Tài liệu Tính hội thoại trong thơ tố hữu

  • Số trang: 110 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 109 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG TÍNH HỘI THOẠI TRONG THƠ TỐ HỮU LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG TÍNH HỘI THOẠI TRONG THƠ TỐ HỮU Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN LỘC THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Hội thoại là một trong những hình thức đặc trưng của ngôn ngữ. Trong thơ ca Việt Nam, chỉ đến THƠ MỚI, tính hội thoại mới xuất hiện như một đặc điểm nổi trội. Khi nghiên cứu thi pháp văn học trung đại, chúng tôi nhận thấy thơ trung đại không phát triển năng lực giao tiếp trực tiếp của lời thơ, không hướng tới trò chuyện với người đọc. Giao tiếp chỉ mang tính chất gián tiếp. Khi muốn “trao đổi” với bạn đọc, tác giả trung đại phải mượn lời, thác lời, kiểu vợ khuyên chồng, chị khuyên em. Nhưng bắt đầu từ THƠ MỚI - “Cuộc cách mạng về thi ca” (Hoài Thanh), thơ ca Việt Nam đã có một bước chuyển mình vĩ đại. Chính THƠ MỚI đã mở đầu một cách rực rỡ cho thơ Việt Nam hiện đại và được ghi nhận như một bước phát triển mới của thơ dân tộc về tư duy thơ, về thi pháp, về thể loại thơ và ngôn ngữ theo hướng hiện đại hóa.Từ đó, văn đàn của chúng ta tỏa sáng những tên tuổi như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Bính… Trong đó, không thể không nhắc tới Tố Hữu - nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, nhà thơ thuộc về nhân dân, dân tộc, một nhà thơ đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển nền thơ ca Việt Nam hiện đại. 2. Trong suốt những thập kỉ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trong nước như: Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử… Với vốn hiểu biết sâu rộng và tài năng nghệ thuật, mỗi nhà nghiên cứu bằng những cách thức, bằng những con đường tiếp cận riêng của mình đã khám phá thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú, độc đáo cùng với những giá trị nhân văn và thẩm mĩ sâu sắc trong thơ Tố Hữu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 Dù các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có những đánh giá, phân tích ở nhiều góc độ như đề tài, chủ đề, nội dung, tư tưởng, hình tượng… trong thơ Tố Hữu nhưng cho đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về tính hội thoại - một phần quan trọng làm nên giá trị nghệ thuật của thơ ông. 3. Người ta thường nói giọng điệu nổi bật trong thơ Tố Hữu là giọng trò chuyện tâm tình nhưng nhận xét đó mới chỉ dừng lại ở cảm nhận. Điều quan trọng là chỉ ra biểu hiện cụ thể của giọng điệu đó qua việc phân tích ngữ văn có cơ sở khoa học. Nghiên cứu tác phẩm thơ Tố Hữu trên bình diện ngôn ngữ nói chung, nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu nói riêng là một công việc rất thú vị, hấp dẫn, có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn mặc dù cũng hết sức khó khăn, phức tạp. Có thể coi đây là “mảnh đất mới chƣa đƣợc khai khẩn, hứa hẹn cho những vụ mùa bội thu” nếu như “ngƣời lao động” ngoài kĩ năng, vốn hiểu còn có một niềm đam mê khám phá. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu. 2. Lịch sử vấn đề Tố Hữu tỏa sáng trên văn đàn từ những năm 30 của thế kỉ XX. Qua tập thơ đầu tay Từ ấy, tiếp theo là các tập thơ Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa và cuối cùng là các tập Một tiếng đờn, Ta với ta, Tố Hữu đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng tình yêu lí tưởng, bằng phẩm chất chính trị, bằng tấm lòng tận tụy hy sinh vì dân, vì nước và bằng một tài năng nghệ thuật lớn. Nói đến nghệ thuật thơ Tố Hữu là nói đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. Điều chúng tôi quan tâm ở đây là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mang tính hội thoại được coi như là một phương tiện tạo nên giọng điệu riêng trong thơ Tố Hữu: giọng trò chuyện, tâm tình, đồng thời, cũng là phương tiện để tạo nên “tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” (Tố Hữu). