Tài liệu Tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 937 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG HOÀNG LAN TỔ HỢP ĐẶC NGỮ Ở CUỐI CÂU TIẾNG VIỆT TRÊN BA BÌNH DIỆN KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC Chuyên Ngành: Ngôn ngữ học Mã số : 60 22 02 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN VĂN HIỆP HÀ NỘI, 2017 LỜI CAM ĐOAN Luận văn Thạc sĩ này do tôi nghiên cứu và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp. Để hoàn thành luận văn này, ngoài các tài liệu tham khảo đã liệt kê, tôi cam đoan không sao chép các công trình hoặc nghiên cứu của người khác. Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2017 TÁC GIẢ LUẬN VĂN Đặng Hoàng Lan MỤC LỤC MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ................. 6 1.1. Một số vấn đề lý luận quan trọng về tổ hợp đặc ngữ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận văn ................................................................................................ 6 1.2. Ba bình diện nghiên cứu của tín hiệu ..................................................................... 11 1.3. Tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt .................................................................... 17 Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 26 Chương 2: TỔ HỢP ĐẶC NGỮ Ở CUỐI CÂU TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ BÌNH DIỆN KẾT HỌC ......................................................................................................... 27 2.1. Vị trí của các tổ hợp đặc ngữ trong câu ................................................................. 27 2.2. Các khuôn kết hợp của tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu Tiếng Việt .............................. 30 Tiểu kết chương 2 ........................................................................................................ 34 Chương 3: TỔ HỢP ĐẶC NGỮ Ở CUỐI CÂU TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC ................................................................. 35 3.1. Tổ hợp đặc ngữ biểu thị tình thái nhận thức (Epistemic Modality) ....................... 35 3.2. Tổ hợp đặc ngữ biểu thị tình thái đạo nghĩa (Deontic Modality) .......................... 43 3.3. Phân biệt tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa .............................................. 45 Tiểu kết chương 3 ........................................................................................................ 48 Chương 4: TỔ HỢP ĐẶC NGỮ Ở CUỐI CÂU TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ BÌNH DIỆN DỤNG HỌ ......................................................................................................... 49 4.1. Đóng góp của các tổ hợp đặc ngữ vào việc hình thành hiệu lực tại lời của câu nói .................................................................................................................................. 49 4.2. Đóng góp của các tổ hợp đặc ngữ vào việc hình thành phong cách thể loại ................. 58 Tiểu kết chương 4 ........................................................................................................ 61 KẾT LUẬN .................................................................................................................. 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 63 DANH MỤC BẢNG BIỂU Số hiệu bảng 1.1 Tên bảng Tổ hợp đặc ngữ cuối câu Tiếng Việt trong các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945 Số trang 21-25 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, với mục đích giao tiếp, con người hoàn toàn không thờ ơ với từ ngữ được dùng. Thông qua từ ngữ, họ có thể bộc lộ quan điểm, cách đánh giá của mình đối với người nghe, về sự việc được đề cập tới – hay nói cách khác, đó là dùng những từ, nhóm từ biểu thị tình thái để biểu thị quan điểm của mình. Hiện nay, những vấn đề về tình thái và phương tiện biểu thị tình thái đang trở thành đối tượng được giới ngôn ngữ học trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Như mọi người đều biết, Charles Bally từng cho rằng tính tình thái là linh hồn của câu. Không thể có câu nói được hiện thực hóa nếu trong câu đó ta không tìm thấy một biểu hiện nào của tình thái. Nếu như trong tiếng Anh, chức năng truyền tải thông tin tình thái chủ yếu được thực hiện chủ yếu bằng con đường ngôn điệu kết hợp với vị trí và nghĩa của các trợ động từ tình thái, bằng hệ thống thức (mood), thì đối với Tiếng Việt, trong số các phương tiện biểu thị tình thái, không thể không kể đến các tổ hợp đặc ngữ (idioms) ở cuối câu.Việc sử dụng các tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu như một phương tiện ngữ dụng có khả năng chuyển tải những sắc nghĩa sinh động, đa dạng, uyển chuyển là nét đặc thù của tiếng Việt. Trong quá trình giao tiếp, hay như trong các tác phẩm văn học nếu muốn thật sự lưu loát trong ứng xử, cũng như trau chuốt hơn trong các câu thoại của nhân vật ở các tác phẩm văn học, việc sử dụng hợp lý các tổ hợp đặc ngữ nếu biết vận dụng khéo léo sẽ tạo được cái nhìn chuyên nghiệp hơn trong sử dụng 1 ngôn từ giao tiếp, tạo sự cảm nhận gần gũi hơn (phương diện liên nhân), cũng như thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác của các tác giả văn học. Tuy nhiên, việc quan tâm, nghiên cứu về các tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt trong giới Việt ngữ học cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ, hầu như có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đặt vấn đề tìm hiểu về các tổ hợp đặc ngữ cuối câu tiếng Việt. Đây cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu Tiếng Việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học” cho luận văn của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Tình thái là một vấn đề rất rộng và phức tạp, việc nghiên cứu về các phương tiện biểu thị tình thái được rất nhiều nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, về tổ hợp đặc ngữ, hầu như chưa có một công trình chuyên biệt nào, phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung vào xem xét các phương tiện biểu thị tình thái khác như ngôn điệu hay các tiểu từ tình thái. Trong một số công trình nghiên cứu, mặc dù không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt, nhưng trong quá trình xử lý các vấn đề về tình thái hay các phương tiện biểu thị tình thái, các tác giả cũng ít nhiều động chạm đến vấn đề này. Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo, Phan Mạnh Hùng, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Hồ Thị Kiều Oanh… Có thể nói, các nghiên cứu về tình thái của tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã gợi mở cho nhiều nghiên cứu về phương tiện biểu thị tình thái, trong đó có vấn đề tổ hợp đặc ngữ xuất hiện sau này. Trong “Về một khía cạnh phân tích tầm tác động tình thái”, tác giả nghiên cứu các vấn đề như: điều kiện để tình thái xuất hiện ở cuối câu, khả năng kết hợp của các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt. Tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã có đóng góp rất lớn trong việc miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu một các rõ ràng. Bài viết “Hướng 2 đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt” của ông đã góp phần làm nên cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này. Trong bài viết “ Các kiểu tố hợp tiểu từ tình thái tiếng Việt và ranh giới từ (1985), tác giả Phan Mạnh Hùng đã có những nhìn nhận sâu sắc về tiểu từ tình thái tiếng Việt trong khung nghiên cứu từ loại như vị trí các từ tiểu từ trong hệ thống từ loại, khả năng các tiểu từ kết hợp với nhau… Đi sâu vào miêu tả những phương tiện của tiếng Việt trong việc diễn đạt ý nghĩa tình thái, tác giả Cao Xuân Hạo trong “Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng”(2006), ông đề cập đến vấn đề tình thái qua rất nhiều chi tiết về đề tình thái, siêu đề và thuyết tình thái – thuyết giả. Ông xem chúng như những phương tiện đặc thù của tiếng Việt trong việc diễn đạt ý nghĩa tình thái. Những công trình, bài viết mà chúng tôi chọn lọc và nêu ra ở trên sẽ là căn cứ hữu ích và căn bản giúp chúng tôi hoàn thiện đề tài của mình. Mặt khác, nó cũng cho thấy vấn đề nghiên cứu chuyên sâu của chúng tôi về tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt thực sự là một vấn đề mới, hấp dẫn và đáng được quan tâm. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn mang ý nghĩa là sự kế thừa, tiếp tục các kiến thức, lý thuyết của những xu hướng ngôn ngữ theo hướng kết học, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học trong Tiếng Việt. Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ thêm khái niệm và những đặc điểm về kết cấu, vai trò của các tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu Tiếng Việt, từ đó có thể vận dụng đúng, có hiệu quả các tổ hợp đặc ngữ trong quá trình tạo lập các văn bản nói cũng như văn bản viết. Với những mục tiêu này, chúng tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây: - Tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu Việt ngữ học, đưa ra khái niệm, nội dung và vai trò của tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu Tiếng Việt. 3 - Thu thập và khảo sát ngữ liệu, lọc ra các dẫn chứng có biểu thị tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu. - Từ các dẫn chứng đã thu thập, miêu tả, phân tích các tổ hợp đặc ngữ đó dựa trên 3 bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu Tiếng Việt. Để tạo sự phong phú về ngữ liệu cũng như để có được độ tin cậy trong quá trình thống kê, phân tích và nhận xét, chúng tôi khoanh vùng phạm vi nghiên cứu, lựa chọn ngữ liệu trong các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Là các phương pháp thường dùng trong ngôn ngữ học, cụ thể là 3 phương pháp chính như sau: 5.1. Phương pháp khái quát hóa – hệ thống hóa vấn đề: Dựa trên những nền tảng lý thuyết tiếp thu được từ những nhà ngôn ngữ học đi trước, luận văn tổng hợp và học hỏi từ những công trình nghiên cứu có liên quan, nắm vững phần lý thuyết đó, và lấy đó làm cơ sở để tiến hành công việc khảo sát, thu thập, và phân tích ngữ liệu trên 3 bình diện. 5.2. Phương pháp thống kê, phân loại: Trong phạm vi đã khoanh vùng là các tác phẩm văn học trong giai đoạn 1930 – 1945 của nhiều tác giả khác nhau, tôi sử dụng phương pháp phân loại , thống kê để chọn lọc, từ đó xác định và hệ thống hóa các tổ hợp đặc ngữ cuối câu Tiếng Việt, làm cơ sở cho việc phân tích ngữ liệu trên 3 bình diện. 5.3. Phương pháp miêu tả, phân tích: Được sử dụng để phân tích đặc điểm cấu tạo của các tổ hợp đặc ngữ: mỗi tổ hợp đặc ngữ do những thành tố nào tạo nên? Đặc điểm của các thành tố ấy? Bên cạnh đó, với tư cách là một phương tiện biểu thị tình thái, tổ hợp đặc ngữ 4 còn là chỉ dấu cho các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học và các tác động của các chiến lược giao tiếp ở người sử dụng các tổ hợp đặc ngữ đó. Mỗi tổ hợp đặc ngữ, trong những ngữ cảnh nhất định sẽ có những ý nghĩa khác nhau. Do vậy, việc phân tích các tổ hợp đặc ngữ luôn được xem xét một cách toàn diện, và đặt trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Về lý luận: Thông qua việc phân tích các tổ hợp đặc ngữ trên 3 bình diện kết học, ngữ học và dụng học, luận văn sẽ có đóng góp nhất định trong việc làm rõ hơn đặc điểm, vai trò của một trong những phương tiện biểu thị tình thái trong Tiếng Việt. - Về thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu về tổ hợp đặc ngữ sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phân tích các văn bản văn học. Đồng thời, giúp cho người nói, người viết có thể vận dụng một cách hợp lý, có hiệu quả các tổ hợp đặc ngữ đó trong quá trình tạo lập văn bản nói cũng như văn bản viết. 7. Cơ cấu của luận văn Cơ cấu của luận văn gồm có 3 phần chính: - Phần Mở đầu - Phần Nội dung: gồm 4 chương: + Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. + Chương 2: Tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt nhìn từ bình diện kết học. + Chương 3: Tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt nhìn từ bình diện