Tài liệu Tin nhắn một chiều

  • Số trang: 157 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 214 |
  • Lượt tải: 0
Khotailieu

Đã đăng 199 tài liệu

Mô tả:

LỜI TỰA Bốn người đàn bà bốn góc trời, có thể nói như vậy, nhờ blog mà quen nhau, rồi thân nhau và bây giờ cùng nhau ghép những mảnh văn riêng lẻ của mỗi người thành một cuốn sách chung. Thế mới biết thế giới ảo đôi khi gần gũi thân thiết, làm cho người ta xích lại gần nhau nhanh hơn, chân thật mặn mà hơn cả thế giới thật. Có lẽ không có ai trong họ trong đời có một lần mơ mình sẽ trở thành nhà văn. Những gì viết ra đây họ cũng chẳng nghĩ là văn, chỉ vì nhu cầu giao lưu trong thế giới ảo, cũng như bao nhiêu blogger khác, họ đã gom nhặt kí ức, ném lên trời tiếng reo của niềm vui, tiếng thở dài của nỗi buồn, tiếng kêu của nỗi đau, cả tiếng thét của giận dữ, của uất hận nữa... Tất cả đã tạo ra văn mà họ không hề biết, đúng hơn là không để ý. Văn chương suy cho cùng là phần kết tủa của kí ức được các con chữ gồng gánh bày bán giữa đời, chẳng có gì khác hơn. Phàm là kí ức tất nhiên là phải thật, chỉ khi kí ức bị cắt xén, bị xào nấu, bị thổi phồng thì cái thật biến mất nhường chỗ cho cái giả. Thật ở đây là chân thật, không ai tính nó có thật hay là không. Trong ba mươi năm cầm bút trần ai của mình, tôi nghiệm ra rằng nếu cố tình rặn ra văn, tô son trát phấn chữ nghĩa, thổi phồng, uốn éo cái tôi rồi gói ghém bằng thứ bao bì có tên là Chân Thật thì may lắm chỉ loè được đôi ba người, đôi ba trăm người, nhiều lắm là một thế hệ, thứ văn đó nhất định sẽ chết yểu. Cho nên cũng như tình yêu, không biết mình yêu vì cái gì, đến với nhau từ lúc nào nữa, văn chương cũng vậy, một ngày đẹp trời bỗng thấy hồn mình muốn hót lên như chim trời, thế là viết, cứ viết thế thôi chẳng biết mình muốn nói điều gì, theo thể loại nào, đấy là việc của các nhà lý luận, không phải việc của nhà văn. Viết đến một lúc nào đấy ta bỗng nhận ra giọng điệu của riêng ta, nẻo đường của riêng ta, cả cái đích mà ta đang đi tới cũng sáng sủa rõ ràng, khi đó ta đã là nhà văn rồi đấy. Tôi đồ rằng bốn người đàn bà này cũng đến với văn chương cũng theo cách ấy. Một ngày đẹp giời họ chợt nhận trái tim mà họ tưởng đã cằn cỗi bỗng muốn cất lên một nỗi gì đó, cũng là lúc văn học mạng mở cánh tự do chào đón những ai có nhu cầu chia sẻ mọi nỗi niềm. Thế là họ viết và gửi, viết trong im lặng gửi vào hư vô. Chẳng ngờ họ nhận được vô số những lời chia sẻ động viên từ thế giới mênh mông vô hình vô ảnh. Thế giới ảo ngọt ngào và chân thật, sòng phẳng và vô tư dần dần cho họ thấy nẻo vào văn chương của họ, và thế là hôm nay họ có cuốn sách rất thật để gửi vào đời thật. Đặt gần nhau mới thấy rõ mỗi người một giọng riêng, một nẻo riêng để đến với đời, không ai lẫn vào ai. Thanh Chung thảng thốt về cái sự mất, văn chị là văn buồn, cái nỗi buồn bỗng dưng. Nỗi buồn đang có bỗng dưng không, đang phúc bỗng dưng hoạ, đang đôi bỗng dưng một chập chờn trên tất cả các trang văn, có vẻ như chị đang cố tình nói với mọi người, rằng chị viết ra chỉ là để kể chơi vui, không không đời chị không phải vậy. Lâm Cúc xốn xang với nhiều số phận trớ trêu, tuồng như lúc nào chị cũng muốn kêu lên, kêu to lên nhưng nghẹn lại, văn chị vì thế là văn đau. Chị đau vì những va đập phi lý và trớ trêu, đau vì nuốt nước mắt gắng gỏi tìm kiếm những lẽ đời an ủi, rốt cuộc vẫn va vào trớ trêu và phi lý, kể cả khi chị tìm đến những con người dễ thương, những số phận ngọt ngào. Hoài Vân tủm tỉm trong những chuyện bi hài nho nhỏ, những ngộ nhận và sai lầm. Văn chị là văn hờn, hình như chị đang hờn ai, cũng có thể chị đang hờn chị. Chị đang hờn dỗi vớí tuổi thanh xuân nhiều ngộ nhận của chị chăng? Kim Oanh tưng tửng về những nẻo đời đắng ngắt, tấn bi hài nhập nhằng giữa sáng và tối, thiện và ác, cho thấy cái mà người ta gọi là hạnh phúc hình như không có thật. Văn chị là văn đắng. Đau quá hoá đắng, một khi không khóc được thường người ta nở một nụ cười đắng ngắt. Nụ cười đắng khó quên, văn đắng cũng vậy chăng. Tôi không dám nói văn các chị hay dở thế nào, bởi vì cái đó luỵ vào bạn đọc, vào thời gian, vả chăng các chị có viết văn đâu mà nói chuyện văn hay dở. Các chị viết ra để giãi bày, để sẻ chia, ở thế giới ảo các chị đã có được điều đó. Vậy thì Tin nhắn một chiều của các chị một khi vào đời thật cũng sẽ nhận được chia sẻ nồng nàn của người đời, tôi tin là như vậy. Hà Nội ngày Lập Đông - 2009 Nhà văn Nguyễn Quang Lập THANH CHUNG BỘI THU Truyện ngắn Cuối năm, công ty tổ chức hội nghị tổng kết. Cán bộ hưu trí được mời đi hết. “Năm vừa qua, đất nước gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng đến một số hợp đồng có vốn nước ngoài” - Tổng giám đốc nói - “Để tiết kiệm, hôm nay chúng ta sẽ không liên hoan như mọi năm mà chi tiền ăn trưa cho tất cả đại biểu có mặt”. Sếp vừa dứt lời, vợ sếp nhanh nhẹn bước lên bục mi-cro: - Năm nay gia đình chúng tôi có hai tin vui: vừa có con rể mới, vừa có thằng cu cháu ngoại hiện đang nằm trong bụng mẹ. Đúng ra hai bên gia đình đã thu xếp cho các cháu về sống với nhau từ mấy tháng nay. Phần vì các cháu bận học hành thi cử, phần thì cuối năm công ty bận hoàn thành kế hoạch nước rút nên hôm nay mới có dịp cho các cháu ra mắt họ hàng đôi bên và bạn bè. Chúng tôi mời toàn thể anh chị em trong công ty trưa nay dự bữa cơm báo hỷ với gia đình và hai cháu. Đợi cho tiếng vỗ tay, lời chúc mừng của cả công ty lắng xuống, vợ sếp vui vẻ nói tiếp: - Tôi xin nhắc lại, chỉ là bữa cơm thân mật chứ không phải tiệc cưới. Theo đúng tinh thần “triệt để tiết kiệm” của Chính phủ. * * * Còn gần một giờ nữa mới đến giờ mời cơm. Mọi người tản về các phòng ban bàn bạc, chuyện trò. - Sếp đã mời thế thì nên đi quà mừng tập thể hay từng cá nhân nhỉ? Một người hỏi. - Chắc là cả phòng vẫn nên trích quỹ để có một phong bì chung. Còn cá nhân thì tuỳ tâm. Trưởng phòng gợi ý. - Thế là cái phong bì ăn trưa của tôi hôm nay đã có địa chỉ người nhận. Một người khác bàn. * * * Sếp tổng có hai đứa con. Thằng lớn mải chơi, học hành chểnh mảng. Mấy năm trước sếp phải tận dụng mọi mối quan hệ mới lo được cho nó cái bằng đại học dân lập. Ra trường, sếp “ấn” ngay nó về phòng hành chính của công ty để cho cậu đệ tử trưởng phòng kèm cặp. Năm ngoái, cũng vào dịp cuối năm, nó đưa về nhà một con bé bán bia hơi, giới thiệu là người yêu và đòi tổ chức cưới. Sếp bà lại phải một phen vất vả chạy vạy để cho con bé vào làm hợp đồng ở Trung tâm xúc tiến việc làm của quận. Con dâu của Tổng giám đốc chẳng thể nào là đứa bán bia ngoài vỉa hè. Rồi tiệc cưới cũng được tổ chức rất “hoành tráng”. Xe mui trần đón dâu chạy khắp phố. Khách sạn 5 sao. Tuần trăng mật ở Bangkok. Cháu đích tôn của dòng họ, không làm đàng hoàng không được. Sếp thanh minh với mọi người như vậy. * * * Con bé thứ hai học hành chỉn chu hơn thằng anh. Suốt mười hai năm phổ thông, năm nào cũng đạt danh hiệu học sinh giỏi mà không cần có sự can thiệp của bố mẹ. Nó theo nghề mẹ. Thi năm đầu tiên đỗ ngay vào Đại học Kinh tế Quốc dân. Bà chị gái của sếp không lấy chồng, làm nghề dạy học, có căn hộ hai phòng ngủ ở ngay Quận Đống Đa. Sếp mang con gái lên gửi và dặn dò phải bảo ban, trông nom cháu cẩn thận. Bà chị sợ em trai một thì ngại em dâu mười nên quản lý con bé rất chặt. Chỉ thiếu nước học theo phim Liên Xô ngày xưa: lấy kim băng cài váy của cả hai cô cháu vào với nhau; hay khoét phòng đặt tay lên bụng cháu gái khi ngủ như trong chuyện cổ tích Việt Nam. Ngoài giờ học chính khoá ở trường, con bé còn theo học ngoại ngữ ở các Trung tâm có “yếu tố nước ngoài” mà học phí cũng lên tới cả trăm đô la một tháng. Muộn nhất thì cũng 9 giờ tối nó về tới nhà. Ăn uống dọn dẹp xong là ngồi luôn vào bàn học. Chưa một lần nào nó xin phép bà đi chơi qua đêm với bạn bè, kể cả có lần cả lớp nó tổ chức đi chơi ở hồ Đại Lải. * * * Bà phát hiện ra con bé có thai khi thấy cái bụng nó đã lùm lùm dưới cái áo khoác mỏng mùa đông. Hỏi ra mới biết con bé đã mất kinh được năm tháng. Nó hồn nhiên nói, cháu cứ nghĩ chỉ chậm kinh bình thường. Nhưng bây giờ thì chắc là cô nói đúng. Tá hoả, bà gọi điện ngay cho cậu em trai. Hai vợ chồng sếp đi xe công ty lên ngay trong ngày rồi cho cậu lái xe về. Hẹn khi nào xong việc sẽ gọi điện lên đón. “Thằng trời đánh” - theo cách gọi của sếp bà - té ra là một thằng rất có “bản lĩnh”. Bà hỏi nó định tính thế nào thì cả hai đứa đều thản nhiên: “Còn gần bốn tháng nữa Thuý mới sinh, chắc lúc ấy con đã kiếm được việc làm ở một nơi nào đó. Thuý sẽ đi cùng con”. Ông đã gửi gắm được con bé vào một công ty bên B của ông ở Hà Nội. Chắc bây giờ phải lo nốt cho cái thằng “trên răng - dưới cần tăng dân số” này. Cứ để mày đi xây cầu ở vùng sâu vùng xa thì mấy năm sau quay lại, chắc một nửa tá trẻ con cởi truồng tắm sông phải gọi mày bằng bố. Bằng tuổi mày ngày xưa tao cũng vác mía chạy lông nhông, còn lạ gì. * * * Bữa cơm báo hỷ được tổ chức ở nhà hàng bình dân ngay cạnh công ty. Đúng như sếp bà đã nói, triệt để tiết kiệm. Không đón dâu, không sân khấu, không MC. Không có cả chiếc hộp giấy hình trái tim để khách đến thả phong bì mừng như các đám cưới hiện nay. Sếp bà mặc bộ váy đầm công sở gọn gàng lịch sự, niềm nở đón khách từ ngoài cổng. “Cô dâu” mặc chiếc váy trang nhã, phủ hờ một tấm khăn nhung thêu hoa che toàn bộ phía trước. Không có màn cô dâu chú rể đi từng bàn cám ơn. Phong bì mừng được “tế nhị” dúi vào tay sếp bà. Nhận của ai bà cũng trách: “Cô/chú bày vẽ quá. Có phải đám cưới đâu mà quà mừng”. Nói rồi, bà kín đáo chuyển chúng cho bà chị chồng để đi tiếp. Số phong bì phát ra ở hội nghị tổng kết đã hội ngộ gần đủ một trăm phần trăm trong chiếc túi du lịch đặt dưới chân bà chị. * * * Sau khi tiễn người khách cuối cùng ra cửa, bà quay lại tìm gặp cô lễ tân để thanh toán. Cậu kế toán trưởng công ty đón bà với nụ cười nửa như báo công, nửa như phân trần: “Em đã làm xong hết rồi chị ạ. Để quyết toán vào Hội nghị tổng kết cuối năm của Công ty. Gọi là chút quà mừng cho hai cháu”. ÔNG TỪ Truyện ngắn Khi gia đình tôi chuyển đến xóm này thì ông đã vạ vật ở đây được mấy năm rồi. Ban ngày lang thang xin ăn, tối ông về ngủ dưới mái hiên nhô ra của hội trường thuộc một bếp ăn tập thể từ thời bao cấp. Chỗ ông nằm, ban ngày là hàng quà vặt của mấy người từ nơi khác đến ngồi. Đồ nghề của họ rất gọn nhẹ. Thoáng thấy bóng công an từ xa, họ chỉ việc cắp vào nách, chạy sâu vào trong ngõ. Người ăn hàng cũng loanh quanh trong xóm. Họ thản nhiên bê bát đứng dậy, vừa ăn vừa chờ công an đi khuất. Chị Phúc bán bánh mỳ, dày giò; cô Thảo bán trứng vịt lộn và bà Hà bán thịt lợn quay. Trong số mấy người đó, ông thích nói chuyện với chị Phúc nhất. Những lúc lang thang, gặp vật dụng ở các bãi rác ven đường còn dùng được, ông hay nhặt về đưa cho chị. Ngày mưa gió, biết ông chẳng xin được gì, chị Phúc thường dúi cho ông, lúc thì ổ bánh mỳ, khi thì cặp dày giò. Ông cũng biết ý ngồi dúm dó vào một góc, không làm phiền đến ân nhân của mình. Theo lời kể của chị Phúc, lúc trẻ, ông cũng từng có “một thời oanh liệt”. Quê ông ở một huyện ngoại thành, cách thành phố chưa đầy hai mươi kilomet. Cả làng hồi ấy chỉ có một mình ông đi “thoát ly”. Con cái ông nhờ vậy cũng được “vênh vang” với chúng bạn. Chiều thứ bảy, ông về thăm nhà mang theo nào là mỳ sợi, bánh quy, kẹo Hải Châu..., những thứ chỉ có dân thành phố mới được thưởng thức. Mấy đứa con ông cũng là những đứa đầu tiên ngồi ngoáy mông đạp xe xung quanh làng trước con mắt ngưỡng mộ của đám bạn cùng lứa. Thế rồi ông “bập vào” cô bán hàng căng tin của cảng. Lúc đầu, ông còn thỉnh thoảng tranh thủ ghé qua nhà, dúi cho vợ ít tiền rồi quay quả trở lại thành phố với cô. Về sau, ông không về nữa vì cô không muốn chia sẻ tiền bạc với “mụ già”. Không còn mỳ sợi, kẹo Hải Châu, vợ ông vẫn gắng cho các con đến trường. Lên cấp ba, thiếu ăn, lại a dua theo chúng bạn mải chơi, cả ba đứa đều lần lượt bỏ học. Đứa lớn theo bạn vào phố làm phu hồ. Đứa thứ hai về Hải Dương đóng gạch thuê. Cô con gái út lấy chồng sớm, thỉnh thoảng chạy qua chạy lại chăm mẹ. Có lúc vô tình bắt gặp thằng con lam lũ trong đám phu hồ, ông phải ngoảnh mặt đi, tránh cái nhìn trách móc của nó. Sau khi Nhà nước xóa bỏ bao cấp, ông thuộc diện giảm biên ngay đợt đầu. Cô vợ trẻ bán căng tin nhạy bén hơn với tình hình mới, bỏ việc ra chạy chợ rồi theo chúng bạn đi buôn hàng ở biên giới Trung Quốc. Vô công rồi nghề, không có tiền, ông trở thành cái gai trong con mắt cô. Một lần, hai vợ chồng cãi nhau, cô ta ấn quần áo, vật dụng của ông vào cái túi du lịch rồi quẳng ra ngoài sân. Tay trắng trở về quê, người vợ cũ nhìn ông không buồn ngẩng mặt lên chào. Ba đứa con nghe tin ông về cùng rủ nhau về nhà một lúc. Chúng không tiếc lời rỉa rói, kết tội ông. Ở quê được một tuần, không chịu nổi sự ghẻ lạnh của vợ con và cái nhìn giễu cợt của xóm giềng, ông lại quay về thành phố. Mấy năm đầu còn khỏe, ông mua một bộ đồ nghề sửa xe đạp, túc tắc sống qua ngày. Một lần ông bị cảm lạnh đột ngột. May được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời. Mấy tháng nằm viện đã ngốn hết cả tiền bạc và sinh lực của ông. Khi xuất viện, ông không còn đủ sức nhảy lên chiếc bơm để bơm xe cho khách nữa. Bước đường cùng, ông phải đi xin ăn và tá túc ở đây. Năm ấy trời rét đậm. Ông nằm co ro suốt ngày, không còn dậy nổi đi xin ăn. Ban ngày, ông lê ra đầu đường nằm để khỏi ảnh hưởng đến chỗ bán hàng của mọi người. Chị Phúc đã mang đến cho ông thêm một chiếc chăn nữa, nhưng tiếng rên của ông khiến cho người qua đường cũng phải dừng lại ái ngại. Nghe đâu chị Phúc đã đi cùng với cán bộ của phường về tận nhà ông, thuyết phục vợ và các con đón ông về chăm sóc. Bà vợ cũng đã nguôi ngoai và tha thứ cho ông, nhưng cả ba đứa con đều kiên quyết không nhận bố. Bà già rồi, sống phụ thuộc vào chúng. Nếu chúng nó không đi đón ông về thì bà cũng chẳng có cách nào... Rồi ông cũng qua được mùa đông năm ấy. Sau này, ông chỉ quanh quẩn xin ăn quanh xóm. Nhà ai có thức ăn thừa đều bảo con cái mang ra cho ông Từ. Được hai năm thì ông ốm nặng. Biết mình không đi lại được nữa, ông lê ra đầu ngã tư, nằm ở dưới ô văng cửa sổ tầng trệt của tòa nhà ngân hàng. Ông nằm lên cả phân và nước tiểu của mình. Chị Phúc thỉnh thoảng vẫn chạy ra chỗ ông nằm, mang cho ông ca nước chè hoặc cặp giày giò. Ông ước ao được về chết ở làng để khỏi mang tiếng chết đường, chết chợ. Chị Phúc lại nghỉ bán hàng, một lần nữa đi về quê tìm gặp các con ông. Người con cả vẫn khăng khăng không tha thứ cho bố, nhưng hai đứa sau không còn gay gắt như trước. Vợ ông kiên quyết nếu cả mấy đứa không đồng ý đón bố về, bà sẽ đập đầu chết trước mặt chúng. Phường tổ chức một chuyến xe đưa ông về nhà. Hàng xóm và mấy người bán hàng, mỗi người góp một ít tiền đưa chị Phúc mang về giúp vợ con ông chăm sóc và lo hậu sự cho ông. Về nhà được hai ngày thì ông đi. CHA MƯỢN Truyện ngắn Hà Mít sinh ra đã không có cha. Học xong trung cấp kế toán, mẹ Mít được nhận vào công ty khi mới được tách ra từ một phòng ban của sở. Tuy không thuộc diện “sắc nước hương trời”, nhưng cô sinh viên mới ra trường lúc đó cũng có nhiều người tình nguyện đón đưa. Chẳng hiểu sao, yêu nhau là thế, nhưng đến khi bàn chuyện cưới xin thì bên kia lại ngãng ra. Đi xem bói, người ta bảo cô có người âm theo. Thấm thoắt, mẹ Mít đã bị liệt vào hàng “gái già” trong cơ quan. Rồi bỗng rộ lên chuyện mẹ Mít “không chồng mà chửa”. Lúc đầu mọi người còn thì thầm, bàn tán, bán tín, bán nghi. Đến tháng thứ sáu, thứ bảy, mẹ Mít mặc áo bà bầu, đi đứng nói chuyện thản nhiên thì tiếng ì xèo cũng hết. Chị em phụ nữ bắt đầu bàn chuyện mua bán, sắm sửa cho đứa trẻ sắp chào đời. Ai cũng cầu mong Mít sẽ là con trai để cho “bố” của Mít được thoả lòng ước ao “có thằng chống gậy”. “Bố” của Mít là người trong công ty. “Bố” đã có gia đình và ba cô con gái. Các chị đều xinh xắn, ngoan ngoãn và học giỏi. Việc có Mít chắc cũng được mẹ của mấy chị “bật đèn xanh”. Vì thế suốt chín tháng mang thai, mẹ Mít không hề gặp bất kỳ rắc rối nào từ gia đình của “bố”. Ngày mẹ đến bệnh viện sinh ra Mít, chỉ có các cô các bác trong công ty đưa đi. Người “mát tay” nhất được cử đến bệnh viện đón tay, đưa Mít về nhà cho dễ nuôi. Lúc Mít được ba tháng thì “bố” Mít chuyển sang công ty khác. Mít lớn lên trong tình thương yêu của gia đình bên ngoại và các cô, các bác trong công ty. Mẹ Mít mừng vì từ nay căn phòng nhỏ đã có mẹ, có con, không còn hiu quạnh như trước nữa. Lũ trẻ trong khu tập thể đối xử với nhau thường “rõ ràng sòng phẳng” hơn người lớn. Sinh nhật của một đứa là cả bọn háo hức quà tặng, quần áo đẹp từ trước đó cả tuần. Mấy bà mẹ cũng chạy sang hỏi thăm, mỗi người một tay, kê bàn, dọn dẹp để cho bọn trẻ có một ngày vui thật trọn vẹn. Năm Mít lên bảy tuổi, bọn trẻ bắt đầu bàn tán về chuyện Mít không có bố. Mít về hỏi mẹ: “Bố con đâu?”