Tài liệu Tóm tắt tổ chức trò chơi học tập trong giờ học tiếng việt cho học sinh lớp 2

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 945 |
  • Lượt tải: 1
nguyenduychinh

Đã đăng 1600 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xuất phát từ thực tế và từ mục tiêu giáo dục của nước ta là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; trong những năm gần đây nhà nước ta đã từng đổi mới phương pháp giáo dục ở các nhà trường phổ thông nói chung và ở nhà trường tiểu học nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Hiện nay, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được áp dụng vào nhà trường tiểu học. Trong đó có sự kết hợp hài hóa giữa việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, và vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực. Một trong những phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học đang được giáo viên (GV) chú trọng là phương pháp trò chơi học tập. Hoạt động trò chơi học tập góp phần giúp giáo viên tổ chức dạy học tiếng Việt theo định hướng nói trên. Thông qua hoạt động thực hành nói chung và các trò chơi nói riêng, hoạt động dạy học sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh. Đã có nhiều tác giả đề xuất các trò chơi học tập Tiếng Việt. Tuy nhiên việc vận dụng sáng tạo các trò chơi đó vào dạy học môn Tiếng Việt còn rất hạn chế. Vì vậy, ở đề tài này chúng tôi đi sâu vào việc nghiên cứu cách vận dụng các trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 bậc Tiểu học. Xuất phát từ những lí di trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp 2”. Với mong muốn giúp các em học sinh yêu thích và học tập tốt hơn môn Tiếng Việt. 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài Nghiên cứu hoạt động tổ chức trò chơi học tập, trò chơi Tiếng Việt nói chung và trò chơi trong giờ học Tiếng Việt nói riêng không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập tập trung ở một số hướng chính sau: Hướng thứ nhất: nghiên cứu các trò chơi học tập nói chung Trò chơi học tập không phải là vấn đề mới. Nhiều nhà nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã chỉ rõ tầm quan trọng của loại hoạt động này. Trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều nhà giáo dục trong nước nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn diện hứng thú học tập cho các em như cuốn: “Tổ chức hoạt động 2 vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng (chủ biên), hay cuốn: “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sĩ Tụng và Trần Quang Đức (đồng chủ biên). Ở các tài liệu này, các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò cũng như tác dụng của trò chơi và đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung nhưng chưa đi sâu vào ứng dụng và tổ chức trò chơi trong môn học cụ thể. Hướng thứ hai: Nghiên cứu các trò chơi Tiếng Việt Nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu và nhiều ý kiến xung quanh vấn đề trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học. - Theo tác giả Nguyễn Trí: Dạy học ở bậc Tiểu học, nhất là các lớp 1,2,3 nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập thì sẽ có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập và tạo chất lượng cho bài học Tiếng Việt. - Các tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga thông qua cuốn Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3 NXB Giáo dục, 2003, 2004 đã bàn về việc sử dụng trò chơi học tập: Những trò chơi đưa vào sách thường dựa vào nội dung cụ thể của từng phân môn. Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào từng địa bàn, từng đối tượng HS để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí. Tóm lại, khi xây dựng trò chơi sử dụng trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói chung và trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 nói riêng , mục tiêu vui mà học được các nhà nghiên cứu cho là yếu tố quyết định. Mặt khác thông qua trò chơi học tập, học sinh được phát triển một cách toàn diện cả về thể lực, trí tuệ lẫn nhân cách. Đưa trò chơi vào lớp học làm cho việc học Tiếng Việt nhẹ nhàng và hiệu quả. Điểm qua các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập và trò chơi trong dạy Tiếng Việt, chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào diện rộng, quan tâm giới thiệu các trò chơi và một số ví dụ về cách tổ chức. Việc xem xét các biện pháp cụ thể để tổ chức các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt cho một đối tượng HS xác định vẫn chưa có công trình nào đi sâu xem xét. Đây chính là khoảng trống dành cho đề tài chúng tôi đi tiếp. 3. Mục đích nghiên cứu. Thông qua các trò chơi giúp học sinh tự mình chiếm lĩnh các tri thức và kĩ năng Tiếng Việt một cách tự nhiên, thoải mái nhất nhằm góp phần nâng cao năng lực giao tiếp cho các em. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Tổng hợp các vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài - Hệ thống và chọn các trò chơi thích hợp với việc tổ chức rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh lớp hai. - Tổ chức dạy thực nghiệm các trò chơi trong giờ dạy Tiếng Việt. 5. Đối tượng nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu - Hoạt động dạy học tổ chức trò chơi trong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp hai. 5.2. Phạm vi nghiên cứu - Tổ chức các trò chơi học tập Tiếng Việt theo chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt đối với môn Tiếng Việt lớp 2. - Giới hạn phạm vi nghiên cứu: trên đối tượng học sinh lớp 2A và lớp 2B trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài. 6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra khảo sát: phương pháp này được dùng để khảo sát hoạt động sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học Tiếng Việt của giáo viên và học sinh trong nhà trường tiểu học. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Phương pháp thống kê toán học để chứng minh độ tin cậy của kết quả nghiên cứu 7. Giả thuyết khoa học Nếu đề tài nghiên cứu thành công nghĩa là hệ thống được các trò chơi phù hợp với nội dung, yêu cầu của từng môn, từng bài học Tiếng Việt, đồng thời đưa ra các chỉ dẫn để giáo viên lựa chọn, sắp xếp và sử dụng trò chơi học tập một cách hợp lí, linh hoạt, sáng tạo thì sẽ kích thích tính tích cực nhận thức, kích thích nhu cầu giao tiếp khi chơi các trò chơi để từ đó rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh và góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy học Tiếng Việt . 8. Bố cục luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận , luận văn gồm 3 chương. 4 Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn Chương 2: Tổ chức một số trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt lớp hai Chương 3: Thực nghiệm 5 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 . Cơ sở lí luận 1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ * Giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội + Giao tiếp – nhu cầu thiết yếu của con người + Hai phương tiện giao tiếp cơ bản của con người + Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ * Khái niệm về hoạt động giao tiếp + giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm giữa người và người. + Giao tiếp, một hiện tượng xã hội + Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp Nhân vật giao tiếp Nội dung giao tiếp Mục đích giao tiếp Phương tiện giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp + Hoàn cảnh giao tiếp rộng là hoàn cảnh xã hội, lịch sử, là hoàn cảnh văn hóa mà các nhân vật giao tiếp tồn tại và thực hiện hoạt động giao tiếp. + Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thể… diễn ra cuộc giao tiếp. 1.1.2. Lí luận chung về trò chơi học tập 1.1.2.1 Khái niệm về chơi, trò chơi và trò chơi học tập a) Khái niệm chơi b) Khái niệm trò chơi c) Trò chơi học tập * Khái niệm * Luật chơi của trò chơi học tập 1.1.2.2 Trò chơi học tập Tiếng Việt  Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt Theo tác giả Lê Phương Nga: kết hợp sử dụng các hình thức trò chơi về Tiếng Việt làm phương tiện hỗ trợ cho việc phát triển Tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hoạt động trò chơi học sinh được củng cố về môn Tiếng Việt (ngữ âm, chữ viết, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và văn bản). 