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 Ở Việt Nam có hàng loạt công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu. Trong bài viết in trên Báo Mới [15], K&T gọi Tố Hữu là “Nhà thơ của tƣơng lai” và khẳng định giá định nghệ thuật của thơ Tố Hữu. K&T cho rằng sức hấp dẫn trong thơ Tố Hữu chính là lý tưởng của một chàng thanh niên trẻ tuổi - chàng thanh niên của tương lai. Nguyễn Văn Hạnh với bài nghiên cứu “Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu” [12] đã đề cập đến 3 vấn đề lớn trong thơ Tơ Hữu. Đó là: cảm hứng xã hội, thiên hƣớng tổng hợp; sức mạnh tình cảm, hơi thơ liền mạch; tình nghĩa, tâm sự; ƣớc lệ và cách tân. Lê Đình Kỵ, tác giả cuốn chuyên luận “Thơ Tố Hữu” [16], chủ yếu đề cập tới phong cách dân tộc đậm đà trong thơ ông thể hiện ở đề tài, đối tượng, nội dung thể hiện, ngôn ngữ. Tác giả cho rằng thơ Tố Hữu đạt tới những khái quát lớn về dân tộc, thời đại. Từ cuối những năm 80, ít có những công trình nghiên cứu mới về thơ Tố Hữu. Đề cập đến thơ tố Hữu trên sách báo phần nhiều là những bài phân tích, bình giảng một số bài thơ, những đoạn hồi ức của chính tác giả hoặc những ghi chép qua trò chuyện với Tố Hữu về thơ ông. Trong cuốn “Thi pháp thơ Tố Hữu” [28], GS.TS Trần Đình Sử đã có những nhận định, đánh giá sâu sắc về Tố Hữu và thơ Tố Hữu mà nội dung có thể tóm tắt như sau: Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam. Cái mới mà Tố Hữu đóng góp cho thơ ca tiếng Việt hiện đại là tạo ra được một kiểu nhà THƠ MỚI, một cái Tôi hấp dẫn, mạnh mẽ, thuộc về quần chúng lao khổ và cách mạng. Tố Hữu tạo ra được một giọng thơ quyền uy duy nhất hấp dẫn lúc ấy, thể hiện tập trung sức mạnh, khí thế, ý chí, niềm tin cách mạng. Vì thế, trong thơ có nhiều kiểu câu mệnh lệnh, câu cầu khiến vào bậc nhất trong thơ Việt Nam hiện đại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 Tố Hữu đã xây dựng hình tượng một nhà thơ kiểu mới, một nhà thơ giữa mọi người. Điều đó biểu hiện ở hệ thống từ xưng hô, ở cái tôi trữ tình nhiều vai. Sáng tác của Tố Hữu thể hiện một quá trình tìm tòi để hình thành một kiểu thơ trữ tình - chính trị mới. Trong đó có sự kết hợp khéo léo giữa chủ đề chính trị với thể tài đời tư; giữa chủ đề chính trị với thể tài lịch sử dân tộc. Bàn về chất hội thoại trong thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử đã viết “Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình điệu nói, ý vị của nó ẩn trong giọng lời. Đọc thơ ông phải biết thẩm giọng. Chất hàm súc ở lời giọng thấm thía đậm đà”. Cuốn chuyên luận là gợi ý bổ ích cho việc định hướng, triển khai để tài của chúng tôi. Mặc dù ở công trình này, tác giả chưa đề cập chi tiết đến tính hội thoại trong thơ Tố Hữu. Ngoài các tài liệu mà chúng tôi giới thiệu ở trên, có thể kể đến một số bài viết đăng trên các báo nhằm phân tích, đánh giá, cảm thụ về thơ ông như: Nguyễn Đăng Mạnh: “Con đƣờng thơ Tố Hữu” (in trong “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” Nxb Giáo dục, t4/1994). Hà Minh Đức: “Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc” (in trong Tố Hữu, Thơ. lời giới thiệu, in lần 2, Nxb Giáo dục, 1995). Như vậy, tính hội thoại trong thơ bắt đầu xuất hiện trong thơ Việt Nam hiện đại và được các nhà nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chú ý ở phương diện lý thuyết. Trong khoảng mười năm trở lại đây, đã có công trình nghiên cứu đề cập tới một số khía cạnh, biểu hiện về chất hội thoại trong thơ Tố Hữu nhưng