Tài liệu Tình hình thanh khoản hệ thống ngân hàng việt nam trong các năm 2008 2013

  • Số trang: 18 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 49 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA TÀI CHÍNH ------------------------------ Đề tài thuyết trình môn Quản trị ngân hàng thương mại: Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Trương Quang Thông Danh sách thành viên nhóm 1. Nguyễn Thành Đồng 2. Nguyễn Trọng Nguyễn 3. Phạm Uy 4. Đoàn Trần Lê Uyên TÌNH HÌNH THANH KHOẢN HỆ THỐỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG CÁC NĂM 2008 2013 TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 08 năm 2014 MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN VÀ BỐI CẢNH KINH TẾ....3 1.1. Cơ sở lý thuyết về thanh khoản.........................................................................................3 1.1.1. Thanh khoản và Rủi ro thanh khoản..........................................................................3 1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản..................................................................3 1.1.3. Đo lường rủi ro thanh khoản......................................................................................3 1.1.4. Các chiến lược quản trị thanh khoản.........................................................................4 1.2. Tổng quan bối cảnh kinh tế và các diễn biến chính sách giai đoạn 2008 - 2013..............5 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH KHOẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM .......................................................................................................................................................10 2.1. Phản ứng của các ngân hàng trước diễn biến của nền kinh tế........................................10 2.2. Những tác động của khó khăn thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế12 2.3. “Thừa thanh khoản” trong thời gian gần đây..................................................................14 CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA...................................................................................17 3.1. Năng lực nội tại vẫn còn hạn chế của các ngân hàng thương mại..................................17 3.2. Cần thiết phải có sự phối hợp quản lý thanh khoản giữa NHNN với Chính phủ...........17 3.3. Sự cần thiết đối với Ngân hàng nhà nước trong việc nghiên cứu áp dụng các quy định của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel về quản trị rủi ro thanh khoản............................17 3.4. Việc đảm bảo khả năng giảm sốc của ngân hàng trước các rủi ro về thanh khoản còn nhiều thách thức..............................................................................................................18 Trang 2 / 18 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN VÀ BỐI CẢNH KINH TẾ 1.1. Cơ sở lý thuyết về thanh khoản 1.1.1. Thanh khoản và Rủi ro thanh khoản - Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu khác nhau của ngân hàng. - Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, hoặc không có khả năng huy động vốn, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó 1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản - Thứ nhất: xuất phát từ phía nguồn vốn của bảng cân đối kế toán. - Thứ hai: xuất phát từ phía tài của bảng cân đối kế toán. - Thứ ba: ngân hàng thiếu ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu của các bên đối tác của ngân hàng: các chủ nợ, các cổ đông.. - Các nguyên nhân khác có thể kể đến kể như ngân hàng không có những chiến lược và phương pháp khoản trị thanh khoản phù hợp và có thể xảy ra do những hay đổi của lãi suất thị trường. - Các nguyên nhân hoàn toàn khách quan: hiệu ứng rút tiền dây chuyền trong những giai đoạn khủng hoảng tài chính, và các biến cố kinh tế chính trị bất thường khác. 1.1.3. Đo lường rủi ro thanh khoản a) Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn - Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng. Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở thanh khoản (liquidity gap). Khe hở được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng vốn và sử dụng vốn. b) Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn: - Tiền gửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng bị rút vốn khỏi ngân hàng và nhà quản lý phải dành riêng một phần vốn thanh khoản tùy theo những nguyên tắc khoản lý đối với mỗi nhóm trên. c) Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản: Nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số như sau: - Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ = ngân quỹ và các tiền gửi tại các ngân hàng/ tổng tài sản Trang 3 / 18 - Chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh toán tức thời cao. Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này quá cao thì sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm. - Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản = Chứng khoán chính phủ / tổng tài sản. - Tỷ lệ chứng khoán chính phủ càng cao, trang thái thanh khoản của ngân hàng càng tốt. - Hệ số tiền nóng = tài sản thị trường tiền tệ/ nợ trên thị trường tiền tệ. - Hệ số thành phần tiền gửi = Tiền gửi giao dịch/tiền gửi định kỳ. 1.1.4. Các chiến lược quản trị thanh khoản a) Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản dựa vào tài sản - Trong chiến lược này, ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán. Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ sử dụng phần dự trữ tiền mặt và tiến hành bán một số tài sản cho tới khi toàn bộ nhu cầu được đáp ứng. - Tuy nhiên chiến lược này có nhược điểm như sự đánh đổi giữa tài sản có tính thanh khoản cao nhưng có mức sinh lời thấp Bên cạnh, việc bán hay chuyển đổi tài sản cũng gây ra rủi ro khi phải bán và chuyển đổi tài sản với chi phí giao dịch cao. b) Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản dựa vào khoản mục nợ - Trong phương pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng được đáp ứng bằng cách đi vay mượn dưới các hình thức. Do đó, chiến lược này còn được gọi là chiến lược “vay thanh khoản”. - Tuy nhiên, vay thanh khoản cũng tiềm ẩn một số rủi ro nhất định như nếu lãi suất ngân hàng tăng đột ngột, khi đó phương pháp này tỏ ra kém hiệu quả bởi chi phí đi vay sẽ tăng cao. c) Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản hỗn hợp: - Do những nhược điểm của các chiến lược nêu trên, thì xu hướng phổ biến hiện nay các ngân hàng áp dụng chiến lược quản trị hỗn hợp. Theo chiến lược này, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết bằng việc vay vốn trên thị trường tiền tệ. - Các nhu cầu thanh khoản của NHTM được chia thành 3 bộ phận:  Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên được đáp ứng bằng các tài sản có dự trữ dưới dạng tiền mặt, tiền gửi, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao.  Các nhu cầu thanh khoản không thường xuyên nhưng có thể dự đoán được NHTM thường chủ động kí các cam kết, các hợp đồng vay vốn trước với các tổ chức tín dụng khác, xác định trước khối lượng, thời hạn, lãi suất phải trả...  Các nhu cầu thanh khoản phát sinh không thể dự đoán được (phát sinh đột xuất) NHTM phải vay mượn trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng. 1.2. Tổng quan bối cảnh kinh tế và các diễn biến chính sách giai đoạn 2008 - 2013 Tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2013 có thể chia thành 4 thời kỳ phân tích: Bối cảnh kinh tế Diễn biến các chính sách 2008 – 2009: Kinh tế Việt Nam rơi vào suy thoái, lạm phát tăng cao kỷ lục sau đó được kéo giảm - Nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh Từ tháng 10/2008, Chính phủ chuyển hướng chính sách, tập trung và giá lương thực leo thang đến tháng 8/2008; khủng hoảng tài chống suy giảm kinh tế, kiềm chế lạm phát cùng tiếp tục duy trì chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế thế giới ổn định kinh tế vĩ mô, và đảm bảo an sinh xã hội. Chính sách tiền lún sâu vào suy thoái. tệ được nới lỏng dần: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước năm 2008 đạt mức - Điều chỉnh giảm các mức lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản giảm thấp nhất kể từ năm 2000: 6,31%. Từ tháng 10/2008, nền kinh từ 13%/năm xuống 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 14%/năm tế lại phải gồng mình chống đỡ tác động hết sức tiêu cực của cơn xuống 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 12%/năm xuống bão khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. 5%/năm); giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND từ - Lạm phát năm 2008 đạt mức kỷ lục: 19,89% do ảnh hưởng giá 11% xuống 3%; điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và nguyên vật liệu thế giới tăng cao cùng hệ quả từ chính sách mở hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản cho NHTM; rộng tiền tệ và tài khóa từ những năm trước đó nhưng hiệu quả - Điều hành linh hoạt tỷ giá USD/VND, tăng biên độ tỷ giá giữa đầu tư thấp. VND với USD từ +3% lên +5% đối với giao dịch mua bán của các NHTM, can thiệp mua bán ngoại tệ và thực hiện các biện pháp - Năm 2009, kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn hơn các năm trước. Ở trong nước, thiên tai xảy chống đầu cơ ngoại tệ (trong tháng 6/2009, trước tình hình căng thẳng trên thị trường ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu ra trên diện rộng với mức độ rất nặng nề, gây thiệt hại hết sức nghiêm trọng. Ở ngoài nước, thị trường giá cả thế giới biến động các NHTM giảm lãi suất huy động bằng đô la để ngăn chặn tình trạng găm giữ đô la). phức tạp. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn - Giám sát chặt chẽ việc thực hiện các tỷ lệ bảo đảm an toàn, hoạt cầu đã tác động trực tiếp đến nhiều ngành kinh tế nước ta như động kinh doanh, chất lượng tín dụng, giảm lãi suất cho vay và cơ công nghiệp, xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư, du lịch. - Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong vòng 10 năm gần cấu lại thời hạn trả nợ của NHTM. Trong Tháng 8/2009, NHNN đây: đạt 5,32%. Tuy nhiên, tốc độ này đã vượt chỉ tiêu Quốc hội đã điều chỉnh giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn từ 40% xuống còn 30% nhằm đảm bảo an toàn hệ thống. đề ra (5%) và Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong Chính sách kích cầu những nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực châu Á. - Nhằm đối phó với nguy cơ suy thoái kinh tế do cuộc khủng - Lạm phát trong năm 2009 cũng được kéo giảm xuống còn hoảng kinh tế tài chính thế giới gây ra, Chính phủ đã nhanh chóng 6,52%. đưa ra hai gói trợ giúp kinh tế. Gói thứ nhất Hỗ trợ lãi suất vay - Mức tăng trưởng và lạm phát như trên cho thấy, xu hướng vốn tín dụng khoảng 17 nghìn tỷ đồng. Gói kích cầu thứ hai trị giá phục hồi của nền kinh tế nước ta cuối năm 2009 bắt đầu rõ nét. Kết quả đó đánh dấu sự thành công bước đầu của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành vĩ mô nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, kiềm chế lạm phát. 143 nghìn tỷ đồng. Chính sách tài khóa - Trước tiên Bộ đã đưa ra một chương trình cắt giảm thuế quan: Giảm, giãn nộp thuế, hoàn thuế Giá trị gia tăng, Thu nhập doanh 2010 – 2011: Kinh tế của Việt Nam có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng nguy cơ lạm phát cao xuất hiện trở lại - Kinh tế nước ta năm 2010 diễn ra trong bối cảnh khó khăn Chính sách tài khóa: nhiều hơn thuận lợi. Ở ngoài nước, kinh tế thế giới hồi phục Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế trong năm 2010, Chính chậm sau khủng hoảng và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác phủ đã thực hiện kích cầu qua ngân sách, bao gồm việc tăng chi động đến nước ta. Ở trong nước, thiên tai và dịch bệnh liên tiếp đầu tư vào hạ tầng cơ sở với sản phẩm đầu ra được Nhà nước “bao xảy ra. Nghiêm trọng nhất là hạn hán nặng đầu năm, nắng nóng tiêu”, hay tăng chi thường xuyên hoặc giảm thuế giúp kích thích gay gắt mùa hè và lũ lụt lịch sử ở miền Trung trong tháng 9, 10 tiêu dùng tạo đầu ra cho doanh nghiệp là rất cần thiết để phối hợp và 11, gây thiệt hại nặng nề (về vật chất trên 13.544 tỉ đồng) đã với chính sách tiền tệ giúp chặn đà suy giảm của nền kinh tế. ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh của các ngành, các lĩnh Chính sách tiền tệ: vực. - Để khắc phục những hạn chế, yếu kém về kinh tế vĩ mô, tháng - Tuy nhiên, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi 2/2011 Chính phủ Việt Nam đã có Nghị quyết 11 tập trung “ưu nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tiêm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã Tốc độ tăng trưởng GDP cả năm 2010 đạt 6,78%, vượt kế hoạch hội” với 6 gói các biện pháp chính sách, bao gồm: “Thắt chặt (6,5%). chính sách tiền tệ; thắt chặt chính sách tài chính; kìm hãm thâm hụt thương mại; tăng giá điện đồng thời với việc hỗ trợ người - Lạm phát cả năm 2012 đạt mức 11,75%, cao hơn nhiều mục nghèo và sử dụng một cơ chế mang tính thị trường hơn đối với tiêu Quốc hội đề ra (7%). Nguyên nhân sâu xa gây ra lạm phát việc định giá xăng dầu; tăng cường an sinh xã hội; nâng cao hiệu đó là mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam không có hiệu quả việc phổ biến thông tin chính sách”. quả cao, đặc biệt mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn được đặt ở vị - Triển khai Nghị quyết 11, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) trí ưu tiên, khiến cho nền kinh tế tăng trưởng “nóng”, vượt sản đã điều chỉnh mục tiêu trần tăng trưởng tín dụng từ 23% xuống lượng tiềm tăng; nguyên nhân khác như tâm lý “lạm phát” rất còn 20% trong năm, và tăng trưởng nguồn cung tiền (M2) trong lớn, tổ chức lưu thông, phân phối hàng hóa và quản lý thị trường năm 2011 từ 21-24% xuống còn 15-16%. Cả hai mục tiêu này đều kém hiệu quả, tình trạng đầu cơ, găm giữ hàng hóa phổ biến. được điều chỉnh thấp hơn khá nhiều so với năm 2010 (năm 2010 - Bước vào năm 2011, năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển tín dụng tăng ở mức 32,4% và M2 tăng 33,3%). kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, nước ta có những thuận lợi - Quyết định tăng lãi suất và điều chỉnh tỷ giá được thực hiện vào cơ bản: Tình hình chính trị ổn định; kinh tế-xã hội phục hồi trong năm 2010 sau hơn một năm bị tác động mạnh của suy thoái kinh tế toàn cầu. Một số nền kinh tế lớn mặc dù vừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đang tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và bất ổn: Tình trạng vỡ nợ công ở Hy Lạp và một số nước khu vực đồng Euro, bất ổn ở Bắc Phi, Trung Đông đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam ở các mức độ khác nhau. Giá hàng hóa, giá dầu mỏ và giá một số nguyên vật liệu chủ yếu tăng cao và có diễn biến phức tạp. - Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 5,89% thấp hơn so với mức chỉ tiêu đã hạ thấp 6% vào tháng 6/2011 (6%). - Lạm phát cả năm 2011 đứng ở mức cao là 18,13%, trong khi cuối tháng 11 là một bước đi đúng hướng và trên thực tế, đã giúp lạm phát các nước khác trong khu vực đều ở mức một con số, giảm các căng thẳng trên thị trường tiền tệ và lãi suất. cho thấy, mặc dù lạm phát trong năm qua do nhiều nguyên nhân khách quan mà nhiều quốc gia cùng gặp phải như giá cả hàng hóa tăng trên thị trường thế giới song nguyên nhân chủ quan vẫn là từ chính sách trong nước, đặc biệt là chính sách tiền tệ nới lỏng mạnh trong những năm trước đây 2012 – 2013: Từ lạm phát đến giảm phát và tiếp tục suy giảm - Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được giải quyết đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và đời sống dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể. - Kiềm chế lạm phát ở mức 6,81% (so với 18,13% của năm Chính sách tiền tệ: - Lãi suất cho vay đã giảm nhanh, với mức giảm từ 5-8%/năm so với cuối năm 2011 (phù hợp với diễn biến lạm phát, kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ). - Trong 6 tháng đầu năm 2012, NHNN đã hút ròng hơn 60.500 tỷ đồng trên thị trường mở (OMO). Trong quý III/2012, sau những sự cố trong hoạt động của Ngân hàng Á Châu, NHNN đã phải bơm ròng 43,5 nghìn tỷ đồng trên OMO nhằm đảm bảo thanh khoản cho hệ thống tín dụng. Từ đầu tháng 11/2012 trở lại đây, NHNN đã tăng mạnh lượng tín phiếu bán cho các tổ chức tín dụng 2011) là một trong những thành công quan trọng của năm 2012. - GDP năm 2012 tăng 5,25% (theo giá so sánh 2010) và là năm có tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2000. Kinh tế Việt Nam năm 2012 giảm tốc chủ yếu do sản xuất khó khăn và bị thu hẹp trong khi “trụ đỡ” nông nghiệp đã yếu đi trông thấy; đồng thời chi tiêu tư nhân bị ảnh hưởng tiêu cực do thất nghiệp gia tăng và thu nhập giảm sút. - Kinh thế thế giới năm 2013 vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp. Ở trong nước, các khó khăn, bất cập chưa được giải quyết gây áp lực lớn cho sản xuất kinh doanh: Hàng tồn kho ở mức cao, sức mua yếu, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể... - Năm 2013 kết thúc với với tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 5,42%. Mức tăng trưởng này tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012. - Lạm phát năm 2013 giảm sâu và ổn định ở mức 6,04%. Mức lạm phát thấp như trên chủ yếu do giá lương thực có tốc độ tăng thấp trong bối cảnh giá thế giới suy giảm trong khi nguồn cung vẫn bảo đảm và cầu tiêu dùng trong nước tăng yếu do thu nhập khả dụng người dân giảm sút. trên OMO để hút tiền với lãi suất thấp hơn nhiều so với trần lãi suất huy động. Về hoạt động quản lý thị trường vàng, năm 2012 đánh dấu một sự thay đổi lớn về chính sách với sự ra đời của Nghị định 24/2012/NĐ-CP (Nghị định 24) ngày 3/4/2012 để thay thế cho Nghị định số 174/1999/ NĐ-CP. Nghị định 24 giao cho NHNN cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ chức sản xuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Trước đó, NHNN đã quy định chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD), yêu cầu các TCTD không được huy động vốn bằng vàng, trừ trường hợp phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả vàng theo yêu cầu của khách hàng khi số vàng thu nợ và tồn quỹ không đủ để chi trả. Việc phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng của tổ chức tín dụng chấm dứt vào ngày 25/11/2012. Chính sách tài khóa: - Thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2012 hoàn thành dự toán là một nỗ lực lớn. So với nhiều năm trước đây, thu nội địa năm 2012 ở nhiều địa phương, do tác động khó khăn của kinh tế vĩ mô đã không đạt dự toán. - Bên cạnh việc hỗ trợ tiền thuế cho DN lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, nguồn thu nô ôi địa, thu cân đối xuất nhâ ôp khẩu giảm mạnh (tổng sốgiảm 25.500 tỷđồng) trong đó giảm thu nô ôi địa chiếm gần 50% (khoảng 17.600 tỷ đồng), chủyếu giảm các khoản thu từsản xuất, kinh doanh - Trong năm 2013, Chính phủ đang có nhiều nỗ lực để tạo niềm tin cho thị trường thông qua một “gói giải pháp hỗ trợ thị trường” nhằm: giải quyết hàng tồn kho; xử lý nợ xấu và tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản. Ba vấn đề này có quan hệ nhân quả với nhau, nên không thể giải quyết riêng rẽ. Ngày 07/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01 