6  Loại hình trò chơi học tập Tiếng Việt Tùy đặc trưng từng phân môn Tiếng Việt mà có các loại hình trò chơi thích hợp. Có thể kể tới một số loại hình trò chơi tiêu biểu như sau: từ ngữ, ngữ pháp và văn bản. 1) Trò chơi tô chữ trên tranh 2) Trò chơi đi tìm lời thơ 3) Trò chơi đọc thơ truyền diện 4) Trò chơi đi tìm từ hoặc tiếng theo yêu cầu chính tả. - Các hình thức tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt “ Trò chơi tiếp sức” “ Trò chơi tăng tốc” “ Trò chơi đồng đội”… 1.1.2.3 Vai trò của trò chơi học tập và trò chơi học tập Tiếng Việt * Vai trò của trò chơi học tập Vui chơi chiếm vị trí đang kể trong đời sống của các em, đặc biệt giai đoạn đầu bậc Tiểu học. Thông qua trò chơi trẻ dần hoàn thiện các thuộc tính tâm lí, nhân cách, trí tuệ và cả thể lực cũng được nâng lên. Có nghĩa là trẻ em “lớn” lên trong vui chơi. Khi chơi trẻ được hoạt động, được nhận thức hiện thực khách quan một cách cụ thể và để trả lời kích thích biến đổi thực tiễn. Trong lúc chơi: Hình thành cho trẻ các khả năng quan sát, óc phán đoán, suy luận; phối hợp tập thể; hoàn thiện khả năng ngôn ngữ. Mỗi trò chơi có một tác dụng khác nhau, song trò chơi nhìn chung là giúp các em rèn luyện những đức tính quý báu. Đồng thời trò chơi còn giúp các em hoàn thiện các kĩ năng ứng dụng học vấn vào cuộc sống hằng ngày. * Vai trò của trò chơi học tập Tiếng Việt Thứ nhất: Việc sử dụng trò chơi học tập vào dạy học tiếng Việt làm thay đổi hình thức học tập, tạo bầu không khí trong lớp học trở nên sôi nổi, thoải mái hơn. HS tiếp thu kiến thức tự giác hơn, tích cực hơn. HS thấy vui hơn, dễ chịu và khỏe mạnh hơn. Thứ hai: Trò chơi học tập được sử dụng nhằm vận dụng, củng cố các nội dung kiến thức vừa được hình thành, hình thành kĩ năng cho học sinh, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em tích lũy được thông qua hoạt động chơi. 7 Thứ ba: Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng, khả năng linh hoạt, độc lập , sáng tạo cho học sinh. Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình học tập của HS trở thành hoạt động vui và hấp dẫn hơn. Thứ tư: Đối với HS Tiểu học, không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự nhiên, có hiệu quả, rèn luyện tính tự chủ cao bằng trò chơi học tập vì qua đó các em biết tự kiềm chế, tích cực trong từng hoạt động. Tóm lại: Trò chơi học tập Tiếng Việt giúp HS phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Loại trò chơi này làm cho HS được phát triển năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng 1.2. Cơ sở tâm lí học Ở lứa tuổi tiểu học, cơ thể trẻ đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể là các hệ cơ quan chưa hoàn thiện, vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt, nhất là khi hoạt động quá mạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí.Trò chơi học tập Tiếng Việt, nhất là các hình thức học tập ngoại khóa sẽ góp phần cải thiện đáng kể tình trạng này Học sinh Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ. Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên phải tạo ra hứng thú trong học tập và phải thường xuyên cho học sinh được luyện tập.Trò chơi học tập Tiếng việt với phương châm vui mà học sẽ tạo sự hào hứng cho trẻ. Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh. Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới, song các em lại chóng chán. Do vậy, trong dạy học, giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, đưa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ,… để củng cố, khắc sâu kiến thức. 1.3 . Cơ sở thực tiễn Trong thời gian gần đây, trò chơi học tập đã được giáo viên sử dụng. Họ đã sáng tạo và áp dụng nhiều hơn trong quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt (đặc biệt các lớp đầu cấp) nói riêng. Tuy còn 8 nhiều bỡ ngỡ và lúng túng, song không thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của trò chơi học tập đối với việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Muốn học sinh Tiểu học học tốt thì mỗi người giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh sẽ diễn ra đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo cac em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với cuốc sống diễn ra hằng ngày. 1.3.1. Nội dung các trò chơi trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 Về SGK Tiếng Việt lớp 2 có hai tập (tập 1 và tập 2), mỗi tập gồm 15 chủ điểm, mỗi chủ điểm học trong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần). Các chủ điểm có nội dung gần gũi, quen thuộc, gắn bó với đời sống hằng ngày của các em. Ví dụ: Chủ điểm Bạn bè, trường học, thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em, sông biển, cây cối… 1.3.2. Khảo sát thực trạng sử dụng các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt lớp 2 ở hai lớp 2A và 2B trường Tiểu học Minh Đức – huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên * Mục đích khảo sát Tìm hiểu thực tế dạy học ở trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – Thái Nguyên nhằm biết khi dạy học môn Tiếng Việt giáo viên có sử dụng trò chơi TV hay không? Nếu có thì đạt hiệu quả đến đâu? Nếu không thì do những nguyên nhân nào?, Những hiểu biết về thực trạng này giúp chúng tôi đề xuất, thiết kế một số trò học tập vá cách vận dụng trò chơi đó vào các bài học cụ thể trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 có hiệu quả hơn * Nội dung khảo sát - Thực trạng có hay không sử dụng trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. * Nhận xét chung Qua điều tra, khảo sát thực tế tại trường Tiểu học Minh Đức tôi nhận thấy: đa số GV đều thấy vai trò, ý nghĩa, tác dụng của trò chơi học tập trong dạy học 9 ở Tiểu học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 2 nói riêng, nhưng do nhiều nguyên nhân như đã trình bày ở trên mà GV ít sử dụng trò chơi học tập vào giảng dạy. Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn để chúng tôi tìm hiểu, thiết kế minh họa một số trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 ở chương sau. Tiểu kết chương HS tuổi Tiểu học rất thích trò chơi học tập bởi lẽ nó phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của các em: Trò chơi học tập giúp các em có hứng thú học tập với môn học này, rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan và tạo cơ hội cho HSTH giao lưu với bạn bè, nâng cao hiệu quả học tập. Môn Tiếng Việt là môn học khó, được xây dựng theo quan điểm tích hợp với các môn học khác tích hợp trong các phân môn của môn học; là môn học được xây dựng theo hướng đồng tâm; thực hiện theo định hướng đổi mới từ đó tạo điều kiện tối đa cho GV đổi mới phương pháp dạy học. Đây cũng là môn học có nhiều ứng dụng trong đời sống, cần thiết cho tất cả mọi người, góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm của con người với con người, với quê hương đất nước. Trò chơi học tập là một phương pháp được áp dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học. sử dụng trò chơi học tập tạo không khí lớp học sôi động (học mà vui), vui vẻ; làm cho việc tiếp nhận các kiến thức của môn Tiếng Việt trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn. Để phát huy tối đa vai trò, tác dụng của trò chơi học tập thì người GV phải tìm tòi, sáng tạo trong việc thiết kế, tổ chức trò chơi học tập để gây hứng thú và tránh sự nhàm chán cho HS. Đồng thời nắm bắt các yêu cầu cơ bản khi tổ chức trò chơi học tập để đạt được hiệu quả mong muốn. Như vậy, việc đưa trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học là việc làm phù hợp và thiết thực đối với việc dạy và học. Góp phần vào việc thực hiện nguyên lí giáo dục: “học đi đôi với hành”. CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 2 2.1. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi phù hợp với từng phân môn Tiếng Việt Có thể căn cứ vào một số nguyên tắc sau đây để lựa chọn trò chơi học tập. 10 * Căn cứ vào đối tượng học sinh * Căn cứ vào mục đích sử dụng trò chơi học tập * Căn cứ vào nội dung bài học * Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của lớp học 2.2. Cách tổ chức, những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt * Cách tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt Khi tổ chức một trò chơi học tập môn Tiếng Việt thường được tiến hành theo 5 bước như sau: Bước 1: giới thiệu trò chơi: - Nêu tên trò chơi: - Giới hiệu đồ dùng để tham gia chơi - Hướng dẫn cách chơi (vừa mô tả, vừa thực hành). - Phân chia nhóm chơi (đội chơi)  Bước 2: Chơi thử (nếu cần) đối với những trò chơi mới, phức tạp GV có thể cho HS chơi thử trước. Khi đó GV theo dõi, hướng dẫn thêm cho các đội chơi. Bước 3: Nhấn mạnh luật chơi (nhất là những lỗi thường gặp ở phần chơi thử). Bước 4: Chơi thật, xử phạt những người phạm luật chơi. Bước 5: nhận xét kết quả trò chơi, nhấn mạnh luật chơi, thái độ của người tham dự. Lưu ý: + Thưởng – phạt phải công minh đúng luật, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác, làm cho trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của HS. + Thưởng những HS, những nhóm tham gia chơi nhiệt tình, đúng luật và “thắng” trong cuộc chơi. Hính thức : khen ngợi, khích lệ bằng tràng pháo tay… + Phạt những HS, những nhóm HS bằng những hình thức đơn giản: chào đội thắng cuộc, kể chuyện vui, hát một bài, múa, nhảy lò cò… * Những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt - Mỗi trò chơi nói chung được gắn với một phân môn, một bài cụ thể hoặc có những tri thức tổng hợp cho cả một chủ điểm. 11 - Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt tạo cho GV nhiều cơ hội tổ chức phù hợp đối với đối tượng HS của mình. - Các trò chơi thường được tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian từ 5 – 10 phút. Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm, dễ kiếm. - GV phải hướng dẫn cụ thể cách rồi sau đó các nhóm tự đánh giá, giám sát lẫn nhau. Ngoài ra, GV viên phải có nhận xét, khích lệ, không để thời gian chơi quá nhiều ảnh hưởng đến giờ học. - Khi tổ chức trò chơi Gv phải lưu ý tránh cho HS những phản ánh không tích cực và kịp thời sửa chữa (nếu có); lưu ý khuyến khích, động viên, khen thưởng những HS có phản ứng tích cực. - Thời gian tổ chức chơi, địa điểm chơi GV phải có sự chuẩn bị kỹ càng và tạo được sự thu hút cuộc chơi, trong quá trình chơi luôn có không khí bình đẳng, tôn trọng nhau. 2.3. Hoạt động tổ chức trò chơi trong các phân môn môn Tiếng Việt lớp 2 2.3.1. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc 2.3.1.1 Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập đọc - Trò chơi: “Thi đọc tiếp sức” - Trò chơi: “Bông hoa kì diệu” - Trò chơi: “Điền từ đúng” - Trò chơi: “Biết một câu, đọc cả đoạn” - Trò chơi: “Thả thơ” - Trò chơi: “Đi học” 2.3.1.2. Tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc 1/ Trò chơi: “Thi đọc tiếp sức” Áp dụng khi dạy bài: Phần thưởng (trang 13,14 – Tiếng Việt 2, tập 1) Mục đích: Rèn kĩ năng đọc đúng và nhanh bài Tập đọc, luyện tác phong nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng vâu nối tiếp. Thời gian chơi: 5 – 7 phút Chuẩn bị: - Một đồng hồ (bấm thời gian chơi) - Chọn một HS làm trọng tài Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội có 5 em Tổ chức chơi: 12 - 3 đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở sẵn trang 13 có bài Phần thưởng sẽ thi đọc. - Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái) phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh (“Na là một cô bé tốt bụng”). Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 (cạnh vị trí của người số 1) mới được đọc tiếp câu thứ 2 (“Ở lớp, ai cũng mến em”)…cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm; nếu chư chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến người số 1đọc – người số 2 đọc…cho đến hết bài thì dừng lại. Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm. - Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy định được 1 điểm; không được tính điểm nếu vi phạm một rong các trường hợp sau: + Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu. + Đọc tiếp câu sau khi người đọc câu trước chưa xong. + Đọc liền hai câu trở lên. - Khi các nhóm đã đọc xong, trọng tài công bố kết quả về thời gian đọc và điểm số của từng nhóm. Nhóm nào được nhiều điểm nhất (ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian đọc ít nhất là nhóm đó giành phần thắng trong cuộc thi “đọc tiếp sức” theo sách. Thưởng – phạt: - Đội thắng: Được GV tuyên dương trước lớp bằng một tràng pháo tay. - Đội thua: Xếp thành hàng, bắt chước tiếng kêu của các loài động vật: mèo, gà, lợn… Lưu ý: - Trong khi chơi, nếu người đọc câu trước lỡ đọc sang câu sau một vài tiếng rồi mới dừng lại thì người tiếp theo vẫn phải đọc lại từ đầu câu mà mình phải đọc, cả nhóm sẽ bị kéo dài thêm về mặt thời gian. - Trò chơi được sử dụng ở tất cả các tiết Tập đọc. GV có thể thay đổi các bài Tập đọc khác nhau để tổ chức trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng HS. 2/ Trò chơi: “Bông hoa kì diệu” 3/ Tìm nhanh, đọc đúng: 4/ Trò chơi “Biết một câu, đọc cả đoạn” 2.3.2. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Kể chuyện 13 2.3.2.1 Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Kể chuyện - Trò chơi : :Kể chuyện theo vai” - Trò chơi : “Nhìn tranh kể chuyện” - Trò chơi : “Thi kể chuyện liên hoàn” - Trò chơi : “Thi kể chuyện theo lời nhân vật” 2.3.2.2 Tổ chức các trò chơi trong giờ Kể chuyện 1/ Trò chơi “Kể chuyện theo vai” Áp dụng khi dạy bài: “Bạn của Nai nhỏ” (trang 24 – Tiếng Việt 2, tập 1) Mục đích: - Giúp HS ghi nhớ, kể lại câu chuyện “Bạn của Nai nhỏ” một cách sinh động, hấp dẫn. - Rèn luyện cho HS cách diễn đạt, sự mạnh dạn, tự tin. Thời gian chơi: 6 – 8 phút Chuẩn bị: Chọn 1 tổ trọng tài gồm 5 em Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội 3 em đóng 3 vai (người dẫn chuyện, Nai nhỏ và cha Nai nhỏ). Tổ chức chơi: Lần lượt từng đội lên phân vai kể chuyện “Bạn của Nai nhỏ” trong khoảng thời gian 2 phút. Quá 2 phút sẽ bị trừ 1 điểm. Kết thúc trò chơi đội nào kể chuyện hay hơn, sinh động, hấp dẫn hơn và hết ít thời gian hơn là đội đó thắng cuộc. Thưởng – phạt: - Đội thắng: Được GV và các bạn cả lớp tuyên dương. - Đội thua: bị phát hát 1 bài hát trước lớp. Tổng kết trò chơi: Qua trò chơi này các em đã biết kể lại câu chuyện “Bạn của Nai nhỏ” bằng hình thức phân vai dựng chuyện. Lưu ý: Trò chơi được áp dụng trong các bài Có công mài sắt có ngày nên kim, Chiếc bút mực, Mẩu giấy vụn... của phân môn Kể chuyện lớp 2. Trò chơi cũng có thể dụng trong phân môn Kể chuyện ở các lớp lớn hơn ( lớp 3, 4, 5) hoặc lớp nhỏ hơn (lớp 1) tùy theo mục đích, nội dung bài dạy. 2/ Trò chơi: “Nhìn tranh kể đoạn” 2.3.3. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Chính tả 2.3.3.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Chính tả - Trò chơi: “Hái quả”, “Hoa tìm lá, lá tìm hoa,“Tìm từ có nghĩa để đặt câu;: “ Điền vần”; “Chọn từ đúng”; “Điền vào ô chữ” 2.3.3.2. Tổ chức các trò chơi trong giờ Chính tả 1/ Trò chơi: “Hái quả” 14 Áp dụng khi dạy bài Chính tả nghe viết: “Thư trung thu” Phân biệt l/n, dấu hỏi, dấu ngã (trang 11 SGK Tiếng Việt 2, tập 2) Mục đích: Giúp HS phân biệt l/n. Rèn cho HS sự nhanh nhẹn, tự tin, tinh 2 bảng phụ: mỗi bảng có 2 giỏ đựng quả, trên mỗi giỏ có ghi l/n (là các chữ HS cần phân biệt) như sau : thần đoàn kết. Thời gian chơi: 3 – 4 phút. Chuẩn bị : - 2 mô hình cây như hình vẽ trên tờ giấy to A3 hoặc A0 (dành cho 2 đội chơi) - 2 bộ thẻ quả, mỗi bộ gồm 8 thẻ quả có ghi các từ chứa các chữ l/n, mặt sau mỗi quả có dán nam châm để dán các thẻ quả lên cây như hình vẽ sau: Chọn đội chơi: GV chọn 2 đội chơi, mỗi đội gồm 4HS - Đội 1: Đội Khỉ con - Đội 2: Đội Sóc con Tổ chức chơi: - GV chia bảng lớp thành 2 phần, mỗi phần dán một mô hình cây, trên cây có dán các thẻ quả. Các bảng phụ với giỏ đựng quả được dán ngay bên dưới mô hình cây của mỗi đội chơi để các thành viên trong đội chơi sẽ lên hái quả và bỏ vào giỏ. - Khi có hiệu lệnh của người quản trò, lần lượt mỗi thành viên trong các đội chơi sẽ lên hái các quả và xem các thẻ quả đó phù hợp với giỏ quả nào thì sẻ bỏ quả vào giỏ đó (bằng cách dán quả xuống phía dưới giỏ). Sau đó chạy chạy về và đập vào vai bạn tiếp theo để bạn tiếp tục lên hái quả, cứ tiếp tục như vậy cho đến hết thời gian. 15 - Với 1 quả hái được và cho vào đúng giỏ sẽ được 10 điểm. - Trong khoảng thời gian 3 phút, đội nào hái được nhiều quả và bỏ vào đúng giỏ ghi được nhiều điểm hơn sẽ là đội thắng cuộc. Thưởng – phạt: - Đội thắng: mỗi em được 1 cây bút chì. - Đội thua: Xếp thành hàng hát và làm động tác của bài hát “Một con vịt”. Tổng kết trò chơi: Qua trò chơi này các em được luyện tập kĩ năng phân biệt l/n. GV có thể tổ chức cho HS cả lớp đọc đồng thanh các từ ngữ trên thẻ quả nhằm giúp các em ghi nhớ đọc đúng. Lưu ý: - Trò chơi được sử dụng trong các tiết Chính tả, GV có thể thay đổi nội dung, ví dụ: phân biệt r/d/gi; phân biệt ch/tr… cho phù hợp với nội dung bài học và đối tượng HS. - Với một lần chỉ được một bạn lên hái quả và bỏ vào đúng giỏ. 2/ Trò chơi: “ Hoa tìm lá, lá tìm hoa” 3/ Trò chơi: “Tìm từ có nghĩa để đặt câu” 2.3.4. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu 2.3.4.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu - Trò chơi: Truyền diện - Trò chơi: Tìm từ mới - Trò chơi: Tìm “Kẻ trú ẩn” 2.3.4.2. Tổ chức một số trò chơi trong giờ Luyện từ và câu 1/ Trò chơi: Truyền diện 2/ Trò chơi: Tìm từ mới Áp dụng khi dạy bài: Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về cây trồng vật nuôi (trang 133 SGK Tiếng Việt 2, tập 1) Thời gian chơi: 3 – 5 phút Chuẩn bị: Bảng ô chữ (hàng dọc 6 ô, hàng ngang 6 ô, làm bằng giấy hoặc bìa cứng như hình vẽ: C C C C C C O N T H Ỏ 16 - Bút dạ Chọn đội chơi: Chơi cả lớp, phân thành các nhóm, mỗi nhóm 5 HS. Tổ chức chơi: GV phát cho mỗi nhóm 1 bảng, trên bảng có 6 ô vuông, ô đầu ghi chữ cái C. Nhiệm vụ của các nhóm là tìm chữ cái thích hợp để điền vào ô trống ở từng hàng để được những từ ngữ là tên các con vật nuôi. Trong thời gian 3 phút, nhóm nào hoàn thành trước và đúng là nhóm thắng cuộc. Thưởng – phạt: Nhóm thắng cuộc được cô giáo và cả lớp khen ngợi, nhó thua cuộc làm trò gây cười cho các bạn trong lớp (bắt chước tiếng mèo kêu, gà, lợn…). Tổng kết trò chơi: Trò chơi giúp các em có thêm hiểu biết về các con vật nuôi. Lưu ý: Trò chơi có thể áp dụng khi dạy các bài nhằm mở rộng vốn từ ngữ Tiếng Việt cho HS trong phân môn Luyện từ và câu ở các lớp Tiểu học. GV có thể thay đổi bằng ô chữ cho phù hợp với từng bài. Cách tổ chức chơi tương tự như vậy. 3/ Trò chơi: Trò chơi: Xếp từ theo nhóm 2.3.5. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập viết 2.3.5.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập viết - Trò chơi: Thi viết nhanh, viết đẹp - Trò chơi: Thi vở sạch, chữ đẹp - Trò chơi: Ai nhanh hơn – ai đẹp hơn 2.3.5.2. Tổ chức một số trò chơi trong phân môn Tập viết 1/ Trò chơi: Thi viết nhanh, viết đẹp Áp dụng khi tổ chức hoạt động ngoại khóa Mục đích: - Giúp HS viết đúng, viết nhanh, viết đẹp đoạn thơ đã học - Rèn luyện cho các em sự mạnh dạn, tự tin. Thời gian chơi: 12 – 15 phút Chuẩn bị: HS học thuộc lòng, chuẩn bị trước đoạn thơ sẽ tổ chức thi trong buổi ngoại khóa. GV và 4 HS làm trọng tài. 17 Chọn đội chơi: Chọn 2 đội chơi, mỗi đội 4 – 5 HS. Tổ chức chơi: - GV chia bảng lớp thành 2 phần, mỗi phần bảng đã được kẻ sẵn dòng kẻ để HS thi viết. Hai đội chơi xếp thành 2 hàng dọc (mỗi đội 1 hàng). - Khi GV hô “bắt đầu” thì lần lượt từng em ở mỗi đội lên viết dòng thơ vào phần bảng của đội mình, bạn viết xong chạy về chạm vào tay bạn tiếp theo, khi đó bạn đấy mới được lên viết tiếp dòng thơ của mình. Cứ lần lượt như vậy sau khoảng 12 phút đội nào viết xong trước, viết đúng và đẹp sẽ thắng cuộc. Thưởng – phạt: - Đội thắng sẽ nhận được một phần thưởng mà GV đã chuẩn bị - Đội thua sẽ xếp thành hàng ngang và bị phạt viết chữ bằng tay trái, các chữ phải viết sẽ do khán giả (HS trong lớp yêu cầu). Tổng kết trò chơi: Thông qua trò chơi này các em được rèn luyện kĩ năng viết chữ sao cho đúng, cho nhanh và đẹp. Lưu ý: - HS trong đội tự phân công nhau dòng thơ mà mình sẽ viết. Trong khi GV tổ chức cho HS chơi, các em HS lần lượt lên viết dòng thơ của mình, khi bạn viết xong dòng thơ đã được bạn phân công quay trở về thì bạn tiếp theo mới được lên viết tiếp. Nếu bạn lên viết chưa về mà bạn khác đã lên là phạm quy và bị trừ 1 điểm. - Trò chơi được tổ chức trong các buổi ngoại khóa Tiếng Việt, tùy vào số lượng HS, nội dung buổi ngoại khóa mà GV tổ chức trò chơi cho phù hợp. 2/ Trò chơi: Ai nhanh hơn – ai đẹp hơn 2.3.6. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập làm văn 2.3.6.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập làm văn - Trò chơi: “Phỏng vấn” - Trò chơi: “Sắp xếp câu trong một đoạn văn” - Trò chơi: “Nhận lại đồ dùng” - Trò chơi: “Tập làm phóng viên” - Trò chơi: “Thi kể về người thân” - Trò chơi: “ Chia quà quê cho bạn” 2.3.6.1. Tổ chức một số trò chơi trong phân môn Tập làm văn 1/ Trò chơi: Sắp xếp câu trong một đoạn văn  Áp dụng khi dạy bài: Đáp lời xin lỗi. Tả ngắn về loài chim (Trang 39 SGK Tiếng Việt 2, tập 2)  Mục đích: 18 - Dạy bài tập 3 qua đó giúp HS nắm được cách sắp xếp câu trong một đoạn văn - Giúp HS phát triển óc tư duy, trí tưởng tượng, sự nhanh nhẹn , rèn luyện tinh thần đoàn kết cho các em. Chuẩn bị: GV chuẩn bị 2 bảng phụ có ghi các câu văn tả con chim gáy dành cho 2 đội chơi, 2 bút dạ. GV và 3 HS làm trọng tài. Chọn đội chơi: GV chọn 2 đội chơi, mỗi đội gồm 3 em: - Đội 1: Đội Họa Mi - Đội 2: Đội Sơn ca Tổ chức chơi: GV phát cho mỗi đội chơi 1 bảng phụ. Nhiệm vụ của mỗi đội chơi là trong thời gian 3 phút suy nghĩ, thảo luận giữa các thành viên trong đội, sắp xếp các câu tả con chim gáy để tạo thành đoạn văn cho phù hợp. Để làm được điều đó, các thành viên trong mỗi đội chơi phải cùng nhau phân tích các câu để biết được nội dung các câu văn đó là gì từ đó sắp xếp các câu cho hợp lí. Hết 3 phút các đội chơi treo kết quả của đội mình lên bảng GV cùng các trọng tài nhận xét kết quả. Đội thắng là đội sắp xếp các câu đúng, hợp lí và hoàn thành trong thời gian sớm nhất. Thưởng – phạt: - Đội thắng: được cả lớp vỗ tay khen ngợi - Đội thua: xếp thành hàng trước lớp bắt chước tiếng kêu và làm các động tác về các loài chim. Tổng kết trò chơi: qua trò chơi này, các em đã biết cách sắp xếp các câu văn để tạo thành một đoạn văn hợp lí. Lưu ý: GV