nghĩa học. + Chương 4: Tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu tiếng Việt nhìn từ bình diện dụng học. - Phần Kết luận. - Ngoài ra còn có Danh mục Tài liệu tham khảo và Nguồn ngữ liệu trích dẫn, phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thiện luận văn. 5 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Một số vấn đề lý luận quan trọng về tổ hợp đặc ngữ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận văn Như đã trình bày, tình thái là một vấn đề rất rộng và phức tạp. “Cho đến nay rất khó có thể tìm thấy hai tác giả có quan niệm hoàn toàn thống nhất với nhau về tình thái của ngôn ngữ” hoặc “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái” [15, tr.25]. Perkins từng cho rằng việc “Nghiên cứu tình thái thì rất giống như là cố di chuyển trong một căn phòng chật kín người sao cho không lên bước chân người khác”. Trong ngôn ngữ học hiện nay, khái niệm tình thái được các nhà ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau. Song, dù định nghĩa theo chiều hướng nào đi nữa, tất cả đều tập trung vào một phạm trù ngữ nghĩa rộng lớn, xoay quanh quanh mối quan hệ tay ba giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế mà ở đó vai trò của người nói được đề cao nhằm mục đích thể hiện những quan điểm, thái độ khác nhau thông qua những phát ngôn của họ. Những nội dung tình thái khi được truyền tải thông qua phát ngôn thường được thể hiện bằng những hình thức ngôn ngữ nhất định. Theo Nguyễn Văn Hiệp: “Nếu chúng ta hiểu tình thái theo một nghĩa rộng, xem như là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” thì trong thực tế, các nội dung tình thái được biểu thị xuyên thấm qua nhiều cấp độ ngôn ngữ khác nhau, từ ngữ điệu, trật tự từ, các thành tố cấu trúc thuộc bậc câu, bậc trên câu và bậc dưới câu” [18, tr.7]. Mỗi đơn vị biểu thị tình thái khác nhau không chỉ bao gồm những thuộc tính ngữ nghĩa chung mà còn chứa đựng những nét riêng của những sắc thái mà đơn vị này biểu 6 hiện. Hình thức ngôn ngữ biểu hiện những ý nghĩa tình thái như vậy được gọi là các hình thức biểu hiện tình thái hay các phương tiện biểu thị tình thái. Các phương tiện biểu thị tình thái là phạm trù quan trọng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và được xem là nội dung quan trọng của bất kì một ngôn ngữ nào. Bất kì ngôn ngữ nào trên thế giới cũng đều tồn tại các phương tiện biểu thị tình thái. Theo Hoàng Trọng Phiến: “Trong các ngôn ngữ khác nhau tính tình thái được biểu hiện khác nhau”. Các phương tiện biểu thị tình thái này được xem xét, phân loại và xếp vào 3 nhóm chính, bao gồm: phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp và phương tiện ngữ điệu. Tuy nhiên, Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, nên các phương tiện biểu thị tình thái trong Tiếng Việt sẽ có các đặc trưng khác. Bên cạnh ngữ điệu và ngữ pháp, nhóm phương tiện từ vựng cũng có vai trò vô cùng quan trọng, một cách tổng quát nhất, Tiếng Việt bao gồm các phương tiện biểu thị tình thái sau: 1. Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới, cũng, đếch, luống, cam, hẵng, hề, mót, ứ, càng, chẳng, chưa, cũng chỉ, tiếp, cũng, lại, vẫn, lên, ra, đi… 2. Các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, hãy, đừng, chớ, chớm, ngưng, ngừng, nghỉ, hả, dứt, sức, đam ra, sinh, sinh ra, lỡ, trót, nỡ, nhỡ, thành ra, lo, ngại, định bụng, tính, thà, sắp, hòng, bèn… 3. Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng,… 4. Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội gì, đằng thằng ra, kể ra, nhỡ ra, may ra, tội gì, việc gì, dù vậy, vậy thì, mới được, làm như thể… 7 5. Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với điều kiện về ngôi, chỉ tố thời,…) như: ra lệnh, van xin, đề nghị, yêu cầu,… 6. Các thán từ: eo ôi, chao ôi, ồ,… 7. Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết, chắc,hẳn, nào, với, vậy, mà, ấy ạ, thế, đâu, chăng, ru, phỏng, sao, thì có, thì may, thì hơn, là hơn, cả đấy, là may, là cùng, lại còn… 8. Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là), đáng buồn (là), đáng mừng (là), đáng tiếc (là),… 9. Các trợ từ: được, lại, đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, đã, mới, chỉ,… 10. Các đại từ nghi vấn được dùng trong câu phủ định – bác bỏ: P làm gì?P thế nào được?; các liên từ dùng các câu hỏi: hay P? hay là P?... 11. Các từ chêm xen biểu thị nghĩa tình thái: mua cha nó cho rồi, nó biết đếch gì, mua cha nó cho rồi… 12. Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì, giá…thì, cứ…thì… [20, tr.140-141] Trong Tiếng Việt, có thể thấy, các tiểu từ tình thái cuối câu có thể kết hợp với nhau tạo thành các kết hợp hai thành tố hoặc ba thành tố, hay còn có thể gọi là “kết hợp đôi” và “kết hợp ba”. Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích ngữ pháp”, tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã đưa ra hai cách giải thuyết: + Cách giải thuyết thứ nhất xem các kết hợp như vậy là một đơn vị đặc ngữ độc lập, trọn vẹn, có nghĩa riêng biệt, khác biệt với các kết hợp khác và khác biệt với các tiểu từ tình thái cấu tạo nên nó. + Cách giải thuyết thứ hai, xem các kết hợp này là các kết hợp có nguyên do ngữ nghĩa, theo đó, mỗi tiểu từ tình thái có đóng góp riêng vào ngữ nghĩa 8 chung của phát ngôn và giữa chúng có sự phân công chức năng, thể hiện ở tầm tác động của chúng đối với nội dung mệnh đề và giữa chúng với nhau. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi không dựa trên cách giải thuyết nào, tuy nhiên chú ý hơn vào cách giải thuyết thứ nhất – xem sự kết hợp của các tiểu từ tình thái ở cuối câu Tiếng Việt như những đơn vị, hay tổ hợp đặc ngữ độc lập. Được phái sinh từ ngôn liệu, các tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu cũng phản ánh một khía cạnh phát triển rất thú vị của Tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập điển hình. Nhờ nguồn gốc phái sinh từ các vị từ ngôn liệu, ý nghĩa của các dạng thức của tổ hợp đặc ngữ trở nên khái quát hơn. Cụ thể hơn là từ những nội dung phản ánh thế giới, mang nghĩa miêu tả, dạng thức của các tổ hợp đặc ngữ đã chuyển sang biểu thị những nội dung tình thái, thể hiện sự đánh giá nào đó của người nói đối với sự việc được đề cập đến trong câu. Là một hình thức biểu thị tình thái, các tổ hợp đặc ngữ đóng vai trò tình thái ngữ thường gặp là: thì chết, thì thôi, thì phải, thì khốn, thì chớ, thì có, là cùng, là may, nữa là, lại còn, còn gì, mới chết, mới phải, mới được… Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử ngôn ngữ học, có thời điểm, trong một thời gian dài, cương vị của những tổ hợp đặc ngữ cuối câu Tiếng Việt, tương tự như của các tiểu từ tình thái không hề được xác định một cách rõ ràng rằng chúng là thành phần của câu hay của tổ từ tổ, hay chỉ có thể xác định chúng một cách chung chung như là các tác tử logic – tình thái… Vấn đề như vậy, sở dĩ là do “một hệ luận không tường minh của quan niệm phân tích thành phần câu chỉ dựa trên các ngôn ngữ biến tố của châu Âu theo đó chỉ có thực từ mới có tư cách thành phần câu [19, tr.310]. Sự nhìn nhận vai trò của các tổ hợp đặc ngữ cũng như các tiểu từ tình thái ở cuối câu chỉ được khẳng định rõ ràng trong cách tiếp cận của ngữ dụng học ngữ pháp chức năng. Vai trò của các tiểu từ cũng như các tổ hợp đặc ngữ tiếng Việt “phải được nhìn nhận lại theo quan điểm tiếng Việt” [1, tr.77-78]. 9 Do sự tác động của ngữ cảnh, về nguyên tắc, mọi thành phần thông tin xuất hiện trong câu đều có khả năng chuyển đổi về giá trị thông báo. Bởi vậy, các tổ hợp đặc ngữ, cũng như các tiểu từ tình thái cuối câu có thể được xếp vào nhóm các phương tiện biểu hiện thông tin ngữ dụng bổ trợ, mà theo Lê Đông, chúng “có thể tham gia tích cực vào việc hình thành một số kiểu hành vi ngôn ngữ gián tiếp”. Đặc biệt hơn cả, Cao Xuân Hạo sử dụng cấu trúc Đề - Thuyết – được xem như cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt, nhằm xem xét một cách đầy đủ nhất các yếu tố biểu thị tình thái của câu. Trong cấu trúc này, một số yếu tố làm phần Đề, hay còn gọi là Đề tình thái và một số yếu tố làm phần Thuyết, hay còn gọi là Thuyết tình thái. Mặc dù các yếu tố biểu thị tình thái nói chung, cũng như các tiểu từ tình thái và các tổ hợp đặc ngữ nói riêng đã được nhìn nhận như một thành phần câu, song cương vị và vai trò của các yếu tố này, trên cơ sở lý thuyết ngữ pháp truyền thống, vẫn chưa được xem xét một cách tương xứng. Cuốn Thành phần câu tiếng Việt của tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp xuất bản năm 1998 được xem như một bước ngoặt, một lần nữa khẳng định các tiểu từ tình thái cũng như các tổ hợp đăc ngữ cuối câu tiếng Việt là thành phần phụ của câu, và tình thái ngữ là tên gọi chung cho các thành phần ấy. Cũng giống như bất kì tình thái ngữ nào, đóng vai trò là thành phần phụ của câu các tổ hợp đặc ngữ luôn đứng sau nòng cốt câu, đánh dấu lực ngôn trung cơ sở - là lực ngôn trung ứng với những dấu hiệu hình thức tổng thể của câu. Ví dụ: - Dễ chỉ những tiền thuê nhà ở Hà Nội, mỗi tháng cụ cũng đã thu tới năm trăm rồi còn gì!... (Khái Hưng). -> Tổ hợp đặc ngữ còn gì đánh dấu lực ngôn trung cơ sở của câu là một nhân định dùng để bác lại một nhận định đối lập trước đó. 10 Bên cạnh đó, các tổ hợp đặc ngữ ở cuối câu Tiếng Việt hoạt động như những chỉ báo cho những thông tin phi miêu tả đi kèm với lõi thông tin ngôn liệu của câu, nhằm mục đích tường minh hóa kiểu hành động ngôn từ mà phát ngôn thể hiện. Các thông tin phi miêu tả này được phân thành 4 nhóm: - Nhóm thông tin gắn với những kiểu tình huống giao tiếp nhất định. - Nhóm thông tin cho biết giả định của người nói đối với trạng thái hiểu biết và nhận thức của người nghe. - Nhóm thông tin cho biết vai trò, vị thế của các bên giao tiếp. - Nhóm thông tin định hướng cho phản ứng hồi đáp. Tất cả các tổ hợp đặc ngữ, dù thể hiện dưới bất kì dạng thức, sắc thái nào, cũng đều biểu thị những nội dung thông tin như vậy. 1.2. Ba bình diện nghiên cứu của tín hiệu Theo lí thuyết về tín hiệu học (Semiotics), mọi tín hiệu ngôn ngữ, để hiểu một cách toàn diện nhất, cần được nghiên cứu từ ba bình diện: kết học (Syntactics), nghĩa học (Semantics), và dụng học (Pragmatics). Ngôn ngữ được xem như một hệ thống tín hiệu phức tạp, và rõ ràng, các tổ hợp đặc ngữ - một bộ phận của tình thái ngữ - với tư cách là thành phần phụ của câu, cũng không nằm ngoài hệ thống đó. Do vậy, các tổ hợp đặc ngữ cũng cần được xem xét trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. 1.2.1. Bình diện kết học Kết học nghiên cứu mối quan hệ giữa các tín hiệu ngôn ngữ với nhau trong các cấu trúc hình thức. Được nhìn nhận như một thành phần phụ của câu, các từ biểu thị tình thái (tình thái ngữ) mặc nhiên sẽ có mối quan hệ với câu nói chung, và biểu thị những ý nghĩa tình thái khác nhau. Khi xem xét các tiểu từ tình thái, Phan Mạnh Hùng đã từng chỉ ra, đó là: “những từ có chung những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa: chúng thường đứng ở cuối câu, có 11 quan hệ với cả phát ngôn nói chung và biểu đạt những ý nghĩa tình thái khác nhau” [22, tr.3]. Cao Xuân Hạo, trong chuyên luận của mình, đã miêu tả “những yếu tố biểu thị tình thái của câu trong cấu trúc cú pháp cơ bản” vào cấu trúc Đề Thuyết, gồm những yếu tố tình thái làm thành Đề của câu (có thể được đánh dấu bằng thì hoặc là), những yếu tố tình thái được xử lí như một phần Thuyết (những phần “Thuyết tình thái” đặt sau thì hoặc là) [10, tr.176-182]. Nguyễn Văn Hiệp, trong cuốn Thành phần câu tiếng Việt, đã khẳng định: “Trong mô hình cấu trúc trừu tượng của câu, tình thái ngữ là thành phần phụ của câu luôn luôn đứng sau nòng cốt câu, có nhiệm vụ bổ sung những ý nghĩa về tình thái cho câu. Tình thái ngữ không tham gia vào kết cấu phân đoạn thực tại câu” [29, tr. 256]. Ở bất kì ngôn ngữ nào, giữa hai từ hay giữa hai cấu trúc bất kì đều có thể tồn tại quan hệ ngữ pháp, bởi thế, cũng trong cuốn sách này, Nguyễn Văn Hiệp cũng đưa ra gợi ý thao tác hình thức của V.S. Panfilov để chứng minh mối quan hệ giữa tình thái ngữ với toàn bộ nòng cốt câu: “Sự tồn tại mối quan hệ ngữ pháp giữa hai từ (trong biến thể tối thiểu) được chứng