và 02 để hỗ trợ thị trường. - Khác với gói giải pháp kích cầu thực hiện năm 2009, gói giải pháp hỗ trợ thị trường lần này tập trung vào khâu xử lý “điểm nghẽn” của tín dụng và tăng sức mua của thị trường, trong đó quan tâm đặc biệt đến tồn kho sản phẩm bất động sản. Cụ thể, với các giải pháp về tín dụng áp dụng biện pháp cho vay mới các doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển; các doanh nghiệp đang thực hiện các dự án nhà ở đang có thị trường…; ngăn chặn CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH KHOẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 2.1. Phản ứng của các ngân hàng trước diễn biến của nền kinh tế  2008 – 2009: Phản ứng trước tình hình kinh tế Việt Nam rơi vào suy thoái, lạm phát tăng cao kỷ lục Tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu bùng phát tại Mỹ và lan rộng trên thế giới với một loạt định chế tài chính lớn sụp đổ. Theo đánh giá của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa có mối liên hệ trực tiếp với thị trường tài chính thế giới nên mức độ ảnh hưởng không lớn. Phản ứng đầu tiên của các ngân hàng trong nước là rút bớt tiền gửi ở nước ngoài về, đóng bớt tài khoản thanh toán quốc tế. Ở góc độ ảnh hưởng gián tiếp, cuộc khủng hoảng tài chính và nối tiếp là suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu trong nước vào khó khăn; các lĩnh vực đầu tư bất động sản, chứng khoán, tín dụng tiêu dùng bị sụt giảm và đóng băng. Trước tình hình đó, các NHTM buộc phải “đóng cửa” đối với những nghiệp vụ liên quan chứng khoán, bất động sản. Trước động thái điều chỉnh giảm các mức lãi suất chủ đạo của NHNN từ tháng 10/2008, các NHTM cũng đã tiến hành giảm lãi suất huy động và cho vay theo các kỳ hạn, giúp lãi suất thị trường trở về thời kỳ ổn định. Diễn biến lãi suất huy động, cho vay bằng VND và lạm phát từ 2008-2009 Nguồồn: Ngân hàng nhà nước Tháng 2/2009, Chính phủ bắt đầu triển khai gói kích cầu, trong đó chính sách hỗ trợ lãi suất là một trọng tâm. Ngân hàng đón chính sách hỗ trợ lãi suất hồ hởi, nhưng triển khai thận trọng. Đây là chính sách chưa có trong tiền lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng tiếp cận khách hàng và tăng trưởng tín dụng tốt hơn (lãi suất thấp, khả năng trả nợ của doanh nghiệp tốt hơn). Các NHTM cũng tuân thủ chặt chẽ các tỷ lệ bảo đảm an toàn, qua đó góp phần làm cho tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức thích hợp, kéo giảm lạm phát cao trong cùng thời kỳ.  2010 – 2011: Phản ứng trước sự phục hồi của nền kinh tế và đối phó với nguy cơ lạm phát cao xuất hiện trở lại Năm 2010 được khởi đầu bằng qui định lãi suất huy động cơ bản là 8% do NHNN công bố trước đó ngày 01/12/2009. Ngày 5 tháng 11 NHNN ban hành quy định nâng lãi suất lên 9%, phần lớn các ngân hàng tăng lãi suất huy động lên hết mức 12% năm. Tuy nhiên, 12% năm chỉ mang tính thủ tục, một số ngân hàng khát vốn nhiều tháng đã âm thầm tăng lãi suất huy động với khá nhiều hình thức, theo báo chí ghi nhận đến cuối tháng 11 lãi suất lên đến 14%. Đầu tháng 12 Hiệp hội ngân hàng đã phải yêu cầu có một cuộc ngồi lại với nhau và đưa ra một thuật ngữ mới cho lãi suất mang tên “lãi suất đồng thuận”. Mức 12% là lãi suất đồng thuận được đưa ra ít nhất là 12 ngân hàng tham gia. Techcombank tung chiến dịch mang tên “3 ngày vàng” từ ngày 8 tháng 12 đến 10 tháng 12, theo đó tất cả khách hàng gửi tiền tại đây sẽ được hưởng lãi suất 17%. Ngay lập tức thị trường vô cùng bối rối, mức lãi suất huy động các ngân hàng được ghi nhận từ mức 14% đến thương lượng đặc biệt có thể lên đến 18%. Ngày 14 tháng 12 Hiệp hội ngân hàng tiếp tục đưa ra một lãi suất đồng thuận, lần này số lượng ngân hàng tham gia đông hơn và dùng biện pháp mạnh hơn, theo đó biên độ lãi suất huy động được nâng lên là 14% kể cả các hình thức khuyến mãi. Trước khi có sự cam kết đồng thuận này, dù nhiều ngân hàng không công khai bằng biểu lãi suất nhưng trên thực tế khách hàng có thể thỏa thuận lãi suất huy động VND lên tới 16%. Diễn tiến cho đến những ngày cuối năm cũng không mấy khác biệt, trên thị trường có vẻ như vẫn tồn tại 2 loại lãi suất. Dòng ngân lưu đã bị cản trở rất nhiều khi mà thời điểm đang cần nguồn vốn cho kế hoạch sản xuất cho mùa tiêu dùng và mùa mua sắm cao nhất. Dòng ngân lưu đã gần như chỉ nhỏ giọt với mức lãi suất vay từ 19- 22% thì khả năng tiếp cận vốn là không thể, vì nếu doanh nghiệp vay tiền tạo ra lợi nhuận thấp 30% thì coi như là thất bại.  2012 – 2013: Phản ứng trước sự giảm phát và tiếp tục suy giảm của nền kinh tế Năm 2012 mở đầu ồn ào với cơ chế phân nhóm giao chỉ tiêu tăng tín dụng. Bốn nhóm ứng với các giới hạn khác nhau. Quan trọng hơn, đó như là kết quả xếp hạng mà các ngân hàng nhóm 4 ban đầu là những ẩn số lo ngại. Tuy nhiên, các chỉ tiêu 17%, 15%, 8% sau đó đã mất hút tại hầu hết các ngân