Tài liệu Tổ chức hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty tnhh sao mai thế kỷ 21

  • Số trang: 136 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 55 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

- 1- LỜI MỞ ĐẦU Không chỉ là tiền đề cho sự tiến hoá loài người, lao động của con người còn là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất. Lao động giữ vai trò quan trọng trong việc tái tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Một doanh nghiệp, một xã hội được coi là phát triển khi lao động có năng suất, có chất lượng và đạt hiệu quả cao. Như vậy, trong các chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp, yếu tố con người luôn được đặt ở vị trí hàng đầu. Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi sức lao động của họ bỏ ra được đền bù xứng đáng dưới dạng tiền lương. Gắn với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp kinh phí công đoàn. Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của xã hội đến từng thành viên. Có thể nói rằng,tiền lương và các khoản trích theo lương là một trong số ít vấn đề được cả doanh nghiệp và người lao động quan tâm. Vì vậy, việc hạch toán phân bổ chính xác tiền lương cùng các khoản trích theo lương vào giá thành sản phẩm, tính toán đúng và thanh toán kịp thời tiền lương cho người lao động sẽ góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, tăng năng suất lao động và cải thiện đời sống người lao động. Nhằm trả lương hợp lý công bằng, công ty TNHH Sao Mai Thế Kỷ 21 đã tập trung xây dựng cho mình một quy chế trả lương, trả thưởng riêng phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã không tránh khỏi những yếu tố chủ quan và khách quan tác động làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác trả lương, trả thưởng của công ty. Nhận thức được tầm quan trọng của tiền lương và các khoản trích theo lương nên em đã chọn đề tài cho khóa luận của em là : Tổ chức hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Sao Mai Thế Kỷ 21. - 2- Kết cấu đề tài gồm 3 phần: Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Phần II: Thực trạng về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Sao Mai Thế Kỷ 21. Phần III: Nhận xét đánh giá và một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Sao Mai Thế Kỷ 21. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong giới hạn kiến thức, tài liệu tham khảo, kinh nghiệm của bản thân cuốn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp từ quý thầy cô. - 3- Chương I:CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH SAO MAI THẾ KỶ 21 1.1 Đặc điểm, vai trò, vị trí của tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. 1.1.1 khái niệm 1.1.1.1 tiền lương Từ khi sức lao động trở thành hàng hoá, xuất hiện thị trường sức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động) thì khái niệm tiền lương xuất hiện. Tiền lương là một phạm trù kinh tế - xã hội, thể hiện kết quả của sự trao đổi trên thị trường lao động. Ở Việt Nam: Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động mà họ đã cống hiến. Trong kinh tế thị trường, sức lao động được coi là hàng hoá do vậy tiền lương được coi là giá cả sức lao động, được hình thành qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế. Trong thành phần kinh tế Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh cá cơ quan tổ chức nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước và được thể hiện trong hệ thống tháng lương, bảng lương, do nhà nước quy định. Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tiền lương chịu sự tác động, chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động, nhưng vẫn phải nằm trong khuôn khổ - 4- pháp luật. Đó là những giao dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, là những mặc cả cụ thể giữa bên làm thuê và bên đi thuê. Đứng trên phạm vi toàn xã hội, tiền lương được xem xét và đặt trong quan hệ về phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, quan hệ về trao đổi, do đó các chính sách về tiền lương, thu nhập luôn là vấn đề trọng tâm của mọi quốc gia. Như vậy tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội. Ở các nước mới chuyển sang kinh tế thị trường như nước ta hiện nay thì khái niệm tiền lương thường được gắn với chế độ tuyển dụng suốt đời hoặc một thoả thuận hợp đồng sử dụng lao động dài hạn,ổn định.Nhìn chung, khái niệm tiền lương có tính chất phổ quát hơn và cùng với nó là một loạt các khái niệm khác như: Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu, tiền lương cơ bản.  