Tài liệu Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng 379

  • Số trang: 70 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 118 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề tôt nghiệp 1 LỜI NÓI ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bƣớc vào thời kỳ Công nghiệp hoá - hiện đại hoá với tốc độ phát triển nhanh của nhiều ngành nghề. Một trong các ngàng phát triển nhanh và mạnh là ngành xây dựng cơ bản. Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, tăng cƣờng quốc phòng cho đất nứơc. Nó đã góp phần quan trọng vào giai đoạn phát triển mới của đất nƣớc Ngành xây dựng cơ bản dùng nguồn vốn khá lớn trong tổng chi ngân sách nhà nƣớc nên trong quản lý kinh tế viêc quản lý chi phí trong xây dựng cơ bản là vấn đề cần đƣợc hết sức quan tâm. Thực tế hiện nay, cùng với yêu cầu quản lý kinh tế ngày càng cao hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp-Một ngành sản xuất có đặc thù riêng, vấn đề đặt ra là quản lý nguồn vốn lớn và bỏ ra trong thời gian dài, khắc phục đƣợc tình trạng thất thoát và lãng phí trong quá trính sản xuất, giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao đƣợc tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một vận hành kế toán và có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp xây lắp nói riêng và xã hội nói chung. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề trên, sau thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xây Dựng 379, đƣợc sự gúp của thầy cô giáo và các anh chị phòng Tài chinh- Kế toán của công ty em đã đi sâu tìm hiểu và lựa chọn đề tài:‖Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xây Dựng 379‖ cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Nội dung cơ bản của chuyên đề gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xây Dựng 379. Chƣơng 2: Tình hình thực tế về kế toán chi phí sản xuất và tính giá Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 2 thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xây Dựng 379. Chƣơng 3: Một số ý kiên nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Xây Dựng 379. Do thời gian thực tập không dài, trinh độ và kinh nghiệm nghiên cứu và khả năng tiếp cận với thực tế còn hạn chế, giữa lý luận và thực tiễn cần phải có sự kết hợp hài hoà, nên chuyên đề của em không tránh đƣợc những sai sót. Em rất mong muốn và chân thành tiếp thu những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo và các anh chị em phòng Taì chính- Kế toán của công ty để em bổ sung, nâng cao nhận thức và hoàn thiện tốt chuyên đề của mình. Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 3 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp ảnh hƣởng đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất độc lập, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có chức năng tái tạo và trang bị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nƣớc. So với các ngành khác, xây dựng cơ bản là ngành sản xuất đặc thù với những đặc điểm kinh tế rất riêng, chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ choc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng. Điều này càng thể hiện rõ qua đặc trƣng về sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm đó: Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình, vật kiến trúc…, có quy mô lớn. Do vậy, việc tổ chức quản lý nhất thiết phải có thiết kế, dự toán và thi công. Trong suốt quá trình xây lắp giá dự toán trở thành thƣớc đo hợp lý để hạch toán các khoản chi phí và thanh quyêt toán các công trình . Mỗi đối tƣợng đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, kết cấu hình thức xây dựng thích hợp đƣợc xây dựng cụ thể trên từng thiết kế dự toán. Do tính chất đơn lẻ nên chi phí bỏ ra để thi công và xây lắp các công trình có nụidung cơ cấu không đồng nhất nhƣ sản phẩm công nghiệp. Từ đặc điểm này, kế toán phải tinh đến việc hạch toán chi phí, tinh giá thành và tính kết quả thi công cho từng loại sản phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình, hạng mục công trình, từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng đƣợc xây dựng theo cùng một thiết kế mẫu và trên một cùng một địa điểm nhât định). Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 4 Mỗi công trình xây dựng gắn liền với vị trí địa lý nhất định, nó đƣợc cố đinh tại nơi sản xuất (thi công) còn các điều kiện sản xuất khác nhau nhƣ : Lao động, vật tƣ thiết bị… luôn phải di chuyển theo mặt bằng và vị trí thi công. Do đó sẽ phát sinh một số chi phí cần thiết khách quan nhƣ. Chi phí điều động nhân công, điều động máy thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm phuc vụ công nhân và thi công nhân… kế toán phải phản ánh chính xác các chi phí này và tổ chức phân bổ hợp lý. Hơn nữa, mặt bằng thi công thƣờng nằm rải rác khắp nơi và cách xa trụ sở đơn vị nên tồn tại một khoảng cách lớn giữa nơi trực tiếp phát sinh chi phí và nơi hạch toán chi phí gây khó khăn cho công tác kế toán xây lắp nếu không quản lý chặt chẽ dân tới sơ hở, lãng phí lớn. Quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng lại tiến hành ngoài trời, chịu ảnh hƣởng của nhân tố khách quan nhƣ thời tiết, khí hậu… nên có thể gặp nhiều rủi ro tạo nên những thiệt hại bất ngờ nhƣ thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất. Nhƣng thiệt hại nay cần đƣợc tổ chức theo dõi chặt chẽ và phải có phƣơng pháp hạch toán phù hợp vơi những nguyên nhân gây ra. Phƣơng thƣc tiêu thụ sản phẩm cũng rất đặc biệt. Sản phẩm xây dựng đƣợc đánh giá và xác định là tiêu thụ trƣớc khi trƣớc khi tiến hành thi công xây lắp, do đó sảm phẩm xây lắp mang tính chất tiêu thụ trƣớc nên tính chất hàng hoá của no thể hiện không rõ. Từ nhƣng đặc điểm trên đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp san xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc tính riêng của doanh nghiệp xây lắp. Từ đó cung cấp số liệu chinh xác, kịp thời đánh giá đúng tình hình kế hoạch sản xuất kinh doanh, cố ván cho lãnh đạo trong việc tổ chức quản lý để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. 2. Sự cần thiết và nhiệm vụ kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản. Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 5 2.1. Sự cần thiết phải tổ chúc công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Hoạt dông sản xuất của con ngƣời là để tạo ra sản phẩm vật chất - một yếu ttó khách quan để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Khi tiến hành các hoạt động sản xuất con ngƣời phải quan tâm tới hiệu quả của hoạt động mà hiệu quả của hoạt động là sự so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả mang lại. Chính vì vậy, trong quá trình sản xuất nhất thiết phải quan tâm đến việc quản lý chi phí. Trong quản lý, ngƣời ta sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhƣng kế toán luôn dƣợc coi là công cụ quản lý có hiệu quả nhất. Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất, đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi cấu thành trong giá thành sản phẩm, lƣợng giá trị trong các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, chi phí sản xuất và gía thành sản phẩm là vấn đè trọng tâm mà các doanh nghiệp quan tâm, nó quyết định sự thắng thế trong cạnh tranh là tăng chất lƣợng công trình và hạ giá thành sản phẩm. Để đạt đƣợc mục tiêu hàng đầu là thu đƣợc lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải tăng cƣờng công tác quản lý kinh tế mà trƣớc hết là quản lý chi phí sản xuất, giá thành sẩn phẩm. Trong đó trọng tâm là công tác hạch toán chi phí sản xuất. Kế toán tập chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ngày càng có vai trò quan trọng, ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp. 2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp kế toán phải đáp ứng những nhiệm vụ sau: -Xác định đúng đối tƣợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tƣợng giá thành sản phẩm xây lắp. -Tổ chức kế toán chi phí xây lắp theo đúng đối tƣợng và phƣơng pháp Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 6 đã đƣợc xác định trên sổ sách kế toán. -Xác định đúng chi phí xây lắp dở dang làm căn cứ để tính giá thành. -Thực hiện tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thanh trong kỳ một cách đầy đủ chính xác. -Phân tích tình hình thực hiện định mác chi phí và giá thành xây lắp để có quyết định trƣớc mắt và lâu dài phù hợp. 3. Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 3.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 3.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp lớn hay nhỏ muốn sản xuất kinh doanh dều phải bỏ ra những chi phí nhất định. Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh từ hoạt động xây lắp. Hoạt động xây lắp cần phải có vật tƣ, lao động, máy móc, công cụ, dụng cụ (đây chính là tƣ liệu lao động) đối tƣợng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình sử dụng ba yếu tố đó dẫn đến các hao phí tƣơng ứng. Các hao phí về đối tƣợng lao động , tƣ liệu lao động hình thành nên hao phí lao động vật hoá, hao phí tiền lƣơng, tiền công hình thành hình thành nên hao phí lao động sống. Trong nền sản xuất hàng hoá, các hao phí trên đƣợc biểu hiện bàng tiền gọi là chi phí sản xuất. Vậy chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là là biểu hiện bằng tiền của của toàn bộ về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định. Ngoài ra, chi phí sản xuất còn bao gồm một số khoản mà thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra (VD: các khoản trích theo lƣơng bảo hiểm xã hội bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn; các loại thuế không đƣợc hoàn trả nhƣ thuế giá trị gia tăng không đƣợc khấu trừ, thuế tài nguyên…). 3.1.2. Phân loại chi phí sản xuất : Trong xây dựng cơ bản, việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ dựa Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 7 vào các số liệu tổng hợp về chi phí sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời điểm nhất định. Do vậy,phân loại chi phí sản xuất là yêu cầu tất yếu cho công tác quản lý và hạch toán ở doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng. Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối tƣợng cung cấp thông tin và gốc độ xem xét chi phí… mà chi phí sản xuất đƣợc sắp xếp, phân loai theo cách thức khác nhau. Thông thƣờng, trong các doanh nghiệp xây lắp,chi phí sản xuất thƣờng đƣợc phân loại theo các tiêu thức sau: 3.1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí : Theo cách phân loại này, các chi phí có nội dung, tính chất kinh tế giống nhau đƣợc sắp xếp vao một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực nào. Theo cách nay, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đƣợc chia thành 5 yếu tố: -Chi phí nguyên vật liệu: Gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản. Chú ý, các yếu tố này phải đƣợc loại trừ giá trị vật liệu đung không hết nhập kho, phế liệu thu hồi và không bao gồm các thiết bị do chủ đầu tƣ bàn giao. -Chi phí nhân công: Gồm toàn bộ tiền lƣơng, tiền công phải trả và các khoản trích theo lƣơng tính vào chi phí của công nhân viên(công nhân sản xuất trực tiếp và nhân viên quản lý phục vụ ở các đội xây dựng) -Chi phí khấu hao tài sản cố định: Gồm toàn bộ số khấu hao các tài sản cố định dùng cho hoạt động ản xuất và quản lý sản xuất nhƣ các loại may thi công(máy xúc, máy trộn bê tông…)nhà xƣởng ô tô,… -Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ sản xuất, quản lý sản xuất: tiền nƣớc, điện điện thoại… -Chi phí bằng tiền khác: Là các chi phí bằng tiền không thuộc các yếu Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 8 tố chi phí trên mà doanh nghiêp đã chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế giúp nhà quản lý biết đƣợc kết cấu, tỉ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh để lập đƣợc báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố của bản Thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ yêu cầu thông tin giá thành sản phẩm và quản trị doanh nghiệp. Hơn nữa, cách phân loại này còn giúp doanh nghiệp phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí cho kỳ sau. 3.