. Mẹ nói bố Mít đi làm ở tỉnh xa. Bọn trẻ con lại nói: “Đi làm ở đâu thì ngày sinh nhật con cũng phải về. Năm nay sinh nhật Mít mà không có bố về tổ chức thì đúng là Mít không có bố”. Người lớn nghe trẻ con cãi nhau, muốn gạt đi mà không được. Trẻ con có những lý lẽ riêng của chúng. Sinh nhật bảy tuổi của Mít được tổ chức rất to. Bố Mít kê bàn ghế ra sân cơ quan. Lại còn mang cả ti-vi, dàn karaoke có băng nhạc của thiếu nhi cho bọn trẻ cùng hát. Bánh kẹo toàn loại ngon, mua ở siêu thị tận Hà Nội. Mít ôm vai, bá cổ chụp ảnh với bố và đưa bố đi khắp xóm khoe với bạn bè. Hơn chín giờ, tiệc sinh nhật xong, các bạn của Mít đứa nào cũng được bố Mít gói cho một phần quà mang về. Bọn chúng bảo nhau “Bố Mít tốt thật”. Mít lên giường đi ngủ, tay vẫn còn ôm chặt con gấu bông khổng lồ - món quà sinh nhật của bố. Đợi Mít ngủ say, bố Mít mới đi ra khách sạn cạnh nhà ga ngủ để sáng mai còn kịp chuyến tàu đầu tiên về Hà Nội. Bạn của mẹ Mít đã cho “mượn” chồng mình, đóng vai bố Mít một ngày để cho Mít khỏi tủi hổ với bạn bè. Bây giờ Mít đã là cô gái mười chín tuổi. Tôi chắc chắn cô bé đã biết cha của mình là ai và sẽ yêu thương hiếu thảo với mẹ mình. LÁ NGHIÊNG Truyện ngắn Liệu còn có lần sau nữa không mình? - Thôi, giời cho đến đâu biết đến đó anh ạ. Hai ngày liền, hai người không rời nhau nửa bước. Bà vào bếp nấu ăn, ông giành phần nhặt rau. Bà dọn cơm, ông lấy chén bát, đập tỏi, thái ớt làm nước chấm. Thỉnh thoảng ông lại bảo: - Này, thích lắm cơ. Chúng mình y như vợ chồng ấy nhỉ. * * * Ông chẳng thể ngờ gần cuối đời mình lại có được một chuyến đi xa đến thế. Càng bất ngờ hơn khi thằng bạn nối khố thuở hàn vi đã đến tận nơi xin phép đưa ông về chơi ở nhà mình hai ngày: “Mấy chục năm chúng tôi mới có dịp gặp nhau, xin các anh thông cảm. Tôi sẽ trả ông Hoàng về đúng kế hoạch”. Xe nổ máy, Tuấn bảo: - Mày có hai ngày tự do với “nàng”. Sáng thứ hai tao sẽ đến sớm đưa mày về khách sạn. * * * - Ngày tiễn mình ra sân bay, tôi tưởng đấy là lần cuối rồi. Ông gối đầu lên đùi bà thủ thỉ - Em cũng chẳng ngờ có ngày anh lại sang tận nơi đây thăm em. Bà lấy ngón tay trỏ chấm chấm vào vệt nước mắt đang lăn dài trên gò má đã bắt đầu nhăn nheo của ông. - Giời thương đấy mình ạ. Ngần ấy năm giời, tôi chỉ ước được ôm lấy mình một lần. Được cùng nghiêng về bên trái với nhau như ngày xưa mình viết… * * * Ngày ấy cũng đã hơn ba chục năm. Bà yêu ông - tình yêu đơn phương của cô học trò đối với thầy dạy mình. Bà yêu vẻ phong trần, lãng tử của ông. Bà yêu cái giọng giảng bài “tưng tửng”, bất cần nhưng lại rất uyên thâm, sâu sắc của ông. Bà yêu đến mụ mị, đãng trí. Xách xô ra bể hứng nước rồi lại mang xô không về nhà. Có ngày bạn bè trong khu nội trú phát hiện ra bà mặc một lúc cả hai cái áo nịt ngực… Ông thày dạy bộ môn Tâm lý có tài xem tướng số nói: “Người kia chứa trong mình cả một lò lửa có thể thiêu cháy thành than những ai có may mắn được “nàng” trao gửi trái tim”. Thi xong tốt nghiệp, bà gửi cho ông hai cuốn sổ tay kín đặc thơ và nhật ký bà viết cho ông, về ông trong suốt mấy năm “yêu cho cả hai người” (aimer pour deux). “Hãy giúp em quên anh đi!” Ông mộng du trong những trang viết của bà. Bây giờ đến lượt ông yêu bà âm thầm, mê muội. Ông ân hận đã để bà đau khổ yêu thương một phía ngần ấy thời gian. “Những chiếc lá nghiêng về nhau hạnh phúc…” “Trong nắng có hương, trong gió có vần, chiếc lá có hình môi…” (Thơ Thanh Xuân) Chẳng hiểu bằng cách nào, thông tin rò rỉ đến tận phòng tổ chức. Bà đỗ thủ khoa nhưng không được giữ lại trường vì yêu người đã có vợ. Ông suýt bị kỷ luật vì có biểu hiện “thiếu nghiêm túc trong quan hệ thầy trò”. * * * Nhiều năm sau ông đến tìm, bà vẫn sống một mình. - Sao em không ổn định gia đình đi? Phụ nữ sinh nở có thì. - Em phải đi thật xa mới hòng quên anh được. * * * - Em có hạnh phúc không? - Frank là người đàn ông tốt bụng. - Anh ấy không còn nữa. Em có định trở về không? - Em sợ cho anh chị… Đấy là cuộc chuyện trò đầu tiên qua điện thoại internet ông gọi cho bà sau khi nghe tin Frank - chồng bà qua đời vì một tai nạn xe hơi. * * * Nghỉ hưu, ông chợt nhận ra căn nhà của mình trống vắng đến vô nghĩa. Vài năm nay, vợ ông đã gần như quy Phật. Thời gian bà ra Chùa, đi hành hương còn nhiều hơn thời gian ở nhà. Con gái, con dâu thỉnh thoảng ghé qua chợ mua đồ ăn, nấu nướng để sẵn trong tủ lạnh cho bố. Ông gửi thư nhờ bà tìm giúp những cuốn sách hay cho ông dịch để giết thời gian. Dần dà, ông trở thành dịch giả tiếng Pháp có uy tín của một số nhà xuất bản. Chuyến này ông đi cũng là do Cơ quan Hợp tác văn hóa Pháp - Việt tài trợ. * * * “Bất luận mọi thứ đã có mở đầu thì phải có kết thúc mình ạ. Ngay phút đầu tiên mình mở cửa đón tôi và Tuấn, tôi đã nghĩ đến phút phải xa mình. Giá như hai ngày ấy mỗi ngày có bốn tám giờ. Giá như mình đừng mất thời gian đi chợ, đừng có bạn bè tới thăm… Giá như tôi được thêm một lần nghiêng về phía mình, ngắm mình từ phía sau lưng. Giá như chúng ta còn trẻ để cùng nhau đi tới tận cùng một lần… Tôi tham lam quá phải không mình? Nhưng thôi, giời đã quá hậu hĩnh với tôi. Tôi chỉ thương mình cứ vò võ một mình bên ấy. Nếu không còn có lần sau, thì hôm ấy của chúng mình đã là lần cuối mất rồi. Sau này tôi chết, mình có về không?…” Bà đã dặn Tuấn không nói cho ông biết quỹ thời gian còn lại của bà vô cùng hạn hẹp. Cũng may ông đã kịp sang trước khi bà phải chịu đựng một ca phẫu thuật mà cơ may trở về hầu như không có. “Em sẽ về. Nhất định thế, mình ạ”. Bà nhấn nút “reply”. Lá thư được chuyển đi trước khi bà vào bệnh viện. * Thơ của một người bạn CHIẾC HÀI CỦA CÁM Truyện ngắn Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Cám là con mẹ kế nên người đời vì thế mà gán cho cô đủ mọi thói hư tật xấu. Tấm mới sinh ra đã xinh đẹp. Sống với mẹ kế, cô phải làm lụng nhiều hơn và cam chịu hơn. Sự thùy mị nết na của cô cũng là do hoàn cảnh “mẹ ghẻ con chồng” mà có. Cám trái lại là một cô bé ngỗ nghịch, thông minh. Hôm mẹ sai đi mò cua bắt ốc cùng chị Tấm, Cám đã nhờ Tấm bắt luôn cả cho mình. Đổi lại nếu được mẹ may cho yếm đỏ, cô sẽ nhường cho chị Tấm cả hai. Tấm chậm chạp, bắt cả buổi cũng chỉ được một giỏ. Khi Cám đánh xong đám trận giả với tụi con trai cùng lứa, cô chạy ra đám ao nơi Tấm đang ngụp lặn, thản nhiên đổ cả giỏ của Tấm vào giỏ mình rồi đi về nhà. Cô không hề biết chuyện chị Tấm ở lại ngồi khóc và được Bụt hiện lên giúp đỡ. Ngày chị Tấm đi chăn trâu đồng xa, Cám ở nhà múc nước ở giếng lên đổ vào bể lọc để nấu ăn. Lần nào kéo gầu lên cũng thấy con cá bống trong đó. Đến lần thứ mười, Cám quyết định đem vào cho mẹ nấu ăn. Khi Vua mở hội tuyển cung nữ tại làng, Cám đi trèo cau thuê suốt một ngày lấy tiền mua sắm quần áo mới. Gần tối, nhận xong tiền công, Cám hớt hải chạy vội ra chợ tỉnh. May quá! Quầy giày dép vẫn còn mở cửa. Cô chọn một đôi cho mình rồi tất tả quay về. Bất ngờ, khi qua chiếc cầu bắc ngang con kênh nhỏ, Cám vấp ngã và đánh rơi chiếc giày tại đó. Cô sợ trời tối nên không dám ở lại tìm. Ngày hôm sau, Cám chưa kịp ra cầu thì đoàn của nhà vua đã đi qua... Vào hội, Vua ngất ngây trước vẻ đẹp “Thúy Kiều, Thúy Vân” của hai chị em Tấm Cám. Cám thử hài trước. Chiếc hài vừa khít bàn chân có nhiều vết sứt sẹo, chai sần của cô. Sợ mình không giữ nổi cô gái rừng rực bản năng kia làm “Mẫu nghi thiên hạ”, Vua cho mời Tấm lên thử tiếp. Bàn chân trắng hồng, nuột nà của Tấm tuy lọt thỏm trong chiếc hài của Cám, Vua vẫn quyết định đưa nàng về cung. Biết có chuyện không minh bạch trong việc thử hài chọn cung phi và cảm nhận được cái nhìn lưu luyến của nhà Vua trước khi rời làng, Cám quyết định đi “đòi lại” hạnh phúc cho mình. Cô mở quán rượu ngay gần cung thành và đặt cho quán của mình cái tên “Chiếc hài lẻ bạn”. Tấm vào cung và được tấn phong Hoàng hậu. Vẻ đẹp thánh thiện cộng với sự dịu dàng, nết na của nàng đã được thần dân khắp nơi yêu mến. Từ người hát xẩm ở phố thị cho đến đám trẻ chăn trâu ở thôn quê, đâu đâu người ta cũng đặt hò, vè, đồng dao ca ngợi nàng. Vua hài lòng với quyết định sáng suốt của mình; dẫu vẫn cảm thấy bị thiêu đốt bởi ánh nhìn của Cám đâu đây. Tấm tự tay chăm lo cho Vua từ miếng ăn, giấc ngủ. Nàng nghiêng mình vào vách đợi Vua hàng đêm và cần mẫn phục vụ những ham muốn của Vua một cách dè dặt, e ấp. Vua muốn được nghe những tiếng rên khoái lạc, được thấy nàng khát khao đòi hỏi... nhưng biết làm sao... Vầng hào quang “Mẫu nghi thiên hạ” như chiếc vòng kim cô xiết chặt vào những đêm ái ân của Vua và Hoàng Hậu. Vua không trách Tấm, nhưng ngài luôn cảm thấy cuộc sống của mình tẻ nhạt, thiếu hụt một chút lửa, một chút đam mê, một chút nổi loạn... Đều đặn mỗi tuần vài đêm, Vua cải trang ra khỏi cổng thành đến quán rượu “Chiếc hài lẻ bạn”. Lần nào gặp nhau, Cám cũng hỏi: “Chàng có hạnh phúc không?” và lần nào Vua cũng đáp: “Ở bên nàng, ta luôn thấy mình hạnh phúc”. Tấm về giỗ cha. Việc trèo cau trước đây luôn do Cám đảm nhiệm. Hôm ấy Cám bận cất một mẻ rượu mới nên về sau. Cỗ cúng đã xong mà chưa có cau nên mẹ Cám nhờ Tấm trèo lên hái giúp. Bà đứng dưới trông lên lo lắng. Không ngờ Tấm tuột tay và ngã xuống ao. Vua đưa Cám vào ở hẳn trong cung. Khi những đam mê, khát vọng được giải tỏa hàng đêm, Vua thường quay quắt nhớ sự dịu dàng, e lệ của Tấm. Một đêm, sau khi ái ân cùng Cám, Vua bỗng thấy Tấm hiện về. Đôi mắt ướt buồn thẳm sâu nhìn Vua đầy trách móc. Vua ôm Tấm vào lòng kêu lên: “Nàng ơi, nàng mới chính là bến đỗ bình yên của đời ta. Giá như có phép lạ cho nàng trở lại...” Cám nằm bên nghe hết mọi chuyện. Ngay đêm ấy, Cám bí mật rời khỏi cung. Quán rượu “Chiếc hài lẻ bạn” cũng bỏ hoang từ đó. * * * Hải nhận được một tin nhắn của Lan: “Em đã nhìn thấy chị và anh trong đám cưới của một người quen chiều nay. Trông anh chị thật hạnh phúc. Cách chị ấy nhìn anh là cái nhìn của sự tin cậy tuyệt đối. Đừng phá vỡ sự bình yên đang có anh ạ.” Hải nhấn chuột vào blog “Chiếc hài lẻ bạn” của Lan. “Bạn phải nhập mật khẩu mới truy cập được vào blog này. Gợi ý mật khẩu: chủ nhà sẽ đi vắng một thời gian, chưa biết lúc nào quay trở lại. Xin lỗi và cảm ơn các bạn” THƯ GỬI NGƯỜI ĐẾN SAU Truyện ngắn Em thân mến, Trước hết cho chị xin lỗi vì sơ suất để thằng cháu ngoại chào em bằng cô trong đám cưới hôm nay. Chị đã giải thích ngọn ngành cho cháu nghe rồi. Lần sau gặp, cháu sẽ chào em bằng bà trẻ. Giờ này em và anh ấy chắc đang còn say sưa trăng mật ở Bangkok. Từ trước, em và anh ấy chỉ gặp nhau ở nhà nghỉ và sau này là ở căn hộ anh ấy thuê cho em trên phố Đội Cấn. Bây giờ về nhà của mình thì mọi việc sẽ khác hơn chút xíu. Chính vì thế, chị viết lá thư này cho em, hy vọng khi trở về em sẽ không bị bất ngờ. Chị sẽ nói về mẹ trước nhé. Mẹ năm nay đã tám mươi tư tuổi, nhưng còn khoẻ mạnh và minh mẫn lắm. Mẹ là người phụ nữ yêu con nhất trên đời mà chị được biết. Phải chung chia với mẹ người “đàn ông tốt nhất trần gian”, em đừng nên hoài công tranh luận với anh ấy về bất kỳ việc làm gì của mẹ. Nhẹ nhàng thì anh ấy sẽ nói: “Sao em không vì anh mà chiều lòng mẹ?”. Còn nếu như em tiếp tục lấy vũ khí nước mắt ra khủng bố thì sẽ phải nghe những “tuyên bố” đầy kịch tính. Đại loại như: “Sai đúng gì thì cũng là mẹ tôi. Người ta chỉ thay được vợ chứ không thay được mẹ”. Hồi chị mới về làm dâu, nhà chỉ có một phòng ngủ. Phòng khách ngăn một tấm ri-đô kê thêm một chiếc giường ba xà. Mỗi tuần hai tối, mẹ ra ngủ ở giường ngoài và chị được vào phòng trong với anh. “Của bền tại người con ạ. Làm vợ là phải biết lo giữ sức khoẻ cho chồng”. Bây giờ nhà đã xây lại, mẹ đã có phòng riêng. Nhưng phòng ngủ của anh chị vẫn luôn kê thêm chiếc giường nhỏ cho mẹ. Tối nào mẹ muốn ngủ với anh thì chị sang phòng các con. Trách nhiệm của em bây giờ là phải sinh cho anh ấy một thằng chống gậy. Chị đã có sẵn tờ lịch “sinh con theo ý muốn” trong ngăn kéo phòng ngủ. Em nên công khai với mẹ về kỳ kinh của mình để mẹ cho em và anh gặp nhau vào những ngày “cao điểm”. Chị chỉ sinh được hai “con vịt giời” nên đến bây giờ vẫn bị coi là không biết đẻ. Mẹ làm việc luôn chân luôn tay nên sẽ không hài lòng nếu em thuê người giúp việc về lau chùi dọn dẹp ba tầng lầu, một tum và chợ búa, cơm nước. Ngay cả khi người giúp việc có đoạt vương miện “Ôsin thanh lịch” toàn quốc thì cũng không thể làm vừa lòng mẹ. Đơn giản vì mẹ không muốn có trong nhà một cô con dâu lười nhác và đồng tiền của con trai mẹ bị tiêu xài một cách phung phí. Em chịu khó dậy sớm thức khuya một chút là có thể được điểm của mẹ ngay. Buổi sáng, mẹ thường thức giấc từ năm giờ sáng. Em đừng nên để mẹ lọ mọ dưới bếp một mình khi hai vợ chồng vẫn còn “ôm nhau” trên giường. Đặt chân xuống đất, việc đầu tiên của em là bật bình nóng lạnh để khi anh dậy có ngay nước nóng rửa mặt. Tối nào em không tắt bình trước khi đi ngủ thì mẹ đi kiểm tra cũng rút phích điện ra khỏi ổ cắm. Anh không thích ra ngoài ăn sáng vì nhà mình gần cơ quan. Nhìn thấy anh ghé quán nào là tụi nhân viên sẽ kéo theo vào quán đó và tranh nhau trả tiền. Nếu hôm nào không kịp chuẩn bị sẵn thực phẩm trong tủ lạnh, em nên mang cặp lồng ra quán mua về cho mẹ và anh. Nhớ đổi món hàng ngày kẻo mọi người chóng chán. Anh rất thích ăn cay nên tủ lạnh phải thường xuyên có ớt tươi. Nước mắm nguyên chất và ớt không có hạt. Tuyệt đối không có một hạt nào! Bể nước ngầm nhà mình tuy đã đào sâu xuống hơn một mét nhưng nước không mấy khi tự động chảy vào. Em chịu khó thức tới quá nửa đêm rồi bật máy bơm. Nhớ đặt ở chế độ hút trước. Khi bể đầy thì chuyển sang chế độ đẩy để bơm nước lên bể treo. Mỗi tuần hai lần như vậy cũng không có gì vất vả. Sáu tháng một lần, em phải cọ rửa, làm vệ sinh cho các bể chứa. Đợi anh đi công tác vắng hãy làm. Bởi nếu có anh ở nhà mà em chui xuống bể thì anh sẽ không an tâm. Hai vợ chồng tranh nhau chui xuống hoặc để anh phải động tay vào những “việc đàn bà” sẽ làm cho mẹ rất phiền lòng. Trong ngăn kéo tủ bếp thứ hai từ trái sang, chị có một cuộn dây cáp để thông cống. Mỗi khi bồn tắm, chậu rửa hoặc hố ga bị tắc, em chỉ việc thả dây xuống, quay đều tay. Lúc kéo lên, tóc và rác sẽ theo lên cùng. Ở khe trống giữa tủ lạnh và tường bếp, chị đã mua một chiếc thang gấp. Mỗi khi bóng điện cháy, em chỉ việc leo lên là thay được ngay. Những việc đơn giản thế, đừng nên gọi thợ. Bọn chúng chỉ “lừa” được những phụ nữ lười biếng và ỷ lại chồng. Anh là người của công việc. Đến giờ ăn tối mà anh vẫn chưa về có nghĩa là anh còn bận việc công ty. Em và mẹ cứ dọn cơm ăn trước. Nhớ phần anh những miếng ngon nhất. Phụ nữ chúng mình ăn ngon chỉ tổ béo phì chứ chẳng có ích lợi gì. Nếu anh đã ăn ở quán xá, nhà hàng thì hôm sau miếng ngon ấy nên nhường cho mẹ. Tuyệt đối không gọi điện em nhé. Bọn “thối mồm” sẽ nói anh bị vợ “kiểm tra giám sát”. Không nên để anh bị “quê” với thuộc cấp. Quá nửa đêm, nếu anh vẫn chưa về thì em vẫn nên vào giường nằm. Không được thức xem tivi hoặc lang thang trên mạng. Nhà nước đã phê chuẩn tăng giá điện. Đừng để cho mẹ phải giật mình mỗi khi kiểm tra hoá đơn hàng tháng. Hại tim của người già, em ạ. Nếu vào giường mà vẫn không ngủ được thì khi nghe tiếng kẹt cửa hoặc nghe hai mẹ con chào nhau ở dưới nhà, em phải giả vờ đã ngủ thật say. Việc em thức chờ sẽ làm cho anh mang mặc cảm áy náy với vợ. Hãy tin anh ấy như