minh bằng khả năng tổ hợp này được dùng độc lập, đặc biệt, bằng khả năng dùng nó với tính cách là biến thể rút gọn của một kiến trúc phức tạp hơn” [15, tr.19]. Sự đối lập giữa tình thái và mệnh đề trong cấu trúc nghĩa của câu nói có thể được xem là sự đối lập cơ bản nhất được thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học và được lấy làm cơ sở cho lí thuyết về tình thái. 1.2.2. Bình diện nghĩa học Nghĩa học xem xét mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ với hiện thực bên ngoài mà những tín hiệu ngôn ngữ đó biểu thị. Trong cuốn Ngữ nghĩa học – Từ bình diện hệ thống đến hoạt động, Đỗ Việt Hùng cho rằng: “Nội dung thông tin hay ý nghĩa mệnh đề bắt nguồn từ sự việc, hiện tượng…của thế giới 12 bên ngoài. Thế giới bên ngoài là cơ sở để hình thành nên ý nghĩa mệnh đề nhưng đó chỉ là ý nghĩa mệnh đề có tính tiềm năng của phát ngôn. Để phát ngôn được hiện thực hóa, trở thành một đơn vị của giao tiếp thực tế cần phải được tình thái hóa. Như vây, về bản chất, phát ngôn là sự tình thái hóa nội dung mệnh đề” [24, tr. 210]. Đề cập đến nội dung tình thái trong phạm vi nghĩa học, Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp đã nêu ra một số đối lập chủ yếu của tình thái trong ngôn ngữ, có thể liệt kê như: + Đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Theo đó, tình thái nhận thức là dạng tình thái thể hiện cái vị thế hiểu biết của cá nhân người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến trong câu, dựa trên những bằng chứng hoặc cơ sở lý luận mà người nói có được. Tình thái đạo nghĩa là loại tình thái có liên quan đến nhân tố ý chí của người nói, liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện. Điểm chung của cả hai loại tình thái này là đều bao gồm tính chủ quan và tính không thực hữu. Trong phạm vi tình thái chủ quan, cả tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa đều được xem xét trên ba khía cạnh: tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực. + Đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái căn bản: Sự đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa là mối quan hệ được chấp chận ở nhiều nhà ngữ học, tuy nhiên, một số khác lại cho rằng mối quan hệ đó chỉ mang ý nghĩa cốt lõi bởi theo Coates, nghĩa tình thái là loại nghĩa mang tính thang độ, ngoài ý nghĩa mang tính cốt lõi, còn có cả ý nghĩa mang tính ngoại vi. Do đó cần đưa ra một thuật ngữ trung tính hơn, đó là thuật ngữ tình thái căn bản [20, tr. 113]. Thuật ngữ này không chỉ bao gồm tình thái đạo nghĩa mà trong đó còn bao hàm cả tình thái trạng huống – mang tính khách quan, nó 13 liên quan đến các yếu tố cảnh huống có tính vật lý bên ngoài, không có sự can thiệp của nhân tố ý chí hay mong muốn của người nói đối với sự việc. + Đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói: Tình thái hướng tác thể biểu thị những điều kiện bên trong và bên ngoài của tác thể đối với việc thực hiện hành động được nói đến trong câu. Loại tình thái này được thể hiện sự bắt buộc, sự cần thiết, năng lực, mong muốn. Tình thái hướng người nói là loại tình thái được thấy trong những câu nói áp đặt, đề nghị một hành động hoặc một cách ứng xử nào đó. Ngoài ra, loại tình thái này cũng được biểu hiện thông qua những phát ngôn mà qua đó người nói đóng thuận, cho phép người nghe thực hiện hành động. + Đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn: Tình thái của mục đích phát ngôn là loại tình thái thuộc phạm vi dụng học, vốn chỉ bộc lộ đầy đủ khi ta xét đến tình huống sử dụng. Trong khi đó, tình thái của lời phát ngôn lại thuộc bình diện nghĩa học, liên quan đến thái độ của người nói đối với điều được nói ra trong câu cũng như quan hệ giữa chủ thể và vị thể của mệnh đề được biểu đạt. + Những đối lập tình thái mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói đối với những điều được nói trong câu: đánh giá sự tình là tích cực hay tiêu cực; đánh giá về lượng nhiều hay ít; đánh giá về chủng loại là phong phú hay nghèo nan; đánh giá về thời điểm là sớm hay muộn;…Những nội