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí: Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi một khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và cùng công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nào. Vì vậy, cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí theo khoản mục. Toàn bộ chi phí phát sinh phát sinh trong kỳ đƣợc chia làm các khoản mục chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra (vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển) tham gia cấu thanh thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc hoàn thành khối lƣợng xây lắp. Chi phí này không bao gồm các thiết bị do chủ đầu tƣ ban bàn giao, không bao gồm chi phí về mặt vật tƣ phục vụ máy thi công ( xăng, dầu…) -Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lƣơng, tiền công phải trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lƣợng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trƣờng thi công, không phân biệt công nhân trong danh sách hay công nhân thuê ngoài. Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 9 - Chi phí sử dụng máy thi công: Gồm toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và đƣợc chia thành hai loại: Chi phí thƣờng xuyên và chi phí tạm thơi. + Chi phí thƣờng xuyên: Là những chi phí phát sinh trong quá trinh sử dụng mxe máy thi công, đƣợc tính thẳng vào giá thành ca máy nhƣ: Tiền lƣơng của công nhân trực tiếp điều khiển hay phục vụ xe máy, chi phí về nguyên liệu, động lực, vật liêụ dùng cho xe máy thi công, khấu hao và sữa chữa thƣờng xuyên xe máy thi công, tiền thuê xe máy thi công… +Chi phí tạm thời: Là chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy thi công nhƣ: Chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi công từ công trƣờng này đến công trƣờng khác, chi phí về tháo dỡ công trình tạm thời loại nho nhƣ lều lán… phục vụ cho máy thi công. Những chi phí có thể phân bổ dần hoặc trích trƣớc cho nhiều kỳ. - Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trƣờng xây dựng. Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau thƣờng có mối quan hệ gián tiếp với các đối tƣợng xây lắp nhƣ: Tiền lƣơng quản lý đội xây dựng; khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn đƣợc tính theo tỉ lệ quy định trên tiền lƣơng phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế của doanh nghiệp); Khấu hao tài sản cố định dùng cho hoạt động của đội và những chi phí liên quan đến hoạt động của đội… Cách phân loại này phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức; Cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm xây lắp và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành. Từ đó, lập định mức chi phí sản xuất kế hoạch giá thành cho kỳ sau. Do đặc điểm của sảm phẩm xây lắp và phƣơng pháp lập kế hoạch dự toán trong xây dựng cơ bản là dự toán đƣợc cho từng đối tƣợng xây dựng theo các khoản mục giá thành nên phƣơng pháp phân loại chi phí theo khoản mục Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 10 là phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến trong các doang nghiệp xây dựng cơ bản. Trên đây là các cách phân loại chi phí thƣờng dùng trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản. Ngoai ra, trong kế toán quản trị ngƣời ta còn phân loại chi phí thành định phí và biến phí, chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. 3.2. Giá thành sản phẩm xây lắp và các loại giá thành : 3.2.1. Giá thành sản phẩm xây lắp : Trong sản xuất chi phí chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lƣợng sản xuất kinh doanh của cá tổ chức sản xuất kinh tế, chi phí sản xuất phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất, đó cũng là một mặt của quá trình sản xuất. Quan niệm so sánh đó hình thành nên khái niêm giá thành sản phẩm. Nhƣ vậy, về bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm giống nhau: Chúng đều là các hao phí về lao động và các chi phí khác của doanh nghiệp. Tuy vậy giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có sự khác nhau: -Nói đến chi phí sản xuất là nói đến hao phí trong một thời kỳ, còn nói đến giá thành sản phẩm là xem xét, đề cập đến mối quan hệ chi phí đối với quá trình công nghệ chế tạo sản xuất tạo sản phẩm (và đã hình thành ). Đó là 2 mặt của một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhƣ trong doanh nghiệp xây lắp, để hoàn thành một sản phẩm xây lắp có thể phải mất thời gian dài , một năm hoặc hơn nữa đó là đặc điểm của ngành xây dựng -Về mặt lƣợng, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau khi có sản phẩm sản xuất dở dang cuối kỳ hoặc đầu kỳ. Sự khác nhau về mặt lƣợng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức: Z= Dđk + C - Dck Trong đó: Z: Tổng giá thành sản phẩm Dđk: Trị giá sản phẩm làm dở đầu kỳ Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 11 C: Tổng chi phí phát sinh trong kỳ Dck: Trị giá sản phẩm làm dở cuối kỳ 3.2.2.Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiêp xây dựng : Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời đIúm tính giá thành, giá thành sản phẩm xây lắp đƣợc chia làm 3 loại: +Giá thành dự toán: Giá thành dự toán là giá thành đƣợc tính trên cơ sở các dự toán về chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm xây lắp(công trình…). Việc dự toán giá thành cũng cũng đƣợc tiến hành trƣớc khi thi công, xây lắp. Giá thành dự toán là công cụ quản lý theo dự toán của doanh nghiệp, là thƣớc đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tƣ lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. +Giá thành kế hoạch: Là giá thành đƣợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lƣợng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và đƣợc tiến hành trƣớc khi bắt đầu quá trình sản xuất, xây dựng, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp +Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí thực tế hoàn thành khối lƣợng xây lắp. Giá thành này đƣợc tính trên cơ sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất đã tập hợp đƣợc cho khối lƣợng xây lắp thực hiện trong kỳ. Giá thành công trình lắp đặt không bao gồm giá trị thiết bị đƣa vào lắp đặt, bởi vì thiết bị này do đơn vị chủ đầu tƣ bàn giao cho doanh nghiệp nhân xây lắp. So sánh các loại giá thành trên với nhau, ta có thể đánh giá đƣợc chất lƣợng sản xuất thi công công trình và quản lý chi phí, quản lý giá thành của doanh nghiệp xây lắp. Về nguyên tắc phải đảm bảo: Giá thành dự toán > Giá thành kế hoạch > Giá thành thực tế Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 12 3.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp : Chi phí sản xuất là bêu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hoá và những chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất sẽ kết tinh dàn trong giá thành sản phẩm. Kết quả cuối cùng là doanh nghiệp có đƣợc các công trình hoàn thành. Giá thành các công trình, hạng mục công trình hoàn thành (sản phẩm xây lắp) là toàn bộ chi phí sản xuất tính cho công trình, hạng mục công trình đó. Nhƣ vậy, chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm, là cơ sở tính giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất đều là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống và vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại có sự khác nhau thể hiện: Chi phí sản xuất gắn lion với một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm gắn với khối lƣợng xây lắp hoàn thành đƣợc nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Nội dung chi phí và giá thành do đó cũng có sự khác biệt. -Xét trên gốc độ toàn doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ trong quá trình sản xuất thi công, trong khi giá thành sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh trong kỳ nhƣng không gồm chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, chi phí trả trƣớc phát sinh trong kỳ nhƣng đƣợc phân bổ cho chi phíáchi phí kỳ sau, phần chi phí thiệt hại (mất mát, hao hụt, chi phí thiệt hại do phá đi làm lại…) không tính vào