rất lẻ tẻ, thoáng qua, chưa có tính hệ thống. Nói cách khác, chưa có một công trình khoa học nào, nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc về tính hội thoại (điệu nói) trong thơ Tố Hữu - nhằm khám phá những đóng góp to lớn của nhà thơ trữ tình - chính trị này về phương diện sử dụng ngôn ngữ. Đây là vấn đề thú vị mà chúng tôi sẽ cố gắng thể hiện được trong luận văn “Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài này là phát hiện, phân tích những biểu hiện về hình thức (ngôn ngữ, cơ sở tư tưởng, nghệ thuật) của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, qua đó, làm rõ thêm đặc điểm về phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 1) Xác định cơ sở lí luận của việc nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu (làm rõ các khái niệm hội thoại, tính hội thoại, thơ, thơ trữ tình, thơ điệu ngâm, thơ điệu nói,…). 2) Phân tích những biểu hiện về hình thức (ngôn ngữ) cụ thể của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu. 3) Phân tích cơ sở tư tưởng, nghệ thuật và giá trị của tính hội thoại đối với phong cách thơ Tố Hữu. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tính hội thoại thể hiện trong một số sáng tác thơ của Tố Hữu. 4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tính hội thoại trong thơ Tố Hữu thể hiện qua 4 tập thơ sáng tác ở giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, cụ thể là các tập thơ Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa. Sở dĩ chúng tôi chọn các tác phẩm trong những tập thơ này để khảo sát vì đây là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Tố Hữu thể hiện rõ tư tưởng và tài năng nghệ thuật của ông. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để triển khai đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 5.1. Phương pháp điều tra, khảo sát ngôn ngữ Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê, phân loại các phương tiện biểu hiện tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, tạo cơ sở cho sự phân tích, nhận xét, đánh giá. 5.2. Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương Phương pháp này được sử dụng để phân tích, miêu tả những hình thức biểu hiện của tính hội thoại cùng hiệu quả của chúng đối với việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong thơ Tố Hữu, hiệu quả giao tiếp thẩm mĩ qua việc tạo mối liên hệ mật thiết giữa tác giả và độc giả. 5.3. Phương pháp đối chiếu - so sánh Phương pháp này được sử dụng để so sánh tính hội thoại trong thơ Tố Hữu với đặc tính này trong thơ cổ và thơ Mới, tìm ra những nét riêng đặc sắc của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, từ đó làm rõ nét riêng của thi pháp thơ Tố Hữu so với thi pháp thơ trung đại và Thơ Mới. 6. Dự kiến đóng góp của luận văn Việc nghiên cứu tính hội thoại (điệu nói) trong thơ Tố Hữu có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn. Về lí luận: Lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc tính hội thoại trong thơ Tố Hữu theo hướng tiếp cận của ngành ngôn ngữ học. Việc nghiên cứu đề tài này góp phần làm sáng tỏ một đặc điểm của ngôn ngữ thơ hiện đại - tính hội thoại thông qua một tác giả tiêu biểu có uy tín về sử dụng tiếng Việt, đồng thời, mở ra hướng nghiên cứu những biểu hiện của tính hội thoại trong các tác phẩm thơ hiện đại, qua đó, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn đặc trưng phong cách tác giả. Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học về tiếng Vịêt, về thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca hiện đại nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 7. Bố cục của luận văn Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận. Chƣơng 2. Biểu hiện về hình thức của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu. Chƣơng 3: Cơ sở tƣ tƣởng, nghệ thuật và giá trị của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ 1.1.1. Giao tiếp Để giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau. Có thể khái quát thành 3 loại phương tiện như sau: bằng âm thanh, bằng ánh sáng, bằng cử chỉ. Trong các phương tiện kể trên thì ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người là phương tiện giao tiếp xã hội quan trọng và hiệu quả nhất, giúp con người có thể bày tỏ và trao đổi với nhau về nhận thức, tư tưởng, tình cảm. Cùng với lao động, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định quá trình phát triển của lịch sử loài người. Giao tiếp là một hiện tượng đặc trưng của con người và của xã hội loài người. Đó là nhu cầu và cũng là điều kiện tất yếu của cuộc sống con người. Chính với ý nghĩa quan trọng như vậy, vấn đề giao tiếp đã được các nhà nghiên cứu chú ý từ thời cổ Hy Lạp. Nhưng phải đến thế kỉ XIX, giao tiếp mới được đặt đúng vị trí quan trọng của nó trong sự hình thành, phát triển bản chất xã hội của con người. Phơ-bach, nhà triết học người Đức đã khẳng định: “Bản chất con ngƣời chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con ngƣời với con ngƣời, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa họ”. Bước sang thế kỉ XX, giao tiếp đã trở thành vấn đề thời sự trong khoa học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nó được xem xét dưới nhiều góc độ như: triết học thực dụng, triết học hiện sinh, học thuyết Freud, lí thuyết thông tin và điều khiển học. Đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau khi định nghĩa về giao tiếp, tùy theo phạm vi, lĩnh vực nghiên cứu của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Trong ngôn ngữ học, giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của một bộ môn còn khá mới mẻ là Ngữ dụng học. Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý đã đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [33; tr.101]. GS Diệp Quang Ban định nghĩa cụ thể hơn “Giao tiếp là một hiện tƣợng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó. Giao tiếp là một trong những đặc trƣng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể khác không phải là xã hội…” [4, tr.17]. Mặc dù, còn có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng trong luận văn này, chúng tôi theo quan niệm của GS Đỗ Hữu Châu - một quan niệm được xem là phản ánh những phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong cuốn giáo trình “Giản yếu về Ngữ dụng học”, Giáo sư đã viết: “Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ƣớc muốn, hành động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trƣờng hợp một ngƣời giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định và một tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định” [6; tr.8]. Giao tiếp, theo cách hiểu như vậy, đã khẳng định vai trò quan trọng đối với đời sống con người và cả xã hội loài người. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, là nhu cầu đặc trưng và sớm nhất ở con người. Như C.Mac đã nói Sự phát triển của một cá nhân đƣợc quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao lƣu một cách trực tiếp. 1.1.2. Giao tiếp bằng ngôn ngữ 1.1.2.1. Đặc điểm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được giải thích như sau: “Giao tiếp ngôn ngữ là việc thông báo hay truyền đạt một số nội dung trong tƣ duy bằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 ngôn ngữ. Giao tiếp ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài ngƣời. Việc truyền đạt thông báo đƣợc tiến hành qua những bƣớc liên tục. Quá trình này làm thành hệ thống giao tiếp, bao gồm các thành tố nguồn phát tin, nguồn nhận tin và mã. Muốn