dung này thể hiện “lập trường”, thuộc về chủ quan của người nói và không được đề cập đến trong khung nội dung tình thái khách quan. 1.2.3. Bình diện dụng học Dụng học quan tâm đến mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và những tác động của nó tới đối tượng sử dụng, cũng như đối tượng tiếp nhận những tín hiệu đó. Bàn về tình thái trên bình diện dụng học, không thể không đề cập 14 đến hai lý thuyết chính trong ngữ dụng học, bao gồm hai khía cạnh: Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và lý thuyết về hội thoại. Khía cạnh thứ nhất, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, một cách dễ hiểu là lý thuyết về sự hoạt động của ngôn ngữ - đây là khía cạnh cơ bản, trọng tâm và nền tảng của Ngữ dụng học – được phát hiện và nêu ra đầu tiên bởi Austin, sau đó được phát triển rộng hơn bởi J.R.Searle. Lý thuyết này tập trung vào mối quan hệ giữa người nói và sự việc được đề cập đến, do đó, có thể xem là lý khung lý thuyết phù hợp nhất để nghiên cứu những vấn đề về tình thái. Theo đó, mỗi hành vi ngôn ngữ phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định, khi đưa ra một phát ngôn, mỗi người đều thực hiện ba hành vi: hành vi phát ngôn, hành vi mệnh đề và hành vi tại lời. Mọi hành vi tạo lời chỉ có thể thực hiện được, và được thực hiện một cách có hiệu quả chỉ khi đảm bảo đủ 4 điều kiện sau: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản. Dựa trên rất nhiều tiêu chí, trong đó có 3 tiêu chí quan trọng hơn cả, bao gồm: đích tại lời, hướng khớp ghép giữa lời với hiện thực và trạng thái tâm lí được biểu lộ, Searle đã đưa ra 5 nhóm phạm trù (nhóm hành động ngôn từ) cơ bản thuộc hành vi tại lời: Nhóm xác tín (Assertives), nhóm điều khiển (Directives), nhóm kết ước (Commisives), nhóm biểu lộ (Expressives) và nhóm tuyên bố (Declarations). Từ những lý thuyết về hành vi tại lời kể trên, có thể dễ dàng nhận thấy tình thái của hành động phát ngôn bao gồm: + Tình thái hành động tại lời, tập trung vào những kiểu mục đích phát ngôn được ngữ pháp hóa. + Tình thái của của lời được phát ngôn, thể hiện sự cam kết của người nói đối với hành động tại lời thông qua hình thức là những cam kết, thái độ và 15 sự đánh giá của người nói đối với những đối tượng, sự việc được đề cập đến trong lời nói. Hai kiểu ý nghĩa tình thái trên phản ánh những bình diện chủ quan của ngôn ngữ cũng như hoàn cảnh giao tiếp, do vậy, đó cũng là những kiểu tình thái thuộc phạm vi dụng học. Khía cạnh thứ hai, lý thuyết về hội thoại. Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên của ngôn ngữ. Bất kì hành vi ngôn ngữ nào, cũng không thể nghiên cứu nếu như không có sự xâu chuỗi, hay nói cách khác, là phải đặt chúng vào mối quan hệ giữa các hành vi ngôn ngữ trước và sau nó. Trong một cuộc hội thoại, bao giờ cũng cần kể đến các yếu tố: cuộc thoại, lượt lời, tham thoại, cặp thoại với tham thoại dẫn nhập và hồi đáp, hồi đáp tích cực và tiêu cực. Mọi cuộc hội thoại diễn ra đều phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định. Theo C.K.Orecchioni, các quy tắc hội thoại có thể được phân chia thành 3 nhóm chính: + Nhóm các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời. + Nhóm các quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại. + Nhóm các quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. Ngoài ra, theo Đỗ Hữu Châu, ngoài 3 nhóm trên, có thể bổ sung thêm: + Nhóm quy tắc điều hành nội dung của hội thoại. Bên cạnh đó, ở khía cạnh về lý thuyết hội thoại, quan hệ liên nhân cũng đóng một vai trò không hề nhỏ. Đây là mối quan hệ được hình thành giữa những người đối thoại với nhau. Quan hệ này có thể được xem xét trên hai trục tọa độ: trục ngang thể hiện khoảng cách tình cảm gần gũi, thân tình hay xa lạ giữa những người tham gia hội thoại và trục dọc thể hiện vị thế xã hội của những người tham gia vào cuộc hội thoại đó. Như vậy, lý thuyết về ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học có thể xem là một trong những nền tảng cơ bản và quan trọng trong hoạt động phân 16
- Xem thêm -