giá thành và giá thành gồm chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, phần chi phí phát sinh từ chi phí kỳ trƣớc đƣợc phân bổ cho kỳ này, phần chi phí đƣợc trích vào giá thành. -Xét đối với từng công trình, hạng mục công trình, chi phí sản xuất bao giá thành gồm toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ trong quá trình sản xuất sản xuất thi công xây lắp công trình, hạng muc công trình còn giá thành sản phẩm bao giá thànhồm chi phí dở dang đầu kỳ, chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ nhƣng không giá thành gồm phần chi phí thiệt hại không tính vào giá Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 13 thành và chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. 4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghệp xây lắp trong điều kiện kế toán trên máy. 4.1. Một số vấn đề chung về kế toán trên máy: Hiện nay ở nƣớc ta công nghẹ thông tin phát triển mạnh và đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán ngày càng trở nên phổ biến đặc biệt trong mấy năm gần đây. Các phần mềm kế toán thƣờng có đặc điểm: Tính tự động hoá, tính động ( nhiều phần mềm cho phép sửa đổi, thêm bớt các chức năng, dữ liệu sẵn có nhằm phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể của doanh ngiệp) tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán. Hiện nay, xu hƣớng sử dụng phần mềm kế toán rất đa dạng, mỗi doanh nghiệp thƣờng áp dụng phần mềm kế toán riêng. Tuy nhiên, các phần mềm kế toán cũng nhƣ việc áp dụng tin học vào công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo những yêu cầu và nguyên tắc sau: -Hoàn thành tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng kế toán máy phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm, tính chất, mục đích hoạt động, quy mô và phạm vi hoạt động của đơn vị. -Đảm bảo phù hợp với chế độ, thể lệ quản lý tài chính nói chung và các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán nói riêng. -Đảm bảo phù hợp với yêu cầu, trình độ quản lý,trình độ kế toá của đơn vị. -Đảm bảo tính khoa học, đồng bộ và tự động hoá cao trong đó phải tính đến độ tin cậy, an toàn và bảo mật. -Trang bị đồng bộ cơ sở vật chất, đẩm bảo việc đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức kế toán trên máy, song phải tiết kiệm và hiệu quả. -Đối với các doanh nghiệp áp dụng kế toán máy cần phải thực hiện một số công việc để bắt đầu sử dụng phần mềm kế toán vào công tác kế toán ở doanh nghiệp. Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 14 *Tổ chức bộ máy kế toán: Phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ rang chú trọng đến vấn đề quản trị ngƣời dùng, phân quyền nhập liệu cũng nhƣ các quyền khác. *Tổ chức mã hoá và đăng nhập các đối tƣợng cần quản lý: Đối với từng phần mềm kế toán, các đối tƣợng cần đăng nhập và mã hoá có thể khác nhau song thông thƣờng các đối tƣợng sau cần đƣợc đăng nhập và mã hoá: Danh mục chứng từ, danh mục tài khoản kế toán, danh mục khách hàng, danh mục vật tƣ sản phẩm hàng hoá, danh mục tài sản cố định, danh mục đối tƣợng chi phí … *Tổ chức chứng từ kế toán: Việc tổ chức chứng từ kế toán phải xây dựng hệ thống danh mục chứng từ, tổ chức hạch toán ban đầu, tổ choc kiểm tra thông tin trong chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ cho phù hợp. *Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Ngoài việc sử dụng hệ thống tài khoản trong chế độ kế toán hiện hành cần phải xây dựng các tài khoản chi tiết theo yêu cầu sử dụng thông tin phục vụ quản trị mọi bộ doanh nghiệp. *Tổ chức hệ thống sổ, báo cáo kế toán: Tổ chức hệ thống sổ, báo cáo kế toán tài chính, báo cáo kế toán quản trị và đăng nhập hệ thống này trên phần mềm kế toán. 4.2. Kế toán chi phí sản xuất 4.2.1. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất Đối tƣợng kế toán chi phí là phạm vi, giới hạn mà các chi phí cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Xác định kế toán là khâu đầu tiên, quan trọng của tổ choc hạch toán quá trình sản xuất. Việc xác định đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất thực chất kà việc xác định giới hạn tập hợp chi phí hay xác định nơi phát sinh chi phí và nơi gánh chịu chi phí. Để xác định đối tƣợng tập hợp chi phí phù hợp cần phải dựa vào căn Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 15 cứ sau: -Đặc điểm và công dụng của chi phí . -Đặc điểm, tính chất sản xuất của đơn vị (ví dụ phân xƣởng, tổ, đội…) -Loại hình sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt. -Quy trình công nghệ sản xuất. -Yêu cầu về trình độ hạch toán. -… Đối với xây dựng cơ bản là hoạt đọng phát sinh nhiều chi phí , quy trình sản xuất phức tạp và sản phẩm mang tính đơn chiếc, có quy mô lớn và tính lâu dài. Mỗi công trình lại bao gồm nhiều hạng mục công trình, sản xuất theo đơn đặt hàng đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất đƣợc chi tiết theo tong công trình, hạng mục công trình. Ngoài ra, tuỳ theo công việc cụ thể có thể tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng hay giai doạn công việc hoàn thành. 4.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất : Tuỳ theo đặc điểm của loại chi phí là chỉ liên quan đến một đối tƣợng tập hợp chi phí hay nhiều đối tƣợng tập hợp chi phí mà kế toán có thể sử dụng một trong hai phƣơng pháp tập hợp chi phí sản xuất là phƣơng pháp tập hợp trực tiếp hay phƣơng pháp phân bổ gián tiếp. 4.2.2.1. Phương pháp tập hợp trực tiếp : Điều kiện áp dụng: Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng khi các chi phí phát sinh chỉ liên quan trực tiếp đến một đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất. Phƣơng pháp tập hợp: Chi phí phát sinh liên quan đến đối tƣợng nào thì tiến hành tập hợp chi phí đó, tức là kế toán lấy số liệu ở chứng từ gốc liên quan đến từng đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất và ghi thẳng cho đối tƣợng đó mà không cần tính toán phân bổ. 4.2.2.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp : Điều kiện áp dụng: Phƣơng pháp này chỉ áp dụng khi phát sinh liên quan đến nhiều đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tƣợng đƣợc. Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 16 Phƣơng pháp phân bổ: Khi các chi phí liên quan đến nhiều đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất thì kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất chi tất cả đối tƣợng chịu chi phí liên quan, sau đó sẽ tiến hành phân bổ cho từng đối tƣợng theo công thức: Ci   C  Ti  Ti n i 1 Ci : Chi phí sản xuất cho đối tƣợng thứ i  C : Tổng chi phí sản xuất n  Ti : Tổng đại lƣợng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ i 1 4.2.3. Kế toán tập hợp chi phí trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản Giá thành sản phẩm xây lắp theo quy định hiện nay gồm bốn khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung. Chi phí này phù hợp với cách phân loại chi phí xây lắp theo khoản mục. Vì vậy, việc tổ chức hạch tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp sẽ lần lƣợt theo bốn khoản mục này. Trong các doanh nghiệp xây lắp do đặc thù về kinh tế tổ chức quản lý và kỹ thuật nên hình thức kế toán hàng tồn kho đƣợc áp dụng là phƣơng pháp kê khai thƣờng xuyên. Sau đây, sau đây em xin đƣợc trình bày phƣơng pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp theo phƣơng pháp kê khai thƣờng xuyên. 4.2.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liêu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu thƣờng chiếm tỉ trọng lớn trong công tác xây lắp. Do vậy, việc hạch toán chính xác chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa quan trọng để xác định lƣợng tiêu hao vật chất trong xản xuất cũng nhƣ tính chính xác hợp lý của giá thành công tác xây lắp. Trong hạch toán chi phí nguyên vật liêu trực tiếp cần chú ý: -Nguyên vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, hạng mục công trình nào thì tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 17 những chứng từ gốc liên quan, theo số lƣợng thực tế đã sử dụng và giá thành thực tế xuất kho. -Trong điều