giao tiếp thực hiện đƣợc thì nguồn phát và nguồn nhận phải cùng sử dụng chung một mã hay ít nhất hai mã đƣợc sử dụng phải có phần tƣơng đƣơng với nhau. Ngoài ra trong giao tiếp cũng còn phải tính đến các yếu tố khác nhƣ tạp âm - đó là những trở ngại trong đƣờng truyền đạt thông báo - và phần dƣ thừa, tức là phần trùng lặp có thể bù đắp phần nào những mất mát thông tin do tạp âm gây ra trong đƣờng truyền tin…” (Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học) [33, tr.14]. Cụ thể, trong một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ có hai loại hành động: hành động tạo lập (hoặc sản sinh) lời nói (hành động phát tin); hành động tiếp nhận (hoặc lĩnh hội) lời nói (hành động nhận tin). Khi có nội dung D xuất hiện trong đầu, người phát tin tìm cách truyền nó đến người nhận. Vì nội dung D thuộc lĩnh vực tinh thần nên để truyền được nội dung ấy đến người nhận, người phát phải tìm cách vật chất hóa. Để vật chất hóa nội dung đó, người phát sử dụng ngôn ngữ. Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, quá trình chuyển nội dung D thuộc bình diện tinh thần sang nội dung D thuộc lĩnh vực ngôn ngữ được gọi là quá trình mã hóa ngôn ngữ. Đó cũng chính là quá trình sản sinh, tạo lập lời nói. Ngoài vốn sống có được qua việc học hỏi ở nhà trường và đời sống của bản thân, người phát cũng như người nhận cần có vốn ngôn ngữ nhất định. Vốn ngôn ngữ là những hiểu biết về ngôn ngữ nói chung cũng như những kĩ năng sử dụng vốn hiểu biết đó vào một tình huống giao tiếp cụ thể. Hiệu quả của lời nói phụ thuộc rất lớn vào chất lượng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của các nhân vật giao tiếp. Trong giao tiếp, vốn sống và vốn hiểu biết được thể hiện thông qua ngôn ngữ. Vốn ngôn ngữ càng phong phú Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 thì khả năng diễn đạt của người phát càng tinh tế và hiệu quả giao tiếp càng cao. Hiệu quả ấy tỉ lệ thuận với vốn ngôn ngữ của cả người phát lẫn người nhận. Khi một nội dung D được người phát truyền đi và người tiếp nhận lí giải, khôi phục lại được nội dung đó thì khi ấy một chu kì giao tiếp đã hoàn thành. Nếu người nhận lí giải đầy đủ và đổi vai thành người phát thì ta có hoạt động trao đáp mới. Đó là toàn bộ quá trình diễn ra hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể thực hiện theo những cách thức khác nhau: dùng ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người (nói miệng) hoặc dùng văn bản viết. 1.1.2.2. Tác phẩm văn học là một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ Nhà văn Gorki từng khẳng định Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học. Thơ là một thể loại của văn học. Không thể có thơ nếu không có ngôn ngữ. Nói cách khác, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất mà nếu như thiếu nó thì thơ không thể tồn tại. Trong thơ, phương thức biểu hiện có vai trò cực kì quan trọng. Ví dụ: Bây giờ mận mới hỏi đào Vƣờn hồng đã có lối vào hay chƣa? Mận hỏi thì đào xin thƣa Vƣờn hồng có lối nhƣng chƣa ai vào. (Ca dao) Nhìn vào mặt cấu trúc của văn bản, không có từ nào nói đến con người. Nhưng nội dung của văn bản lại chứa đựng thông tin về con người, thể hiện tình ý của con người. Cụ thể: 1 - Nói về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người. 