chị đã từng đặt trọn niềm tin. Về kinh tế thì em cũng không nên quá băn khoăn. Mặc dù theo quyết định của toà án, anh ấy đã mua cho chị một căn hộ ở khu đền bù ngoài đồng xa; Nhưng số tiền anh ấy kiếm được thông qua các khoản chia chác cũng vẫn đủ để cho cả nhà sống thong dong. Ngăn cuối của chiếc tủ tường trong phòng ngủ, nếu nhìn kỹ, em sẽ thấy một chiếc ô nhỏ. Ổ khoá được thiết kế chìm rất khéo léo. Chỉ có anh và mẹ có chìa khoá mở chiếc ngăn đó. Tài sản của cả nhà đấy em ạ. Chị tình cờ phát hiện ra khi một đêm, quờ tay sang không thấy anh đâu. Quay người lại, chị thấy anh đang dùng chiếc đèn pin bé xíu, ngồi xoạc chân đếm đếm rồi buộc từng buộc bằng dây thun ngay ngắn. Hôm ấy anh vừa đi công tác về. Lẽ ra anh nên đợi hôm mẹ vào ngủ để cất tiền thì chị sẽ chẳng bao giờ phát hiện ra. Thỉnh thoảng, em sẽ thấy có những vị khách từ các tỉnh đến thăm nhà. Đừng tiếp khách một mình em ạ. Mọi quà biếu nên để cho mẹ nhận. Nếu không em sẽ không có gì để làm bằng chứng rằng mình đã chuyển hết số quà của khách cho anh và mẹ. Anh làm sếp, thu nhập cũng đủ để cho em ở nhà nội trợ. Nhưng chị nghĩ em vẫn nên cố gắng đi làm. Mặc dù vẫn có lương hưu “lão thành cách mạng”, nhưng mẹ luôn khiêm tốn nói “ở nhà có mình tôi là người ăn bám”. Thêm một người ở nhà nữa sẽ là “gánh nặng” đè xuống vai con trai của mẹ. Đừng để mẹ bận lòng thêm. Còn nhiều điều nữa, chị muốn chia sẻ cùng em như một người đi trước, nhưng chị nghĩ không thể gói gọn trong một lá thư. Nếu có điều gì chưa biết, em cứ gọi điện cho chị, đừng băn khoăn, ái ngại gì. Chị còn cảm ơn em chưa hết, sao lại nói là giận em được.... Từ ngày chuyển xuống khu đồng xa, lần đầu tiên chị được biết thế nào là “ngủ nướng”. Chị không còn cần phải thức giấc lúc năm giờ sáng, lấy khăn bông che lên mắt anh để ánh nắng khỏi chiếu vào. Anh thích mở rèm cửa khi ngủ để ngắm trăng, nhưng lại ghét bị nắng sớm làm chói mắt. Anh bị tim mạch và huyết áp cao, nên chị thường không dám ngủ sâu để còn theo dõi tiếng ngáy của anh hàng đêm. Hôm qua, sau giờ làm việc, chị đã rẽ qua cửa hàng thẩm mỹ đắp mặt nạ. Chị không muốn thế, nhưng mấy chị bạn ở lớp khiêu vũ quốc tế cứ kéo chị đi bằng được... À quên, chị còn theo học một lớp viết văn ngắn hạn ở trường Tổng hợp. Lần đầu tiên sau mấy chục năm, chị đã đến dự họp lớp đại học. Bạn bè vẫn còn nhắc đến những bài thơ của chị trên Báo Văn của trường ngày xưa.... Huyên thuyên với em toàn chuyện không đầu không cuối. Chúc ba người: Mẹ, Anh và em hạnh phúc. Chị. VỢ CỦA THIÊN THẦN Truyện ngắn Đám cưới chỉ còn đợi chọn ngày thì Thắng tuyên bố từ hôn. Trâm tránh mặt tất cả bạn bè, lặng lẽ đi về như cái bóng. Bắt đầu có lời xầm xì rằng Thắng bỏ Trâm chỉ vì tôi. Cực chẳng đã, tôi lôi cổ thằng bạn chí cốt ra quán cà phê chất vấn: - Sao mày lại làm thế với Trâm hả Thắng? Lần đầu tiên biết tin hai đứa yêu nhau, tôi cũng lôi Thắng ra quán này hăm dọa: - Mày mà làm cho Trâm khổ thì cả lớp sẽ lột da mày! Lúc ấy Thắng cười hiền khô: - Dân tàu bè như tao rất cần một người vợ hiền lành, đức độ như Trâm. * * * Tôi học chung với Trâm từ năm cấp hai. Bố Trâm hy sinh khi nó mới hai tuổi. Không biết có phải vì mẹ nó quá buồn đau không mà mắt Trâm lúc nào cũng trong veo và buồn như mắt Đức Mẹ. Trâm chăm chỉ, ngoan ngoãn, không bao giờ tham gia vào bất cứ trò nghịch ngợm nào của bọn “nhất quỷ nhì ma”. Còn nhớ hồi lớp sáu, thầy Thịnh dạy toán có hai cái “đít chai” xoáy mấy vòng trôn ốc. Chắc cũng phải tới bảy - tám đi-ốp. Khi thầy giảng đến bài “các điều kiện bằng nhau của tam giác”, thằng Thành “sứt” ngồi dưới nói leo rõ to cho cả lớp cùng nghe: “kính cận kính - cận kính cận - cận cận cận”*. Chúng tôi cười nghiêng ngả chỉ có thầy Thịnh và Trâm không cười. Thằng Thành bị lôi lên phòng hiệu trưởng. Trâm vừa khóc vừa đi tìm mẹ là giáo viên trong trường nhờ xin tha cho bạn. Lên cấp ba, do ở cùng địa bàn nên tôi và Trâm vẫn học cùng nhau. Tiếng là thân nhau nhưng đối với tôi, Trâm như thuộc về thế giới khác. Thế giới của những thiên thần, không biết nói dối, bỏ giờ, trốn tiết, quên vở, thiếu bài... Bọn con trai có đứa nghịch ngợm đã vẽ lên bìa vở của Trâm hình chiếc ly thủy tinh có ô che - “Hàng dễ vỡ”. Hồi mới vào lớp, tôi và Trâm được xếp ngồi cùng bàn. Về sau, tôi bị chuyển xuống ngồi xen kẽ với con trai để tránh nói chuyện riêng trong giờ. Tôi với Yến và Thắng ở hai dãy bàn cuối lớp đã tạo thành một “tam giác quỷ”. Một lần, trong giờ giảng văn, Yến lấy tờ giấy nháp vẽ hý hoáy rồi truyền sang cho tôi. Yến vẽ giỏi lắm. Báo tường của lớp tôi bao giờ cũng được giải là nhờ nó. Chẳng khó khăn gì tôi cũng nhận ra Chí Phèo và Thị Nở. Mấy câu hát cải biên trong bài “Tình yêu bên dòng sông Quan Họ” – được chép nhanh ngay dưới hình vẽ: “Con sông của làng Vũ Đại - Chí Phèo bơi lội tung tăng - tiếng em giống như trâu thở - Anh nghe để nhớ cháo hành”. Viết xong tôi ném tờ giấy xuống cho Thắng. Tiếng cười rích rích nổi lên. Tờ giấy được chuyển đến chỗ Trâm thì bị dừng lại. Trâm thậm chí còn không mở ra xem nội dung bên trong mà lẳng lặng cất vào ngăn bàn. Cuối năm lớp chín, vì thành tích văn nghệ, thể thao, lớp tôi được thưởng một quả bóng bằng da. Con trai muốn làm bóng đá, con gái muốn chơi bóng chuyền. Tranh chấp mãi, cuối cùng đi đến thỏa thuận mỗi “phe” chơi một ngày. Hôm ấy đến lượt con gái giữ bóng thì nhà trường cho nghỉ ba tiết cuối. Bọn con trai điều đình, con gái chơi hai tiết, còn tiết cuối cùng cho bọn con trai mượn để chơi luôn sau giờ học. Lời qua tiếng lại, chẳng ai chịu ai. Không khí nóng dần lên khi có ai đó nói “nhỏ nhen”, “tầm thường”... Cuối cùng cả bọn hăng tiết vịt, thách nhau cắt đôi quả bóng để khỏi “mất đoàn kết”. Vinh còi bảo: “đã xẻ là xẻ từ vòi xuống!”. Khi tôi và Thắng kéo căng quả bóng ra cho thằng Hòa cắt thì Trâm chạy tới. “Các bạn có dừng ngay lại không?” Chắc tại đôi mắt trong veo của nó mà cả ba chúng tôi đã dừng tay. * * * Hết cấp ba, tôi đỗ đại học sư phạm I, Thắng vào trường Hàng Hải, Trâm vào cao đẳng mười cộng ba còn Yến vào được Sư phạm nhạc họa. Nghỉ hè, chúng tôi vẫn tụ tập nhau. Bạn bè hỏi bao giờ tôi và Thắng lấy nhau. Thắng bảo bao giờ cái Hà (là tôi) gọi tao bằng anh thì tao sẽ nghĩ lại. Tôi bảo Thắng: “Đợi tao đến tết Công-gô”. Ra trường, tôi bị phân công vào Lâm Đồng dạy mất mấy năm rồi mới xin chuyển được về thành phố. Thắng xuống tàu viễn dương đi chuyên tuyến Singapore và Nhật. Thỉnh thoảng, Thắng vẫn nhờ tôi đi “đổ” hàng hoặc đổi hộ ít ngoại tệ. Ngày ấy mua bán ngoại tệ là phạm pháp. Phải có những người uy tín trong “nghề” giới thiệu thì mới được đặt chân đến những “sới” buôn bán đô-la. Không có quầy hàng, biển hiệu. Khách đến mua ngồi chơi uống nước trên sa lông như bạn của chủ nhà. Đến đầu một góc phố đã thỏa thuận, hạ chân chống xe xuống vỉa hè, mua một bao thuốc lá là nhận xong “hàng”. Đô la được cuộn trong một tờ giấy nhỏ, có ghi rõ số sê-ri và chữ ký của người bán. * * * Thắng kể gặp Trâm trong bệnh viện chăm mẹ ốm. Đợt ấy bố Thắng cũng nằm bệnh viện mổ gan. Trâm chạy qua chạy lại, chăm sóc cả hai ông bà... thế là “anh chết trong mắt Trâm”. Tôi hỏi Thắng, nếu chỉ mang ơn Trâm, sao mày không nói ngay từ đầu? Sao lại đợi đến khi nó may xong áo dài mới thôi? Thắng bảo nó bỏ Trâm chỉ bởi vì Trâm tốt quá. Hai năm trời yêu Trâm, lúc nào nó cũng mang mặc cảm của kẻ dưới tầm. Tao không dám kể cho Trâm nghe những ngày lênh đênh trên biển, cả bọn quây nhau trên chiếu bạc thâu đêm suốt sáng. Tao không dám nói với Trâm cảm giác thèm đàn bà khi xa đất liền hàng tháng trời. Tao sợ bị Trâm coi thường. Chưa một lần Trâm cho tao ngủ lại qua đêm. Chưa một lần tao dám nhờ Trâm đi giao hàng, nhận hàng giúp mình. Hình như tất cả những việc ấy trong mắt Trâm đều như quá trần tục, tầm thường. Sao Trâm không như mày để tao có thể sống thật sự là tao? Để tao không có cảm giác của một học sinh trả bài mỗi khi nói chuyện với Trâm? Tao muốn được văng tục mỗi khi bị mất hàng. Tao muốn uống đến say xỉn khi vui vẻ cùng bạn bè sau mỗi chuyến đi xa trở về... Tao muốn... tao muốn... Lần cuối cùng trước khi chia tay, tao chở Trâm đi xuống cảng. Gặp một bà ăn xin ở Ngã Sáu, tao chống chân xuống, ném vào chiếc nón của bà hai ngàn đồng. Trâm xuống xe, vuốt thẳng tờ giấy bạc rồi đặt vào tay bà... Tao không thể, Hà ơi. Đau nhất là lúc nào Trâm cũng đúng. Lúc nào tao cũng là kẻ vô học, thiếu văn hóa...” * * * Sau đó hơn một năm, Thắng cưới cô bé học dưới chúng tôi ba khóa. Chồng tôi làm nghề ngoại giao. Mấy năm một lần, tôi đóng gói đồ đạc “theo chàng đi xứ”. Hồi kỷ niệm hai mươi năm tốt nghiệp phổ thông, tôi “vô công rồi nghề” nên xung phong vào Ban tổ chức. Chúng tôi mời được cả các thầy cô giáo cũ đến dự. Trâm dắt theo một bé gái độ chín, mười tuổi. Nghe đâu là con riêng của chồng Trâm. Hai người lấy nhau do mai mối của bạn bè. Anh kia làm ở văn phòng Ủy ban quận. Vợ đi lao động xuất khẩu rồi ở lại luôn không về. Ở với Trâm được gần hai năm, anh chồng lại tìm cách sang với vợ cũ. “Sống bên em lúc nào anh cũng thấy mình tầm thường, tẻ nhạt. Nhờ em chăm sóc bé Hà Linh giúp anh. Khi xong giấy tờ thủ tục nhập cư, anh sẽ quay về đón cháu.” Chúng tôi bảo nhau, những người thánh thiện như Trâm chỉ nên làm vợ Thiên Thần. CHANNEL 5 Truyện ngắn Thi xong môn cuối cùng, Dũng đi thẳng từ trường ra sân bay. Hành lý gọn nhẹ chỉ có một va li nhỏ và một túi xách tay đựng chiếc máy tính đã được Dũng gửi ở cổng bảo vệ trước khi vào phòng thi. Mấy tháng nay, Dũng hầu như không gặp được Thùy trên mạng. Gửi thư về chỉ thấy Thùy viết sang vắn tắt: “Em và các con khỏe. Mong anh về”. Viết thư cho các con, Dũng không dám hỏi nhiều. Chỉ dặn hai đứa phải biết nghe lời và giúp đỡ mẹ. Sau khi sinh thằng Nhân, Thùy đã xin nghỉ hẳn ở nhà. Môn địa lý của Thùy ở trường cấp hai thường bị học sinh coi nhẹ. Trong giờ Thùy lên lớp, nhiều đứa mang bài tập toán ở lớp học thêm ra giải. Có đứa lên trả bài, tìm “Ải Nam Quan” trên bản đồ lại chăm chăm nhìn về Mũi Cà Mau. Biết Thùy mê sách, Dũng bàn mở một quán sách nhỏ. Thùy vừa chăm con, vừa tranh thủ trông coi cửa hàng, và quan trọng là có thể đọc được mọi cuốn sách mình thích. Tầng một của ngôi nhà được ngăn thành hai nửa. Nửa ngoài kê mấy tủ kính đựng sách; nửa trong kê chiếc giường nhỏ cho mẹ và chiếc cũi lưới cho con. Khi Thằng Nhân được bốn tuổi, Thùy sinh tiếp bé Hậu. Hậu được thừa hưởng nhan sắc của mẹ và sự tinh anh của cha. Trong nhà hình thành hai phe: Thằng Nhân lúc nào cũng “Mẹ! Mẹ!”. Còn Dũng lúc nào cũng cho con Hậu ngồi lên vai chạy khắp nhà “con gái bia Heneiken của bố”. Việc Dũng xin được học bổng tiến sỹ ở Mỹ cũng hoàn toàn tình cờ và may mắn. Vị giáo sư giúp đỡ Dũng làm luận văn tốt nghiệp sau khi về nước đã tích cực vận động tài chính cho Dũng sang học tiếp. “Việt Nam sẽ rất cần những nhà nghiên cứu xã hội học để giữ được bản sắc văn hóa của mình khi hội nhập với thế giới”. Hồ sơ gửi đi, nhà trường dàn xếp với Văn phòng của Ngân Hàng Thế giới tại Hà Nội cho Dũng dự phỏng vấn qua phương tiện video-conference. Lúc nhận được giấy báo, Dũng thấy mình như vừa bay lên trên mây rồi lại bị rơi xuống không trọng lượng. Bảy năm học là một khoảng thời gian quá dài. Đưa Thùy và hai con cùng sang thì khoản tiền trợ cấp của nhà trường không đủ trang trải cho một gia đình bốn người. Nếu Dũng đi một mình, mọi gánh nặng sẽ dồn hết lên vai Thùy. Thằng Nhân, con Hậu đang tuổi ăn tuổi lớn. Một cậu bạn học cũ của Dũng ở Quảng Ninh đã có một đứa con dính vào chất trắng. “Bình quân ở đây mỗi gia đình nuôi một con nghiện mày ạ”. Cuối cùng thì mọi việc cũng được dàn xếp ổn thỏa. Toàn bộ tầng dưới sẽ cho một văn phòng Tư vấn du học thuê. Số tiền năm triệu một tháng đủ để cho ba mẹ con Thùy nuôi nhau khi Dũng vắng nhà. Mấy tủ sách của Thùy được chuyển sâu vào phía trong. Bây giờ ngoài sách văn học, Thùy nhận thêm cả các loại sách dạy và học tiếng nước ngoài. Dũng dự kiến sau khi học xong bốn năm đầu, Dũng sẽ xin nhà trường cho tham gia trợ giảng để có thêm thu nhập. Lúc ấy có thể đưa Thùy và hai con sang. Thùy không ra sân bay đón như mỗi lần Dũng đi công tác nước ngoài. Phòng ngủ của hai vợ chồng được kê thêm một chiếc ghế so-fa. Thùy nói với các con, không muốn nằm trên giường xem ti-vi vì hay ngủ quên. Suốt một tháng Dũng về, đêm nào hai người cũng nhường nhau nằm giường. Tuấn đang rất cần Thùy. Thùy nhờ Dũng mang theo hai con sang Mỹ. “Anh là một người đàn ông tuyệt vời nên em không thể lợi dụng và lừa dối anh. Nhưng em chẳng thể yên lòng khi thấy Tuấn kéo lê những ngày cuối cùng của mình trong rượu và tuyệt vọng. Hãy cho em cơ hội “trả nghĩa” Tuấn một lần”. * * * Bố Thùy hy sinh khi cô mới lên mười. Năm Thùy mười bốn tuổi, mẹ Thùy chết trong một tai nạn giao thông. Không yên tâm để Thùy sống một mình giữa thành phố lớn, ông ngoại từ Thái Bình lên chăm lo cho Thùy. Tiêu chuẩn mười ba cân gạo và khoản tiền tuất của bố phải chia đều cho hai ông cháu. Mảnh sân trước nhà ngày mẹ còn sống thường là nơi tụ tập của bọn trẻ trong xóm đã được hai ông cháu biến thành vườn rau, mùa nào thức ấy. Bạn bè của mẹ Thùy thỉnh thoảng ghé thăm, người cho mớ rau, người tặng nải chuối. Các khoản đóng góp ở trường của Thùy thường được giáo viên chủ nhiệm cùng cán bộ lớp vận động từ quỹ Hội cha mẹ học sinh. Sợ Thùy “mặc cảm” mỗi khi lớp tổ chức các buổi đi chơi, lúc nào Tuấn - lớp trưởng - cũng nghĩ ra một cuộc thi nào đó để Thùy thắng cuộc. Hết lớp mười, Tuấn thiếu một điểm vào đại học, Thùy đỗ vào Cao đẳng sư phạm. Tuấn nói sẽ đi làm việc để nuôi Thùy ăn học. Tuấn đi theo xà lan chở hàng liên tỉnh, có khi cả tháng mới về. Lần nào đến thăm Thùy, xe đạp của Tuấn cũng chằng buộc gạo, mắm, muối, thực phẩm đủ cho Thùy sống cả tháng tiếp theo. Có lần Tuấn đề nghị “hay là chúng mình lấy nhau để ông ngoại có thể yên tâm về quê...” Thùy nói đợi khi Thùy ra trường, xin được việc làm thì Tuấn sẽ phải lên bờ đi học lại để Thùy có cơ hội “nuôi Tuấn ăn học”. Thùy ra trường, sinh viên sư phạm thất nghiệp cã dãy. Thùy xoay xở đủ nghề: đan len, thêu hàng xuất khẩu thậm chí in cả vàng mã... để lo cho cuộc sống của hai ông cháu. Tuấn vẫn đi về, nhưng số tiền Tuấn kiếm được vẫn không đủ cho đám cưới của hai người. Rồi Tuấn bị bắt vì tội buôn lậu. Mấy trăm bao bột mỳ trên chuyến tàu Thống Nhất chở vào Sài Gòn đã bị quản lý thị trường bắt giữ. Ngày Tuấn ra tòa, Thùy đã khóc không còn nước mắt. Án phạt tù hai năm. Tuấn dặn Thùy phải tự lo liệu cho bản thân. Những tháng đầu, Thùy thường đi cùng mẹ Tuấn lên thăm Tuấn. Khi biết có Thùy đi cùng, Tuấn dứt khoát không ra nhận quà thăm nuôi. Từ sau đó mẹ Tuấn thường đi một mình. Ngày Tuấn được tha, Thùy tìm lên tận trại để đón, nhưng anh nhảy lên chiếc xe của gia đình mà không nói với Thùy một lời. Gia đình Tuấn sau đó chuyển hẳn vào Sài Gòn. Hai người hoàn toàn mất liên lạc với nhau từ đấy. Ông ngoại mất, rồi Thùy gặp Dũng. Một lần, khi con Hậu mới lên bốn, Thùy đang lúi húi quét bụi cho những cuốn sách không bán được thì một người khách bước vào. “Chị cho tôi mua toàn bộ số sách này nhé”. Thùy giật mình đánh rơi chiếc phất trần. Giọng nói ấy dẫu trong đám đông cả ngàn người Thùy vẫn nhận ra. Tuấn nhấc bé Hậu lên quay tít mấy vòng rồi nói: “Con bé xinh quá. Mình đã từng mơ có một đứa con gái như thế này”. Tuấn kể sau khi chuyển vào Sài Gòn, anh đã đi học trở lại và bây giờ đã trở thành máy trưởng trên một con tàu viễn dương. Tàu của Tuấn chuyên chạy tuyến châu Âu nên mấy tháng mới về một lần. Chuyến này, tàu trả hàng ở phía Bắc nên Tuấn tìm đến thăm Thùy. “Chỉ cần Dũng làm khổ em một lần, anh nhất định sẽ không tha thứ cho anh ta”. Tuấn tặng Thùy một lọ nước hoa Chanel 5. “Chính mùi hương này đã bắt anh phải quay lại tìm em. Em hạnh phúc là anh yên tâm”. Sau đó, mỗi lần tầu cập cảng phía bắc, Tuấn lại đến thăm Thùy với một lọ Chanel 5. Trong tủ phấn của Thùy, sản phẩm Chanel 5 đã có một bộ sưu tập với đủ mọi kiểu dáng, kích cỡ. Có lần Thùy hỏi sao Tuấn không lập gia đình. Tuấn nói, lúc trước Tuấn không lấy vợ vì không gặp được ai như Thùy. Sau này, Tuấn đã tự cho phép mình buông thả mỗi khi tàu cập đất liền... “Mình chẳng còn xứng đáng với ai và cũng chẳng muốn làm khổ ai nữa. Chỉ cần Thùy vẫn cho Tuấn ghé thăm mỗi lần về lại thành phố này là được”. Bẵng đi hai năm, Thùy không thấy Tuấn trở lại thăm mình. Cô nhờ bạn bè cùng lớp tìm kiếm giúp thì được biết Tuấn đã phát hiện ra mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ. “Cậu ấy không còn ra hình người nữa rồi”. Và Thùy đã gọi Dũng về. Dũng có một tháng để làm mọi giấy tờ cần thiết cho hai con đi theo mình. Con Hậu mười bốn tuổi, đã ra dáng như một thiếu nữ. Nó hứa với mẹ sẽ chăm sóc bố và anh Nhân chu đáo. Dũng ký sẵn vào tờ đơn ly hôn. “Khi nào muốn, em có thế ký vào phía bên kia và gửi ra tòa án. Chắc là em sẽ phải tự giải quyết mọi việc một mình. Anh sẽ không về nữa”. Thùy gửi nhà cho một người em của Dũng trông coi. Tiền cho thuê nhà hàng tháng được gửi vào một cuốn sổ tiết kiệm. “Khi ba bố con về sẽ có tiền chi tiêu”. Cô vào Sài Gòn tìm Tuấn. Những ngày đầu, Thùy phải tá túc tại nhà một người quen. Tuấn không tiếc lời nhiếc mắng, sỉ vả Thùy chỉ để cho cô nghĩ lại. Mẹ Tuấn cứ ôm lấy Thùy mà khóc. Bà giữ Thùy ở lại nhà mình: “Con đừng bận tâm đến những điều nó nói, có con, bác đỡ đau hơn...”