong ngôn ngữ (linguistically encoded meaning hay timeless meaning) / nghĩa được suy ra (inferred meaning). 1.3.1.2. STNN của phát ngôn trong quan hệ với các loại nghĩa STNN của phát ngôn có quan hệ với tất cả các loại nghĩa kể trên, trong đó đáng chú ý nhất là nghĩa hàm ẩn, nghĩa của người nói, nghĩa không tự nhiên. 1.3.2. Cơ chế tạo ra sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa của phát ngôn 1.3.2.1. Cơ chế tiền giả định Ở đây, người nói có thể bất chấp tiền giả định, phủ định tiền giả định hoặc lợi dụng tiền giả định để thông báo ngầm. 1.3.2.2. Cơ chế phương châm hội thoại Người nói có thể bất chấp phương châm về lượng, bất chấp phương châm về chất, bất chấp phương châm cách thức, bất chấp phương châm quan hệ. 7 1.3.2.3. Các cơ chế khác Ngoài hai cơ chế trên, chúng ta còn có thể tìm thấy các cơ chế khác như so sánh, ẩn dụ, chơi chữ... CHƯƠNG HAI TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA TRONG DANH TỪ ĐƠN VỊ TIẾNG VIỆT Chúng tôi khảo sát hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa ở 396 DTĐV đơn tiết không chất liệu và 279 DTĐV chất liệu với 4861 ngữ cảnh. Một điều có thể dễ dàng nhận thấy là DTĐV trung hoà về nghĩa chiếm ưu thế về số lượng (94.96%). Bảng 3. Bảng thống kê STNN của DTĐV Loại STNN Số lượng % 8 1.19 TH về nghĩa 641 94.96 Xấu nghĩa 26 3.85 Tổng cộng 675 100.00 Tốt nghĩa 2.1. Danh từ đơn vị tốt nghĩa 2.1.1. DTĐV tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh Trên lý thuyết, loại đơn vị này chỉ kết hợp với những yếu tố tốt nghĩa và / hoặc trung hoà để tạo thành những kết hợp mang nghĩa tốt và hoàn toàn không có khả năng kết hợp với các yếu tố xấu nghĩa. 2.1.2. DTĐV tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định 2.1.2.1. Biến đổi sang sắc thái ngữ nghĩa trung hoà Nếu nghĩa thứ nhất của dịp1 mang sắc thái tốt thì nghĩa thứ hai chỉ mang sắc thái trung hoà. 2.1.2.2. Biến đổi sang xấu nghĩa Các nghĩa sau của mánh đã biến đổi xấu nghĩa so với nghĩa gốc. 8 2.2. Danh từ đơn vị trung hòa về nghĩa 2.2.1. DTĐV trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh Nhóm này chiếm số lượng chủ yếu trong các DTĐV trung hoà về nghĩa của tiếng Việt. STNN của các kết hợp do các DTĐV nhóm này tạo ra phụ thuộc vào STNN của yếu tố cộng thêm. 2.2.1.1. Chỉ kết hợp với các yếu tố trung hoà Các DTĐV không chất liệu chỉ đơn vị quy ước và một số DTĐV chất liệu chỉ các đơn vị hành chính nằm trong loại này. 2.2.1.2. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa a. Có quy trình kết hợp bình thường 1/ A (TH) + B (T) → C (T) 2/ A (TH) + B (TH) → C (TH) 3/ A (TH) + B (X) → C (X) b. Có quy trình kết hợp bất thường 1/ A (TH) + B (T) → C (TH/X) 2/ A (TH) + B (TH) → C (T/X) 3/ A (TH) + B (X) → C (T/TH) 2.2.2. DTĐV trung hoà biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định Hướng biến đổi chính là biến đổi xấu nghĩa với tỉ lệ 83.33%. 2.2.2.1. Biến đổi tốt nghĩa Bậc trung hoà khi chỉ “hạng, thứ xếp theo trình độ cao thấp, trên dưới” nhưng sau đó nó đã biến đổi tốt nghĩa, dùng để chỉ “người thuộc hàng đáng tôn kính” (bậc tiền bối, bậc cha mẹ…). 2.2.2.2. Biến đổi xấu nghĩa Ở một (một vài) nghĩa hay một (một vài) loạt ngữ cảnh nhất định nào đó, các DTĐV nhóm này có xu hướng biến đổi xấu nghĩa. 9 a. Kết hợp với yếu tố chỉ người a1. Bầy, đàn4, đám, mớ1, xâu2III + Yếu tố chỉ người a2. Dạng, hạng, giống1, kiểu, loài, loại₁, môn2, phường, thớ, thứ1 + Yếu tố liên quan đến con người a3. NắmII, dúm, nhúm + Yếu tố chỉ người / thuộc tính của người a4. Bản2 + Yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người (mặt) a5. Con2 + Yếu tố chỉ cá nhân người (nữ) a6. Kiếp – nét nghĩa “thân phận” b. Kết hợp với yếu tố chỉ động vật và yếu tố chỉ người Mống2 đã biến đổi STNN thành tiêu cực trong các kết hợp mống người, vài mống… c. Kết hợp với yếu tố chỉ đám đông, có quan hệ lợi ích với nhau Bè1 mang nghĩa tiêu cực khi được dùng để chỉ sự liên kết giữa một nhóm người. d. Các kiểu kết hợp khác Các DTĐV thuộc nhóm này là: chuyệnI, trò1, quầng, thói, tấn2… 2.3. Danh từ đơn vị xấu nghĩa 2.3.1. DTĐV xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh 2.3.