2 - Nhân vật giao tiếp: chàng trai và cô gái đã đến tuổi thành niên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 3 - Mục đích: bày tỏ tình cảm. 4 - Nội dung: lời trò chuyện yêu đương giữa họ. Cách tỏ tình tế nhị của chàng trai và câu trả lời kín đáo của cô gái. Như vậy, ngôn ngữ sinh ra vốn để nói về đối tượng giờ đây lại trở thành công cụ để nhận thức đối tượng. Đó là quá trình biểu trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ. Muốn hoàn thành quá trình này, ngôn ngữ phải có khả năng biểu hiện. Ở mỗi một ngôn ngữ, dù quá trình này được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau (tùy vào tập quán, thói quen sử dụng ngôn ngữ, hình thức sinh hoạt văn hóa, xã hội…) nhưng vẫn có điểm chung là: khi giao tiếp, con người không chỉ có nhu cầu thông báo về đối tượng mà còn luôn có nhu cầu muốn biểu đạt tình cảm và bày tỏ sự đánh giá của mình về đối tượng. Tác phẩm văn học cũng là một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ - giao tiếp có tính nghệ thuật. Trong thơ mình, Tố Hữu luôn hướng tới đối thoại với độc giả, với nhân vật. Chính điều đó khiến thơ ông mang giọng điệu tâm tình, sâu lắng. Mỗi một bài thơ là một câu chuyện buồn, vui, yêu, ghét, tự hào, căm giận… Người viết như muốn nói với Bác, với mẹ cha, với anh chị em, với quê hương xứ sở… Có khi để nhắn gửi tới những người mẹ sớm hôm vất vả, hết lòng vì bộ đội, vì kháng chiến; có khi là lời kêu gọi thúc giục lên đường hay để diễn tả nỗi đau khi Bác mất… Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu Ra đi Bác dặn: Còn non nƣớc Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều. (Bác ơi! - 1969) Nhà thơ khiến người đọc thấy rằng: Bác mất đi nhưng sự nghiệp của Người vẫn còn sống mãi. Cho nên, khi Bác mất, ta chỉ thấy vắng Bác, xa Bác, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 như một lần Bác đi xa. Với cách diễn đạt như vậy, một mặt, nhà thơ nói được nỗi đau vô hạn khi Bác mất, nhưng mặt khác, nỗi đau khiến người ta không bi lụy mà vẫn có sự lạc quan, tin tưởng bởi Bác sẽ vẫn cùng chúng ta tiếp tục dựng xây sự nghiệp này. Bác đã lên đƣờng, nhẹ bƣớc tiên Mác-Lê nin thế giới Ngƣời Hiền Ánh hào quang đỏ thêm sông núi Dắt chúng con cùng nhau tiến lên! (Bác ơi - 1969) Như vậy, mỗi một tác phẩm văn học là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ. Qua đó, người đọc hiểu những điều mà tác giả muốn gửi gắm, muốn chia sẻ, tâm tình. 1.2. Hội thoại và tính hội thoại 1.2.1. Khái niệm hội thoại và đặc điểm của hội thoại 1.2.1.1. Khái niệm hội thoại Vấn đề hội thoại được đặc biệt quan tâm trong Ngữ dụng học. Nó là bộ phận chủ yếu của Ngữ dụng học vĩ mô. Theo Mey, Ngữ dụng học chia thành hai bộ phận: Ngữ dụng học vi mô và Ngữ dụng học vĩ mô (các vấn đề về lí thuyết hội thoại, siêu ngôn ngữ học và ngôn ngữ học xã hội). Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý định nghĩa: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, ở dạng nói, giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích đƣợc đặt ra…” [33; tr.122]). Theo GS Đỗ Hữu Châu “Hội thoại là hình thức giao tiếp thƣờng xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [5; tr.20]. Ở cuốn “Ngữ dụng học”, GS Nguyễn Đức Dân đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng và cụ thể hơn: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 phản hồi trở lại. Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi. Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó là hội thoại. Hoạt động giao tiếp phổ biến và căn bản nhất của con ngƣời là hội thoại…” [7; tr.76]. 1.2.1.2. Đặc điểm của hội thoại Theo GS Đỗ Hữu Châu [5; tr.76], một cuộc hội thoại có thể khác nhau ở những điểm như sau: Thứ nhất là đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra cuộc hội thoại. Thoại trường có thể là nơi công cộng hoặc riêng tư. Thứ hai là số lượng người tham gia. Có thể là từ hai đến số lượng lớn hơn. Thứ ba là cương vị và tư cách những người tham gia hội thoại. Thứ tƣ là các cuộc thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích. Thứ năm là các cuộc thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức. GS Nguyễn Đức Dân, trong cuốn “Ngữ dụng học” [7; tr.80], đã trình bày những đặc điểm khái quát của một cuộc thoại gồm: những đặc điểm nội tại và những đặc điểm bên ngoài. Những đặc điểm nội tại gồm: 1. Sự tương tác qua lại (nguyên tắc luân phiên lƣợt lời). 