. Thùy đã giúp Tuấn đứng dậy và sống nốt những ngày còn lại một cách hữu ích. Cô cùng Tuấn tham gia “hội đồng đẳng”. Họ trở thành báo cáo viên của nhiều cuộc tập huấn về AIDS và phòng tránh AIDS. Cô cùng Tuấn đến các bệnh viện thăm hỏi những bệnh nhân đang ở vào giai đoạn cuối. Tuấn đã trở lại “chàng lớp trưởng” vui nhộn và hóm hỉnh của ngày xưa. Những lúc chỉ có hai người, anh thường nhắc Thùy dùng nước hoa Chanel 5 rồi cứ thế hít hà. Một lần, khi Tuấn đã phải nằm liệt một chỗ, Thùy hỏi tại sao Tuấn lại chỉ tặng Thùy Chanel 5 trong khi ở Pháp có đủ các hãng nước hoa danh tiếng. Tuấn kể một hôm bước ra từ một quán ăn trên đường phố Paris, anh đã nhìn thấy một cô gái có mái tóc dài và đôi mắt buồn như của Thùy. Không hiểu vì đôi mắt hay mùi nước hoa đã dẫn dụ mà Tuấn đi theo cô ta đến tận bãi đậu xe. Cô gái nổ máy đi rồi, Tuấn sực tỉnh và chạy vào các cửa hàng mỹ phẩm gần đấy. Ngửi tới hơn hai chục loại khác nhau, Tuấn mới xác định được nhãn hiệu Chanel 5. Và một ý nghĩ thôi thúc Tuấn quay về gặp Thùy. “Mình sẽ lấy vợ nếu Thùy thực sự hạnh phúc”. Sau khi lo liệu xong cho Tuấn, Thùy mua một túi hoa khô đặt lên bàn thờ và dặn mẹ Tuấn tẩm Chanel 5 vào đó mỗi tuần. Cô trở lại căn nhà cũ của mình và mở lại quầy sách. Dũng đã học xong và đang được giữ lại làm trong phòng nghiên cứu khoa học của trường. Thằng Nhân đã tốt nghiệp đại học từ năm ngoái và đang định học tiếp cao học. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết sinh viên tốt nghiệp đều trở lại trường để “đợi thời cơ”. Con Hậu đã vào đại học được hai năm. Hai đứa vẫn thường xuyên gửi email về hỏi thăm mẹ và “chú Tuấn”. Cách đây mấy tháng, thằng Nhân viết thư thông báo: “Bạn con về Việt Nam ăn tết. Mẹ sẽ nhận được một món quà đặc biệt”. Tết âm lịch qua lâu rồi vẫn không thấy thằng bé mang thư và quà tới. Trước Valentine hai ngày, Thùy đang gói sách cho một cậu bé mua quà tặng bạn gái thì thấy có người hỏi thăm tên mình. Thằng bé tự giới thiệu là bạn của Nhân. Nó nói bác Dũng và Nhân dặn ngày hôm nay mới được đến chuyển quà. Nó để lại số điện thoại và dặn: “Nếu cần giúp gì cô cứ gọi cho cháu”. Tiễn thằng bé ra cửa, Thùy trở vào run run mở gói giấy có in hình những trái tim đỏ và hồng đan xen vào nhau. Chiếc nhẫn cưới Dũng tặng ngày xưa, trước khi chia tay cô đã trả lại cho Dũng. Một chiếc vé máy bay và một lá thư mời. Trong tấm thiệp có hình cậu bé có đôi cánh thiên thần đang giương cung bắn, Dũng viết “Anh và các con vẫn đợi em”. TÌNH THƯ Truyện ngắn Ông đổ bệnh sau khi nhận được lá thư cuối cùng của cô. “Em không thể tiếp tục viết cho anh được nữa. Chúng em đã quyết định quay lại cùng nhau”. Mặc dù chính ông là người khuyên cô tha thứ cho người ấy, nhưng sự chia tay của cô để lại trong ông một khoàng trống khủng khiếp. Hơn hai năm nay, ngày nào hai người cũng viết cho nhau. Tám trăm ngày có lẻ với hai ngàn bảy trăm bốn mươi sáu lá, cả thư đi thư về. Có đợt ông phải về quê đột xuất không kịp báo cho cô hay. Lúc trở ra hơn mười lá thư trong hộp thư đến được đánh số thứ tự với cùng một tiêu đề “Anh đâu rồi?” Ngày cô đi công tác đến nơi không có internet, ông đứng ngồi không yên. Ngơ ngẩn, ngẩn ngơ như con nghiện thiếu thuốc. Rồi cô trở về với tiêu đề thư như một tiếng reo: “Em đây!”. Chắc cô cũng hiểu ông đã mong ngóng những dòng chữ ấy biết chừng nào. * * * Ông gặp cô trong một cuộc hội thảo về Văn hoá dân gian do một tổ chức Phi Chính Phủ tài trợ. Cô vừa làm phiên dịch vừa hướng dẫn thảo luận nhóm. Đối tượng của hội thảo là những người làm công tác nghiên cứu và bảo tồn văn hoá dân gian. Ông nghỉ hưu lâu rồi, nhưng đến phút cuối cùng, cậu phụ trách dự án bận việc đột xuất nên ông trở thành “diễn viên đóng thế” cao tuổi nhất. Ba ngày dự hội thảo khiến cho ông thấy mình trẻ lại rất nhiều. Ông vào vai ông xẩm bán vé chợ quê nhuyễn đến nỗi mọi người đã quên hẳn cái biển tên ông đeo trước ngực. Lúc đầu, cô gọi ông bằng chú, xưng cháu. Đến hết ngày thứ hai, cô mời “anh bán vé chợ” lên thay mặt nhóm trình bày tóm tắt phần thảo luận hôm trước. Trước khi chia tay, cô viết địa chỉ email cùng số điện thoại của mình lên tờ giấy khổ lớn. Mọi người sẽ gửi cho cô bản thu hoạch và đánh giá hội thảo sau khi trở về địa phương của mình. Cô mời ông khi nào có điều kiện ra Hà Nội thì ghé thăm nhà cô cho biết. Ông nửa đùa nửa thật, nếu dự án hỗ trợ tiền vé máy bay thì tháng nào ông cũng trở ra thăm cô. Lá thư đầu tiên ông viết cho cô không liên quan đến hoạt động dự án vào ngày 17 tháng 4 năm 2006. “Em thân mến, Thế là cuối cùng anh cũng nhận được thư em. Mong quá. Thú thật khi nhận được thư em, anh ngạc nhiên lắm. Em bận thế mà vẫn trả lời thư cho từng người. Anh rất vui khi em vẫn gọi anh là “anh bán vé chợ”. Từ ngày về nghỉ hưu đến nay, anh không còn thói quen kiểm tra hộp thư hàng ngày nữa. Nhưng từ hôm gửi bản thu hoạch đi đến giờ, ngày nào anh cũng mong có hồi âm từ em” Có lần cô viết cho ông một lá thư từ sáng sớm. “Anh đã đọc báo chưa? Mười mấy đứa trẻ bị chìm đò ấy. Tội quá! Em không thể ngủ được.” Ông trả lời: “Những đứa bé ấy đã được sống bao giờ đâu mà chết hả em? Sống cơ cực thế không thể gọi là sống” * * * Trong hơn hai ngàn lá thư viết cho nhau, ông đã kể cho cô nghe về những tháng năm nghèo đói nhưng hạnh phúc của mình. Vợ ông là người phụ nữ đảm đang. Một mình bươn chải đủ mọi nghề để lo cho gia đình. Còn ông cứ lang thang theo những đam mê của ḿình, hết ra Bắc, lại vào Nam. Cái nghề nghiên cứu văn hoá của ông phải thế. Bà phải nằm một chỗ từ năm năm nay, sau một trận đột quỵ. Những năm đầu ông còn có cô con gái lớn giúp ông chăm lo cho bà. Cách đây ba năm, cô bị phát hiện ung thư ở vào giai đoạn cuối. Bà nằm đau đớn và bất lực nhìn đám tang của con gái mình. “Lá vàng còn ở trên cây...”. Sau khi vợ chết, con rể ông mang hai đứa cháu về bên nội. Nhà chỉ còn lại hai ông bà. Cô con gái thứ hai lấy chồng ở xa. Thỉnh thoảng cô về thăm hoặc gửi biếu bố ít tiền lo cho mẹ. Mấy ngày ông ra Hà Nội tập huấn, cô nghỉ phép về chăm mẹ để ông đi xa một chuyến “thay đổi không khí”. Ông kể cho cô nghe công việc hàng ngày của mình. Đi chợ, nấu ăn, giặt giũ. Những lúc rảnh rỗi, ông thường ngồi xoa bóp chân tay cho bà. Kể cho bà nghe về những chuyến đi thực tế của ông ngày xưa. Cô viết thư dặn ông mua đệm nước “để chị nằm đỡ mỏi và không bị lở loét do nằm lâu”. Cô nhờ bạn bè đi công tác nước ngoài mua “biếu chị” những loại kem xoa bóp đặc hiệu. Cô viết: “Anh chị phải là của nhau mãi mãi. Em chỉ xin chị mỗi ngày mười mấy phút khi chị đang ngủ để anh viết cho em.” Có lần ông viết cho cô ”đêm qua, anh và chị đã “làm tình” em ạ. Chị không muốn anh lên ngủ trên gác lửng. Anh đã cởi bỏ hết quần áo và nằm xuống ôm chị vào lòng. Khi tay anh chạm xuống giữa hai khe chân, chị ấy đã bật khóc như đứa trẻ.” Cô gửi thư chúc mừng ông. Dặn ông phải ngủ chung giường với vợ thường xuyên hơn. “Có anh, em mới thấy mình cần một người đàn ông cho riêng mình biết chừng nào. Em từng nghĩ mình có thể tự lo cho mình đến lúc già, nhưng hình như em sai rồi anh ạ”. * * * Cách đây gần một năm, cô báo cho ông biết chồng cô sau nhiều năm sống ly thân nay lại muốn quay về sống cùng vợ và các con. “Em phân vân lắm. Hơn một năm nay, em đã quen sống một mình và có anh để chia sẻ mọi buồn vui. Làm sao em sống được nếu không được đọc thư anh hàng ngày?” “Nghe anh đi, đừng bướng bỉnh em bé ạ. Anh ấy đã hiểu ra giá trị của em nên mới quyết định tìm về. Anh tin rằng em sẽ hạnh phúc”. “Anh không biết như chúng mình có gọi là ngoại tình không nhỉ? Một người luôn dặn người kia phải yêu thương, chăm sóc và thường xuyên ngủ với vợ mình. Người kia luôn khuyên giải người yêu quay về với chồng cũ”. “Nếu không còn em nữa, mỗi buổi sáng thức dậy, anh có còn ngồi vào máy tính kiểm tra thư không?” “Mười lăm phút chờ thư nhau là mười lăm phút hạnh phúc nhất của anh trong ngày em bé ạ”. “Đêm qua em nằm mơ thấy anh ra Hà Nội thăm em”. “Hay là để anh gọi con gái về chăm mẹ vài ngày cho anh ra gặp em trước khi mình chia tay vĩnh viễn”. “Anh bán vé chợ ơi, anh lại định vi phạm luật chơi à? Chúng mình đã cam kết không gặp mặt, không gọi điện cơ mà”. “Đã có lúc anh ước chị ấy là em”. “Nhiều khi em cứ nghĩ giá như em không nhận lời làm phiên dịch cho lớp tập huấn đó. Có thể cuộc sống của em sẽ không bị xáo trộn như sau ngày gặp anh”. “Nếu không có những lời động viên của em, chưa chắc anh đã chăm lo cho chị ấy được chu đáo như bây giờ.” “Vẫn biết yêu anh là phải chịu thiệt thòi - Là lặng lẽ ẩn mình trong góc khuất” * * * Ông lập cho mình một hộp thư mới bằng tên ghép của hai người. Mỗi buổi sáng, ông chuyển một lá thư của cô vào địa chỉ đó. Rồi lại gửi lá thư trả lời trong ngày của mình cũng vào hộp thư đó. Ít nhất là ông cũng sẽ giữ được cho mình bận rộn vào mười lăm phút buổi sáng trong vòng hai năm nữa. TÔI MANG VỀ CHO EM Truyện ngắn Đến tận khi bạn bè trong lớp gọi Xuyến là “vợ liệt sỹ”, Thức và Xuyến vẫn chưa một lần cầm tay nhau. Ngày tiễn Thức lên đường, bạn bè biết ý lảng ra để cho hai người có dịp đứng riêng trong chốc lát. Thức chỉ nói cho Xuyến vừa đủ nghe: “Xuyến đợi mình về chứ?”. Xuyến chẳng ra hứa hẹn, chẳng ra không. Chị gái Thức giúi vào tay Xuyến chiếc khăn mùi xoa rồi chạy ào đi. Chị không dám khóc trước mặt hai đứa. * * * Ngày liên hoan tốt nghiệp, bọn con trai trong lớp túm tụm bàn bạc ra chiều rất quan trọng. Dường như khi “nghị quyết đã thông qua”, Thịnh còi và Tuần bột nhảy lên xe đạp mải miết phóng đi. Lúc quay về trong tay Thịnh còi có một ôm hoa đủ các loại: hồng, cúc, đồng tiền, mõm chó... Đợi cho các thầy cô giáo phát biểu, dặn dò và bài “diễn văn” lâm ly đã được chuẩn bị từ cả tháng trước của Mai bí thư kết thúc, Hoàng lớp trưởng đứng lên tuyên bố: “Phần quan trọng nhất của buổi chia tay bắt đầu”. Bọn con gái đưa mắt nhìn nhau dò hỏi: Bọn này có âm mưu gì thế nhỉ? Cánh con trai dương dương tự đắc: Rồi các mụ sẽ biết... - Kính thưa các thầy cô giáo, thưa toàn thể các bạn, Hoàng cất giọng trịnh trọng. Hôm nay là ngày cuối cùng chúng ta được ngồi cùng nhau trong căn phòng này, với đầy đủ 42 thành viên của tập thể lớp A5. Ba năm cuối cấp phổ thông vừa đủ dài để chúng ta mang theo hành trang vào đời với những kỷ niệm buồn vui gắn liền với những cái tên như Thịnh còi, Tuấn trố, Vinh Abba, Quạ sắt, Dung phù thủy, Hạnh táo tàu... Nhưng ba năm vừa qua sẽ trở nên quá ngắn ngủi so với cả đời người... Có tiếng xì xầm bên dưới: “Gớm hôm nay sao lớp trưởng văn vẻ thế nhỉ?”. Ngừng lại một phút như để lấy hơi, lớp trưởng tiếp tục. Lần này Hoàng không cần nhìn giấy: - Trong số chúng ta ngồi đây hôm nay, ngày mai sẽ có bạn khoác áo lính, có bạn đã đủ điểm đi học nước ngoài, có bạn sẽ vào tiếp tục học lên trung học, đại học, có bạn sẽ chạy vạy mọi ngả để tìm công ăn việc làm, và cũng sẽ có bạn lên ngay xe hoa. Tôi biết trong lớp chúng ta có không ít những “tình yêu đẹp” (lớp trưởng nháy mắt tinh quái). Một số đã ra công khai, nhưng một số vẫn trong “thời kỳ 30-32”. Nhân dịp buổi liên hoan chia tay hôm nay, tôi đề nghị các anh em mỗi người hãy chọn một bông hoa mang đến tặng cho bạn gái của mình. Ban cán bộ lớp sẽ có trách nhiệm vun vén, giữ gìn cho những người đi xa... Lớp trưởng chưa kịp dứt lời, bọn con trai đã vỗ tay rần rần, hò hét ầm ĩ hưởng ứng. Xuyến kín đáo đưa mắt tìm Tuệ, nhưng Tuệ đã cúi đầu lảng tránh. Thằng Đảm quắt mở màn đầu tiên. Nó chọn bông hoa mào gà duy nhất trong bó hoa mang đến trước mặt cái Mi. Một chân đứng, một chân quỳ, nó cúi xuống kiểu cách: “Ta xin dâng Mi „khổng lổ' trái tim run rẩy của ta...” Tiếng huýt sáo, tiếng reo hò ầm ĩ. So với Mi, Đảm trông như con chuột nhắt bên cạnh mụ mèo già phốp pháp. Đảm ngồi ngay phía trước Mi. Mỗi lần cu cậu loi choi nghịch ngợm liền bị Mi xoắn tai xách lên. Có lần bị xoắn đau quá, cu cậu khóc rấm rứt, mắt mũi đỏ hoe. Nó luôn miệng bảo “cái Mi là cơn ác mộng của tao. Tao cầu cho kẻ thù của tao cưới nó về làm vợ”. Sau đó các đôi đã ra “công khai” tự tin lên tặng hoa làm gương. Các đôi “bán công khai” và “bí mật” cũng lần lượt đứng lên “xác định quyền sở hữu” của mình với bạn bè trong lớp. Thức đến chỗ Xuyến cuối cùng. Đặt lên bàn bông hồng nhung hàm tiếu, Thức nói đứt quãng trong tiếng thở dồn nén: “Tôi yêu bạn”. Thịnh còi vừa buột miệng lắp bắp: “Ơ, sao đổi ngôi à?” liền bị Liên già búng tai: “trẻ trâu, ra ngoài kia cho người lớn làm việc”. Nhiều năm sau đó, không bao giờ Xuyến hỏi tại sao Tuệ làm như vậy. Hai người cắt đứt liên lạc từ đó. Những tấm bưu ảnh mừng sinh nhật, những mẩu giấy xé vội trong giờ, chiếc kẹp tóc bằng mảnh đuy-ra có khắc nguệch ngoạc hai chữ T-X... Xuyến đem cất hết vào một chiếc hộp, dán kín lại giấu dưới đáy chiếc rương quần áo. * * * Dũng trở về mang theo kỷ vật của Thức. Thức bị vướng mìn của Polpot ở biên giới Tây Nam. Mấy ngày liền vật vã trong cơn mê sảng vì vết thương nhiễm trùng, Thức luôn miệng nhắc đến Xuyến. Một tập thư viết cho Xuyến chưa dám gửi đi. Một tấm ảnh thẻ học sinh của Xuyến có dòng chữ của Thức: “mình sẽ mang hạnh phúc đến cho bạn”. Một chiếc khăn vải dù Thức nói sẽ để cho Xuyến vấn theo mái tóc dài đến quá eo chân của cô... Thủy, em gái Thức nói trong tiếng nức nở: “Chị ơi, ngày mai bố mẹ gọi hồn cho anh Thức, chị đến nhé”. Thức về trong dáng vẻ thất thần của chị Trâm, nhưng giọng nói thì không lẫn đi đâu được. Thức xin lỗi cha mẹ đã phạm tội bất hiếu, không làm trọn trách nhiệm hương hỏa với tổ tiên ông bà. Thức hứa sẽ tìm cho chị Trâm anh chồng tử tế, đồng ý ở rể để lo cho bố mẹ khi trái gió trở trời. Thức dặn cái Thủy học hành tử tế, cố gắng thi đỗ đại học để sau này đỡ vất vả. Thức bảo Xuyến mang đến cho cha mẹ tấm ảnh Thức tặng Xuyến trong cuốn lưu bút để làm ảnh thờ. Thức nói yêu Xuyến vô cùng, thương Xuyến vô cùng. Những điều muốn nói đã có hết ở trong thư. Xuyến đọc rồi đốt đi để cho hai người cùng thanh thản. Trước khi chị Trâm nằm vật ra giường mê man, Thức thảng thốt: “Xuyến ơi đừng trách Tuệ”. Mấy năm cuối trong trường đại học, Xuyến không nhận lời yêu ai. Dũng đã ra quân, thi được vào trường Đại học giao thông ở gần đó. Các dịp lễ tết, sinh nhật, ngày tám tháng ba, Dũng không quên mang hoa sang trường tặng Xuyến. Dũng bảo, làm việc đó thay cho Thức. Bạn học phổ thông vẫn đợi Xuyến về hàng năm, đến nhà thắp hương cho Thức. Vào năm cuối cùng trước khi Xuyến đi nhận công tác, chị Trâm muốn hai chị em cùng vào Nghĩa trang liệt sĩ trong Tây Ninh, chuyển hài cốt của Thức về. Biết được ý định của gia đình Thức, Dũng tình nguyện đưa hai chị em đi. * * * Ngày cưới, Dũng đưa Xuyến đến thắp hương trước mộ Thức: “Mình hứa với cậu sẽ không bao giờ để cho Xuyến phải khổ”. Hồi mới lấy nhau, kinh tế cả nước còn khó khăn. Dũng vừa đi làm ở cơ quan, vừa mở xưởng