Tiền lương danh nghĩa: là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế, mọi mức lương trả cho người lao động đều là tiền lương danh nghĩa.Song, nó chưa cho ta nhận thức đầy đủ về mức trả công thực tế cho người lao động.  Tiền lương thực tế: là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động có thể mua được bằng lương của mình sau khi đã nộp các khoản thuế theo quy định của Nhà nước.Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả và tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xác định.  Tiền lương tối thiểu :gọi đúng là mức lương tối thiểu hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng theo nghĩa chung nhất thì mức lương tối thiểu được coi là ngưỡng cuối cùng, thấp nhất để làm cơ sở xây dựng các mức lương khác, là căn cứ để - 5- ra quyết định các chính sách tiền lương. Cho nên mức lương tối thiểu là yếu tố rất quan trọng của một chính sách tiền lương. Hiện nay theo quy định của Chính phủ, lương tối thiểu có thể áp dụng thống nhất trong cả nước hoặc tuỳ theo các vùng, các ngành, các thành phần kinh tế khác nhau,và mức lương tối thiểu nhà nước quy định hiện nay là 830.000đ.  Tiền lương cơ bản là tiền lương được xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu cơ bản về sinh học, xã hội học, về độ phức tạp và mức độ tiêu hao lao động trong những điều kiện trung bình của từng ngành nghề, công việc. Tiền lương cơ bản được sử dụng rộng rãi đối với những người làm việc ở các doanh nghiệp quốc doanh hoặc trong các khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam và được xác định qua hệ thống thang bảng lương của nhà nước. 1.1.1.2 Các khoản trích theo lương. Theo quy định hiện hành,bên cạnh chế độ tiền lương, tiền thưởng được hưởng trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh, người lao động còn được hưởng các khoản thuộc các quỹ: Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ),bảo hiểm thất nghiệp(BHTN) Các khoản này cũng chỉ là bộ phận cấu thành chi phí nhân công ở doanh nghiệp ,được hình thành từ hai nguồn: một phần do người lao động đóng góp, phần còn lại được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.  Quỹ BHXH: Là khoản tiền đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động cho tổ chức xã hội,dùng để trợ cấp cho họ trong các trường hợp mất khả năng lao động, ốm đau, thai sản, hưu trí... Theo chế độ hiện hành quỹ BHXH được hình thành bằng cách tính theo tỷ lệ 22% trên tổng quỹ lương của doanh nghiệp.Người sử dụng lao động phải nộp 16% trên - 6- tổng quỹ lương và tình vào chi phí sản xuất - kinh doanh, còn 6% trên tổng quỹ lương thì do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ vào thu nhập của họ).  Quỹ BHYT: Là khoản đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động cho cơ quan bảo hiểm y tế theo tỷ lệ quy định.Quỹ được sử dụng để trợ cấp cho những người có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, các doanh nghiệp phải thực hiện trích quỹ BHYT bằng 4,5% tổng quỹ lương, trong đó doanh nghiệp phải chịu 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh còn người lao động trực tiếp nộp 1,5% (trừ vào thu nhập của họ).Quỹ BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và cấp cho người loa động thông qua mạng lưới y tế.Vì vậy, khi trích BHYT, các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan BHYT.  KPCĐ: Là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp.Theo chế độ tài chính hiện hành, KPCĐ được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao động và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ (tính vào chi phí sản xuất kinh doanh). Khi trích KPCĐ thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cho công đoàn cấp trên, một nửa được sử dụng để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại đơn vị.  BHTN: Là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo luật định.Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ. Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp. Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định. Ngoài ra, chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp - 7- Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau: người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương, tiền công tháng; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng và Nhà nước sẽ hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN cùng với tiền lương phải trả cho công nhân viên hợp thành chi phí nhân công trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh.Quản lý tính toán, trích lập và sử dụng các quỹ trên có ý nghĩa không chỉ với quá trình tính toán chi phí sản xuât kinh doanh mà còn với việc đảm bảo quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp. 1.1.2 Bản chất của tiền lương Tiền lương là khoản thu nhập mà doanh nghiệp tạo điều kiện cho người lao động sinh sống, sinh hoạt hoặc tái sản xuất và phát triển mọi mặt về vật chất và tinh thần trong đời sống gia đình và xã hội. Nếu gọi sức lao động là hàng hóa thì tiền lương chính là gía cả của hàng hóa sức lao động.nói cách khác tiền lương chính là thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về mức độ trả công đối với một công việc cụ thể được thực hiện trong những điều kiện nhất định. Mặt khác tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra. Tùy theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể được xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm hay được xác định là một bộ phân thu nhập kết quả tài chính của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong đời sống kinh tế hiện nay thì tiền lương có ý nghĩa vô cùng to lớn, bởi đó là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động,nó đảm bảo cho cuộc sống của mỗi các nhân, nó quy định mức sống,sự tồn tại và phát triển của mỗi con người trong xã hội.Còn đối với doanh nghiệp có thể sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động. 1.1.3. Vai trò của tiền lương. - 8- Tiền lương có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với DN mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động.Về mặt sản xuất và đời sống tiền lương có 4 vai trò cơ bản sau đây:  Vai trò tái sản suất sức lao động: Trong quá trình lao động sức lao động bị hao mòn dần để tạo ra sản phẩm do vậy tiền lương trước hết phải đảm bảo chức năng tái sản xuất lao động. Để thực hiện chức năng này, trước hết tiền lương phải được coi là giá cả sức lao động.Thực hiện trả lương theo mức độ, thời gian tùy theo từng công việc, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động.  Vai trò kích thích sản xuất: Trong quá trình lao động, lợi ích kinh tế là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự hoạt động của con người là động lực mạnh mẽ nhất của tiến bộ kinh tế xã hội.Trong 3 loại lợi ích: xã hội, tập thể, người lao động thì lợi ích của người lao động là động lực trực tiếp và quan trọng trọng đối với sự phát triển kinh tế. Chính sách tiền lương đúng đắn, hợp lý là động lực to lớn nhằm phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động tạo động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế.  Vai trò thước đo giá trị: Là cơ sở điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá có sự dao động của giá cả sức lao động.  Vai trò tích luỹ: Bảo đảm tiền lương của người lao động không những duy trì được cuộc sống hàng ngày mà còn có thể dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc xảy ra bất trắc. 1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương  Nhóm yếu tố thuộc về doanh nghiệp: Chính sách của doanh nghiệp, khả năng tài chính, cơ cấu tổ chức, môi trường làm việc của doanh nghiệp, trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ… - 9-  Nhóm yếu tố thuộc về thị trường lao động: Chất lượng lao động thâm niên công tác, kinh doanh làm việc và các mối quan hệ khác.  Nhóm yếu tố thuộc về công việc: Lượng hao phí công việc trong quá trình làm việc, cường độ lao động, năng suất lao động, độ tuổi,sức khỏe... 1.1.5 . Ý nghĩa, nhiệm vụ của hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương.  Ý nghĩa : Đối với chủ doanh nghiệp, tiền lương là một yếu tố của chi phí sản xuất, đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu.Mục đích của nhà sản xuất là lợi nhuận và mục đích của người lao động là tiền lương.Tiền lương nhận được thỏa đáng sẽ là động lực kích thích năng lực sáng tạo của người lao động.Từ đó sẽ tạo ra sự gắn kết giữa những người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách giữa chủ lao động với người lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn trong công việc của mình. Tổ chức hoạch toán lao động tiền lương giúp cho công tác quản lý của doanh nghiệp đi vào nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động làm tăng năng suất lao động và hiệu suất công tác.