2. Sự liên kết (nguyên tắc liên kết hội thoại). 3. Tính mục đích. 4. Nguyên lí hội thoại (nguyên lí cộng tác và nguyên lí tế nhị). Những đặc điểm bên ngoài gồm: 1. Về số lượng người tham dự. 2. Về quan hệ giữa những người tham dự. 3. Về chu cảnh của những cuộc thoại (thời gian và không gian). Trong đó, tác giả cũng đưa ra những lưu ý về không gian hội thoại: sự có mặt của người đối thoại có tầm quan trọng đáng kể trong hội thoại. Theo quan điểm ngữ dụng, sự có mặt hiện thực hoặc tưởng tượng của người đối thoại là yếu tố cần thiết cho sự dùng ngôn ngữ được bình thường trong quá trình hội thoại. Có những câu hỏi, câu chào, câu gọi, câu cầu khiến; có những đại từ như: này, kia, như vậy… mà sự quy chiếu của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 chúng liên quan tới người nói, người nghe, ngữ cảnh, sự định hướng không gian… nghĩa là chúng chỉ được xác định khi đứng trong hoàn cảnh có mặt người đối thoại. Chúng ta sẽ thấy rõ những đặc điểm này trong thơ Tố Hữu. 1.2.2. Các hành vi ngôn ngữ trong hội thoại Người xây dựng nền móng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học người Anh, John L.Austin. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ còn gọi là lý thuyết hành động lời nói, nghiên cứu mối quan hệ giữa ký hiệu ngôn ngữ và việc dùng chúng vào mục đích giao tiếp. Austin thấy rằng, trong ngôn ngữ học truyền thống, cho tới thời điểm đó, các nhà logic và các nhà ngôn ngữ chỉ quan tâm tới những câu có thể đánh giá được là đúng hay sai về ngữ nghĩa xét theo tiêu chuẩn logic. Đó là những câu miêu tả, câu trần thuật, câu khẳng định, phủ định... Tuy nhiên, có khá nhiều câu về hình thức rất giống với các câu trần thuật nhưng lại không thể quy cho chúng theo tiêu chuẩn đúng hay sai. Làm sao có thể xác định được một lời chào, một lời gọi,... là có giá trị logic đúng hay sai? Điều quan trọng là phát ngôn đó được hình thành như thế nào? Người ta dùng với mục đích gì, nó có tác động ra sao? Theo lý thuyết của Austin những câu như: Ôi trời!. Tôi cuộc với anh là trận này Việt Nam sẽ thắng. Anh cho biết bây giờ là mấy giờ rồi? không nhằm trình bày một kết quả khảo nghiệm, một sự miêu tả về các sự vật, sự kiện, chúng không đưa ra những báo cáo về hiện thực mà nhằm làm một việc gì đó như việc bộc lộ cảm xúc, việc đánh cuộc, việc hỏi của người nói. Austin gọi những phát ngôn như vậy là những phát ngôn ngữ vi. Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi nói người ta đồng thời thực hiện luôn cái việc được biểu thị trong phát ngôn. Như khi chúng ta nói "Tôi cuộc với anh" tức là tôi đã "cuộc rồi". Hoặc khi đưa ra một phát ngôn "Tôi xin cam đoan những lời khai trên là đúng sự thật. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm", thì tôi đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 thực hiện ngay hành vi bảo đảm. Chính nhờ sự phân biệt trên, Austin phát hiện ra bản chất hành động của ngôn ngữ. Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc đọc) Sp2 trong ngữ cảnh. Theo Austin, có 3 loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn: hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời. Trong đó, hành vi tạo lời được hiểu là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu... để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành vi mƣợn lời là những hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Hành vi tại lời (HVTL) là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Có hàng loạt các hành vi ngôn ngữ khác nhau, nhưng theo Austin phân loại có 5 phạm