làm bánh nướng bánh dẻo ngay tại nhà. Ngoài giờ đi dạy, Xuyến giúp chồng giao hàng, nhận nguyên vật liệu, ghi chép thu chi... Khi điều hòa nhiệt độ chỉ thấy trên phim ảnh hoặc trong các khách sạn cao cấp thì phòng ngủ của vợ chồng Xuyến bốn mùa luôn luôn mát lạnh như mùa đông. Xuyến không hiểu Dũng lấy năng lượng ở đâu ra để đêm nào cũng lặn ngụp trên cơ thể vợ. Mỗi khi Xuyến không hưởng ứng liền bị cật vấn, hành hạ. Cơ thế Xuyến đầy những vết cào cấu, thâm tím do thói bạo dâm của Dũng. Sau này, do phải đi theo các công trình xây dựng vắng nhà dăm bữa, nửa tháng, Dũng càng kiểm soát vợ gắt gao hơn. Tối nào Dũng cũng gọi từ công trường về số máy cố định ở nhà. Xuyến đang bận làm bất cứ việc gì cũng phải chạy ra nhấc máy. Chi tiết số máy di động của Xuyến trong hoá đơn tính tiền hàng tháng thường chi chít các dấu gạch chân, dấu hỏi. Thậm chí đôi khi Dũng còn gọi kiểm tra xem đầu dây đằng kia là giọng nam hay nữ. Từ khi ăn nên làm ra, Dũng chỉ cho phép Xuyến dạy cầm chừng để giữ biên chế. “Được mấy cái đồng bạc ranh, đến đấy lại tán tỉnh nhau, chả bõ”. Một lần cả trường liên hoan hai mươi tháng mười một tới khuya. Dũng về nhà không thấy Xuyến liền lao xe máy đến trường đón vợ. Thấy Xuyến vui vẻ nói cười cùng mấy anh chị em trong tổ bộ môn, không nói không rằng, Dũng tát cho vợ hai cái rồi bắt Xuyến ngồi lên xe đưa về. Bộ áo dài ấy Dũng lấy bật lửa đốt nham nhở. Anh chị em đồng nghiệp thấy Dũng đến trường thường lảng xa. Chào hỏi thân mật thì Dũng nói, chắc phải có tình ý với Xuyên nên o bế mình. Có anh trả lời qua quýt liền bị Dũng quy kết “phải có chuyện gì nên mới không dám nói chuyện đàng hoàng”. Có hôm đến trường với cặp mắt thâm tím, Xuyến giải thích do mình bị vấp vào bậu cửa khi nhà mất điện. Nhiều khi lẩn thẩn, Xuyến nghĩ, lúc nào xuống đó gặp Thức, nhất định sẽ hỏi xem có phải Thức đã “gửi” Dũng đến cho mình không? * * * Xuyến nộp hồ sơ xin việc ở một tổ chức phi chính phủ chuyên làm các dự án về phụ nữ. Hôm đến phỏng vấn, chị cán bộ phụ trách chương trình hỏi Xuyến tại sao lại muốn thay đổi hẳn công việc mình đang làm. Xuyến nói về vấn nạn bạo hành gia đình, về thân phận của người phụ nữ sống phụ thuộc kinh tế vào những người đàn ông cục cằn, vũ phu. Xuyến nói mình là giáo viên dạy văn, từng đứng lớp nhiều năm nên có thể xuống cơ sở nói chuyện với chị em về bình đẳng giới, về cách nuôi dạy con cái và các cách để tự hòan thiện bản thân. “Và hơn cả là, em muốn hai đứa con gái em được nhìn thấy mẹ chúng không cam chịu và dám thay đổi số phận của mình”. Ngày Xuyến nhận được thư mời làm việc cũng là lúc Xuyến đặt lên bàn lá đơn ly hôn. Dũng cười khẩy: “Đi thì dễ chứ về thì sẽ khó đấy”. Quần áo, tư trang của mấy mẹ con Xuyến sau hơn chục năm chung sống với Dũng chất chưa kín một chiếc xe 12 chỗ mượn của cơ quan. Chị bạn đồng nghiệp mới tìm giúp Xuyến một phòng ở tầng hai trong khu Thủy Lợi. Giá thuê 600 ngàn một tháng. Nguyên thủy đây là phòng khách của căn hộ một phòng ngủ. Vì lý do gì đó được phân cho hai người. Nhà tắm và khu vệ sinh chưa đầy hai mét vuông. Nước thải chảy tong tỏng từ tầng trên xuống. Trước khi dọn về, Xuyến phải thuê thợ gò cho một chiếc khay tôn, áp sát lên trần và làm đường ống dẫn thẳng nước bẩn xuống cống. Đêm đầu tiên, ba mẹ con ôm nhau ngủ trên cái đệm đôi đặt dưới sàn đá hoa, con Ngân bảo, giờ thì con yên tâm ngủ mà không còn lo ba đánh mẹ nữa. * * * Chuẩn bị kỷ niệm ba mươi năm tốt nghiệp phổ thông, Hoàng lớp trưởng gọi điện liên tục. “Năm nay mụ đừng có lý do lý trấu mà vắng mặt nhé”. Rồi lại hạ giong nửa kín nửa hở: “chúng tôi có chương trình hay lắm”. Dạo này, con Ngân đã bắt đầu đi làm cho một ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài. Con Nga vừa học vừa làm thêm gia sư. Ba mẹ con Xuyến đã chuyển về ở khu tập thể Viễn thông được vài năm nay. Căn hộ này Xuyến vay mượn của anh em bạn bè để mua từ khi nó còn là dự án trên giấy. Xuyến bảo Hoàng lớp trưởng: “Năm nay ông đưa tôi ra khỏi danh sách “xóa đói giảm nghèo” nhé. Cứ đóng góp bằng các hộ “phú ông” là được”. Hoàng bảo để chúng tôi cân đối. Có khi lại chẳng phải thu của bà con đồng nào cũng nên”. Con Ngân đưa Xuyến ra bến xe rồi xuýt xoa: “Gớm các cụ “hoành tráng” quá. Kéo nhau lên tận núi mà họp mặt”. Khi nghe Hoàng nói sẽ tổ chức hội lớp ở Tam đảo, mấy mụ phụ nữ nhao nhao lên như chè chai lông vịt. Mụ thì bận trông cháu; mụ thì kêu đau chân không đi được xa... 1001 các loại lý do. Hoàng ráo hoảnh: “Các mụ không đi thì sẽ ân hận đến hết đời. Mà tôi chỉ còn sức để tập trung các mụ lần này thôi. Năm năm nữa có khi tôi ngồi trên kia nhìn xuống...” Không khí chùng hẳn xuống. Tuấn bột bảo, bệnh viện tôi đang có đề tài nghiên cứu cấy ghép dạ dày. Yên tâm đi, tôi sẽ thay cho ông một cái mới tinh tươm “ngon lành cành đào”. Hoàng ầm è “allô, một hai ba bốn” để thử loa. Đợi cho mọi người trật tự, Hoàng lôi trong túi ra hai trang đánh máy khổ A4. Ở dưới bắt đầu có tiếng la ó: '“Nói vo đi, bỏ phao ra!”. Hoàng bảo, tôi nắm trong tay cả một phường công an, tóm không biết bao nhiêu tội phạm, thế mà vẫn phải chịu thua mấy lão to mồm. Thôi được, đã thế thì ..éo cần thưa gửi gì. - Cách đây ba mươi năm, lớp A5 của chúng ta có bốn mươi hai thành viên. Hôm nay có mặt tại đây chỉ còn ba mươi người. Trong số những người vắng mặt, có người đã hy sinh vì Tổ quốc - cả lớp hướng về phía Xuyến, có người do làm ăn phi pháp mà vướng vào vòng lao lý, có người tham gia băng nhóm, phạm tội giết người sẽ phải bóc lịch đến hết đời sau song sắt; có người do tai nạn, ốm đau phải dính liền quãng đời còn lại với chiếc xe lăn... nhưng dù cho có rơi vào hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn là bạn bè của nhau. Khi cần, các bạn hãy nhấc điện thoại lên. Một bàn tay thì khó làm được việc lớn. Nhưng với ba mươi cánh tay, chắc chắn chúng ta sẽ dìu được nhau đi... Có tiếng sụt sịt ở các góc tập trung mấy mụ phụ nữ. Tuấn bột “cướp diễn đàn”, đẩy Hoàng sang một bên. - Chị em phụ nữ chú ý. Cách đây ba mươi năm, cánh mày râu chúng tôi đã “tỏ tình” với chị em, ngay trước sự chứng kiến đông đảo của thầy cô và bạn bè. Ba mươi năm sau, chúng tôi vẫn thấy mình đúng là “điếc không sợ súng”. Có thằng chạy thoát thân nhờ hay thắp hương lễ tạ ông “Xuân tóc đỏ”. Thằng sập bẫy thì ngoan ngoãn “tu thân tích đức” đến tận bây giờ. Tuấn bột giả vờ lấm lét nhìn xéo sang phía mụ Thủy, vợ mình. Nhưng hôm nay có một người muốn tặng hoa cho một người ba mươi năm trước đây chưa kịp tặng... Cửa phòng bật mở. Tuệ bước vào với bó hoa hồng vàng tuyệt đẹp, đi thẳng đến chỗ Xuyến. * * * Sau này, khi Xuyến đồng ý “nối lại quan hệ ngoại giao”, Tuệ kể, Thức đã điều đình với anh để được tặng hoa cho cô: “Cậu đi tây còn mình đi bộ đội. Mình chỉ muốn ngày mình lên đường, Xuyến sẽ là người vẫy khăn nhìn theo... Hãy cho mình một cơ hội nói với Xuyến...” Tôi mang về cho em Chuyện tình yêu của một người đã khuất.... (Thơ Dương Bình) LẠT MỀM Truyện ngắn Mình gặp Thủy tại lớp tập huấn thay sách giáo khoa do Sở tổ chức. Biết Thủy là giáo viên dạy toán ở một trường điểm của thành phố, mình nửa đùa nửa thật bảo: “Nếu sau này tớ có gửi thư tay đến xin cho con cháu vào „lò luyện‟ của cậu thì đừng từ chối nhé”. Thủy nói em không mở lớp dạy thêm ở nhà, không dạy thêm ở trường. Chỉ chuyên đi “đánh thuê” cho các lò trong mấy trường đại học. Họ mở lớp, thu tiền, mời thì em dạy. Học trò mình cũng không biết mình dạy ở đâu. Khỏi mang tiếng bị bắt buộc đi học lớp ngoài giờ của cô. Hẹn hò mãi, cuối cùng mình cũng tìm đến nhà Thủy, mang theo ảnh thằng con trai đến… dạm ngõ như đã thỏa thuận. Thủy giới thiệu “nhà em đứa lớn giống mẹ - đứa bé giống chị”. Cả hai đều đang học ở Singapore theo diện học bổng toàn phần. Con chị sang được hai năm thì con em đi tiếp. “Vợ chồng em bây giờ khỏe re con bò kéo xe”. Mình đùa, khỏe thế có khi lại ra “thằng chống gậy”- “Ruộng sâu trâu nái không bằng hai gái đầu lòng”. Thủy giãy nảy: “Tiền khởi nghĩa chị ơi. Em đã trữ sẵn gậy trúc dưới gầm giường rồi. Khi nào “có sự”, ông lão nhà em cứ việc nhắn chúng về. Thoải mái gậy chống”. Hai chị em đang cười nói râm ran thì một cậu con trai từ trên gác bước xuống. Chưa kịp hỏi thì Thủy đã giới thiệu “em trai em đấy” rồi quay sang cậu bé nói: “chào chị Phương đi em”. Thủy theo thằng bé vào bếp không quên ngoái lại dặn mình: “Chị đọc báo chờ em chút. Đến giờ Tuấn đi học rồi. Em làm cho nó bát mỳ đã”. * * * Thủy kể nhà em có “sáu con vịt giời”. Lần nào đưa u em đi đẻ, thầy em cũng cắp theo một nắm rơm và một ấm nước. Đến trạm xá là nhóm lửa đun nước ngay. Khi nghe thấy tiếng reo: “con gái rồi” thì ông bỏ về. Bà ngoại em, các bá, các dì cứ thay phiên nhau phục vụ. Đẻ xong chưa được mười ngày, u em đã phải ra ao giặt tã. Hơn tháng là đi làm đồng bình thường như mọi người. Tụi em, cứ con chị trông con em mà lớn. Bảo ban nhau học hành, rồi đi thoát ly mỗi đứa mỗi nơi. Hồi ấy chưa có quy định “mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con” như bây giờ. Thầy em tuy chỉ có toàn “vịt giời”, nhưng nhà em đứa nào học cũng giỏi, đi thi hết huyện lại tỉnh nên bà con tín nhiệm lắm. Đầu tiên ông được bầu làm chủ nhiệm Hợp tác xã. Sau rồi lên đến chủ tịch xã, đang định cơ cấu lên huyện thì có thằng Tuấn. Mình đùa xen vào: “bà già đẻ… dai nhỉ”. Thủy bảo, nếu u em đẻ được thì đã không sao… Ở quê em, đàn ông không có con trai rất khổ. Ma chay, cỗ bàn, cưới xin luôn bị đem ra làm đầu câu chuyện. Có ông giả tỉnh giả say còn chỉ vào mặt thầy em mà lè nhè: “Ông Lũy kia không có thằng chống gậy thì xuống ngồi mâm nia với mấy bà nấu bếp”. Có dạo thầy em không thèm đi một đám nào trong làng. Ông bảo đến đấy mà nghe chúng chửi à. U em luôn mặc cảm có lỗi với thầy em về chuyện đó. Làng em có một cô giáo góa chồng. Cưới nhau được mấy tháng, anh chồng bị phát hiện ung thư. Chưa kịp con cái thì anh theo các cụ về thế giới bên kia. Xóm láng xì xầm “gò má cao thế sát chồng là phải”. Cô giáo ở vậy nuôi bố mẹ chồng cho đến khi các cụ khuất núi. U em tìm đến nhà, nhờ cậy cô sinh giúp một thằng chống gậy. Cô giáo lúc đầu khóc tấm tức, sợ không sống nổi với bia miệng tiếng đời. U em bảo, anh ấy đoản số đã đành một nhẽ. Có đứa con sau này tuổi già chị em mình sẽ đỡ quạnh hiu. Con cái cũng như bức tường lúc gió, mái nhà lúc nắng mưa. Không sinh nở, thay máu, đàn bà cứ cằn khô đi như ruộng hoang. Có nói lỡ miệng một câu, người đời cũng bảo chấp gì với kẻ cô quả. Muốn đến chúc phúc cho ai người ta cũng ngại… Thuyết phục mãi rồi cô cũng đồng ý. Sau đó U em còn phải dàn xếp cho thầy em đến thăm nhà cô giáo thường xuyên. Khi cái bụng cô giáo đã lùm lùm, không còn giấu ai được nữa, người ta bắt đầu bóng gió: “không chồng mà chửa mới ngoan…”. Ở Ủy ban xã, có người còn đòi cách chức thầy em. U em chọn đúng hôm thầy em lên họp trên huyện, ra đứng trước cửa ủy ban chửi liền một ngày. “Đứa nào thối mồm thối miệng nói chồng bà hủ hóa. Bà không đẻ được thì bà nhờ người ta đẻ hộ...” Nói ba tháng, chẳng ai nói được ba năm. Ở trường, người ta cũng nể thầy em mà không kỷ luật cô giáo. Ngày cô giáo sinh, U em đón về nhà mình chăm như chăm con gái đẻ. Chè lá vằng, sưởi than củi, canh rau ngót thịt nạc, gà kho gừng… đủ ba tháng. Thằng Tuấn giống thầy em như lột nên U em càng vui. Tụi em nhất nhất phải một điều thưa dì, hai điều thưa dì… Mỗi lần em về chơi, U em đều dặn mua cho cu Tuấn thứ nọ, sắm cho cu Tuấn thứ kia. Thầy em sau đó cũng xin nghỉ luôn việc ở xã. Suốt ngày ông quanh quẩn làm ngựa cho thằng Tuấn cưỡi, nhong nhong nó lên cổ đi khắp làng. U em đi vắng thì chớ, về nhà câu đầu tiên là hỏi: “Em Tuấn của U đâu rồi?”. Cô giáo ở cùng nhà em đến khi thằng Tuấn được năm tuổi thì xin chuyển trường sang huyện khác. Lúc đi, cô ấy chỉ nhờ thầy U em dạy cho thằng Tuấn biết hương khói cho cả ông bà và “bố” nó ở bên nhà. Nghe đâu cô ấy đã gá nghĩa cùng một ông cán bộ về hưu, góa vợ. Thằng Tuấn vào cấp ba thì thầy u em đều đã già. Nó được thầy u em chiều chuộng nên cũng chểnh mảng học hành. Em bảo đưa “cậu” lên để hai cháu nó kèm cặp. May mà cũng vào được đại học chị ạ. Hai “con vịt” nhà em đi vắng cả nên có nó nhà cửa cũng đỡ hiu quạnh. Năm nào em cũng mua quà tết cho nó mang về biếu cô giáo. Mẹ nó không sinh nở thêm. Em bảo nó là cây cột cho cả ba người dựa vào. Vì thế phải cố gắng làm một cây gỗ tốt. * * * Hôm vừa rồi Thủy gọi điện tíu tít. Chị ơi con gái em về chơi. Chị đến xem mặt con dâu tương lai nhé. Mình đến nơi không gặp thằng Tuấn. Hỏi thì Thủy bảo, nó được trường cho đi trao đổi sinh viên năm cuối ở Ý. “Thầy U em vui như tết. Gặp ai cũng khoe thằng Tuấn thế này, thằng Tuấn thế kia”. Mình bảo U Thủy mà chẻ lạt bán, chắc chắn sẽ đắt như tôm tươi. NƯỚC CHẢY ĐÁ MÕN Truyện ngắn Miên hình thức trung bình nhưng lấy chồng đẹp trai như hoàng tử. Đẹp lại giàu. Chưa lấy vợ đã có nhà riêng. Anh học viên lớp ngoại ngữ buổi tối hôm nào cũng nấn ná ở lại sau cùng vì muốn tiễn chân cô giáo một đoạn đường. Người ganh ghét bảo: “Chuột sa chĩnh gạo”. Cưới xong Miên xin nghỉ các lớp “kế hoạch ba”. Mỗi tuần đi dạy ba buổi, đủ giờ chuẩn để lĩnh lương cơ bản. Làm ăn được, Thiết chỉ muốn vợ chăm lo nhà cửa, con cái. Hai thằng con trai đẹp như tranh. Bị giục giã mãi, cuối cùng Miên cũng phải đi học nâng cao nghiệp vụ ở nước ngoài. Ông hiệu trưởng nói nếu Miên không đi ông sẽ đưa cô ra khỏi biên chế. Gửi con về cho ông bà nội trông, Miên đi chín tháng liền. Đêm đầu tiên đón vợ từ sân bay, Thiết không cho xe đi qua nhà ông bà nội đón con. Sáng hôm sau, Miên không còn cảm giác dưới hai bàn chân. Hàng xóm xầm xì rằng Thiết thường về nhà rất khuya. Lại có cả tiếng phụ nữ trong nhà khi Miên đi vắng. Miên không căn vặn gì chồng. Ít lâu sau, có người nói gặp Thiết trong bênh viện phụ sản. Miên gạt đi, nói tin tưởng ở chồng mình. Thiết đi sớm về muộn nhiều hơn. Nhiều đêm lấy lý do làm ăn, không về nhà ngủ. Có lần giặt quần áo cho chồng, Miên thấy tấm hình một bé gái bụ bẫm trong ví của Thiết. Khi con bé được ba tuổi, Thiết nói với Miên sẽ chăm sóc cho cả hai bên như nhau. Ba ngày nhà này, bốn ngày nhà kia rồi đổi lại. Mọi người trong trường bàn ra tán vào. Người bảo Miên nhu nhược. Thậm chí có người còn nặng lời nói Miên ngu. Miên không tham gia vào những câu chuyện về mình. Có thời gian, các đường dây làm ăn của Thiết đổ bể. Miên nhận các lớp dạy thêm để trang trải mọi chi tiêu trong gia đình. Hai đứa con trai đã lớn, biết đỡ đần mẹ chợ búa, cơm nước. Không đủ tiền cung phụng cho hai mẹ con cô con gái, Thiết bị các “ông cậu” của nó chặn đường đe dọa. Miên nói, không thể để con bé lang thang theo mẹ tới các quán bia. Đằng nào sau này mấy anh em nó cũng sẽ phải lo cho nhau. Chi bằng đón con bé về để mình chăm sóc dạy dỗ cho nó nên người. Con bé về ở với mẹ Miên. Thỉnh thoảng mẹ nó đón về chơi nửa ngày rồi trả lại. Mọi người trong trường bảo Miên nuôi ong tay áo. Miên chẳng buồn cãi. Bằng đi một thời gian không thấy mẹ con bé đến thăm con. Miên hỏi thì Thiết nói, mẹ nó đã đi Sài gòn với người khác. Con bé lúc đầu ương ngạnh, phá phách, không chịu học hành. Nhưng hai thằng anh giống như hai ông cảnh sát trong nhà. Có lần nó nói đi học bị bạn bè bắt nạt, hai thằng thay phiên nhau đưa đón nó ở trường. Hôm đám ma mẹ nó chết do sốc ma túy, nó ôm chặt lấy Miên, hai mắt ráo hoảnh. Trước khi lên nhập trường đại học, thằng thứ hai dặn em: “Ở nhà nhớ thay hai anh chăm bố mẹ. Đừng để cho bố mẹ buồn”. Tết vừa rồi, cả trường đến chơi, chúc tết. Tấm ảnh hai vợ chồng Miên cùng ba đứa con phóng to treo ở phòng khách. Thiết tất bật rót rượu mời mọi người. Mấy chị em kéo Miên vào bếp hỏi “có bí quyết gì không?” Miên bảo: “Nước chảy đá mòn”. CHUYỂN GIỚI Truyện ngắn Nàng tìm được mẩu tin quảng cáo cùng địa chỉ trên internet. Xưa nay, nàng vốn “dị ứng” với các loại quảng cáo, trúng thưởng trên cái thế giới không có thực này. “Chuyển giới không qua phẫu thuật!” Nàng cười khùng khục trong bụng rồi nhấn chuột. Cũng chẳng mất gì ngoài mấy phút ăn trưa. Từ lâu nàng có thói quen vừa ăn vừa