hàng thương mại, thậm chí một số thành viên tăng trưởng âm. Tín dụng tăng trưởng khó khăn là khác biệt và là một vấn đề nổi bật trong năm 2012. Đầu năm, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 15 - 17%, nhưng thực tế có thể chỉ được trên dưới 5%. Phía sau đó là nghịch cảnh: ngân hàng dư thừa vốn, nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì thiếu vốn. Ngày 21/12/2012, lần thứ 6 trong năm Ngân hàng Nhà nước giảm các lãi suất điều hành, hạ các trần lãi suất huy động và cho vay. Ở bình diện chung, lãi suất cho vay cũng giảm khá nhanh và xuống thấp so với năm 2011. Trong đó, sự kiện ngày 15/7 là một dấu ấn của năm 2012 - các ngân hàng thương mại “phải” xem xét hạ lãi suất cho các khoản nợ cũ xuống dưới 15%/năm theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước. Trong năm 2012, hầu hết các nhà băng đều không đạt chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh. Tổng tài sản cả hệ thống nói chung và riêng nhiều thành viên dự tính sụt giảm mạnh. Tăng trưởng tín dụng thấp là đa số, thậm chí cả năm vẫn âm; lợi nhuận kém và có cả trường hợp lỗ; nợ xấu tăng cao, chi phí dự phòng lớn và có trường hợp ăn cả vào vốn chủ sở hữu Trong năm 2013, mặt bằng lãi suất VND đã giảm khoảng 2 - 5% so với đầu năm, trong đó, lãi suất huy động giảm 2 -3%/năm, lãi suất cho vay giảm 3 - 5%/năm và đã trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005 - 2006. Lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức thấp 7-9%/năm, trong đó khách hàng tốt lãi suất cho vay chỉ 6,5 - 7%/năm; lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 9 - 11,5%/năm. Mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013. Tác động của giải pháp này thể hiện rõ, khi tỷ lệ nợ xấu của hệ thống từ mức cao nhất trong năm 4,73% vào tháng 10 đã giảm xuống còn 4,55% cuối tháng 11. 2.2. Những tác động của khó khăn thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Tác động của khó khăn thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam diễn ra căng thẳng trong năm 2011, biểu hiện qua các thước đo như sau: - Tỷ lệ cấp tín dụng/nguồn vốn huy động (LDR) ở mức cao: Tỷ lệ LDR là một trong những tỉ lệ thanh khoản được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trong quản lý và giám sát hoạt động ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Diễn biến trạng thái LDR của Việt Nam được cho là cao so với nhiều nước trong khu vực những năm gần đây. Tỷ lệ LDR của Việt Nam những năm 2009 - 2011 thường duy trì ở mức cao, từ trên 100% cho tới gần 120%; trong khi nhiều nước trong khu vực phổ biến dưới 100%, như năm 2011 của Thái Lan là 95,8%, Malaysia 79,3%, Indonesia 75,5%, Philippines 62,6%. Nếu tính cả lượng tín dụng mà các ngân hàng tìm cách lách trần tín dụng (20%) và trần tỉ lệ tín dụng phi sản xuất (16%) thông qua các hình thức khác như đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác đầu tư và các khoản phải thu khác thì tỉ lệ này có thể còn cao hơn nhiều. Hơn nữa, sự mất cân đối giữa tín dụng và huy động chủ yếu xảy ra ở một số NHTM cổ phần yếu kém. Đây là nguyên nhân chính khiến các ngân hàng thuộc nhóm này phải cạnh tranh lãi suất huy động bằng mọi giá. Tỷ lệ LDR của hệ thống và các nhóm NHTM, 2011-2013 - Dòng tiền ra - vào các TCTD bị biến động mạnh. Do mất cân đối cho vay/huy động khiến một số TCTD trong nhóm yếu kém buộc phải đưa ra các biện pháp cạnh tranh thu hút vốn quyết liệt bằng lãi suất để hút tiền gửi. Đây là nguyên nhân chính khiến cho tiền gửi rút trước kỳ hạn toàn ngành tăng mạnh, đặc biệt vào nửa cuối năm 2011. Tính đến 31/12/2011, doanh số này tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2010. Biến động doanh số tiền gửi rút trước kỳ hạn (tỉ đồng) Doanh số tiền gửi rút trước hạn trong kỳ liên tục tăng mạnh cùng với kỳ hạn tiền ngắn khiến các TCTD luôn ở trong tình trạng căng thẳng thanh khoản do phải liên tục cân đối kỳ hạn giữa cho vay và huy động. - Nhiều TCTD phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng (TT2) khiến lãi suất trên thị trường này tăng mạnh ở nhiều thời điểm. Theo số liệu của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tỉ lệ huy động TT2/Tổng tài sản tăng từ 16% năm 2010 lên 21,3% năm 2011. Có một vài TCTD tỉ lệ này chiếm tới 50% tổng tài sản, huy động TT2 tăng tới 56% so với cùng kỳ 2010. Tỉ lệ huy động TT2/Tổng tài sản tăng mạnh ở nhóm NHTM cổ phần và nhóm ngân hàng liên doanh (NHLD), và ngân hàng nước ngoài (NHNNg). Cơ cấu huy động vốn thị trường I và II so với tổng tài sản của các nhóm TCTD (%) Nguồn: Ủy ban kinh tế của Quốc Hội, Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 - Lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng ở mức rất cao và các NHTM phải có thế chấp mới được vay trên thị trường liên ngân hàng. Chính vì nhiều TCTD phụ thuộc quá lớn vào thị trường