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp Các từ nhóm này có thể kết hợp với yếu tố trung hoà, hoặc với yếu tố xấu nghĩa, hoặc cả hai để tạo ra những kết hợp xấu nghĩa. 2.3.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp Theo lý thuyết, một đơn vị xấu nghĩa sẽ không thể kết hợp với một đơn vị tốt nghĩa. Tuy nhiên, ở đây cũng có lệ ngoại. DTĐV gã có thể kết hợp với cả ba loại yếu tố: tốt, trung hoà, xấu. 2.3.2. DTĐV xấu nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định Chỉ có duy nhất một trường hợp thuộc nhóm DTĐV xấu nghĩa 10 biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định (DTĐV phận). CHƯƠNG BA TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA TRONG VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIẾNG VIỆT Luận án đã tiến hành khảo sát 1641 VTTT đơn tiết và 3064 VTTT đa tiết tiếng Việt với 9399 ngữ cảnh. So với DTĐV, tỉ lệ đơn vị trung hoà về nghĩa đã giảm đáng kể, thay vào đó là sự gia tăng loại đơn vị xấu nghĩa và tốt nghĩa. Bảng 17. Bảng thống kê STNN của VTTT VTTT SL % Tốt nghĩa 740 15.73 TH về nghĩa 2147 45.63 Xấu nghĩa 1818 38.64 Tổng cộng 4705 100.00 3.1. Vị từ trạng thái tốt nghĩa 3.1.1. VTTT tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh 3.1.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp Các VTTT này chiếm tỉ lệ hơn 90%. Có hai trường hợp có thể xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà về nghĩa. b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa. 3.1.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp Nhóm này chỉ có 16/216 từ bởi nó là những lệ ngoại. a. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa Danh sách VTTT trong nhóm này chỉ có hai từ: đã1, hên. b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa Có ba khả năng có thể xảy ra: b1. Xuất hiện các kết hợp trung hoà về nghĩa. b2. Xuất hiện thêm các kết hợp xấu nghĩa. b 3. Xuất hiện thêm các kết hợp trung hoà và các kết hợp xấu nghĩa. 11 3.1.2. VTTT tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định 3.1.2.1. Biến đổi từ tốt nghĩa sang trung hoà về nghĩa No ban đầu mang nghĩa tốt nhưng sau đó đã biến đổi STNN thành trung hoà. 3.1.2.2. Biến đổi từ tốt nghĩa sang xấu nghĩa Mát2 tốt nghĩa trong hàng loạt ngữ cảnh nhưng trong loạt ngữ cảnh cười mát, nói mát, hờn mát…, STNN tốt đã không còn nữa. 3.2. Vị từ trạng thái trung hòa về nghĩa 3.2.1. VTTT trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh 3.2.1.1. Kết hợp với yếu tố trung hoà a. Có quy trình kết hợp bình thường A (TH) + B (TH)  C (TH) b. Có quy trình kết hợp bất thường A (TH) + B (TH)  C (X) 3.2.1.2. Kết hợp với yếu tố xấu nghĩa Nhóm này chỉ có một VTTT: trọngII (bệnh trọng, tội trọng). 3.2.1.3. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà a. Có quy trình kết hợp bình thường 1/ A (TH) + B (T)  C (T) 2/ A (TH) + B (TH)  C (TH) b. Có quy trình kết hợp bất thường A (TH) + B (TH)  C (X) 3.2.1.4. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa a. Có quy trình kết hợp bình thường 1/ A (TH) + B (TH)  C (TH) 2/ A (TH) + B (X)  C (X) b. Có quy trình kết hợp bất thường 12 A (TH) + B (TH)  C (X) 3.2.1.5. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà và xấu nghĩa a. Có quy trình kết hợp bình thường 1/ A (TH) + B (T)  C (T) 2/ A (TH) + B (TH)  C (TH) 3/ A (TH) + B (X)  C (X) b. Có quy trình kết hợp bất thường 1/ A (TH) + B (TH)  C (X) 2/ A (TH) + B (X)  C (T) 3.2.2. VTTT trung hoà biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định 3.2.2.1. Biến đổi tốt nghĩa a. Loạt ngữ cảnh kết hợp với các yếu tố thuộc về con người Chín2 biến đổi tốt nghĩa trong các ngữ cảnh biểu thị vẻ đẹp con người, những tình cảm, suy nghĩ đã chín chắn. b. Các nhóm ngữ cảnh khác VTTT đắt biến đổi tốt nghĩa khi chỉ ý “được nhiều người ưa chuộng, nhiều người mua”, biểu thị từ ngữ hoặc hình tượng văn học nghệ thuật “có giá trị diễn đạt cao hơn mức bình thường” 3.2.2.2. Biến đổi xấu nghĩa a. Loạt ngữ cảnh kết hợp với các yếu tố thuộc về con người CạnI trung hoà về nghĩa trong tất cả các ngữ cảnh nhưng riêng ngữ cảnh chỉ suy nghĩ của con người, cạnI mang sắc thái xấu nghĩa. b. Các nhóm ngữ cảnh khác Rẻ2 trung hoà về nghĩa nhưng nó biến đổi STNN thành xấu khi biểu thị ý “có giá trị thấp hơn nhiều so với giá trị thực”. 3.2.2.3. Biến đổi vừa tốt nghĩa vừa xấu nghĩa Nghĩa đầu tiên của dẻo mang sắc thái trung hoà. Nghĩa thứ hai và thứ ba của nó mang nghĩa tốt. Bên cạnh đó, nó còn có một kiểu kết 13 hợp mang nghĩa xấu là: dẻo mồm, dẻo miệng. 3.3. Vị từ trạng thái xấu nghĩa 3.3.1. VTTT xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh 3.3.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp Có 631/641 VTTT xấu nghĩa bình thường về khả năng kết hợp. Có ba khả năng có thể xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà. b. Kết hợp với yếu tố xấu nghĩa. c. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa. 3.3.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp a. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa Tất cả các kết hợp do chúng tạo ra vẫn mang nghĩa xấu. Ví dụ: hãm5, lỏi2, róc3… b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa Có hai khả năng có thể xảy ra: b 1. Chỉ tạo ra các kết hợp xấu nghĩa. b2. Xuất hiện thêm các kết hợp trung hoà về nghĩa. 3.3.2. VTTT xấu nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định Nghĩa thứ nhất và nghĩa thứ hai của thô mang sắc thái tiêu cực nhưng nghĩa thứ ba mang STNN trung hoà. 3.4. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp láy xuất phát từ VTTT Trong các từ láy như vuông vắn, tròn trịa, dày dặn…, yếu tố đi sau có tác dụng quyết định STNN của cả kết hợp. Mỗi nhóm VTTT với STNN khác nhau sẽ có xu hướng chọn cho mình một kiểu yếu tố cộng thêm với STNN khác nhau để tạo thành kết hợp láy. 3.5. Mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và sắc thái ngữ nghĩa của các từ chỉ mức độ cao theo sau VTTT Các từ này có tác dụng nhân lên tính chất, tình trạng mà VTTT trước nó biểu thị. Nếu âm chính dòng giữa và vần nửa khép chính là đặc trưng của các yếu tố tốt nghĩa chỉ mức độ cao theo sau VTTT thì 14 âm chính dòng trước và vần khép lại là xu hướng mà các yếu tố xấu nghĩa hướng đến. 3.6. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp chứa vị từ trạng thái biểu thị một quá trình Các VTTT tốt nghĩa có thể kết hợp với các từ chỉ hướng lên, ra để biểu thị một quá trình mà kết quả là gia tăng mức độ tính chất, tình trạng mà VTTT biểu thị còn VTTT xấu nghĩa có thể kết hợp với từ chỉ hướng đi để tạo ra các kết hợp mang nghĩa xấu. Trong khi đó, một số VTTT trung hoà có thể kết hợp được với cả lên, ra và đi. CHƯƠNG BỐN TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA TRONG VỊ TỪ HÀNH ĐỘNG TIẾNG VIỆT Luận án đã tiến hành khảo sát 2208 VTHĐ đơn tiết và 2066 VTHĐ đa tiết tiếng Việt với 8475 ngữ cảnh. Bảng 36. Bảng thống kê STNN của VTHĐ VTHĐ Số lượng % 89 2.06 TH về nghĩa 3634 84.12 Xấu nghĩa 597 13.82 Tổng cộng 4320 100.00 Tốt nghĩa 4.1. Vị từ hành động tốt nghĩa 4.1.1. VTHĐ tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh 4.1.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp Nhóm này chiếm đến 94.74% tổng số VTHĐ đơn tiết tốt nghĩa. Có hai khả năng có thể xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà về nghĩa. b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa. 4.1.