có thể yêu càu các đội chơi giải thích vì sao lại sắp xếp như vậy để khắc sâu kiến thức cho các em. 2/ Trò chơi: Tập làm phóng viên 3/ Trò chơi: Chọn lời nói đúng Tiểu kết chương 2 MônTiếngViệt là môn học quan trọng trong nhà trường Tiểu học, chiếm rất nhiều tiết trong tuần (9 tiết/ tuần). Là môn học có nội dung gần gũi, quen thuộc, gắn bó với đời sống hằng ngày của HS. Tuy nhiên,do đặc điểm của môn học, do đặc điểm của môn học, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên một số HS đã có tâm lí sợ học môn Tiếng Việt hoặc không thích học môn Tiếng Việt, tâm lí đó cũng phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp thu kiến thức của các em. Trong chương 2, chúng tôi đã đưa ra một số trò chơi có thể sử dụng trong các phân môn và cụ thể qua các bài học. Qua đó gợi ý cho GV vận dụng trong 19 các bài học khác. Tuy nhiên, việc vận dụng các trò chơi này vào các tiết học cụ thể có đạt được kết quả như mong đợi của GV hay không còn tùy thuộc vào sự linh hoạt trong cách vận dụng của GV. Qua khảo sát nội dung chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2 và điều tra thực trạng dạy học của GV, tình trạng dạy học môn Tiếng Việt của HS lớp 2 trường tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành thiết kế một số trò chơi học tập vào 2 tiết học cụ thể ở chương tiếp theo. CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm Đưa ra các trò chơi đã xây dựng ở chương 2 vào dạy thực nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy học Tiếng Việt, góp một phần vào đổi mới phương pháp dạy học, phát triển các năng lực tư duy, sự sáng tạo của HS lớp 2.Rèn các kĩ năng Tiếng Việt, phát huy tính tích cực của HS. Quan trọng hơn là để kiểm chứng tính khả thi của đề tài nghiên cứu. 3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 3.2.1. Đối tượng thực nghiệm Đối tượng mà đề tài lựa chọn thực nghiệm là HS khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. 3.2.2. Thời gian và địa bàn thực nghiệm Thời gian tiến hành thưc nghiệm là tháng 3 năm 2014 Địa bàn tiến hành thực nghiệm là: Trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. 3.3. Nội dung thực nghiệm Số tiết thực nghiệm là 4 tiết ở bốn phân môn. Trên cơ sở tôn trọng nội dung kiến thức SGK Tiếng Việt tiểu học. 3.4. Phương pháp thực nghiệm Phương pháp thực nghiệm đối chứng. 3.5. Tổ chức thực nghiệm. Tiến hành thực nghiệm tại 2 lớp: 2A và 2B, trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đã tìm hiểu về nhận thức cũng như đặc điểm tâm, sinh lí của HS 2 lớp nói trên. Chúng tôi chọn lớp 2A làm thực nghiệm, lớp 2B làm đối chứng. 20 Chúng tôi sử dụng giáo án có vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy ở lớp 2A còn lớp đối chứng 2B sử dụng giáo án không vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy. 3.6. Thiết kế giáo án thực nghiệm Giáo viên giảng dạy: Nguyễn Thị Bằng và Trần Hồng Vân GVCN lớp : 2A và 2B Trường : Tiểu học Minh Đức * Giáo án 1: Tập đọc: Mẹ * Giáo án 2:Kể chuyện: Tôm Càng và Cá Con * Giáo án 3: Luyện từ và câu Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về vật nuôi * Giáo án 4:Chính tả Nghe viết: Thư trung thu Phân biệt l / n, dấu hỏi/ dấu ngã 3.7. Kết quả thực nghiệm 3.7.1. Kết quả học tập 3.7.2. Hứng thú học tập của HS trong tiết học và trong trò chơi 3.7.3. Mức độ chú ý của HS Tiểu kết chương 3 Trong chương 3 chúng tôi đã thiết kế, minh họa cách vận dụng một số trò chơi học tập vào dạy học một số bài học cụ thể của môn Tiếng Việt ở lớp 2. Mặt khác, từ các trò chơi là những gợi ý cho người dạy tiếp tục sáng tạo vận dụng trò chơi vào dạy học ở tất cả các phân môn trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng dạy học . Tuy nhiên, mức độ sử dụng của trò chơi còn tùy thuộc vào đặc điểm của từng phân môn; tùy thuộc vào sự linh hoạt, sáng tạo của người GV và phụ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng HS. Đồng thời chúng tôi cũng thiết kế phần thưởng – phạt sau mỗi trò chơi ở từng bài cụ thể. Từ đó, người GV có thể vận dụng, biến đổi sáng tạo phần thưởng – phạt ở mỗi trò chơi này cho các trò chơi khác. Chúng tôi cũng đã tiến hành thực nghiệm dạy học và nhận thấy rằng: Việc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 2 sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, việc tiếp thu kiến thức và học tập tiếng Việt sau này sẽ nhẹ nhàng hơn đối với HS.
- Xem thêm -