liên ngân hàng nên khi toàn bộ hệ thống tín dụng bị thiếu vốn do NHNN thắt chặt cung tiền trong quý I/2011 thì các TCTD này bị buộc phải vay trên thị trường liên ngân hàng với mức lãi suất rất cao, chủ yếu trên 20% trong quý II/2011. Để vay được tiền trên thị trường liên ngân hàng, các TCTD buộc phải có tài sản thế chấp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hệ thống tín dụng Việt Nam, các NHTM yêu cầu các NHTM khác phải có thế chấp mới được vay trên thị trường liên ngân hàng. Lý do chủ yếu của hiện tượng này là vì các NHTM yếu kém đã không thể huy động được vốn trên thị trường 1 khi NHNN phạt nặng các hành vi vượt trần huy động lãi suất. Một nguyên nhân quan trọng không kém là nợ xấu vào giai đoạn cuối năm tăng cao, khiến cho các ngân hàng này không thể thu được tiền về để cải thiện thanh khoản. 2.3. “Thừa thanh khoản” trong thời gian gần đây Sau đợt căng thẳng thanh khoản trong năm 2011, cung tiền năm 2012 đã tăng tới 22,4%, cao hơn mục tiêu đề ra từ đầu năm là từ 14-16%, tốc độ tăng rất nhanh kể từ tháng 3 và tạo được thanh khoản tương đối dồi dào cho hệ thống NHTM. Bên cạnh việc chủ động gia tăng cung tiền với mong muốn hạ nhanh lãi suất trên thị trường, việc gia tăng cung tiền ở mức độ cao so với năm 2011 còn xuất phát từ việc NHNN mua được khối lượng ngoại tệ lớn, tăng dự trữ ngoại hối (ước tính trong năm NHNN đã mua vào khoảng hơn 10 tỷ USD - tương đương 210 nghìn tỷ đồng) để giữ ổn định tỷ giá; tuy nhiên các biện pháp trung hòa có lẽ chưa đủ mạnh nên dẫn đến dư thừa thanh khoản và cung tiền tăng nhanh. Các biện pháp trung hòa được NHNN áp dụng chủ yếu trên thị trường mở, tập trung ở việc phát hành các tín phiếu NHNN bắt đầu từ ngày 15/3 với tổng giá trị cho đến hết năm 2012 là 172.964 tỷ đồng (tương đương trung hòa được 8,3 tỷ USD). Lượng tiền bơm hút trên thị trường mở năm 2012 Nguồn: Ngân hàng nhà nước Thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong năm 2013 khá dồi dào. Theo UBGSTCQG, tiền gửi từ các tổ chức kinh tế và dân cư tăng 23,2% so với cuối năm 2012 (phản ánh kênh tiền gửi ngân hàng vẫn được ưa chuộng trong bối cảnh các thị trường tài sản khác vẫn còn nhiều rủi ro), tỉ lệ cho vay trên thị trường 1/tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư giảm từ 98% (cuối năm 2011) xuống còn 85,4% (cuối năm 2013). Tăng trưởng huy động tiền gửi từ TCKT, dân cư Tỷ lệ cho vay/huy động TT1 năm 2013 Tăng trưởng tín dụng hàng tháng so với đầu năm thời kỳ 2012 - 2013 Nguồn: Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Mặc dù thanh khoản dồi dào nhưng tăng trưởng tín dụng còn rất khó khăn cho thấy dòng tiền tiếp tục bị kẹt trong hệ thống và đang được các ngân hàng sử dụng để mua các tài sản có giá khác (lãi suất thấp nhưng an toàn hơn) như trái phiếu Chính phủ hay tín phiếu NHNN. Tổng khối lượng trái phiếu Chính phủ (TPCP) phát hành thành công trong năm 2013 đạt 194.800 nghìn tỉ đồng. Như vậy, các NHTM đang dần trở thành ngân hàng phục vụ Chính phủ là chủ yếu, các dòng vốn được đổ vào khu vực công thay vì đưa vào khu vực tư nhân (thông qua vay tín dụng sản xuất). Không những thế, phần lớn khối lượng TPCP phát hành chưa giải ngân đang được Kho bạc Nhà nước gửi tại các NHTM để lấy lãi là vòng luẩn quẩn, khiến cho việc kiểm soát thanh khoản của NHNN gặp khó khăn, làm giảm hiệu lực của các biện pháp trung hòa. Hiện tượng trên có thể gây rủi ro nợ công và có thể dẫn đến hiện tượng đầu tư công “lấn át” đầu tư tư nhân, phân bổ nguồn lực chưa hiệu quả khi các nghiên cứu đều chỉ ra rằng chất lượng và năng suất của các khoản đầu tư tư nhân là cao hơn nhiều so với đầu tư công. Một thực tế đáng lưu ý khác là ngân hàng thừa thanh khoản nhưng vẫn thiếu tiền cho vay! Thực trạng này liên quan đến vấn đề cố hữu của hệ thống ngân hàng là sự mất cân đối trong cơ cấu huy động vốn. Đa phần vốn huy động được là ngắn hạn trong khi nhu cầu vốn vay trung dài hạn không ngừng tăng lên. Năm 2013, theo thống kê của nhiều ngân hàng, dư nợ cho vay trung và dài hạn đều tăng so với năm trước đó. Cụ thể, dư nợ cho vay trung và dài hạn tại Sacombank là 52% (tăng 10%), tại Techcombank là 50% (tăng 3%), tại SHB là 48% (tăng 5%), tại Vietcombank là 36% (tăng 2%), tại VietinBank là 39% (tăng 1%)… CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 3.1. Năng lực nội tại vẫn còn hạn chế của các ngân hàng thương mại Những yếu kém trong quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại không chỉ bắt nguồn từ những hạn chế của điều tiết vĩ mô, mà còn do các nguyên nhân nội tại của chính các ngân hàng này. Sự chủ quan, kế hoạch tăng trưởng tín dụng quá mức, mở rộng mạng lưới quá nhanh so với nội lực của ngân hàng, khả năng quản lý chưa theo kịp với biến động nhanh chóng của thị trường, kể cả biến động do chính sách... đều là nguyên nhân dẫn đến căng thẳng thanh khoản