kiện vật tƣ không thể xác định cụ thể cho từng công trình, hạng mục công trình thì tập hợp chung cuối kỳ hạhc toán tiến hành phân bổ theo tiêu thức hợp lý: Có thể tỉ lệ với định mức tiêu hao… -Cuối kỳ hoặc khi công trình hoàn thành phải kiểm kê vật liêu chƣa sử dụng hết ở các công trƣờng, bộ phận sản xuất để tính số vật liệu thực tế sử dụng cho công trình, đồng thời phải đúng số liệu thu hồi ( nếu có) theo từng đối tƣợng công trình. -Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vật liệu áp dung trong xây dựng cơ bản và phải tác động tích cực để không ngừng hoàn thiện hệ thống định mức đó. Để phản ánh chi phí nguyên vật liêu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản TK621- ―chi phí nguyên vật liệu trực tiếp‖. Tài khoản này đƣợc mở chi tiết cho từng công trình, từng khối lƣợng xây lắp, các giai đoạn quy ƣớc đạt điểm dừng kỹ thật có dự toán riêng. TK621 không có số dƣ cuối kỳ. Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 18 Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 621 TK152,153 TK 154 Giá thành thực tế vật liệu xuất kho K/c CPNVLTT TK111,112,331 Giá thực tế vật liệu mua ngoài TK133 Thuế GTGT TK liên quan TK141(1413 )) TƢ giá trị KLXL nội bộ Thanh toán tạm ứng Vật liệu không sử dụng hết nhập kho Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 19 Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp TK334 TK334 TK154 Lƣơng, phụ cấp phải trả CN K/c CPNC TK335 Trích trƣớc tiền lƣơng nghỉ phép TK111 Tiền công trả cho NC thuê ngoài TK111,1 12 TK141(1413) ) Thanh toán TƢ TƢ KLXL nội bộ Trong điều kiện kế toán trên máy, chứng từ phát sinh liên quan đến phần hành kế toán chi phí nhân công trực tiếp (nhƣ bang tính lƣơng, bảng chấm công, bảng thanh toán lƣơng, hợp đồng giao khoán, giấy thanh toán tạm ứng…) Sau khi đƣợc luân chuyển qua các bộ phận kế toán liên quan, cuối cùng chuyển về bộ phận chịu trách nhiệm nhập liệu, sau khi tiến hành nhập liệu, số liệu trên chứng từ sẽ đƣợc máy cập nhật ngay vào các sổ kế toán liên quan nhƣ (sổ cái các tài khoản TK622, TK334, sổ chi tiết TK622…) và đƣợc lƣu trữ dƣới hình thức tệp in. 4.2.3.3 Chi phí sử dụng máy thi công Máy thi công là một xe náy sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình nhƣ: Máy trộn bê tông, cần cẩu, máy đào xúc đất, máy ủi, ôt vận chuyển đất đá ở công trƣờng… các loại thi công doanh nghiệp có thể tự trang Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3 Chuyên đề tôt nghiệp 20 bị hoặc thuê ngoài. Để phản ánh chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng TK623 ― Chi phí sử dụng máy thi công‖. TK này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho xây lắp và chỉ sử dụng để hạch tián đối với những doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phƣơng pháp thi công hỗn hợp vừa thủ công, vừa kết hợp bằng máy.Trƣờng hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp hoàn toàn bằng máy thi công thì không sử dụng tài khoản này mà doanh nghiệp hạch toán chi phí xây lắp trực tiếp vào các tài khoản TK621, 622, 627. Không hạch toán vào tài khoản này các khoản trích theo lƣơng phải trả cho công nhân sử dụng máy thi công. TK623 có 6 TK cấp 2: +TK6231 ―Chi phí nhân công sử dụng máy thi công‖ +TK6232 ―Chi phí vật liệu‖ +TK6233 ―Chi phí dụng cụ sản xuất‖ +TK6234 ―Chi phí khấu hao TSCĐ‖ +TK6237 ―Chi phí dịch vụ mua ngoài‖ +TK6238 ―Chi phí khác bằng tiền‖ TK623 có thể đƣợc mở chi tiết cho cho từng loại máu thi công hoặc từng nhóm máy cùng loại. Kế toán chi phí sử dung máy thi công phụ thuộc vào hình thức tổ chức sử dụng máy thi công: Tổ chức sử dụng máy thi công riêng biệt thực hiện các khối lƣợng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội xây lắp. *Nếu tổ chức đội máy thi công riêng và đội máy có tổ chức hế toán riêng: +Kế toán các chi phí liên quan đến đội máy thi công: Nợ TK 621,622,627 Có TK 152, 111, 334… +Cuối kỳ, kết chuyển chi phí , tính giá thành ca máy hay một đơn vị khối lƣợng mà máy thi công đã hoàn thành: Sinnh viên: Thân Anh Trƣờng Lớp KTA3
- Xem thêm -