lướt NET. Mặc dù các thầy thuốc đã khuyến cáo đủ chuyện này nọ, nhưng bữa ăn sẽ thật buồn tẻ nếu cứ ngồi trước màn hình không chuyển động mà trệu trạo nhai phần ăn còn sót lại tối qua. Mỗi sáng dồn thức ăn thừa vào hộp mang đến cơ quan, nàng lại tự nhủ tiết kiệm được một nửa chiếc vé xem phim và có thêm ba mươi phút “cập nhật” thông tin. * * * Cô lễ tân mặc áo đồng phục màu xanh lơ. Phòng đợi có chừng bốn, năm phụ nữ khác độ tuổi như nàng. Người nào cũng cắm cúi vào một cuốn sách hay tờ tạp chí của phòng khám. Ở xứ này, hình như người ta dè sẻn quỹ thời gian của mình đến từng phút. Người ta đọc lúc đợi xe buýt, lúc ngồi trên tàu... thậm chí hẹn nhau ngoài quán ăn người ta cũng vẫn mang theo sách báo để đọc, đề phòng người kia đến chậm hơn mình. Chị bạn đồng nghiệp của nàng mỗi tuần đến thư viện đổi sách hai lần. Hình như chỉ đợi có nàng đến, cô lễ tân lịch sự mời mọi người sang phòng họp kế bên. Sau màn chào hỏi, tự giới thiệu, làm quen... ánh đèn vụt tắt. Trên màn hình hiện lên những hình vẽ cấu trúc cơ thể đàn ông và đàn bà. Tiếng thuyết minh của cô lễ tân đều đều, tẻ nhạt. Như thể cô đã thuộc nằm lòng bài giới thiệu và đây chắc chắn phải là lần thứ 1001 cô “tua” lại cuốn băng này. Thảo luận nhóm hai người: “Tại sao bạn muốn chuyển giới? Những trở ngại về tâm lý sau khi chuyển giới...” Cùng nhóm với nàng là cô Elizabeth. Độc thân. Sống cùng bạn trai từ năm năm nay. Mỗi người có một căn hộ riêng. Thỉnh thoảng người nọ dọn đến nhà người kia, chung sống vài ba tuần. Khi nào cả hai thấy mệt mỏi, “mất tự do” thì ai về nhà nấy. Cách đây mấy tháng, Liz (tên gọi tắt của Elizabeth) được bạn bè nhắn tin cho biết bạn trai mình đang đi nghỉ trên một chiếc du thuyền đến Bahamas cùng một cô gái khác. Liz quyết định chia tay và muốn quên luôn ý định sống chung với người khác giới.... Nàng tự thấy mình ngớ ngẩn. Bỗng nhiên lôi mình vào giữa một đám người xa lạ, kể lể chuyện chồng con, gia đình, áp lực công việc vân vân và vân vân... Quay lại phòng họp. Ánh đèn máy chiếu mang theo những hạt bụi bay bay trong không khí. “Tính ưu việt của biện pháp chuyển đổi giới không qua phẫu thuật”. - Bạn không có những biến đổi bề ngoài. (Tốt quá! Nàng vẫn muốn con mình gọi mình là mẹ chứ không muốn cho chúng thêm một ông bố nữa) - Sẽ không có những thủ tục hành chính rắc rối kèm theo như thay đổi tên họ, giới tính. (Hay! Chỉ riêng chuyện tên họ, nàng đã gặp không ít rắc rối mỗi khi gia hạn visa cho mình và con cái. Tên của người Việt viết theo trình tự họ trước - tên sau. Sang đây nàng đã đổi ngược lại, nhưng còn mấy chữ tên đệm không biết nhét vào ô nào. Có lần nàng gọi điện đến Sở Di trú thắc mắc, yêu cầu họ sửa lại cho đúng họ tên trong giấy khai sinh. Cô nhân viên sau khi nghe giải thích một hồi bèn kết luận: “Nếu bà muốn đổi tên thì phải điền vào một tờ biểu mẫu khác rồi đem đến nộp”. “Ơ hay, tên tôi đúng, các người viết sai thì có!” Tranh cãi mãi, nàng cũng giữ lại được đúng tên họ cho mình và các con. Bây giờ đi đổi lại tên quả là bất tiện!) - Các bạn sẽ được tham gia những khóa tập huấn ngắn ngày để hiểu và ứng xử như một người đàn ông thực thụ khi cần thiết. (Con trai nàng đã gần hai mươi. Mấy năm trước, khi nó đi hội lớp, nàng đã phải cầu cứu một anh bạn đồng nghiệp đến hướng dẫn nó thắt cà-vạt, buộc dây giày, lắp dao cạo râu... Có rất nhiều việc của thế giới đàn ông mà nàng không thể nào hiểu và chia sẻ với con được) - Sau một thời gian điều trị ở cơ sở của chúng tôi, các bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, độc lập hơn, tự tin hơn. Bạn sẽ thấy nước mắt là thứ hàng xa xỉ. Bạn biết cách vượt qua mọi thử thách của cuộc sống bằng chính sức mạnh và nghị lực của mình. Không gì có thể làm bạn gục ngã bởi bạn có trái tim của phụ nữ và sự quyết đoán của đàn ông. - Bạn sẽ.... - Bạn sẽ.... * * * Có tiếng động mạnh khiến nàng giật mình. Cuốn sách Lịch sử bìa cứng của con gái bị gạt rơi xuống sàn gỗ. Đêm qua con bé thức khuya làm bài ngủ gục ngay trên bàn. Nàng đỡ con bé nằm xuống cạnh mình, vỗ về cho nó ngủ tiếp. Sắp vào đại học rồi mà đêm nào nó cũng muốn được mẹ ôm trước khi ngủ. Nhớ lại giấc mơ dở dang, nàng cười thở dài. Từ ngày mang hai con theo mình, nàng chỉ nhớ ra mình là phụ nữ mỗi kỳ thấy tháng... TA ĐI NHÉ Truyện ngắn Điện thoại reo. Chưa kịp hết một hồi chuông, ông đã nhấc máy: - Alô, bà hả? - Vâng, tôi đây. Ta đi ông nhé. Từ nhà ông ra đến dãy ghế băng trên vỉa hè, sau trạm xe buýt gần hơn từ nhà bà nên hầu như hôm nào ông cũng đến trước. Hai người đi bộ đoạn đường bằng đúng một nửa khoảng cách giữa hai trạm xe thì ngồi nghỉ. Họ thường không ngồi chung mà mỗi người ngồi một đầu của hai chiếc ghế kê gần nhau. Chỉ có như vậy, ông bà mới nhìn được mặt nhau khi trò chuyện. - Mấy hôm ẩm trời, hai đầu gối của tôi lại đau ông ạ. Bà giải thích khi thấy ông nhìn chăm chú vào đoạn băng chun cuốn quanh chân mình. - Ừ tôi cũng đau ê ẩm khắp người. Ông nói thêm. - Tuần này ông ăn gì? - Vẫn như mọi khi, mỳ spagetti, salad và thịt nguội. - Tôi mới nấu nồi cari, để mai tôi mang theo một ít cho ông thay đổi... * * * Mùa đông năm nay kéo dài vô tận. Sang tháng năm mà thỉnh thoảng vẫn còn những đợt rét đậm. Rét kèm theo mưa. Tuần trước bà gọi điện sang: - Tôi vừa xem dự báo thời tiết, mấy ngày nữa là nắng rồi ông ạ. Ta lại đi nhé. Ông giấu không cho bà biết ông ốm mấy tuần liền. Chủ nhật vừa rồi, cô con gái đến thăm. Thấy thức ăn của ông hầu như còn nguyên, cô liền gọi điện cho anh trai. Các con đã quyết định đưa ông về Florida. Ở đó ông có căn hộ một phòng ngủ. Trước đây khi vợ ông còn sống, năm nào hai người cũng bay về đó suốt sáu tháng mùa đông. Từ ngày bà mất, căn hộ để không cả năm. Ông sợ phải về đó một mình. Thực lòng, ông muốn lần lữa thêm một ít thời gian, đợi nắng lên, gặp bà lần cuối rồi mới đi. Florida với ông không còn là nơi trú rét nữa. Không có tiếng chuông điện thoại đổ mỗi chiều, căn phòng hướng ra biển, quanh năm nắng ấm biết đâu sẽ chẳng lạnh lẽo hơn cả mùa đông New York. Nhưng các con ông đã mua vé máy bay. Thứ bảy tuần này, trời vẫn còn mưa lạnh. * * * Mấy tháng liền, chiều nào tôi cũng thấy bà ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế băng cũ một mình. Biết tôi là hàng xóm của ông, thỉnh thoảng bà hỏi thăm xem tôi có nghe ngóng được tin tức gì từ Florida. Chiều qua, tôi dừng lại chào bà: - Cháu thấy con trai ông cụ rao bán nhà tuần trước... Tôi không muốn nói cho bà biết rằng ông đang ốm nặng và phải nhập viện từ hơn tháng nay. Im lặng một lúc, bà bảo tôi: - Có lẽ tôi cũng sắp rời đây cô ạ. New York, tháng 8, 2009 CÂY ƯỚC NGUYỆN TRONG VƯỜN TƯỢNG Truyện ngắn Bão tuyết. Các chuyến bay đều bị lùi lại hoặc hủy bỏ. Hành khách trong phòng đợi ồ lên chán chường rồi tản đi thuê khách sạn ngủ qua đêm. Chị mở túi lấy sách ra đọc. Với chị, về sớm hay muộn mười giờ đồng hồ cũng vậy. Mấy năm nay, Giáng sinh nào chị cũng một mình. Ở lại sân bay có khi lại đỡ buồn hơn. Từ ngày Alice bé bỏng của chị tìm về với Chúa, thỉnh thoảng chị cũng đi mua quà Giáng sinh rồi ra bưu điện tự gửi cho mình. Địa chỉ người gửi là nhà thờ nơi mọi người đến chia tay con bé lần cuối. Khoảng mười giờ đêm, chị bỗng thấy gai gai sốt. Buổi chiều, chị đã bất chấp mưa tuyết, đi bộ ra vườn tượng rồi quay lại để còn kịp chuyến bay. Mấy năm trước, dịp Giáng sinh nào hai mẹ con cũng bay đến Washington DC để Alice tự tay viết và treo lên cây điều ước nguyện của mình cho năm mới. Trước khi vào bệnh viện lần cuối, con bé đưa cho chị ba điều ước dán kín. Nó dặn chị chỉ mở ra khi đã treo giúp nó lên cây. Thấm thoắt con bé đã đi xa được ba năm. Giáng sinh năm sau, chị chưa hình dung ra mình sẽ làm gì nếu không còn điều ước nào của con bé. Lấy thêm chiếc khăn choàng phủ lên người, chị vẫn thấy cuốn sách rung lên bần bật. Không thể thức qua đêm trên ghế ngoài phòng đợi, chị uể oải kéo lê hành lý về phía quầy lễ tân của khách sạn. Người đàn ông đến trước chị vừa nhận xong chìa khóa của chiếc phòng cuối cùng. Cô nhân viên lễ tân nhún vai thông cảm, rồi lo lắng nhận ra tình trạng tồi tệ của chị. - Xin lỗi ông, cô bối rối gọi người đàn ông trở lại. Bà này không được khỏe mà khách sạn chúng tôi đã hết phòng. Liệu ông có thể... Sợ người đàn ông từ chối, cô nói tiếp: - Phòng này có hai giường. Nếu được, chúng tôi sẽ chia đều giá phòng cho cả hai. Lưỡng lự mất mấy giây, người đàn ông quả quyết nhấc luôn cả túi hành lý của chị đi về phía thang máy. * * * Anh vừa trở về từ Châu Phi và ghé thăm gia đình một người bạn đồng nghiệp ở Washington DC. Anh đã hứa với mẹ năm nay anh sẽ đón Giáng sinh cùng bà. Không ngờ đến phút cuối, thời tiết lại trở nên quá tồi tệ. Mấy năm rồi anh mới có dịp nghỉ phép vào dịp cuối năm. Nghề nghiệp khiến anh phải xê dịch nhiều. Hồi mới nhận việc ở Afghanistan, anh nghĩ sẽ đi vài năm cho biết đó biết đây rồi về ổn định ở một bang phía Nam đầy nắng gió. Không ngờ công việc cứ cuốn anh đi hết từ nước này sang nước khác, từ châu lục nọ sang châu lục kia. Năng động và độc thân, anh thường được cử đến nhũng nơi có điều kiện khó khăn đặc biệt. Anh từng dong duổi trên lưng lạc đà cùng các nhân viên dự án đến những làng hẻo lánh trên sa mạc Sahara. Anh từng gặp những đứa trẻ suy dinh dưỡng vạ vật chơi giữa bầy lạc đà hôi hám trong nắng cát sa mạc; những bé gái bị ép lấy chồng lớn gấp hai, ba lần tuổi mình khi chưa kịp trở thành thiếu nữ; những cô gái bị các bà lang vườn đè ra cắt âm vật không có thuốc tê; những bé trai bị bán đi làm nài ngựa, nài lạc đà - bị bỏ đói triền miên để không thể trở thành người lớn. Nhiều đợt, anh phải sống trong lều bạt cả tháng trời để đưa hàng cứu trợ tới những người tị nạn chiến tranh hoặc nạn nhân của thiên tai. Anh và đồng nghiệp làm việc bất kể giờ giấc bởi nếu có trở về nhà, họ cũng chỉ một mình giữa những căn phòng thênh thang, có thể mời cả văn phòng đến chơi qua đêm mà không lo thiếu chỗ ngủ. Những ngày cuối tuần, nhân viên ngoại quốc của các tổ chức nhân đạo, phi chính phủ hoặc các công ty đầu tư tập trung tại một quán bar được họ đặt cho một cái tên rất tây phương: “Câu lạc bộ Anh quốc” (British Club). Bia, rượu và khói thuốc mịt mù. * * * Chị tỉnh giấc thì anh đã đi từ lúc nào. “Chúc Giáng sinh vui vẻ!”. Mảnh giấy nhỏ trên bàn đầu giường cùng với một dòng tái bút: “Tôi đã trả toàn bộ tiền phòng. Đừng bận tâm”. Đêm qua, chập chờn giữa các cơn sốt, chị đã kể cho anh nghe về Alice của chị, về thỏa thuận giữa hai mẹ con, về những điều ước của con bé và những dự định tương lai của mình. Chị đã từng cùng con đến vườn tượng để cầu mong tìm lại được người cha sinh học của nó. Nếu Alice có anh chị em ruột thịt để tiến hành ghép tủy thì số phận con bé có thể đã khác đi. “Đừng trách bố con nhé. Bố mẹ chia tay nhau khi mẹ còn chưa biết con là tặng vật của Chúa dành cho mẹ”. Chị thầm thì cùng con khi nó đã bình thản yên giấc trong chiếc quan tài phủ đầy hoa hồng. Năm đầu tiên, con bé cầu mong công việc của mẹ nó ở văn phòng sẽ thuận buồm xuôi gió. Mấy năm liền nó đau ốm, chị thường xuyên phải xin nghỉ để đưa nó đi hết từ bệnh viện này sang bệnh viện khác. Năm sau, Alice mong chị hoàn thành chương trình đại học chị đã bỏ dở dang sau khi nó ra đời. “Thế còn năm nay thì sao? Con bé muốn gì?” Chị xoay người, kéo chăn phủ kín mặt, để mặc anh băn khoăn, lo lắng ở giường bên. * * * Sau Giáng sinh vài ba ngày, chị nhận được tấm bưu thiếp chúc mừng của anh. “Hãy cho tôi được là vị khách đầu tiên của em và Alice trong ngày đầu năm mới. Gọi điện thoại hoặc nhắn cho tôi theo số máy…” Buổi sáng hôm ấy, anh đã dậy sớm và gọi một chiếc taxi đi thẳng đến Vườn Tượng. Đọc hàng trăm ngàn điều ước giăng kín trên cây, anh đã tìm ra được câu trả lời mà chị né tránh. Alice đã không quên ghi lại địa chỉ của mẹ mình để “người đàn ông của định mệnh sẽ mang đến cho mẹ niềm vui và hạnh phúc” có thể tìm ra chị. Hai người trở lại Vườn Tượng trước khi chị cùng anh bay sang châu Phi. Chị sẽ làm tình nguyện viên cho dự án chăm sóc cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh điều ước của Alice đã có thêm một điều ước mới. (New York, tháng 9 năm 2009) NGÀY ĐÀN ÔNG Tản văn Ở một vương quốc Á Đông nọ, phụ nữ được nuông chiều đến mức tất cả đàn ông đều phát ghen lên với vợ mình. Trong lúc đàn ông vất vả “săn bắt - hát lượn” với các cô chân dài ở quán karaoke sau giờ làm việc thì các bà, các chị đã được ung ung trong bếp nhà mình ăn bữa cơm nóng sốt cùng các con và mẹ chồng. Ăn uống ở nhà, họ được tự do chọn món từ lúc đi chợ và chế biến theo khẩu vị của mình. Cánh đàn ông ăn uống ở quán xá chỉ được phép chọn những gì nhà hàng phục vụ. Nhiều khi đơn giản như đĩa tép rang lá chanh, dù muốn cũng chẳng gọi được. Sau bữa ăn, phụ nữ có thể tranh thủ vừa rửa bát, vừa xem tivi. Những quán bia vỉa hè rất tệ. Chỉ hôm nào có giải bóng đá quốc tế họ mới đem màn hình 100 inches ra phục vụ. Trong sân quần vợt còn tệ hơn. Hàng rào lưới mắt cáo cao như trại tập trung của Đức quốc xã. Tất bật ngược xuôi: đánh, đỡ nhặt bóng... thèm cả một tiếng loa công cộng thời bao cấp. Chơi bóng xong, họ chèo kéo nhau ở lại uống bia vì không dám về nhà khi vợ và các con còn thức. Họ ngại phải đối mặt với các bài toán sao, những câu hỏi văn học, lịch sử, địa lý của các con khi không có điều kiện đọc sách và xem tivi. Đám phụ nữ đúng là “được voi đòi tiên”. Sướng thế, nhưng họ vẫn tụ tập hiệp hội, đấu tranh đòi Ngọc Hoàng cho họ một ngày riêng để “ăn chơi nhảy múa”. Cánh đàn ông vốn đã nem nép như rắn mùng năm lại càng phách lạc hồn xiêu khi tháng ba đến gần. Họ túm năm, tụm ba, thầm thầm thì thì chia sẻ bàn bạc những kinh nghiệm để sống sót qua tháng ba ngày tám. Người láu cá thì xin sếp cho đi công tác xa vài ngày. Kẻ lười nhác lại giả vờ ngã bệnh... Khi tất cả những “ngón nghề” đã bị các mụ vợ bắt bài, các “lão chồng” bèn quyết định họp nhau lại thành lập “Hội liên hiệp công dân hạng ba” (sau chó mèo và phụ nữ). Ban chấp hành của Hội đã chọn ra những người ăn nói giỏi nhất lên gặp Ngọc Hoàng đòi lại lẽ công bằng cho cánh mày râu. Ngọc Hoàng hỏi: - Nếu có ngày đàn ông, các ngươi sẽ làm những điều mà 364 ngày khác các người không được làm chứ? - Dạ thưa Ngọc Hoàng, đấy là điều chúng con hằng ao ước ạ. - Thế các người muốn ngày đó rơi vào tháng nào trong năm? - Dạ, phụ nữ thích mùa xuân nên họ đã chọn tháng ba. Chúng con muốn ngày của “cánh” mình không nóng quá mà cũng không lạnh quá để “dzô, dzzô, trăm phần trăm” không bị vã mồ hôi. Vậy chúng con chọn vào mùa thu, tháng mười được không ạ? - Ồ tất nhiên, thế còn ngày cụ thể? - Dạ, phải sau kỳ lương thứ hai vài ngày để còn có tiền chiêu đãi nhau ạ. - Vậy thì ngày hai mươi nhé? Ngọc Hoàng nói tiếp: “Hàng ngày các ngươi không được tự nấu ăn, ngày đó ta sẽ cho các ngươi sẽ làm chủ căn bếp của mình. Hàng ngày các người không được tự do lựa chọn những đồ ăn mình thích, ngày đó các người sẽ được đi chợ. Hàng ngày các người không được tự tay cho các con ăn sáng, đưa đón chúng đi học, tắm rửa và cho chúng ăn bữa tối; ngày đó các người sẽ được hưởng trọn vẹn hạnh phúc làm cha. Hàng ngày các người không được biết đến hình thù những thiết bị, vật dụng trong nhà; ngày ấy ta cấm phụ nữ sờ vào máy bơm, máy giặt, chổi quét nhà... Không có ngày nào trong năm các người được đi mua hoa, cắm hoa vào bình theo ý muốn; ngày đó tất cả các cửa hàng hoa chỉ bán cho đàn ông...” Ngọc Hoàng vừa dứt lời, cánh đàn ông dập đầu rối rít xin rút lại lời đề nghị. Không ngờ Ngọc Hoàng trông hiền hậu thế mà rất dễ nổi nóng: - Các ngươi dùng phi thuyền vũ trụ tốn kém như vậy để lên đây gặp ta. Ta bỏ thời gian ra tiếp đón, bàn bạc với các ngươi suốt cả ngày. Vậy mà muốn huỷ là huỷ ngay được sao? Nam Tào - Bắc Đẩu đâu, phê chuẩn! “Đoàn công tác” đành phải lên phi thuyền trở về hạ giới. Tiếp đất xong, Ban chấp hành hội liền triệu tập một hội nghị bất thường. Để nâng cao uy tín cho giới mày râu, Ban chấp hành đã quyết định nhường ngày 20 tháng mười lại cho chị em và đề nghị ghi vào lịch chính thống: “Ngày thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”. LÂM CÚC THEO GIÓ BAY ĐI Truyện ngắn Bà Tưởng cao lêu đêu, giọng nói khàn khàn. Tôi chưa bao giờ nghe bà cười thật lớn, nhưng kêu gào thảm thiết thì năm nào cũng có, tháng nào cũng có, đôi khi có cả ngày hai bận, toàn kêu khóc van lạy mấy ông con. Bà Tưởng có nhiều con. Nhưng họ ở tận đâu ít ai biết, chung vườn, chung vách cùng bà có hai người. Gã tóc dài xõa ngang vai, tướng đi nhún nhẩy, thỉnh thoảng cầm đàn hát tứng tứng từng từng có vợ đi tù nhiều năm, bỏ lại một bầy con năm đứa. Từ thằng Cọt năm tuổi đến Tí Lớn mười ba tuổi có cùng một chiều cao, tong teo như nhau. Tay chân như dải dây đong đưa trên cái thân tóp rọp, đít túm lại và cái đầu tỏ ra quá khổ trên chiếc cổ như chân cò, bám dày đất đen. Có lần, thằng Tí Nhỏ vì ngoái cổ nhìn chiếc bánh gói đang vào gọn trong miệng con bé Hồng nhà bà Chín mà bước hẳn vào một bãi phân trâu. Bọn trẻ ré lên cười, thằng Tí Nhỏ vẫn chưa ra khỏi giấc mơ miếng bánh sẽ vào miệng nó, vị ngọt tứa theo hàm nhai, dòng nước bọt sực mùi thơm ngọt ngào trôi xuống cổ họng. Nó bất giác nuốt ực, và giật mình vì mùi phân xộc thẳng vào mặt… Từ ngày con dâu không có nhà, bà Tưởng là nơi bầy cháu bấu víu kể cả khi chúng bị người cha say rượu bắt dậy quỳ xếp hàng giữa khuya. Thằng cu Hậu mắt nhắm, mắt mở hỏi cu Nhỏ: “Nhỏ, răng mà phải quỳ rứa Nhỏ?”. “Im đi. Quỳ thì quỳ chớ răng! Ba bắt thì quỳ, không quỳ chết có!”. Bà Tưởng vật vã chạy đến, cái bóng lêu đêu, lắc lư trên nền đất y như bóng ma. Bà gào lên: “Răng rứa con ơi? Chớ bây tính giết cả bọn đi à? Nửa đêm, bây uống rượu về rồi bây hành ri, thì sống răng cho nổi. Chúa ơi! Bây lấy gậy bằng bắp tay mà nện thì còn chi thân xác bọn hắn? Ai nện bây rứa, bây chịu nổi một cây không? Răng rứa? Bây điên thì bây chết đi. Chết đi! Chúa ơi! Lạy Chúa với chớ, Chúa ngó cho với chớ! Con biết làm răng hắn chừ, Chúa ơi!!?” Bà Tưởng thành kính ngước lên nhìn đâu đó đăm đắm vào màn trời sâu thăm thẳm rồi làm dấu thánh giá, cặp mắt thành khẩn của bà tứa giọt lệ khô cằn. Ông con, sưng sưng cái mặt, bước khệnh khạng ra cửa nhìn mẹ buông một câu xanh rờn: “Chết răng được bọn hắn. Có mà chết cơm.” Bọn thằng Nhỏ, thằng Lớn, thằng Hậu, thằng Tiền lấm lét như rắn mồng năm. Bà Tưởng xua: “Đi. Đi thôi. Mấy đứa sang bên mệ mà ngủ. Bây cứ nhét hết lên gường mệ, hắn có sang thì đã có mệ đây. Răng mà hắn lại thành ra rứa Chúa ơi, Đức Mẹ Thánh Thần ơi?” Bọn trẻ đói cũng chạy sang bà, đau bụng cũng sang bà, chút bánh tết cũng ngóng từ tay năm ngón chỉ còn trơ xương của bà. Không đủ tiền, bà đi lang thang vườn nhà này, ao nhà nọ hái cụm rau sam, cọng rau dền, những quả mướt bắng nhắng õng ẹo tít trên đọt ổi bà cũng khều xuống, đem về... Nhưng bà Tưởng đã phủi tay! Chiếc lá đỏ quạch, te tua mệt mỏi đành lìa cành, không che chắn bão giông cho bầy chim đói liu riu lít chít nữa. Bà Tưởng cũng chẳng còn hơi đâu mà kêu, mà hờ lên ai oán cái nỗi đau khổ vì con. Bà bỏ đi bất thình lình, không dặn dò. Hình như ngọn gió đã thổi, và bà Tưởng cứ thế bay theo. Xác bà Tưởng được đặt nằm lọt thỏm trên chiếc giường ọp ẹp giữa gian nhà trước đây vẫn chứa đựng những món đồ cũ kỹ, rệu rão như bà. Trên đầu giường người chết là bàn thờ Chúa, nét mặt của Người rất đau khổ. - Ai chết mà không nghe thấy tiếng khóc rứa hè? - Bà già! Già lắm rồi. Già rồi thì chết. Ai chả chết! Người hỏi là người qua đường, người trả lời cũng là một người qua đường. Không có ai khóc thật. Con cháu bà lăng xăng chạy đầu này, đầu kia nào là đi mua hòm, đi may khăn áo, đi nhờ thầy mời Đức cha đến làm lễ rửa tội, rước linh hồn, đi nhờ người đào huyệt, đi chợ nấu ăn... Một cái rạp mái che bằng những tấm nhựa nhanh chóng mọc lên trong sân. Bàn ghế kìn kìn đổ xuống. Trong bếp tiếng bát đũa khua loảng xoảng. Ngoài sân cũng không kém phần bận rộn, ai nấy chạy ra, chạy vào mặt mày căng thẳng, quan trọng. Thằng Tí Nhỏ lớ ngớ đứng nơi cửa bếp bị một bạt tai nẩy lửa của ai đó kèm theo tiếng quát: Ra ngoài mà chơi! Bên ngoài, mưa bay lay lất. Khách bắt đầu đến thăm, mới đầu họ có vẻ lặng lẽ, về sau thì chuyện trò rì rầm, cuối cùng thì râm ran: Đánh nhau đêm qua ở quán Mụ Bảy... hi hi con mẹ vợ thằng Hải một tay tát vào mặt tình địch, một tay túm lấy đầu tóc quay mới ghê chứ. À mà cái thằng con nhà Hùng Râu nghiện xì ke nghe nói chuyển sang si-da giai đoan cuối. Khiếp, nhà ấy tiền như núi mới chơi lại. Bây giờ thì đành cung phụng cho ông con ăn chơi cho phỉ cuộc đời rồi chết. Một ngày vừa tiền nước dịch truyền, vừa thuốc hút hít, vừa món ngon vật lạ cho cậu qúi tử nghe đâu mất nửa chỉ đấy. Thế cũng sướng cái đời. Khuya dần, người thăm đã thưa thớt. Trong rạp chỉ còn lại những người thân cận với gia chủ, họ đang túm tụm lại quây quần chung quanh hai cái bàn. Một bàn nhậu đã gần mềm, mồi là những con gà mới đi chợ về cắt tiết làm liền, nóng hổi. Rượu thì tha hồ, cả hai can đến mấy chục lít. Uống và dùng cho việc tẩm liệm cùng một thứ rượu. Bàn thứ hai còn đông người, thực ra chỉ bốn người ngồi chung quanh im phăng phắc. Những bài tay xóc, xáo và chia bài thành thạo. Họ mải mê đến độ kéo quần đái ngay bên cạnh bàn cho tiện. Bàn đánh bài có ông con thứ của bà Tưởng, bàn nhậu có ông con tóc bù xù, và uống vừa đấm đàn rên ư hử, người hết vẹo bên này, lại gật sang bên nọ. Hai ông thay mặt gia đình tiếp khách và bạn hữu đến chia buồn. Nhưng giữa khuya bỗng vang lên tiếng khóc nho nhỏ, tấm tức, mất mát, tuyệt vọng. Tiếng khóc của bọn trẻ mất bà, chúng gục đầu, những cái dải người oặt mềm, quặn vẹo vào nhau đang bấu quanh giường bà, quanh thây người đã vàng bệnh, lạnh cứng. Những bàn tay nhỏ bé bấu víu vô vọng vào người chết. Hôm nay, vì bận rộn chưa có ai nhớ cho chúng ăn. BỮA TIỆC ĐÊM CUỐI NĂM Truyện ngắn Chị Năm ngừng tay tráng bánh, nhìn ra cửa bếp gọi, Anh à, nghỉ tay mà đi sang bên anh Tùng đi anh. Hồi nãy, em ngó sang thấy đông đen ở bển rồi đó. Mình sang chậm, cô bác chờ phiền lắm. Bé Loan từ ngoài cửa bước vào nói, Má, họ trải bạt trong sân nhà bác Tùng rồi dọn đồ ăn ra. Có thằng cu Kiên nhà cậu Bảy sang nữa đó. - Con có muốn đi ăn tiệc với ba hông? - Anh Lực hỏi con gái - Loan lắc đầu - Ba đi đi. Con phụ má nấu cơm. Bé Loan vừa nói vừa đi khuất vào gian bếp. Bóng nó xiêu vẹo, ngả nghiêng trên bức vách dựng bằng lá buông đã chuyển màu. Anh Lực ra giếng múc vài gầu nước xối qua loa lên người, rồi khóac áo sang bên xóm. Hôm nay, xóm anh cúng tất niên. Mấy hôm trước anh Tùng, chú Đài, anh Hiển sang nhà anh thăm, họ nói cuối năm xóm nào cũng có bữa tiệc đầu làng vừa là cúng để đưa tiễn các vị thần về trời, để xua đuổi mọi cái xui rủi cho cả xóm, rồi cũng là dịp để bà con chòm xóm ngồi lại trò chuyện với nhau, thể hiện tinh thần đoàn kết. Suốt cả năm, ai cũng lo làm ăn bận bịu, có mấy khi rảnh mà chén chú, chén anh cho thỏa tình chòm xóm… Anh Lực vừa thập thò đầu ngõ, tiếng chú Đài oang oang: - A! rứa là đủ rồi. Chú Lực sang nữa là đầy đủ. Xóm mình năm nay thế này là hạnh phúc nhất rồi, không thiếu một ai. - Thiếu cô Tư - Giọng ai đó trong vắt và sắc như dao nhọn cắt ngọt không gian đang chìm dần vào bóng đêm. - Cô Tư ngồi kia kìa. Lại có tiếng nói, mọi người ngoảnh nhìn theo cánh tay chỉ của anh Hai Xuân, không những chỉ, anh còn ném về phía cô Tư một ánh nhìn ươn uớt khiến cô Tư cười xòe hết cỡ hàm răng vừa trồng lại bằng sứ Trung Quốc. Hôm nay cô Tư ăn mặc thật mát mẻ, áo hai dây phơi ngực và bờ vai trắng nhưng nhức. Chẳng ai bảo ai, nhưng mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía cô Tư, phụ nữ thì hậm hực, nóng nảy, đàn ông thì mắt cứ đưa qua, liếc lại liên tục. Có người còn tìm cách bẹo cánh tay, hay phát vào vai cô Tư một cái rồi cười rật rật. Lúc này, bầu không khí tụ họp cuối năm của xóm đã được tinh thần ăn uống, cộng với sự hậm hực nung lên thành náo nhiệt. Anh Tùng sau khi kiểm tra ly mọi người đã được rót đầy rượu trắng, loại rượu nấu của nhà bà Thanh ngai ngái mùi khói, nồng nồng mùi khoai, chua chua mùi hèm, nhưng được cái nó sủi bọt tăm thẳng đứng khiến gã Trung bạt mạng từng cà rỡn nói rằng, bà chị bỏ mấy giọt thuốc trừ sâu hiệu đầu lâu vào nồi hèm, mới có cái bọt tăm đó phải không? Bà Thanh cười giòn tan, tay khuấy nồi cám heo bự như mái vại thùng muối mắm, miệng không ngớt rủa sả. Cha tổ mấy con heo, ăn cho lắm rồi không biết đằng đi ỉa, đứng chỗ nào thúi chỗ nấy. Trung lang bạt, phẩy tay nói, chịu bà chị luôn đó, rồi phủi đít đi thẳng ra ngõ. Đó là chuyện trước đây kia, còn bây giờ Trung lang bạt uống hăng hái nhất, hắn đang bẻ chiếc cổ gà nhai nhồm nhàm, mắt trờn trợn nhìn về phía anh Tùng. Anh Tùng, cầm ly rượu bước khệnh khạng, bước chân sàng qua, múa lại như con thú dữ lúc vờn mồi, đến cạnh cô Tư. Trông ông trưởng thôn lúc này có vẻ như là một người quản lý biết rành những việc cần làm cho từng nhà, từng hoàn cảnh. Biết rõ khi nào thì cần phải ăn, khi nào thì chỉ nên thành kính đứng thắp hương mà thôi, cho dù cái vật đặt lên bàn thờ anh ta đã chấm tay mút thử. Giọng nói to, rền rền của anh khiến cuộc tiệc tạm ngưng ồn ào. - Thưa bà con, năm nay xóm chúng ta họp mặt cuối năm đông đủ như vầy là quá sức vui mừng. Quá ý nghĩa. Quá sức tuyệt vời. Khi nói câu quá sức tuyệt vời, anh Tùng nhìn sang cô Tư ánh mắt hai người chạm nhau trong khoảnh khắc và cùng lóe sáng. Bây giờ, tôi xin mời bà con cùng nâng ly. Cạn một trăm phần trăm. Riêng cô Tư cũng phải cạn một trăm phần trăm cho ngọt đó nghe. Nào. Hai, ba. Dô… ô... ô! Sau tiếng dô kéo rền đồng thanh, những chiếc ly không đặt xuống, lập tức rượu lại được rót đầy. Cô Tư cười ngặt nghẽo khi bàn tay anh Tùng lùa đằng sau vai áo, chạm xuống tận thắt lưng. Lại dô. Tiếng cười tiếng nói ran ran, đề tài chủ yếu là những cuộc nhậu, có mấy người uống, uống hết mấy rọ, mấy ve, trả được cho quán bao nhiêu thước, nợ khúc nào… được kể đi, kể lại say sưa như những chiến tích anh hùng, thời đánh đuổi quân Ngô. Càng về sau, bữa tiệc càng ầm ĩ vì có cả hát hò nữa. Tiếng cười cứ vọt ra từ những chiếc miệng há rộng, tràn trề ra đường, lan tận đến nhà của anh Lực, khiến mẹ bé Loan đang ngồi cắm cúi tráng bánh cũng mỉm miệng cười lây. Anh Lực ngồi đến nửa cuộc rượu thì lẳng lặng rút lui. Về đến nhà thấy vợ vẫn còn xay bột. - Chưa xong hả em? Hai mẹ con đã ăn cơm chưa? - Bé Loan bước khập khiễng từ nhà sau vào trả lời - Ăn rồi ba. Ba ơi, con đóng chuồng gà, con khóa lại luôn rồi, nhưng chút nữa ba ra coi thử có chắc chưa nghe ba. - Em đi nghỉ đi. Loan cũng đi ngủ đi con, còn lại việc gì cứ để đó cho ba. Anh Lực nói với vợ và con. - Em mỏi lưng quá. Em đi ngủ trước đây. Còn ít gạo chưa xay, anh quay đại cho xong rồi cũng đi ngủ sớm nghe anh. Loan đi ngủ đi con. Chị Năm chống tay vào vành chiếc cối đá, uể oải đứng lên. Nhà làm nghề tráng bánh tráng bỏ mối. Dù quần quật từ sáng đến gần nửa đêm, họ cũng chỉ mong kiếm tiền chợ. Riêng ngày tết, có thêm người đặt làm bánh, hai vợ chồng biết đây là thời gian có thể kiếm thêm chút đỉnh, cả nhà càng phải cố gắng. Lực nhẩm tính, tháng nay kiếm được hơn ba triệu, đó là đã chi phí rồi. Trong chuồng còn bầy gà chờ bán chợ 30 tết, cộng với khoản dành dụm lâu nay, gia đình anh đã có được món tiền kha khá. Sau tết, anh có thể đưa bé Loan đi phẫu thuật để chữa trị cái chân khập khiễng. Bé Loan bị teo chân sau một đận sốt. Thấy con, vợ chồng thường thầm lặng sa nước mắt, họ nghĩ đến ngày Loan thành một cô gái mà đau lòng… Gà đã cất tiếng gáy, anh Lực mới đi nằm, đang mơ màng thì anh nghe tiếng kêu quác quác phát ra từ phía chuồng gà. Tiếng kêu vừa thoát ra đã bị chẹn thắt, nín bặt. Anh Lực lao ra cửa bếp, một bóng đen vụt qua. Lực đuổi theo và la thật to. Cướp! Bớ bà con bắt cướp! Cướp! Nó chạy đó. Cướp! Cướp. Bà con ơi có người đến cướp nhà tôi!... Tiếng la, tiếng kêu cứu, tiếng chân người rượt đuổi nhau cuống quít, xô đẩy, hối thúc tạo nên một thứ âm thanh náo động giữa khuya. Anh Lực vừa chạy đuổi theo kẻ bắt gà, vừa gào lên kêu cứu. Anh nghĩ, chỉ cần có ai đó chặn giữ bước kẻ khốn nạn ấy lại cho anh trong vài phút, anh sẽ bắt được nó. Anh sẽ đấm vào mặt quân khốn ấy những quả đấm dồn sức cả đời anh, và sẽ rít qua kẽ răng rằng mày có biết con tao què một chân? Con gái tao cần được chữa trị cái chân khập khiểng để nó có thể trở thành một thiếu nữ bình thường trong mắt bọn con trai, khi nó mười tám tuổi? Mày có biết bầy gà là niềm hy vọng của gia đình tao? Thế nhưng chỉ có một mình anh chạy trên đường, anh vẫn kiên trì hô hoán cầu cứu, mắt vừa dán chặt vào cái bóng đang một lúc một tăng khoảng cách, vừa liếc ngang ngửa để tìm một bóng người lao ra trợ giúp. Cửa mọi nhà vẫn đóng im ỉm. Cho dù bọn chó đua nhau sủa váng làng. Tên trộm rất khỏe, chân hắn sải dài, càng lúc càng mất hút. Anh Lực vẫn cứ chạy theo trong tuyệt vọng… Khi anh rũ rượi trở về, hình như để an ủi anh, đèn của một vài nhà bật sáng. Tại nhà anh Tùng, còn sáng cả ngọn đèn ngoài sân, nơi tối qua cả xóm ngồi đấu lưng dốc cạn ly rựơu đoàn kết. Có bóng người nhỏ xíu, xiêu vẹo đang lao về phía anh, Lực nhận ra đó là con gái tật nguyền của mình. Bé Loan cầm trên tay một cành củi su nhỏ bằng cổ tay của nó. Vừa chạy nó vừa kêu, có con nè ba ơi! Anh Lực giang rộng đôi tay ôm con vào lòng, cổ anh dâng lên một cái gì đó, nó không trào hẳn ra được ngoài miệng, nó cũng không chịu tụôt xuống dạ dày, nó to ra mãi, tắc ứ trong cuống họng, nó nóng bỏng và đắng. HOÀNG HÔN ĐỎ Truyện ngắn Hài lòng vì đã làm xong sớm hơn một ngày, đáng lẽ mai mới về thì chiều nay Vận sẽ về sớm. Nhìn qua một lượt, đám rẫy mới phát ngổn ngang cây đổ, Vận nhủ thầm, bật gốc cây, dọn đốt cũng phải mất một tuần nữa, thôi cứ về đã, sau vào lại sẽ hay. Con đường từ rẫy về nhà đi mất hai giờ. Vận sải từng bước dài băng băng trên những hòn đá lô nhô dày đặc. Nắng chiều hắt lên ngọn cây từng vạt sáng lấp loá. Phía dòng sông La Ngà, mây trời toàn một màu đỏ. Tận cùng là bên dưới đường chân trời, một quầng đỏ như quả cà chua chín khổng lồ đang dần dần chìm khuất. Những tia nắng chiếu hắt lên đám mây như những ngọn đèn pha, phía trên sáng xoè ra đỏ ối, bên dưới đám mây lại âm u với hình thù quái dị. Một hoàng hôn đỏ lừ. Vận đẩy cửa thật khẽ khàng, nếu Phương đang mải mê với chiếc nón lá chằm dở, Vận sẽ đập khẽ lên vai và hù một tiếng. Thế nào Phương cũng giật nẩy mình lên, hét toáng nhà. Sau đó quay lại, mặt đỏ bừng vì giận, miệng á ra định chửi thì nhận ra chồng, vậy là hai tay đấm túi bụi vào ngực Vận. Cứ cho đấm… Vận sẽ ôm riết vợ vào lòng, rồi bế nàng… Nhưng cái gì vậy nhỉ? Vận đờ người ra căng mắt nhìn, trên chiếc giường trong góc nhà, lẫn vào bóng chiều lờ mờ, giữa đống quần áo nhàu nát, hai thân người trắng toát đang ghì riết lấy nhau. Vận nghe tiếng rên khe khẽ đầy hứng thú của gã đàn ông. Vận thấy tấm thân của Phương nõn nà bên dưới tấm thân kia, nó đang oằn theo từng cơn sóng đầy nhục dục. Gã đàn ông ấy là ai? Đầu óc Vận căng ra bừng bừng nóng, rồi thoắt lạnh toát, rồi lại bùng bừng bừng nộ khí. Rồi nó tối sầm lại trước khi bùng nổ. Nhất định đầu Vận sẽ nổ. Bây giờ khói đã bốc ra từ mắt, cả lửa cũng đã bắn ra, ngọn lửa tức giận điên loạn. Vận thét to, hay đúng hơn là Vận rú lên, tiếng rú man rợ của loài có móng vuốt đang lăn xả vào con mồi. Con dao phát rẫy sáng chóe trên tay Vận vươn dài ra, bổ phập xuống trên hai tấm thân đang chồng lên nhau. Cùng một lúc nhiều tiếng hét kinh hoàng. Tiếng rú đau đớn đột ngột đứt quãng rồi lịm tắt là của gã đàn ông. Đó là thứ âm thanh ghê rợn phát ra từ nỗi khiếp sợ và bất lực, nỗi sợ đó chỉ kịp bóp vỡ trái tim, thoát ra vừa thành tiếng đã tắt trong cổ họng. Mắt gã trợn ngược lên. Ngang tấm thân của gã máu phụt ra lênh láng.Tiếng hét lanh lảnh của Phương. Đó tiếng rú hoảng loạn, nó không là tiếng người, nó cũng không hẳn là tiếng của con vật nào, mà nó như tiếng gào thét vọng về từ những âm u kinh dị. Ai trong đời một lần nghe tiếng thét này, chắc chắn tin rằng thế giới loài người không bao giờ còn bình yên. Vận buông con dao xuống nền nhà, chạy ra sân gào thật to: Tôi giết người! Thằng Vận giết người rồi ới bà