trong một số ngân hàng thương mại thời gian qua. Một vấn đề khác cần xem xét, đó là liệu có phải công tác dự báo những thay đổi của môi trường kinh doanh ở các ngân hàng chưa được quan tâm đúng mức. 3.2. Cần thiết phải có sự phối hợp quản lý thanh khoản giữa NHNN với Chính phủ Về mặt lý thuyết, có thể có sự phối hợp quản lý thanh khoản giữa NHNN với Chính phủ (ví dụ Bộ Tài chính có thể phát hành và bán trái phiếu Chính phủ nhiều hơn mức cần thiết để tài trợ thâm hụt ngân sách và giữ phần dư tại NHNN dưới hình thức tiền gửi). Khoản mục này không tạo thanh khoản nếu được giữ tại tài khoản ở NHNN và không sử dụng trong thị trường nội địa. Hoặc có thể gia tăng lượng tiền gửi của Chính phủ ở NHNN (thay vì gửi ở các NHTM) để khoản mục tín dụng ròng cho Chính phủ mang dấu âm. Những biện pháp trên nếu thực hiện sẽ có tác dụng làm giảm tài sản trong nước ròng (NDA), bù lại phần gia tăng NFA (do tăng dự trữ ngoại hối) và giữ cho lượng tiền cơ sở (tiền mặt lưu thông và tiền gửi của NHTM tại NHNN) không thay đổi. 3.3. Sự cần thiết đối với Ngân hàng nhà nước trong việc nghiên cứu áp dụng các quy định của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel về quản trị rủi ro thanh khoản Trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính toàn cầu và hệ lụy lâu dài đối với hệ thống tài chính - ngân hàng toàn thế giới, tháng 12/2010, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã thông qua phiên bản thứ 3 (Basel 3) của Hiệp ước an toàn vốn nhằm cách ly ngân hàng khỏi các cú sốc trong tương lai. Nội dung bao trùm của Basel III bao gồm các tỷ lệ an toàn vốn được nâng cao, ngoài ra còn có các tiêu chuẩn giám sát, đo lường rủi ro thanh khoản như Tỷ lệ bao phủ thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio – LCR), Tỷ lệ tài trợ ổn định ròng (Net Stable Funding Ratio – NSFR). Việc nghiên cứu áp dụng các quy định này của Ủy ban Basel không chỉ có ý nghĩa trong việc tăng cường sự ổn định cho hệ thống tài chính mà còn giúp nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Tuy nhiên, sự am hiểu về Hiệp ước Basel, hạn chế về dữ liệu và công nghệ thông tin, chi phí cao luôn là vấn đề thách thức của các ngân hàng. 3.4. Việc đảm bảo khả năng giảm sốc của ngân hàng trước các rủi ro về thanh khoản còn nhiều thách thức Xét chung trong giai đoạn 2009-2013, tỷ lệ LDR của Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực. Trong khi giai đoạn 2009-2011, hệ thống ngân hàng Việt Nam chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của tỷ lệ LDR lên mức 100-120% với sự bùng nổ mạnh mẽ của tín dụng (phần tử của công thức tính LDR) và sự thu hẹp nguồn vốn huy động (phần mẫu của công thức LDR), thì sang giai đoạn 2012-2013, chỉ số LDR được cải thiện với việc tín dụng tăng trưởng chậm lại trong khi huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, trạng thái LDR của Việt Nam vẫn cao so với nhiều nước trong khu vực. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chậm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng trong năm 2012-2013, các NHTM duy trì trạng thái LDR cao cũng hạn chế khả năng giảm sốc của ngân hàng trước các rủi ro về thanh khoản. Bên cạnh đó, việc hủy bỏ quy định về giới hạn tỷ lệ cấp tín dụng/nguồn vốn huy động (80% đối với các ngân hàng và 85% đối với các TCTD phi ngân hàng, tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN) theo Thông tư 22/2011/TT-NHNN nhằm khơi thông hơn tín dụng của hệ thống ngân hàng với nền kinh tế có thêm nguồn vốn cấp cho nền kinh tế. Tuy nhiên, với việc bỏ mức giới hạn LDR, hệ thống ngân hàng có thể sẽ phải đối mặt với một số rủi ro về thanh khoản và tín dụng. Tỷ lệ LDR nếu nằm trong giới hạn cho phép sẽ đảm bảo thanh khoản cho các NHTM, việc các ngân hàng cho vay quá nhiều trong khi huy động vốn quá ít cũng là một trong những nguyên nhân bắt nguồn của khủng hoảng thanh khoản. Bên cạnh đó, tỷ lệ LDR không bị khống chế sẽ khuyến khích tăng lượng cung tín dụng ra nền kinh tế, và có thể gây nên tình trạng bong bóng tín dụng trong hệ thống, từ đó, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô nói chung. Chính vì vậy, kiểm soát tỷ lệ LDR ở mức an toàn là thách thức không chỉ đối với các NHTM mà còn đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS. TS. Trương Quang Thông (2012), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB. Kinh tế TP.HCM. 2. Ủy ban kinh tế của Quốc Hội (2012), Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012, NXB. Tri thức. 3. Ủy ban kinh tế của Quốc Hội (2013), Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2013, NXB. Tri thức. 4. Ủy ban kinh tế của Quốc Hội (2014), Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2014, NXB. Tri thức. 5. Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (2014), Báo cáo tổng quan thị trường tài chính, Hà Nội.
- Xem thêm -