trù, đó là: phán xét, hành sử, cam kết, trình bày, ứng xử. Theo các nhà nghiên cứu, bảng phân loại của Austin còn có những điều chưa thoả đáng. Ngay chính Austin cũng nhận thấy còn có chỗ chồng chéo, có chỗ còn mơ hồ không xác định được một cách rõ ràng. Trong bài "Sự phân loại các hành vi tại lời" năm 1977, Searle cũng phê bình cách phân loại của Austin. Searle cho rằng vì Austin không định ra các tiêu chí phân loại do đó kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau. Searle đã dùng 4 trong số 12 tiêu chí để phân loại 5 hành vi ngôn ngữ như sau:  Tái hiện: sau này Searle gọi là lớp khẳng định. Các HVTL của lớp này là: khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích... Những hành vi này chứa giá trị "đúng" hay "sai". Đích tại lời cũng như "sự ăn khớp" của chúng là phản ánh đúng thế giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17  Điều khiển (chi phối) gồm những HVTL như: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, thách thức, hỏi, cho phép...  Cam kết: Gồm những HVTL như: cam đoan, thề, hứa hẹn, cho, tặng, biếu...  Biểu cảm: Gồm những HVTL như: xin lỗi, chúc mừng, tán thưởng, cảm ơn, mong muốn, ruồng rẫy, biểu lộ tình cảm (vui thích/ khó chịu)...  Tuyên bố: Gồm những HVNN: tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ. Ngoài hai cách phân loại trên, còn có cách phân loại của D.Wunderlich, F.Recanati và của K.Bach và R.M.Harnise. Tuy nhiên, chúng tôi chọn cách phân loại của Searle là lý thuyết cơ bản để soi sáng cho thực tiễn khi nghiên cứu biểu hiện của các hành vi ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu. Trong thơ Tố Hữu cũng xuất hiện 5 hành vi ngôn ngữ kể trên. Cụ thể:  Lớp tái hiện (biểu hiện): Hành vi này trước đó được Searle gọi tên là xác tín. Đích ở lời là miêu tả lại một sự tình đang được nói đến. Các mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai logich. Ví dụ: - Chúng run lên, xông tới trói chặt Anh hơn Đôi môi anh đã khô cháy căm hờn: Phải chiến đấu nhƣ một ngƣời cộng sản Trái tim lớn không sợ gì súng đạn ! (Hãy nhớ lấy lời tôi - 1964)  Lớp điều khiển (chi phối): - Đích tại lời: Đặt người nghe vào sự thực hiện một hành động nào đó. Có thể là mệnh lệnh, yêu cầu... như: - Xé tan đồn nát xác chúng ra! - Giết, bắt sống, không mống nào đƣợc thoát! (Bắn! - 1948) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18 - Giặc trƣớc mặt phải xông mà giết Thù sau lƣng phải triệt chẳng tha (Quang vinh Tổ quốc chúng ta - 1955) - Đừng quên giấy quên kim Cho các em các chị (Bài ca lái xe đêm - 1965)  Lớp cam kết: Các hành vi ngôn ngữ thuộc lớp cam kết cũng xuất hiện trong thơ Tố Hữu. Đích tại lời của hành vi ngôn ngữ này là gán trách nhiệm vào người nói thực hiện một hành động nào đó. Có thể tìm thấy các phát ngôn dưới những hình thức như sau: - Dù ai chia núi ngăn sông Cũng không thể cắt đƣợc lòng Việt Nam. (Quang vinh Tổ quốc chúng ta - 1955) - Máu dù chảy hai miền thấm đỏ Nghìn đầu rơi xuống cỏ không lui. (Ba mươi năm đời ta có Đảng) - Ta sẽ khai những mỏ dầu, mỏ sắt Đóng những con tàu đi khắp đại dƣơng. (Bài ca xuân 71)  Lớp biểu cảm: Đích tại lời là biểu thị trạng thái tâm lý phù hợp với hành vi tại lời như: xin lỗi, chúc mừng, cảm ơn, mong muốn... Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong thơ Tố Hữu, các hành vi tại lời của lớp biểu cảm rất phong phú, đó cũng là phần quan trọng làm nên chất giọng tâm tình, gần gũi của thơ Tố Hữu. Những lời chúc mừng, cảm ơn, những biểu lộ tình cảm (vui thích/ khó chịu...) được Tố Hữu thể hiện hết sức chân thật. Có lẽ khoảng cách giữa tác giả với bạn đọc đã được xích lại gần hơn qua những lời tâm tình sâu lắng với đủ các cung bậc tâm trạng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -