Tài liệu Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 55 |
  • Lượt tải: 0
tranbon

Đã đăng 976 tài liệu

Mô tả:

Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời. Nền văn hóa nghìn năm của dân tộc ta đã được gìn giữ và thể hiện đậm nét qua hình ảnh các làng nghề truyền thống trên khắp đất nước. Hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) qua đó đã trở thành những vật thể hữu dụng kết tinh đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc và sự tài hoa của những con người Việt Nam cần cù, khéo léo. Đó cũng là những sứ giả độc đáo thay lời nhân dân Việt Nam giới thiệu về vẻ đẹp của con người và dân tộc mình rộng rãi đến toàn thế giới. Trong xu thế tất yếu của toàn cầu hóa và trong bước chuyển mình lớn lao của thời đại mới, với mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã từng bước vươn ra thế giới, đưa nhiều mặt hàng chất lượng cao của đất nước mình đến với người tiêu dùng quốc tế. Hàng TCMN Việt Nam, với những nét đặc sắc, tinh xảo, hoàn mỹ, được tạo nên từ bàn tay tài hoa của hàng vạn người lao động ở các làng nghề nổi tiếng, cũng theo xu thế chung đó mà trở thành mặt hàng kinh doanh mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp và là ngành hàng xuất khẩu nhiều tiềm năng, được ưa chuộng trên toàn thế giới. Hàng TCMN đã đóng góp thêm vào giá trị sản xuất công nghiệp của các địa phương, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Không những vậy, ngành sản xuất hàng TCMN với đặc tính sử dụng nhiều lao động thủ công đã tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, góp phần ổn định kinh tế và thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, giảm tệ nạn xã hội, duy trì và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đó làm cho ngành sản xuất này trở thành lĩnh vực kinh doanh không những có ý nghĩa kinh tế hiệu quả mà còn đảm bảo ý nghĩa xã hội đáng trân trọng. Chính vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN sẽ mang lại lợi ích to lớn về cả kinh tế và văn hóa - xã hội cho đất nước, đảm bảo sự phát triển đồng đều và ổn định, đồng thời tiếp thêm sức tồn tại lớn mạnh, vững bền cho các làng nghề truyền thống, tạo tiền đề giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trên thế giới. Tuy vậy, bên cạnh việc được coi là nhóm hàng hứa hẹn mang lại giá trị xuất khẩu to lớn, có tỉ lệ thực thu sau xuất khẩu rất cao do sử dụng đến 95% nguyên liệu sẵn có và rẻ tiền trong nước, hàng TCMN Việt Nam vẫn chưa tận dụng tốt -1- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay nhất những tiềm năng và lợi thế mà nó có được. Mức độ phát triển của ngành hàng này vẫn còn nhiều hạn chế so với tiềm lực của nó, khi doanh thu xuất khẩu những năm gần đây dù có tăng trưởng nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu đề ra, các mặt hàng TCMN còn bộc lộ nhiều điểm yếu và lượng xuất khẩu còn thiếu ổn định. Điều đó cho thấy ngành sản xuất hàng TCMN cần được quan tâm phát triển đúng hướng và đầu tư lâu dài để nâng cao chất lượng hàng hóa, ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào và củng cố thị trường đầu ra cho sản phẩm. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái như hiện nay, thì việc đưa ra những giải pháp cần thiết, kịp thời và hiệu quả để phát triển nhóm hàng này càng trở nên quan trọng và cần được quan tâm đặc biệt hơn. Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho chuyên đề kinh tế của mình là: “Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay”, nhằm tìm hiểu thực trạng xuất khẩu hàng TCMN ở nước ta trong những năm gần đây, qua đó phân tích đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn của việc xuất khẩu hàng TCMN ra thị trường thế giới và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh và năng lực xuất khẩu của hàng TCMN Việt Nam. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1. Mục tiêu chung Tìm hiểu tình hình xuất khẩu hàng TCMN ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu thực trạng sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN ở Việt Nam những năm gần đây (2009, 2010). - Đánh giá những cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng TCMN. - Đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển xuất khẩu hàng TCMN. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Phạm vi không gian Phạm vi không gian ở Việt Nam. 3.2. Phạm vi thời gian Số liệu sử dụng cho đề tài là số liệu thu thập của các năm 2009, 2010 và nửa đầu năm 2011. -2- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay 3.3. Phạm vi nội dung Phân tích tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời tìm hiểu những cơ hội, thách thức và đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định việc xuất khẩu hàng TCMN ra thị trường thế giới. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp được thu thập từ Internet, báo chí, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Hiệp hội TCMN Việt Nam, Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. 4.2 Phương pháp phân tích số liệu Tổng hợp các số liệu, so sánh các số liệu tương đối, số liệu tuyệt đối thu thập được để đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam sang thị trường thế giới. -3- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1.1. Hàng thủ công mỹ nghệ Mặt hàng TCMN là mặt hàng có quy trình sản xuất thủ công là chủ yếu, được truyền từ đời này qua đời khác, vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ và thể hiện được nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. 1.1.2. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống 1.1.2.1. Nghề thủ công truyền thống Có rất nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề thủ công truyền thống ở nước ta như: Nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề phụ, ngành tiểu thủ công nghiệp… Theo Từ điển bách khoa Encarta: “Nghề thủ công (handicrafts) là nghề sản xuất hoàn toàn hay một phần bằng tay những vật dụng trang trí hay tiêu dùng, việc sản xuất đòi hỏi kỹ năng tay chân và cả kỹ năng nghệ thuật.” Đối với mỗi nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu tố sau đây: 1. Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta; 2. Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề; 3. Có nhiều nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề; 4. Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; 5. Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn, hoặc chủ yếu nhất; 6. Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam; 7. Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng. Có đóng góp đáng kể về kinh tế vào ngân sách Nhà nước. -4- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay 1.1.2.2. Làng nghề thủ công truyền thống Làng nghề là thực thể vật chất và tinh thần tồn tại cố định của một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống. Vì thế, mỗi nghề truyền thống đều được bảo tồn, hoạt động, phát triển ở một làng nghề, một cụm làng nghề hay ở nhiều làng nghề, vùng nghề trong cả nước, do tính lan tỏa và sức sống mãnh liệt của nghề thủ công lâu đời ở nước ta cũng như bất cứ dân tộc nào khác ở phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan…) Ở nông thôn Việt Nam, bên cạnh những làng nông nghiệp, có các làng có hoạt động nổi bật về một nghề thủ công nào đó và được gọi là làng nghề hay làng nghề thủ công. Làng nghề thủ công truyền thống được xác định bằng các yếu tố sau:  Cộng đồng nghề nghiệp là những người thợ, các hộ, các cơ sở cùng tham gia vào một nghề.  Nghề có thao tác chủ yếu hay một phần bằng tay.  Địa bàn không có ranh giới rạch ròi, có thể trùng cũng có thể không trùng với ranh giới hành chính, có thể chỉ nằm trên một phần của một đơn vị hành chính, hoặc trải rộng qua nhiều đơn vị hành chính khác nhau.  Thời gian: Nghề được truyền nối trong một thời gian khá dài, việc truyền nối ấy có thể xảy ra bên ngoài, nhưng đã được quy tụ trên địa bàn và đã trải qua vài ba thế hệ thợ. 1.2. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 1.2.1. Giới thiệu chung về nghề truyền thống hàng thủ công mỹ nghệ Nghề TCMN Việt Nam vốn được hình thành từ lâu đời. Truyền thống ấy gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ công được sản xuất và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Sản phẩm TCMN Việt Nam có bản sắc riêng, linh hồn riêng và gây ấn tượng sâu đậm tới mức tên của sản phẩm luôn kèm theo tên làng làm ra nó. Ở đó không chỉ tập trung một hay nhiều nghề thủ công như một trung tâm sản xuất vừa và lớn, mà còn là nơi hội tụ những người thợ thủ công và nghệ nhân tài hoa. -5- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay Lịch sử phát triển nền văn hoá và kinh tế của đất nước ta luôn gắn liền với lịch sử phát triển làng nghề. Bởi những sản phẩm TCMN không chỉ là những vật phẩm văn hoá hay vật phẩm kinh tế thuần tuý cho sinh hoạt thường ngày mà còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hoá xã hội, trình độ phát triển kinh tế, dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc. Trước khi có nền sản xuất cơ khí hoá và hiện đại hoá, kể cả tự động hoá như hiện nay, thì mọi sản phẩm trong xã hội đều được làm ra bởi một nền công nghệ duy nhất, đó là công nghệ truyền thống với bàn tay và khối óc sáng tạo của các thế hệ thợ thủ công cùng việc sử dụng các loại công cụ sản xuất thô sơ. Nói khác đi, mọi giá trị vật phẩm vật chất và tinh thần trong các thời kỳ lịch sử – xã hội lúc đó của dân tộc ta, cũng như các dân tộc khác trên thế giới, đều là sản phẩm thủ công, đều hội tụ ở các sản phẩm thủ công. Ngay cả ở thời hiện đại, khi máy móc đã thay thế phần lớn sức lao động của con người, nền sản xuất và sản phẩm thủ công cũng không mất đi. Với sự giúp đỡ của máy móc và thiết bị hiện đại, công nghệ truyền thống sẽ được hiện đại hoá, nền sản xuất thủ công thủ công truyền thống càng phát triển thuận lợi và mạnh mẽ hơn. Hàng TCMN Việt Nam vẫn tồn tại và bước vào đời sống thường nhật một cách giản dị, tự nhiên, dần phát triển muôn hình vạn dạng, bắt kịp với nhịp sống ngày một cao, như một thứ gia vị không thể thiếu làm tăng thêm sắc màu cho cuộc sống hiện đại ngày nay. 1.2.2. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Các mặt hàng TCMN của Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng. Có thể kể đến, đó là: hàng gốm sứ, hàng đúc đồng, hàng mây tre đan, hàng thêu ren, hàng thổ cẩm, hàng gỗ, hàng sơn mài, hàng kim hoàn, hàng rèn, hàng đá và một số hàng nổi tiếng như nón, tranh dân gian, giấy dó ở các làng nghề truyền thống… Dưới bàn tay khéo léo và khối óc tài hoa của những người thợ thủ công, từ các nguyên liệu thô sơ, họ đã tạo ra biết bao thành phẩm không những có giá trị về kinh tế mà có giá trị về nghệ thuật, có sức thu hút lớn không chỉ với người tiêu dùng Việt Nam mà còn được người tiêu dùng nhiều nước ưa chuộng. 1.2.3. Tình hình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ những năm gần đây 1.2.3.1. Cơ cấu chủ thể sản xuất Xét về chủ thể sản xuất, hiện nay phần lớn các cơ sở sản xuất ở các làng nghề truyền thống vẫn là các hộ gia đình, chiếm tới 90% số lượng các cơ sở sản -6- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay xuất ở các làng nghề. Tỷ lệ khiêm tốn của các doanh nghiệp cho thấy sự phát triển về trình độ quản lý kinh tế còn chậm ở các làng nghề. Trên thực tế, có nhiều hộ gia đình hoàn toàn có khả năng phát triển thành công ty nhưng do trình độ nhận thức chưa cao và chưa có nhu cầu nên họ vẫn chỉ dừng ở mức hộ gia đình. Điều này là do đặc thù sản xuất làng nghề là các thao tác công nghệ còn đơn giản, tận dụng sức lao động thủ công là chính, không đòi hỏi vốn nhiều với mô hình quản lý phức hợp. Cho đến nay vẫn chưa có nhà đầu tư nước ngoài nào tham gia đầu tư vào lĩnh vực sản xuất của các làng nghề. Một đặc điểm của các doanh nghiệp làng nghề là hầu hết giám đốc là người địa phương, có trình độ văn hóa, có tay nghề, nắm bắt được tình hình phát triển hàng hóa địa phương mình, có sự nhanh nhạy về đánh giá, nắm bắt thị trường. Chính vì thế, tuy chiếm tỉ trọng nhỏ về số lượng, nhưng các doanh nghiệp làng nghề đóng góp một tỉ lệ đáng kể trong tổng giá trị sản xuất và tỉ trọng này có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây. Theo Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, trong các thành phần kinh tế ở làng nghề Hà Nội hiện nay, Hộ cá thể chiếm tỉ trọng đáng kể với trên 90% các chủ thể sản xuất, sau đó là các Doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn (hơn 2%), còn lại là Tổ hợp tác sản xuất, Hợp tác xã và Công ty cổ phần chiếm tỉ trọng không đáng kể. 1.2.3.2. Quy mô sản xuất Có thể nhận thấy, sản xuất của các làng nghề vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, quy mô vốn không nhiều, tập trung ở các làng nghề có quy trình sản xuất không đòi hỏi đầu tư nhiều như mây tre, thêu … Bên cạnh đó cũng có một số làng nghề có các hộ gia đình đầu tư với số vốn tương đối lớn, tập trung ở các nghề gốm sứ, đồ gỗ… Tuy nhiên, ngay cả những gia đình này cũng khó so sánh được về quy mô vốn so với các cơ sở sản xuất trong các lĩnh vực khác. Bản thân các hộ gia đình cũng không nhận thấy sự cần thiết phải tập trung sản xuất với các hộ gia đình khác để hình thành những cơ sở sản xuất quy mô lớn hơn. Lý do thường là các hộ gia đình sợ bị đánh cắp mẫu mã, bí quyết kỹ thuật khi sản xuất tập trung. Điều này cũng đặt ra nhiệm vụ phải xây dựng và bảo hộ thương hiệu đối với các sản phẩm TCMN. -7- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay 1.2.3.3. Phương thức sản xuất Hiện nay, việc tổ chức sản xuất tại làng nghề đang có xu hướng chuyển sang mô hình tổ chức sản xuất theo kiểu phân công chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất theo giai đoạn công nghệ và theo chi tiết sản phẩm của nền sản xuất lớn cơ giới hóa. Tuy nhiên trong lĩnh vực này giữa các làng nghề cũng có một số nét khác biệt phụ thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của mặt hàng được sản xuất ra. Mặc dù phương thức tổ chức sản xuất của các làng nghề tuy có đặc điểm khác nhau nhưng có một số nét chung là: - Đã hình thành nhiều dây chuyền sản xuất chính phát triển song song để cùng sản xuất những mặt hàng tương tự và hoạt động theo phương thức tự sản tự tiêu. - Trên những dây chuyền đó đã hình thành sự phân công chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất theo giai đoạn công nghệ và theo chi tiết sản phẩm. Chính các tổ chức sản xuất đó đã tạo điều kiện chuyển sản xuất tại làng nghề lên trình độ cơ khí hóa, điện khí hóa. - Vì phát triển trên cơ sở hộ gia đình nên trên từng dây chuyền sản xuất đã có sự hợp tác, liên kết các hộ gia đình theo mô hình tổ chức gia công công nghiệp với các hộ vệ tinh và hộ đầu mối. - Cũng vì phát triển trên cơ sở hộ gia đình nên tiềm lực của từng hộ tuy cho phép thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa sản xuất từng công đoạn nhưng cũng vì tiềm lực đó có hạn nên trình độ công nghệ được ứng dụng còn thấp so với các nước trong khu vực nên có thể bị cạnh tranh khi thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế. Đây cũng là nhược điểm cần chú ý tìm giải pháp khắc phục. 1.2.4. Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ những năm gần đây Sản phẩm TCMN là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam, và được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn. 1.2.4.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh trong 10 năm gần đây. Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN tăng từ 274 triệu USD đến 880 triệu USD. -8- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2008 đã ảnh hưởng đáng kể đến doanh thu và tốc độ tăng trưởng của ngành hàng làm kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này có sự chững lại vào năm 2009. Giai đoạn từ cuối 2009, đầu 2010, ngành TCMN, đồ gỗ, đồ gia dụng và quà tặng đã phục hồi trở lại, với nhiều cơ hội tăng trưởng hơn. Doanh thu ngành hàng TCMN đạt trên 1 tỷ USD năm 2010, và thường có mức tăng trung bình khoảng 13- 15%/ năm. Ngành hàng TCMN đã giúp tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu lao động ở các làng nghề trên cả nước, đem lại nguồn thu nhập đáng kể và ổn định, đem lại nguồn thu ngoại tệ, trong khi sử dụng nguyên liệu chính là ở trong nước, nâng cao tỷ suất hiệu quả. Tám tháng đầu năm 2010, một số mặt hàng như mây, tre, đan xuất khẩu đạt 135 triệu USD, gốm sứ hơn 200 triệu USD. Trong 8 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng TCMN từ mây, tre, cói thảm của cả nước đạt 128,6 triệu đô la Mỹ, giảm 36,32% so cùng kỳ năm 2010, theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng Cục Hải quan. Riêng kim ngạch trong tháng 8 là 16,7 triệu đô la Mỹ, giảm 8,59% so cùng kỳ. Nguyên nhân là do kinh tế toàn cầu vẫn còn trong tình trạng suy thoái, những mặt hàng TCMN trang trí lại không phải là mặt hàng thiết yếu trong danh mục tiêu dùng của người dân nên bị giảm trừ trong mua sắm. -9- Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay Bảng 1. KIM NGẠCH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MÂY, TRE, CÓI THẢM NĂM 2009 VÀ 2010 ĐVT: USD KMXK 2010 KNXK 2009 Tăng giảm KN năm 2010 so năm 2009 (%) Tổng KN 203.109.346 178.712.078 13,65 Hoa Kỳ 33.820.915 24.460.190 38,27 Nhật Bản 28.898.182 26.227.912 10,18 Đức 27.178.977 29.268.429 (7,14) Pháp 10.034.189 7.997.754 25,46 Ôxtrâylia 9.618.422 6.748.072 42,54 Hà Lan 8.640.430 5.145.150 67,93 Đài Loan 8.127.220 8.483.463 (4,20) Anh 6.611.794 5.484.482 20,55 Italia 6.541.492 7.403.216 (11,64) Bỉ 6.034.618 5.206.632 15,90 Tây Ban Nha 5.940.072 7.701.257 (22,87) Hàn Quốc 5.305.466 4.570.881 16,07 Nga 4.642.359 4.513.080 2,86 Ba Lan 3.715.938 3.989.739 (6,86) Canada 2.550.047 2.332.703 9,32 Thuỵ Điển 2.098.637 2.603.815 (19,40) Đan Mạch 1.749.071 1.501.643 16,48 Nguồn: Tổng Cục Hải quan Nhiều thị trường xuất khẩu chính của mặt hàng TCMN đang bắt đầu suy giảm. Theo Tổng Cục Hải quan, xuất khẩu nhóm mặt hàng TCMN tại thị trường Mỹ chiếm 15,7% tỷ trọng trong 8 tháng đầu năm với 20,3 triệu USD, giảm 3,18% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 8, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 2,8 triệu USD, giảm 11,04% so với tháng 8-2010. Sau Mỹ là thị trường Nhật Bản với kim ngạch xuất khẩu trong tháng 8 đạt 2,2 triệu USD, giảm - 10 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay 12,1% so với tháng 8-2010. Tính chung 8 tháng đầu năm 2011, Nhật Bản đã nhập khẩu 17,9 triệu USD mây, tre, cói thảm từ Việt Nam, giảm 15,58% so với cùng kỳ năm 2010. 1.2.4.2. Cơ cấu mặt hàng Hàng TCMN của nước ta thâm nhập vào các thị trường với nhiều loại mặt hàng khác nhau nhưng trong đó tập trung chủ yếu vào 5 nhóm mặt hàng chính là: Gốm sứ mỹ nghệ, Đồ gỗ mỹ nghệ, Mây, tre đan, Thêu ren và Thảm len. Từ năm 1999 đến nay kim ngạch xuất khẩu của các nhóm hàng này ổn định và tăng lên không ngừng. CƠ CẤU MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU Các loại khác, 24% Gốm sứ mỹ nghệ , 43% Thảm len, 4% Thêu ren, 4% Mây, tre đan, 14% Đồ gỗ mỹ nghệ, 11% Nguồn: Tổng cục Hải quan (2000 - 2009) Qua biểu đồ trên ta thấy kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam chủ yếu là do xuất khẩu hàng gốm sứ đem lại. Nghề gốm sứ vốn là truyền thống lâu đời của Việt Nam, do vậy lợi thế phát triển mặt hàng này rất dồi dào. Tuy nhiên chi phí đầu tư ban đầu cho việc sản xuất mặt hàng này khá lớn nên các thành phần kinh tế tư nhân, hộ gia đình khó có thể đáp ứng được. Đồ gỗ mỹ nghệ cũng là mặt hàng đang được ưa chuộng hiện nay. Mặt hàng này có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai vì các doanh nghiệp Việt Nam - 11 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay đã dần tiếp cận thị trường EU một cách hiệu quả bằng cách thiết lập các của hàng giới thiệu sản phẩm tại nước sở tại để bán trực tiếp không qua trung gian. Bên cạnh đó, hàng mây tre đan cũng đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của nước ta. Trong tháng 3/2011 xuất khẩu mặt hàng mây tre đan đạt 20 triệu USD, tính chung cả quý I đạt 50 triệu USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2010. Ngoài ra, còn có một số mặt hàng khác đem lại kim ngạch xuất khẩu cho ngành TCMN Việt Nam, trong đó phải kể đến mặt hàng thổ cẩm rất có triển vọng. Mặt hàng này chủ yếu xuất khẩu tại chỗ tại các cơ sở sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động du lịch. 1.2.4.3. Cơ cấu thị trường Cơ cấu thị trường hàng TCMN xuất khẩu có chiều hướng phát triển tốt, theo hướng đa dạng hóa, mở rộng được nhiều thị trường mới. Hiện nay hàng TCMN nước ta đã có mặt ở 163 nước, trong đó tập trung vào 15 nước và vùng lãnh thổ. Trong đó có thể thấy Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Canada là các thị trường lớn và nhiều tiềm năng. a) Thị trường EU Sản phẩm TCMN Việt Nam hiện nay đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới với tốc độ tăng trưởng 17,87%/năm. Theo Bộ Thương mại, thị trường rộng lớn nhất và có nhiều tiềm năng nhất trong xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam là EU. Sản phẩm TCMN của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này tăng lên rất nhanh trong những năm qua và hiện đang chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đây cũng là thị trường ta xuất khẩu được nhiều loại hàng TCMN (khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu TCMN của Việt Nam) và có triển vọng mở rộng và đẩy mạnh tiêu thụ một số mặt hàng mà ta có khả năng phát triển. Đồ gỗ mỹ nghệ, gỗ chế biến, hàng gốm, sứ mỹ nghệ là nhóm hàng đang được ưa chuộng và tiêu thụ mạnh ở thị trường này, trong đó xuất khẩu chính là mặt hàng gỗ. Bên cạnh đó, thông qua Hội chợ Frankfurt hàng năm tại Đức, các doanh nghiệp Việt Nam đã thành công trong việc nắm bắt nhu cầu khách hàng, kí được nhiều hợp đồng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ. Các mặt hàng như mây, tre, lá đan, sản phẩm bàn ghế, nội thất bằng nguyên liệu song mây, hàng thêu ren,… cũng được thị trường EU ưa chuộng. Việt Nam hiện đang thực hiện xuất - 12 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay khẩu với khối lượng đáng kể các mặt hàng mây tre sang Tây Âu; thảm cói, đệm cói sang Hà Lan, Tây Ban Nha, Italy…; hàng thêu ren, thảm dệt sang Pháp, Italy, Thụy Sỹ, Áo, Đức… b) Thị trường Hoa Kỳ Theo thống kê, những năm gần đây, Hoa Kỳ có nhu cầu nhập khẩu khoảng 13 tỷ USD/năm hàngTCMN. Tuy nhiên, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam vào Hoa Kỳ mới chỉ ở mức rất khiêm tốn. Riêng các mặt hàng mây, tre, cói thảm , sơn mài, Hoa Kỳ là thị trường có kim ngạch nhập khẩu cao nhất. Tháng 12/2010, Việt Nam đã xuất khẩu 3,9 triệu USD hàng mây, tre, cói, thảm sang Hoa Kỳ, tăng 19,30% so với tháng liền kề trước đó, nâng kim ngạch năm 2010 mặt hàng này sang Hoa Kỳ lên 33,8 triệu, chiếm 16,6% trong tổng kim ngạch mặt hàng, tăng 38,27% so với năm 2009. Người Mỹ rất ưa chuộng các loại hàng TCMN, nhưng do giá nhân công tại nước này cao nên hầu hết các hàng hoá tiêu dùng là hàng nhập khẩu, hoặc gia công ở nước ngoài theo mẫu mã thiết kế và đầu tư của các công ty Mỹ, sau đó nhập khẩu trở lại Hoa Kỳ. Các mặt hàng TCMN của Việt Nam như gốm ngoài vườn và gốm trang trí trong nhà, mây tre, thêu... là những mặt hàng mà thị trường Hoa Kỳ có nhu cầu lớn và Việt Nam có khả năng cạnh tranh tốt. Tương tự như vậy, ngành hàng trang trí nội thất của Hoa Kỳ cũng hứa hẹn là một thị trường đầy tiềm năng với Việt Nam. Với dân số 300 triệu người, Mỹ trở thành một trong những thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới. c) Thị trường Nhật Bản Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn của hàng TCMN Việt Nam, luôn chiếm từ 10-29% tổng kim ngạch xuất khẩu TCMN của nước ta từ năm 1997 đến nay. Việc xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam đi Nhật Bản tuy biến động thất thường nhưng nhìn chung có chiều hướng phát triển khá tốt. Trong số các mặt hàng TCMN của Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản thì gốm sứ, đồ gỗ nội thất và mây tre đan là các mặt hàng chính. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này chiếm từ 50-85% tổng kim ngạch xuất khẩu TCMN hàng năm của Việt Nam vào Nhật. - 13 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay Nhu cầu của người Nhật về TCMN rất đa dạng, thay đổi nhanh theo mùa. Vòng đời của một sản phẩm rất ngắn nên đòi hỏi các nước xuất khẩu phải rất nhanh nhạy mới có thể đáp ứng những yêu cầu đó. Tuy nhiên, hàng TCMN của Việt Nam có khả năng cạnh tranh về giá do hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam được sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có trong nước, cơ sở sản xuất được bố trí gần nguồn nguyên liệu. Nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu phụ cho sản xuất khá nhỏ. Nguồn lao động cho sản xuất mặt hàng này khá dồi dào, và chi phí lao động thấp. Vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh nhìn chung không lớn. Những vấn đề lớn đang đặt ra trong xuất khẩu hàng TCMN sang Nhật Bản: Trong những năm vừa qua, xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam vào Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu chung sang thị trường này. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt được chỉ tiêu đề ra cho việc xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường Nhật Bản. Tỷ trọng hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam tại thị trường Nhật Bản nói chung còn nhỏ bé so với tiềm năng thực tế. Nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản về hàng TCMN của các nước châu Á ngày một tăng, trong đó có TCMN của Việt Nam do đáp ứng được một số yêu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản. Luật lệ, thủ tục nhập khẩu của Nhật Bản rất rườm rà phức tạp và ngày càng cao, do đó các doanh nghiệp cần phải có chiến lược nhằm đáp ứng những yêu cầu này. Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp vẫn làm việc theo kiểu phi vụ hợp đồng theo chuyến hàng nên tính ổn định trong xuất khẩu thấp. Khả năng cạnh tranh của hàng TCMN của Việt Nam còn thấp hơn các nước trong khu vực như Trung Quốc, Philippin, Đài Loan… do chất lượng hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường còn yếu. - 14 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ HIỆN NAY 2.1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 2.1.1. Nguồn nguyên liệu Mặt hàng TCMN sử dụng nguồn nguyên liệu chính là nguyên liệu trong nước, đa phần được lấy từ thiên nhiên và khá sẵn có. Đó là các nguyên liệu như: mây, tre, nứa, lá, giang, bông, gỗ, đay, cói, dừa, vỏ ốc, vỏ trứng... Đây là một trong những thuận lợi lớn vì những nguyên liệu này thường sẵn có trong tự nhiên hoặc có thể trồng khá dễ dàng ở các vùng nông thôn. Tuy nhiên, do sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch nên các nguồn nguyên liệu này cũng đã dần dần bị giảm cả về số lượng và chất lượng. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay TCMN phải nhập khẩu khoảng 50% nguyên liệu sản xuất. Nguyên nhân chính là do thiếu đầu tư, quy hoạch vùng nguyên liệu cùng với tình trạng khai thác bừa bãi của người dân nên dẫn đến cạn kiệt nguồn nguyên liệu. Khi bước sang cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp đã gặp phải không ít khó khăn khi vẫn áp dụng lối làm ăn cũ theo kiểu “có gì bán nấy”. Giờ đây, trước nhu cầu vô cùng đa dạng của thị trường thế giới, doanh nghiệp không chỉ sản xuất những mặt hàng chỉ sử dụng những nguồn nguyên liệu trong nước mà còn phải nhập về một số nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ cho xuất khẩu. Điều này cũng gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp khi nguồn nguyên liệu phải phụ thuộc vào nước ngoài. 2.1.2. Nguồn vốn Nhìn chung, các cơ sở sản xuất hàng TCMN đa số là quy mô vừa, nhỏ và thiếu vốn. Những mặt hàng khác nhau sẽ yêu cầu đòi hỏi vốn đầu tư khác nhau. Những mặt hàng cần nhiều vốn chủ yếu là gốm sứ, sơn mài, mĩ nghệ vì phải đầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để làm ra các sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế. Các khâu sản xuất còn thủ công, nhiều khi tạo ra sản phẩm thô, mộc nên chất lượng sẽ không đảm bảo khi sản xuất đại trà. Nếu như muốn sản - 15 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay xuất với quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao vào các khâu sản xuất sơ chế, mở rộng nhà xưởng, tuyển thêm nhân công thì nguồn vốn cho đầu tư sản xuất là vô cùng cấp thiết. Mặc dù có nhiều thuận lợi về cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp ở các khu vực nông thôn và cho người nghèo, nhưng nguồn tài chính lại không dành cho cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất và xuất khẩu lớn về hàng thủ công mỹ nghệ, do đó dẫn đến hạn chế các nguồn tài chính của họ. Các nhà xuất khẩu hàng thủ công thường thiếu vốn do việc làm thủ tục vay vốn ngắn hạn mất quá nhiều thời gian trong khi số tiền vay được lại ít hơn nhiều so với nhu cầu, hơn nữa, doanh nghiệp rất khó đáp ứng được những điều kiện bảo đảm thế chấp. Do đó, việc xây dựng các kế hoạch tài chính phù hợp cho các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công là rất cần thiết. 2.1.3. Chất lượng sản phẩm Chất lượng của sản phẩm thủ công phụ thuộc vào chất lượng của nguyên liệu thô, kỹ thuật sản xuất cũng như nỗ lực trong công tác quản lý và cải tiến. Chất lượng không đảm bảo là do trang thiết bị không phù hợp, đặc biệt là ở các khâu xử lý và hoàn thiện và cũng do chưa có được các tiêu chí về chất lượng và các cơ quan quy định việc thực hiện các hoạt động kiểm tra. Theo một ngữ cảnh khác thì “sản phẩm dành cho thị trường cao cấp là thực sự không phổ biến ở Việt Nam”. Các nhân tố chủ yếu mang lại thành công khi đó chính là nâng cao chất lượng và sự tiêu chuẩn hoá. Nhìn chung, khách hàng của Việt Nam (các nhà nhập khẩu quốc tế) cho rằng có sự tương quan tốt giữa giá cả/chất lượng của sản phẩm ở cấp trung bình và cấp thấp của Việt Nam. Những sự phàn nàn xoay quanh vấn đề chất lượng kém, sản phẩm mới ở mức tầm tầm, cả các nhà nhập khẩu và xuất khẩu đều không đề cập đến những vấn đề lớn hơn. 2.1.4. Nhu cầu thị trường Trong những năm qua, ngành xuất khẩu hàng TCMN đã tạo được nhiều thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Đài Loan, Bắc Mỹ. Ngoài ra, Nga, Đông Âu… cũng được coi là những thị trường tiềm năng lớn của Việt Nam. Hàng TCMN của Việt Nam đến nay đã có mặt tại hơn 50 nước và lãnh thổ ở khắp các châu lục của thế giới . Thị trường xuất khẩu loại hàng này trong mấy chục năm qua có - 16 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay những giai đoạn thăng trầm, nhưng nhìn chung những năm gần đây có chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại hàng hoá mới và mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ thị trường với các nước trên thế giới .Tuy nhiên, trong xuất khẩu những loại hàng hoá này, chúng ta phải đương đầu với một số đối thủ cạnh tranh có nhiều tiềm năng và kinh nghiệm như Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan. Mặc dù thị trường rộng như vậy nhưng Việt Nam chưa xuất khẩu được nhiều vào các thị trường có nhu cầu và dung lượng lớn. Cái khó là phải làm sao tiếp cận với thị trường mới và tranh thủ mọi cơ hội để khai thác sâu thêm các thị trường có nhu cầu lớn và thường xuyên. 2.1.5. Đối thủ cạnh tranh Hiện tại hàng TCMN của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng TCMN của Trung Quốc, Thái Lan, Singapore … Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hàng TCMN của Việt Nam có nhiều lợi thế hơn nhờ độ tinh xảo và khéo léo thể hiện trên từng đường nét sản phẩm. Hơn nữa nhiều mặt hàng của ta vượt trội về chất lượng cũng như mẫu mã. Song để nâng cao sức cạnh tranh cần có những sản phẩm đặc trưng, đa dạng hơn về mẫu mã, kiểu dáng. Bên cạnh việc phát huy những lợi thế của những sản phẩm làm bằng tay có độ tinh xảo cao, cần đầu tư các phương tiện thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại để tạo nên những sản phẩm có chất lượng đồng đều và ổn định. Một kinh nghiệm từ các nhà sản xuất Trung Quốc là để đưa ra được nhiều sản phẩm của mình vào thị trường Nhật Bản là họ đã mời các chuyên gia Nhật sang tư vấn và tham gia điều hành sản xuất để sản phẩm làm ra phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Nhật Bản. 2.1.6. Các chính sách của Nhà nước Trong thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, Ngành và địa phương đã triển khai một số chương trình như sau: - Đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề: Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư, từ năm 2002 đến năm 2007 đã đầu tư 440 tỷ đồng cho 42 tỉnh; hỗ trợ cho 200 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 2.200 tỷ đồng. Trong đó, thực hiện đến tháng 7/2007 là 218,5 tỉ đồng (Ngân sách Nhà nước: 126,8 tỉ đồng; huy động đóng góp: 92 tỉ đồng). Các dự án đầu tư bước đầu mang lại hiệu quả nhất định trong việc tập trung cải - 17 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay thiện cơ sở hạ tầng làng nghề, làng nghề truyền thống để triển khai thực hiện xử lý tốt hơn về vấn đề môi trường, đảm bảo phát triển sản xuất theo hướng hiệu quả và bền vững. - Phát triển làng nghề gắn với du lịch: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch lấy chiến lược phát triển du lịch ở làng nghề đặt vào vị trí hàng đầu trong phát triển ngành du lịch. Đồng thời chính quyền các địa phương cũng đã đưa ra được các biện pháp tương ứng để phát triển ngành du lịch ở làng nghề thủ công, thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. - Đối với đào tạo nghề truyền thống: Tính đến tháng 7/2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã bố trí 26,5 tỉ đồng để đào tạo 37.467 người và phần lớn được bố trí sắp xếp. Về chính sách hỗ trợ dạy nghề, năm 2006 đã dạy nghề cho khoảng 1,34 triệu người. Kinh phí thực hiện năm 2006 là 141,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 92 tỷ đồng; ngân sách địa phương là 49,57 tỷ đồng. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước lĩnh vực ngành nghề nông thôn trong đó có ngành TCMN. Với chức năng, nhiệm vụ được giao Bộ NN&PTNT đã xây dựng Đề án Phát triển ngành nghề nông thôn đến 2010, đang tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2015 và năm 2020; Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề giai đoạn 2008 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020; quy hoạch phát triển các nghề gắn với vùng nguyên liệu. Bên cạnh đó, hàng năm Bộ NN&PTNT phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan tổ chức Hội chợ triển lãm làng nghề Việt Nam, Hội thi sản phẩm thủ công nhằm tôn vinh các nghệ nhân, thợ thủ công, hàng thủ công mỹ nghệ và hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh quảng bá, giới thiệu sản phẩm làng nghề với doanh nghiệp, khách trong và ngoài nước. Từ khi thực hiện chủ trương, chính sách về phát triển ngành nghề, làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề TCMN nói riêng đã từng bước ổn định và phát triển. - 18 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay 2.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ HIỆN NAY Bảng 2: PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TCMN VIỆT NAM Điểm mạnh Điểm yếu  Nguồn nguyên liệu thô lớn  Lực lượng lao động lành nghề như Trung Quốc, Thái Lan, Phi-lip-  Chi phí lao động thấp pin, Việt Nam có quy mô sản phẩm  Các làng nghề đa dạng sản phẩm hạn chế hơn.  Kỹ năng xuất khẩu phát triển nhanh      Ít có đổi mới trong thiết kế đã hạn chế chóng. tiềm năng tăng trưởng. Việt Nam còn Có danh tiếng tốt về nguồn cung cấp thiếu các nhà thiết kế sản phẩm thủ sản phẩm đáng tin cậy công được đào tạo bài bản, trong khi Có khả năng đáp ứng những yêu cầu về những nhà thiết kế này lại luôn sẵn có đơn hàng lớn ở các nước khác. Kỹ năng và kinh nghiệm xuất khẩu  Thiếu kỹ năng quản lý và nhân sự được tích luỹ trong những năm gần đây.  Thiếu chương trình đào tạo cho các công nhân chuyên về dệt và đồ gỗ. Nhiều nhà nhập khẩu quốc tế lớn đã tới tìm kiếm nguồn hàng ở Việt Nam và họ   So với những đối thủ cạnh tranh chính  Thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa doanh đã thiết lập đại lý và cơ sở thu mua tại nghiệp và các tổ chức nghiên cứu dẫn Việt Nam. đến tình trạng những thành tựu về Chính sách hỗ trợ của nhà nước tạo điều nghiên cứu và phát minh không được kiện thuận lợi với mạng lưới rộng khắp sử dụng gồm các tổ chức và thể chế tham gia.  Cấp độ tổ chức ngành còn thấp. Thiếu một Hiệp hội TCMN cấp quốc gia.  Thiếu thông tin thị trường về xu thế xuất khẩu, cơ hội, quy chế, khách hàng và giá cả  Các ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển như sơn, xử lý nguyên liệu thô…  Giá cước vận chuyển bằng đuờng biển và bằng đường hàng không đều cao. - 19 - Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam hiện nay Cơ hội   Nguy cơ Chính sách mở thị trường của nhà  nước. những khách hàng quốc tế lớn nhiều Việt Nam đang trong quá trình gia hơn các nước khác. nhập WTO và hội nhập hoàn toàn với  nền kinh tế thế giới.   Hình ảnh của Việt Nam được coi như  Phụ thuộc vào 05 nhóm sản phẩm chỉ một địa điểm cung cấp hàng đầu cho làm cho Việt Nam dễ bị tác động khi thị trường thế giới về sản phẩm thủ mô hình tiêu thụ có sự thay đổi, ví dụ công. như việc giảm nhu cầu về các sản Nhu cầu ổn định của thị truờng thế phẩm giỏ đan.  Cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nhà và hàng quà tặng. quốc tế. Các đối thủ lớn như Trung Có cơ hội về các nhóm sản phẩm như Quốc, Thái Lan, Ấn Độ có sản phẩm đồ dùng trong vườn và theo mùa, đồ vừa rẻ vừa tốt. thuỷ tinh, kim loại và sản phẩm giấy  Nguy cơ cạn kiệt nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên. giới đối với những phụ kiện dùng  Việt Nam phụ thuộc vào một số  Quá trình công nghiệp hoá và đô thị Lượng khách du lịch tăng lên sẽ mở ra hoá có thể dẫn tới giảm lượng lao thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm. động trong ngành thủ công và làm cho giá lao động tăng lên. Nguồn: Báo cáo của VIETRADE/ITC 2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU CỦA HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VÀ SẮP TỚI Ngày nay, khi đời sống vật chất của con người ngày càng được đáp ứng đầy đủ hơn thì nhu cầu về tinh thần lại được đòi hỏi cao hơn. Người tiêu dùng không chỉ yêu cầu sản phẩm chỉ có chức năng sử dụng mà còn phải có giá trị tinh thần. Mặt khác, do trình độ khoa học, tự động hoá cao, các sản phẩm chủ yếu làm bằng máy móc, dây truyền công nghệ hiện đại mà thiếu những sản phẩm được làm ra từ chính bàn tay khéo léo của con người. Trong khi đó các sản phẩm TCMN là những sản phẩm không chỉ có giá trị sử dụng mà còn mang giá trị tinh thần cao, chứa đựng bản sắc văn hoá dân tộc của mỗi quốc gia và phản ánh những tình cảm, cá tính của người sáng tạo ra nó. Chính vì vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế - 20 -
- Xem thêm -