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp 15 VTHĐ nhóm này (biếu, khen) có thể kết hợp với cả ba loại yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa. 4.1.2. VTHĐ tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định Nghĩa thứ nhất của dõi1I tốt nghĩa nhưng nghĩa thứ hai đã biến đổi thành trung hoà (dõi theo người lạ, dõi theo bóng người…). 4.2. Vị từ hành động trung hòa về nghĩa 4.2.1. VTHĐ trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh 4.2.1.1. Kết hợp với yếu tố trung hoà a. Có quy trình kết hợp bình thường A (TH) + B (TH)  C (TH) b. Có quy trình kết hợp bất thường A (TH) + B (TH)  C (X) 4.2.1.2. Kết hợp với yếu tố xấu nghĩa A (TH) + B (X)  C (TH) 4.2.1.3. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà 1/ A (TH) + B (T)  C (T) 2/ A (TH) + B (TH)  C (TH) 4.2.1.4. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa a. Có quy trình kết hợp bình thường 1/ A (TH) + B (TH)  C (TH) 2/ A (TH) + B (X)  C (X) b. Có quy trình kết hợp bất thường 1/ A (TH) + B (X)  C (TH) 2/ A (TH) + B (X)  C (T) 3/ A (TH) + B (TH)  C (X) 4.2.1.5. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà và xấu nghĩa a. Có quy trình kết hợp bình thường 1/ A (TH) + B (T)  C (T) 16 2/ A (TH) + B (TH)  C (TH) 3/ A (TH) + B (X)  C (X) b. Có quy trình kết hợp bất thường 1/ A (TH) + B (TH)  C (X) 2/ A (TH) + B (TH)  C (T) 3/ A (TH) + B (X)  C (TH) 4.2.2. VTHĐ trung hoà biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định 4.2.2.1. Biến đổi tốt nghĩa VTHĐ dùng1 trung hoà STNN trong các kết hợp kiểu như dùng gỗ (đóng bàn ghế), dùng người, dùng dao cắt bánh… nhưng nó biến đổi tốt nghĩa trong các ngữ cảnh nói về việc ăn uống. 4.2.2.2. Biến đổi xấu nghĩa a. Loạt ngữ cảnh kết hợp với các yếu tố thuộc về con người a1. Loạt ngữ cảnh có chủ thể của hành động là con người Chỉ riêng loạt ngữ cảnh mà chủ thể là con người (hót với cấp trên, hót với chủ), hót xấu nghĩa. a2. Loạt ngữ cảnh có đối thể của hành động liên quan đến con người VTHĐ bới1 biến đổi xấu nghĩa khi chỉ ý “moi móc để tìm cho ra, cho thành ra có” (bới móc nhau, bới xấu, bới chuyện…). b. Các nhóm ngữ cảnh khác Chơi trung hoà về nghĩa ở năm nghĩa đầu nhưng khi chỉ “hành động gây hại cho người khác, nhưng xem như trò vui”, chơi mang nghĩa xấu (chơi một vố, chơi khăm, bị (nó) chơi…). 4.2.2.3. Biến đổi vừa tốt nghĩa vừa xấu nghĩa Ăn trung hoà về nghĩa trong hầu hết các kết hợp tuy nhiên nó biến đổi xấu nghĩa trong các kết hợp ăn đòn, ăn đạn… và biến đổi tốt nghĩa trong các kết hợp ăn ảnh, ăn ý, ăn nhau ở tinh thần, ăn giải… 17 4.3. Vị từ hành động xấu nghĩa 4.3.1. VTHĐ xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh Trong 227 VTHĐ đơn tiết xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh, chỉ có 21 trường hợp là bất thường về khả năng kết hợp. 4.3.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp Có ba trường hợp có thể xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà. b. Kết hợp với yếu tố xấu nghĩa. c. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa. 4.3.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp a. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa Các VTHĐ thuộc trường nghĩa “ăn cắp” đều thuộc nhóm này. b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa Khi kết hợp với các yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa, các VTHĐ nhóm này tạo ra duy nhất một sắc thái xấu nghĩa. 1/ A (X) + B (T)  C (X) 2/ A (X) + B (TH)  C (X) 3/ A (X) + B (X)  C (X) 4.3.2. VTHĐ xấu nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định Lừa2 xấu nghĩa trong hầu hết các kết hợp (lừa cô ấy, lừa gạt…) nhưng trong ngữ cảnh chỉ hành động “ru, dỗ khéo cho trẻ nhỏ ngủ” (lừa con ngủ) thì từ này mang nghĩa trung hoà. CHƯƠNG NĂM TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA TRONG PHÁT NGÔN KHEN NGỢI, CHÊ TRÁCH, CHỬI RỦA, MẮNG YÊU 5.1. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn khen ngợi 5.1.1. Phát ngôn khen ngợi có nghĩa tường minh tích cực
- Xem thêm -