Đồng thời cũng tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản xuất được chính xác.  Nhiệm vụ của hạch toán tiền lương: - Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, kết quả lao động, tính lương và trích các khoản theo lương, phân bổ chi phí nhân công theo đúng đối tượng sử dụng. - Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên hoạch toán ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh, các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về lao -10- động, tiền lương, mở sổ cần thiết và hoạch toán nghiệp vụ lao động, tiền lương đúng chế độ, đúng phương pháp. - Theo dõi tình hình thanh toán tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người lao động. - Lập các báo cáo về lao động, tiền lương phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước và quản lý doanh nghiệp. 1.2 Nội dung công tác tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp 1.2.1 Các nguyên tắc cơ bản của công tác tổ chức hạch toán tiền lương Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập thích hợp. ở nước ta khi xây dựng một chế độ tiền lương và tổ chức trả lương phải theo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động theo nguyên tắc này thì bất kỳ ai dù có khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ mà có đóng góp sức lao động như nhau thì được trả lương như nhau. Đối với công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức, phân biệt công bằng, chính xác trong trả lương. Đây là nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng trong trả lương. Điều này sẽ có sức khuyến khích rất lớn đối với người lao động. Nguyên tắc 2: Bảo đảm NSLĐ tăng nhanh hơn tiền lương bình quân. Tức là có thể hiểu đơn giản như sau: Năng suất lao động là sản phẩm, là cái được làm ra. Tiền lương là cái phải chi trả, đó là chi phí. Vậy để sản xuất có lợi nhuận, đạt hiệu quả cao thì cái làm ra phải lớn hơn tổng chi phí. Tức là tốc độ tăng NSLĐ phải lớn hơn tiền lương. -11- Nguyên tắc này dù xét trên phạm vi từng doanh nghiệp hoặc toàn xã hội đều thấy rõ tính khoa học hợp lý của nó phù hợp với tiến trình phát triển ngày càng đi lên của xã hội. Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân (tức là phải trả lương khác nhau cho lao động khác nhau). 1.2.2 Yêu cầu của tổ chức tiền lương Trong tổ chức tiền lương phải đảm bảo các yêu cầu sau: + Đảm bảo tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo đúng chức năng và vai trò của tiền lương trong đời sống xã hội. + Làm cho NSLĐ không ngừng nâng cao. Đây cũng là yêu cầu đối với việc phát triển nâng cao trình độ và kỹ năng của người lao động. + Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu. + Tiền lương là mối quan tâm hàng đầu của mọi người lao động. 1.3 Chế độ tiền lương 1.3.1 lương cấp bậc Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước và các Công ty, doanh nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lương cho người lao động. Căn cứ vào chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định. Chế độ tiền lương cấp bậc áp dụng cho công nhân, những người lao động trực tiếp, và trả lương theo kết quả lao động của họ, thể hiện qua số lượng và chất lượng Việc xây dựng và áp dụng chế độ tiền lương cấp bậc là rất cần thiết nhằm quán triệt các nguyên tắc trong trả lương cho người lao động. Để trả lương một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào hai mặt: số lượng và chất lượng của lao động. -12- Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các thang lương, mức lương, hiện hành của Nhà nước. Tiền lương cấp bậc là tiền lương áp dụng cho công nhân căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của công nhân. Hệ số tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà doanh nghiệp dựa vào đó để trả lương cho công nhân theo chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định. Chế độ tiền lương cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các nghành, các nghề một cách hợp lí, hạn chế được tính chất bình quân trong việc trả lương, đồng thời còn có tác dụng bố trí công việc thích hợp với trình độ lành nghề của công nhân. Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các thang lương, mức lương, hiện hành của Nhà nước.  Mức lương: là lượng tiền trả cho người lao động cho một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng...) phù hợp với các cấp bậc trong thang lương. Thông thường Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc I hoặc mức lương tối thiểu với hệ số lương của cấp bậc tương ứng.  Thang lương là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các công nhân cùng nghề hoặc nhóm nghề giống nhau theo trình độ cấp bậc của họ. Mỗi thang lương gồm một số các bậc lương và các hệ số phù hợp với bậc lương đó. Thang lương được dựa vao đặc điểm của mỗi ngành sản xuất theo yêu cầu kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm. Điều quan trọng là cần xem xét kỹ xác định các hệ số lương, chênh lệch giữa bậc lương sau so với trước bao nhiêu là hợp lý.  Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào đó phải biết gì về mặt kỹ thuật và phải làm được gì về mặt thực hành. Giữa cấp bậc công nhân và cấp bậc công việc có mối quan hệ chặt chẽ. Công nhân hoàn thành tốt ở công việc nào thì sẽ được xếp vào cấp bậc đó. -13- 1.3.2 Lương chức vụ Là chế độ lương do nhà nước quy định mà các cơ quan, xí nghiệp phải căn cứ vào đó để trả lương cho cán bộ giữ một chức vụ nhất định như cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lí, nhân viên kĩ thuật và các viên chức khác theo chất lượng và điều kiện lao động khi họ đảm đương một công việc theo chức vụ nhất định. Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá trình độ lành nghề của cán bộ viên chức là các tiêu chuẩn chức vụ. Mặt khác, lương chức vụ còn phụ thuộc cả vào quy mô của xí nghiệp, cơ quan mà các cán bộ viên chức làm việc, trên những cơ sở đó, nhà nước quy định ra các bảng lương chức vụ cho cán bộ và viên chức. 1.4 Hình thức tiền lương 1.4.1 Lương thời gian - Khái niệm Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương trả cho người lao động theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương của người lao động. Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, tuần, ngày hoặc ngày làm việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp - Phạm vi áp dụng Hình thức trả lương theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác quản lý. Đối với công nhân sản xuất thì hình thức này chỉ áp dụng ở các bộ phận mà quá trình sản xuất đã được tự động hoá, những công việc chưa xây dựng được định mức lao động, những công việc mà khối lượng hoàn thành không xác định được hoặc những loại công việc cần thiết phải trả lương thời gian nhằm đảm bảo chát lượng sản phẩm. - Ưu, nhược điểm Ưu điểm: rất đơn giản, dễ tính toán. -14- Nhược điểm: chưa chú ý đến chất lượng lao động, đồng thời chưa gắn với kết quả lao động cuối cùng, do đó không có khả năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động. - Các loại tiền lương theo thời gian  Tiền lương theo thời gian giản đơn: căn cứ vào thời gian làm việc, mức lương cơ bản, các khoản phụ cấp để tính trả cho người lao động. Phạm vi áp dụng: Chế độ trả lương này áp dụng ở những nơi khó xác định mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc chính xác do đó hình thức trả lương theo thời gian đơn giản thường áp dụng với những người làm công tác quản lý và thường được áp dụng trong khối hành chính sự nghiệp. Tiền lương theo thời gian đơn giản được tính theo công thức: Ltt  Lcb xT Trong đó: Ltt: tiền lương thực tế mà người lao động nhận được Lcb: tiền lương cấp bậc tính theo thời gian T: thời gian làm việc thực tế: giờ, ngày Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao đông căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, cụ thể như sau: - Lương tháng là tiền lương đã được quy định sẵn được trả cho một tháng làm việc xác định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương,được tính và trả trên cơ sở hợp đồng lao động Mức lương tháng =Mức lương tối thiểu x ( hệ số lương + hệ số phụ cấp được hưởng theo QĐ) Tiền lương phải Trả trong tháng Mức lương tháng x số việc thực tế trong tháng = số ngày làm việc trong tháng theo quy định -15- - Lương tuần: Là tiền lương trả cho một tuần làm việc trên cơ sở hợp đồng đã ký. Tiền lương tháng x 12 tháng Tiền lương tuần = 52 tuần - Lương ngày: Là tiền lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng.Lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương thời gian, tính lương cho người lao động trong từng ngày học tập, làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội.Hình thức này có ưu điểm là thể hiện được trình độ kỹ thuật và điều kiện của người lao động, nhược điểm là chưa gắn kết lương với sức lao động của từng người để động viên người công nhân tận dụng thời gian lao động nhằm nâng cao năng suất và hạ giá thành sản phẩm. Mức lương tháng Mức lương ngày = Số ngày làm việc trong tháng theo quy định - Tiền lương giờ:Là tiền lương trả cho một giờ làm việc, thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp tròn thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm.Hình thức này có ưu điểm tận dụng được thời gian lao động nhưng nhược điểm là không gắn kết được tiền lương với kết quả lao động, hơn nữa việc theo dõi cũng hết sức phức tạp. Mức lương ngày Tiền lương giờ = Số giờ làm việc trong ngày theo quy định -16- Tiền lương thời gian tính theo đơn giá tiền lương cố định còn được gọi là tiền lương thời gian giản đơn.Hình thức tiền lương này phù hợp với lao động gián tiếp.Tuy nhiên, nó không phát huy được đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công việc thực tế.Tiền lương thời gian đơn giản nếu kết hợp thêm tiền thưởng (vì đảm bảo ngày công, giờ công...) tạo nên dạng tiền lương có thưởng.Tiền lương theo thời gian có thưởng có tác dụng thúc đẩy người lao động tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư và đảm bảo chất lượng sản phẩm.Hình thức này thường áp dụng cho các công nhân phụ làm việc ở nơi có mức độ cơ khí hoá,tự động hoá cao.Để tính lương thời gian phải trả cho công nhân viên phải theo dõi ghi chép được đầy đủ thời gian làm việc và phải có đơn giá tính tiền lương thời gian cụ thể. Nhận xét: Ưu điểm: Người lao động có thể yên tâm làm việc vì tiền lương được trả cố định không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền lương phụ thuộc vào thâm niên công tác. Thâm niên càng nhiều thì tiền lương càng cao. Nhược điểm: Chế độ trả lương này mang tính bình quân, tiền lương không gắn với hiệu quả làm việc, không khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên liệu, sử dụng có hiệu quả công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động. - Tiền lương theo thời gian có thưởng: hình thức này nhằm kích thích người lao động tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và chú ý đến khối lượng công việc được giao. Đây là hình thức tiền lương theo thời gian kết hợp với tiền thưởng. Tiền lương theo thời gian có thưởng được chia làm hai bộ phận rõ rệt : + Lương theo thời gian giản đơn gồm lương cơ bản và phụ cấp theo chế độ khi hoàn thành công việc và đạt yêu cầu về chất lượng. -17- + Thưởng là khoản chi trả cho người lao động khi họ vượt mức hoặc giảm tỷ lệ phế phẩm hay hoàn thành xuất sắc công việc được giao. Trả lương theo thời gian Có thưởng = trả lương theo + các khoản tiền thời gian giản đơn thưởng Nhận xét: Ưu điểm: Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng có nhiều ưu điểm hơn chế độ thời gian đơn giản vì nó gắn chặt thành tích công tác của từng người đã đạt được thông qua các chỉ tiêu xét thưởng. Hình thức này không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả của mình. Do đó, chế độ trả lương này ngày càng được áp dụng trên quy mô rộng hơn. Như vậy, nhược điểm chính của hình thức trả lương theo thời gian là không gắn liền giữa chất lượng và số lượng lao động mà công nhân đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm. Nên hình thức này không mang lại cho người lao động sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình không tạo điều kiện thuận lợi để uốn nắn kịp thời những thái độ sai lệch và không khuến khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tiết kiệm thời gian, vật tư và lao động trong quá trình công tác. 1.4.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm - Khái niệm Theo hình thức này tiền lương tính trả cho người lao động căn cứ vào kết quả lao động, số lượng và chất lượng sản phẩm công việc, lao vụ đã hoàn thành đảm bảo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đã quy định và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm, công việc và lao vụ đó. -18- Ưu điểm :chú ý đến chất lượng lao động, gắn người lao động với kết quả cuối cùng ,tác dụng kích thích người lao động tăng năng suất lao động. Nhược điểm :tính toán phức tạp. - Các hình thức trả lương theo sản phẩm  Tiền lương sản phẩm trực tiếp(không hạn chế): hình thức này được áp dụng đối với những công nhân trực tiếp sản xuất, công việc của họ có tính chất độc lập, có thể định mức, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt. Theo hình thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng qui cách, phẩm chất và đơn giá sản phẩm đã được qui định. Lương sản phẩm = Số lượng sản phẩm trực tiếp hoàn thành x Đơn giá lương Ưu điểm: Dễ dàng tính được tiền lương trực tiếp trong kỳ. Khuyến khích công nhân tự giác, tiết kiệm thời gian làm việc, giảm tối đa thời gian lãng phí tự học hỏi để nâng cao kỹ năng kỹ sảo làm việc, nâng cao năng xuất lao động, tăng thu nhập. Nhược điểm: Công nhân chỉ quan tâm đến số lượng mà ít chú ý đến chất lượng sản phẩm. Nếu không có thái độ và ý thức làm việc sẽ lãng phí vật tư, nguyên vật liệu.  Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp: Thường được áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu,thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị...lao đông của những người này không ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm nhưng ảnh hương gián tiếp đến năng suất lao động .do đó cách tính lương của bộ phận này căn cứ vào kết quả lao động của bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất. -19- Tiền lương thực tế của công nhân phụ: Li  DGxQ1 DG  Trong đó: L MxQ Li : Tiền lương thực tế của công nhân DG : Đơn giá tiền lương của công nhân phụ Q1: Số lượng sản phẩm thực tế của công nhân chính Q : Mức sản lượng của công nhân chính Ưu điểm: Chế độ trả lương này khuyến khích công nhân phụ phục vụ tốt hơn cho công nhân chính góp phần nâng cao NSLĐ của cả hai. Nhược điểm: tiền lương của công nhân phụ phụ thuộc trực tiếp vào kết quả của công nhân chính, mà kết quả này nhiều khi chịu tác động của các yếu tố khách quan nên làm hạn chế sự cố gắng làm việc của công nhân phụ.  Tiền lương theo sản phẩm có thưởng: là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp kết hợp với chế độ khen thưởng do doanh nghiệp quy định.tiền lương theo sản phẩm có thưởng được tính cho từng người lao động hay một tập thể người lao động. Ưu điểm: Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc phân phối theo lao động khuyến khích công nhân chú trọng hơn nữa việc cải tiến chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ quy định. Nhược điểm: Phải tính toán chính xác, đúng đắn các chỉ tiêu tính thưởng nếu không sẽ làm tăng chi phí tiền lương, bội chi quỹ tiền lương -20-  Hình thức tiền lương sản phẩm thưởng luỹ tiến:Ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ hoàn thành vượt định mức lao động để tính thêm một phần tiền thưởng theo tỷ lệ luỹ tiến quy định.Tỷ lệ hoàn thành vượt định mức càng cao thì năng suất luỹ tiến tính thưởng càng nhiều. Ưu điểm: kích thích mạnh mẽ tinh thần lao động, khuyến khích tăng năng suất, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ, kế hoạch đề ra của doanh nghiệp nhưng chỉ nên áp dụng ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất, đảm bảo cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc thực hiện công việc có tính đột xuất như phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng nào đó Nhược điểm: Việc tổ chưc quản lý tương đối phức tạp, nếu xác định biểu luỹ tiến không hợp lý sẽ làm tăng giá thành sản phẩm, giảm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.  Hình thức khoán khối lượng hoặc khoán từng công việc: Là chế độ lương sản phẩm khi giao công việc đã quy định rõ ràng số tiền đã hoàn thành một khối lượng công việc trong đơn vị thời gian nhất dịnh Phạm vi áp dụng: Chế độ này được áp dụng khá phổ biến trong ngành nông nghiệp, xây dựng cơ bản hoặc một số ngành khác khi công nhân làm công việc mang tính đột xuất công việc không thể xác định một định mức lao động ổn định trong thời gian dài được. . . Tiền lương khoán được tính như sau Lk  DGk xQ1 Trong đó: Lk : tiền lương thực tế công nhân nhận được DGk: đơn giá khoán QI : số lượng sản phẩm hoàn thành Ngay từ khi nhận việc, công nhân sẽ biết được ngay số tiền mình sẽ lãnh sau khi hoàn thành khối lượng công việc.
- Xem thêm -