con ơi! * * * Nhiều tháng sau khi việc ấy xảy ra, làng Yên Thượng vẫn chưa hoàn hồn. Chiều chiều, phụ nữ trẻ em dúm vào nhau trong sợ sệt, những tiếng nói chuyện thều thào như sợ điều tai ương nào đó sẽ bất thần ụp xuống ngay trên mái nhà của họ. Cụ Chín, người hay bông đùa, việc gì ông cũng cho là việc tầm phào trừ ăn, ngủ. Thế mà ông cũng đã thì thào. - Chưa từng thấy! Sống gần hết đời, nghĩ đã biết hết… Thế mà, hãi hùng quá! Những ngọn khói từ mái bếp các căn nhà vẫn êm đềm toả ra mà sao nó không còn có cái vẻ ấm áp. Vẫn những sợi khói mỏng, nhưng nó không vấn vít ôm ấp trên những mái nhà, những rặng cây. Nó như hơi thở dài u sầu thoát ra từ bộ ngực nặng trĩu ưu phiền tan dần vào không trung lạnh lẽo vô vọng như thể niềm mong đợi nào đó không bao giờ trở lại được nữa. Nhiều gia đình lục tục dọn đi. Gia đình chị Dân cũng đã gửi bầy trẻ về ngoại hôm qua rồi. Trong làng vắng lặng. Bà mẹ của Vận cũng đã thu xếp hành lý. Nhưng bà chưa thể nào rời khỏi cái làng oan nghiệt này. Sáu tháng qua, có ngày nào là ngày bà không khóc. Thằng Vận của bà. Thằng Vận chịu thương chịu khó, ăn cơm mỗi bữa mấy tô đầy, miệng cười hềnh hệch. Làm sao nó lại đi giết người??? Ôi! Sao cái số phận bà lại cay nghiệt đến như thế này! Bà gào lên, bà hờ lên não nề… Vận ới!... Vận ơi!!! Sao con khổ thế con! Trời cao đất dày, sao ông làm cho chúng tôi khổ đến như thế này? Bà mẹ ấy nếu tan chảy được theo những dòng nước mắt thì có lẽ còn đỡ đau khổ hơn. - Cô Ba Lương nói thế mỗi khi mang sang chén canh vào bữa cơm chiều. Vận bị bắt! Lúc tra tay vào còng, Vận cúi gằm mặt xuống đất. Vận bị kết án tử hình. Khi đứng gục đầu trước vành móng ngựa, Vận không nhìn ai, nếu ánh mắt Vận vướng vào đâu đó thì nó như cũng chẳng thấy gì, hay nhận ra điều gì. Ngay lúc này đây, Vận như đã đứt khỏi mọi ràng buộc liên quan đến các sự vật và con người chung quanh, hay đúng hơn là đã đứt khỏi cái gọi là sự sống. Cái nhìn của người đã chết chỉ ngời lên một chút, khi nó lướt qua chỗ ngồi của người mẹ già. Nhưng hôm nay, ánh mắt đó đã mấy lần tìm về phía bà cụ thường đến ngồi, ở những phiên toà trước. Chỗ đó, giờ chen chúc những người khác, họ nhìn vào Vận chằm chằm và xa lạ. Người mẹ ấy đã khăn áo ra đi từ sáng sớm. Bà chạy trốn một kết cuộc mà không một người mẹ nào trên đời có thể có đủ cam đảm chứng kiến. - Bị cáo được phép nói lời cuối cùng. - Tiếng của ngài chánh án vang rền. - Thưa toà - Tiếng rì rầm của những người hiếu kỳ, của bên nguyên cáo im bặt - Tiếng Vận như vọng lên từ dưới đáy mồ, nó lạnh lẽo, nó làm người ta sởn gai ốc cùng người. - Thưa Toà. Thưa ngài Chánh án, tôi xin được dùng lời nói cuối cùng của mình để hỏi ngài chánh án một việc. - Toà cho phép. - Thưa ngài. Tôi xin hỏi ngài, giả sử ngài bắt gặp tôi đang ngủ với vợ ngài, ngài sẽ xử sự ra sao? - Này cái anh kia - Ngài chánh án gầm lên.- Đây là phiên toà, ai cho phép anh ăn nói một cách bậy bạ như thế hả? - Một cái gì đó hết sức long trọng, hết sức nghiêm nghị bị phá vỡ. Nhiều tiếng cười, tiếng hí ồ lên. - Thưa ngài, tôi được phép và đã được ngài đồng ý mà. - Vận tiếp tục nói. Ngài thấy chưa, ngài đã được chuẩn bị tâm lý, đang ở một nơi mà nhiệm vụ bắt buộc ngài phải điềm tĩnh. Vậy mà tôi chỉ mới ví dụ thôi, mới giả sử chứ đã có làm gì đâu mà ngài đã mất vẻ oai nghiêm của mình rồi. Tôi có tội. Tôi chịu hình phạt của pháp luật nhưng nỗi oan uổng cuộc đời tôi, ai đền bù cho tôi, thưa ngài? Ai sẽ đền cuộc đời tôi, hả. Ngài nói đi? Ngài chánh án mặt mày hết tái rồi lại đỏ, ngài hực lên một tiếng tức giận ôm ngực đổ gục xuống bàn. Phiên toà nhốn nháo rồi kết thúc. Ngài chánh án được đi cấp cứu... Vận bị đẩy lên một chiếc xe bít bùng. Đám đông lao xao bàn tán - Ông chánh án liệu có sao không nhỉ? - Thằng giết người ấy, nó điên rồi hơi đâu mà nghe nó. - Nó chẳng hề điên. Tôi thấy khó mà trả lời thỏa đáng câu nó đã hỏi. Tôi e vì vậy mà ngài chánh án mới tức thở. Chẳng biết như thế nào, chỉ biết rằng sau phiên tòa ấy ít lâu ngài chánh án từ chức. Người ta nói rằng ngài bị ám ảnh từ phiên toà xử Vận. Nhưng lại có người quả quyết Vận đã đánh gục ông ta. Tôi, người viết chuyện này không hiểu gì cả nên kiên quyết tìm cho bằng được nguyên nhân. Ngày đó, ở miền quê ven biển của người đàn ông tên Lương (tên cũ của ngài chánh án) có một gia đình êm ấm. Đó là gia đình của Lương. Tuy Hạnh không hợp với anh lắm, cô nói nhiều mà anh hơi trầm lặng. Nhưng bù lại, cuộc sống của họ sung túc vì Hạnh buôn bán tài tình. Một cái giỏ xách, một ngày đi từ thị trấn đến thị xã, hay thành phố với vài ba thứ hàng, Hạnh có thể kiếm vài trăm ngàn. Hạnh hãnh diện vì mình kiếm ra tiền khi cả làng lao ra biển và biển thì vô chừng. Một ngày kia, Lương bỏ làng biển đi biệt tăm, sau khi chứng kiến Hạnh sau một gốc cây dương trần truồng lăn lộn với gã chủ quán nhậu Hải Dương, bởi gã là lái xe thường xuyên trên những chặng đường Hạnh đi qua. Lương nghĩ rằng mình là người đàn ông cao thượng nhất, không đánh đập, không sỉ vả làm nhục ai, Lương cho rằng mình đã hành động xứng đáng với hành vi của người đàn ông thời đại. Ngày ấy, khi Lương chụp chiếc mũ lưỡi trai lên đầu, Hạnh kinh hoàng quì sụp xuống cửa, van lạy xin tha thứ. Lương đã vòng ra lối sau để đi, mà không phải đến gần Hạnh, Hạnh không ngớt cầu xin, đáp lại chỉ nhận được tia nhìn lạnh lùng. Không thể đòi hỏi gì hơn nữa ở Lương, đó đã là ranh giới tột cùng của sự chịu đựng. Khi đang bỏ chạy như thế, Lương giật mình khi có ai đó xô vào chân mình. - Ba, ba đi đâu ba? Thằng Củn từ đâu không biết đã lao vào ôm chân Lương. - Về nhà với mẹ ngay! Tiếng quát làm thằng bé hoảng sợ, nó buông tay ra, nhìn Lương bằng đôi mắt mở to hết cỡ rồi bất thần quay đầu chạy bổ về nhà. Đó cũng là lần cuối cùng Lương nhìn thấy thằng Củn. Mãi sau này, Lương mới biết Hạnh vì xấu hổ mà đầu độc con rồi kết thúc đời mình bằng thuốc ngủ. Từ đó Lương mất hẳn vẻ hoạt bát, hằng ngày trầm tĩnh quá mức cần thiết. Lương không quay về làng. Cả những ý nghĩ về làng cũng bị Lương gột rửa ra khỏi trí óc. Vùng biển Thanh Hà không có trên đời. Đôi lúc, Lương tự nhủ cuộc đời mình bắt đầu chỉ từ sau tuổi ba mươi mà thôi. Khi nào đó, nếu tâm trí như ngựa hoang chợt lang thang về miền cũ, Lương hét lên. - Đủ rồi, chấm hết! Thế nhưng cái thần trí bất trị, nó lại len lén trở về trong đêm khó ngủ, hình ảnh thằng Củn lởn vởn hiện về trong những giấc mơ đẫm mồ hôi. Cái ngày, gã tử tù tên Vận, cái con người mà Lương nhân danh pháp luật xét xử, đã chĩa hẳn họng súng truy xét nhằm thẳng vào sâu thẳm lòng Lương nhả đạn. Hắn bắn tan tành tấm áo giáp bấy lâu Lương ẩn mình. Tại sao Lương không tha thứ cho Hạnh? Phải, nếu Lương tha thứ thì con trai nhỏ bé của Lương nay có thể đã là một thẩm phán tài ba, công minh, chứ đâu chết thảm như thế? Tiếng hỏi ngây thơ của Củn vang lên trong tâm tư Lương “Ba ơi! Ba đi đâu ba?” * * * Vết sẹo trên bụng của Phương chẳng xấu mấy, nhờ được may thẩm mỹ. Nhưng điều ấy không còn ý nghĩa gì khi Phương suốt ngày la hét, xé tung quần áo của mình và đòi đi tắm sông kẻo nhiều máu quá. Tội nghiệp, ngày ấy Phương vùng chạy ra khỏi giường với thân thể trần truồng đầy máu, Phương chui vào ngồi co ro, run lẩy bẩy giữa hàng rào dâm bụt. Khi chị Lựu và anh Bảy lôi Phương ra, đưa Phương đi cấp cứu, Phương thét lên “Em không giết người, em không giết người!”. Phương hoảng loạn cho đến bây giờ. Gia đình Phương đưa Phương về một bệnh viện tâm thần nổi tiếng ở thành phố để chữa trị. Năm tháng trôi qua. Mọi người bám víu vào liều thuốc thời gian, nhưng Phương vẫn chưa tỉnh lại. Phương có thể còn hồi tỉnh không? Chẳng ai dám nói chắc. Chăm sóc Phương hàng ngày là người mẹ đã nghỉ hưu sớm. Phương rất ngoan ngoãn, chỉ la hét và xé quần áo đến mệt thì ngủ trong nước mắt. Gần đây, việc ấy đã giảm nhiều. Một buổi sáng, mẹ Phương ngạc nhiên khi nghe Phương đòi mua vở. Mua vở làm gì hả con? - Dạ, để con chép bài học, chẳng phải con cần thi đại học hay sao? Biết con đang lên cơn, nhưng mẹ Phương vẫn mua vở và bút chì. Một buổi chiều, Phương nói đi nhà vệ sinh mà mãi không trở về phòng, bà mẹ hớt hải đi tìm. Tìm khắp nơi chẳng thấy bóng dáng Phương đâu bà hốt hoảng định lên báo với phòng bảo vệ, lúc ngang qua ngả sau một vườn hoa nhỏ đầy những lùm hoa ổi khoe sắc sặc sỡ, và những bụi sứ trắng thơm dìu dặt, người mẹ thấy con mình đang ngồi bệt trên bãi cỏ cắm cúi ghi chép. Trên chiếc ghế đá kê dưới một gốc sứ to, có một ông già nói gì đó rất hăng hái. - Hãy yêu thương con người bằng tình yêu từ tâm, phù hợp với điều luật 103… Lý trí lải nhải và thống trị. Đã quá đủ. Làm nô lệ không chỉ là với quỷ… Điều luật cần phải thêm vào đằng sau những cụm từ… Mẹ Phương thấy một nét quen thuộc từ người đàn ông nọ. Đôi mắt tuy lạc thần, dáng vẻ lờ đờ, nhưng vẫn tóat ra một phong thái uy nghi từ giọng đọc, từ cái khoát tay. Thôi đúng rồi, ông chánh án! Người mẹ im lặng đến gần con gái. Phương vẫn chăm chú viết, trên giấy trắng hiện ra những nét chữ loằng ngoằng và hình hài một đứa trẻ. Thấy mẹ, Phương ngước nhìn bà xoè ra nụ cười ngây ngô. - Con học để thi đại học. Kia là thầy của con - Phương chỉ tay về phía người đàn ông đang giảng gì đó cho những bông hoa sứ và bảo với mẹ. Rồi bất ngờ, Phương chạy đến quì lạy trước người đàn ông đó, miệng không ngớt kêu lên thầy ơi thầy. Hai người điên, một người dạy, một người học bài học riêng của đời họ. 3/7/2006 THẰNG HOÀNG Truyện ngắn Lão Miễn đội chiếc mũ nỉ lên đầu rồi bước đến thắp ba nén hương, chắp tay vái ba vái, cung kính cắm mấy nén hương lên chiếc lư đồng. Ánh mắt ông vuốt ve, tha thiết từ biệt mọi món đồ vật thiêng liêng trên cái bàn thờ mà suốt mấy chục năm qua, ngày nào lão Miễn cũng nhang khói. Lần thắp hương này có thể là lần sau cùng, lão Miễn nghĩ như vậy. Con chó Ki già nua nằm ở dưới gầm bàn mắt không hề rời những cử chỉ của lão. Khi lão Miễn bước ra cửa, con chó nhổm dậy theo sát chân. Lăo Miễn quay lại nạt. Về! Con Ki lùi vài bước rồi ngước đôi mắt ướt, đầy nhử gèn nhìn ông. - Đi thôi bác ơi! Tối rồi đó. Cháu còn quay về nữa. Về khuya quá, đường xa, chạy ớn lắm. Tài xế cũng là chủ chiếc xe lam giục. Lão Miễn bẻ một cành cây cầm trên tay rồi trả lời, ừ đi thôi chú. Ki. Mi có về không! Lão nạt con chó to hơn, tay cầm cái roi dứ dứ. Con Ki khựng lại một chút rồi tiếp tục chạy theo chân. Lão Miễn quất vào con chó một roi nghe đánh vút. Con chó kêu ắng lên một tiếng thảm thiết rồi trở lui vô nhà, lấm lét nhìn lão một lúc rồi cụp đuôi lủi thủi chui vào xó bàn nằm nhìn ra. Con chó đã hiểu, lão không muốn cho nó theo. Chiếc xe lam hực lên đành đạch tới mấy bận rồi mới rặn ra những tiếng nổ phạch phạch. Lão Miễn ngồi ghé vào một bên tay lái, ngoái nhìn phía sau để soát một lượt những món đồ lỉnh kỉnh. Chiếc giường cũ làm bằng gỗ bằng lăng do chính tay lão đóng lấy. Cái bàn gỗ mít đã theo lão từ cái thời lập Dinh điền. Chiếc xe đạp đã long hết sơn chỉ còn trơ cái khung sắt gỉ. Một mớ rổ, rá nồi xoong, bó chiếu, vạc gường bằng tre. Toàn là những thứ chẳng giá trị gì, nhưng nó thân thuộc với lão và nó cần cho một nơi ở mới, nhất là khi chỗ ở đó giữa một vùng đất vừa khai hoang. - Ông không đưa tiền thì tui liều chết! - Tiếng nói hằn học, dứt khoát như từ dưới đất vọt lên. Lão Miễn quay lại thấy thằng Nhân, con trai lão đang đứng dạng hang trước đầu xe. Hai tay hắn xô vào chiếc xe đang nổ như rên. Bốn bánh xe chậm rãi quay vòng chạy lui vài tấc. - Tiền chi? Tiền chi mà tao phải đưa cho mi hả? Tao mắc nợ mắc nần chi mi mà mi đòi há? Lão Miễn hung hăng trả lời, nhưng thực ra lão rõ ràng đã bị thằng con tóm gọn, khó bề cục cựa thoát thân. - Một chỉ vàng tiền bán đất, ông chưa cho tui. Ông đưa rồi mới đi, không thì tui liều chết. Xe không chạy đi mô hết! - Một chỉ vàng? Rứa mi nợ tao hai chỉ? Hai chỉ mi lên mượn về cho vợ làm vốn mua bán. Hai chỉ đó là tiền tao bán cái bưng hơn sào đất cho chú Phú, rồi đưa cho mi hết. Chừ bán đất nền nhà, thì tao cho mi nhà, cho luôn miếng vườn, cho cả cái rẫy. Hai chỉ tao cũng không đòi… Mi còn hành chi nữa cho tủi cái thân tao rứa? - Lão Miễn gào lên, giọng lão xơ cứng nghe vừa não nùng vừa quái dị. Thằng Nhân vẫn cương quyết. - Tui không biết. Không đưa một chỉ, thì tui đây cũng liều! - Ý gã con trai là liều chết. Nhưng lần này hắn cũng có chút ngượng ngùng vì thấy cô Vân đang đứng nhìn. Cô Vân từ từ tiến lại. - Một chỉ của anh Nhân để rồi em đưa sang, giờ thì anh để cho ông già đi kẻo tối rồi, tội. Rứa đi ông hè. Mai mốt cháu mần xong giấy tờ, năm chỉ còn nơi cháu, cháu đưa cho anh Nhân đây một chỉ. - Cô Vân người mua đất của cụ Miễn nãy giờ ra tiễn ông cụ, thấy cảnh ấy đã can thiệp. - Đó. Mai hồi mi sang cô Vân mà lấy một chỉ. - Ông đi bình an ông hí. Khi mô đến tết, ông nhớ về thăm chơi nghe ông! Gã vênh gương mặt đắc thắng, bước lùi sang một bên. Chiếc xe lam bò chậm chạp lên con dốc nhỏ, rồi rướn sức chạy khuất dần trong trời chiều hiu hắt, để lại đằng sau một đám khói đen ngòm, không khí đầy mùi khét. * * * Lão Miễn về chỗ ở mới được vài năm thì mất. Ai cũng tiếc cho lão, bởi vì nơi vùng đất bám vào da thịt đỏ quạch này lão đã có những tháng ngày nhàn nhã. Xóm Mới nằm giữa vườn cây cao su vừa vào thời kỳ khai thác mủ. Hàng ngày mọi người trong nhà đều đi cạo, đi trồng, đi rẫy. Trẻ em đến trường, đi nhà trẻ. Tất cả đều đi, chỉ còn mỗi lão Miễn ở nhà. Lão bưng chiếc ghế ra mái hiên ngồi hong nắng, sau đó chắp tay sau đít đi quanh vườn ngó cái này, cái kia. Thằng Hoàng về thấy lão đang kéo nước nó la oải oải. - Nội để đó. Con về liền mà nội lo chi chuyện nước non. - Thằng Hoàng giành cái gàu khỏi tay lão. Lão mó tay vào cái ghế đã long mộng, sút tay, định sửa cho bầy trẻ có cái trèo lên, trèo xuống chơi. Thằng Hoàng cũng giành lấy, nó nói, nó muốn học nghề làm thợ mộc, ông cứ chỉ cho nó để nó mau rành. Cái thằng thiệt tốt, vậy mà nó từng bị điên. Mấy năm trước, thằng Hoàng bị một trận sốt rừng dữ tợn, nằm bệnh viện Nhiệt Đới cả nửa năm trời. Khi hết sốt, thì thằng Hoàng suốt ngày chỉ tòan nói chuyện trúng số, trúng tiền tỉ rồi trèo lên mái nhà tìm tiền, vì nó nghi anh Hai Hạ, ba của nó đem giấu. Đi bệnh viện Biên Hòa nửa năm cũng cứ thế. Sau này, anh Hai Hạ đem nó về, gửi nó vô chùa Viên Nguyên. Chẳng biết có phải cơm gạo lứt, muối mè đen thành tiên dược, hay do tiếng đọc kinh đầy thành tâm của sư Cô Thiện Giác mà thằng Hoàng thôi không đi tìm tiền trúng số nữa. Nó về nhà, cũng là lúc lão Miễn lên ở với vợ chồng anh Hai Hạ. Chỉ đâu hơn hai năm thì lão Miễn mất. Nghe bác sĩ nói lão chẳng bệnh chi, chỉ tại tâm phế mãn. Chị Hai Hạ, má thằng Hoàng kể. - Ông của cháu tỉnh lắm, tỉnh đến phút cuối cùng. Trứơc khi đi, ông còn “nhập thổ” rồi mới đi đó thím. Bà Lượng, thím dâu của chị Hai Hạ tò mò: - Nhập thổ là sao? - Ông cháu bỏ ăn ba ngày, nước khi đầu còn uống, sau chỉ thấm ướt môi chứ tuyệt nhiên không chịu nuốt. Khổ. Mà truyền dịch cũng không được. Bác sĩ nói tim, mạch ông nhà cháu sao đó, mà dịch truyền vô là chịu không nổi, có thể chết liền. Chân tay ông lạnh ngắt, cứng đơ, chỉ còn từ bụng trở lên là nóng. Nhưng ông vẫn tỉnh, có lúc ông đòi đỡ ngồi dậy. Cả nhà xúm vô đỡ, nhưng ông có ngồi được đâu thím. Người ông đơ đuồn đuỗn ra rồi! Cái lưng thẳng đờ có cong lại được mà ngồi. Rứa đó. Mà khi gần tắt nghỉm, ông lần lần ra mép gường, trằn trằn xoay người từng chút, từng chút. Xoay từ sáng đến gần trưa thì thõng hai bàn chân xuống đất. Khi chân ông cháu chạm đất là ông cũng vừa đi thôi đó! Lạ lắm. Họ nói, ông cháu nhập thổ chân chạm đất mới chịu đi về trời. Thiêng lắm! - Rứa a! Tui ngày xưa cũng từng nghe bà tui kể, khi mẹ bà tui chết, là lúc bà tui hom hem hen suyễn, ông bác mới biểu bà tui đem bệnh gửi. Gửi bệnh cho người chết đem đi theo à? Liệu có được không? Chị Hai Hạ kinh ngạc hỏi tới. - Được chớ! Bà tui đó, nghe theo lời bác, thắp hương van vái, đến khi tẩm liệm thì lạy khấn rồi mang bệnh bỏ theo vô trong hòm. Nhờ rứa, bà tui còn hen suyễn chi nữa mô. Nhiều cái linh lắm! Mình không biết được đâu! Thằng Hoàng khỏi điên rồi, nhưng chắc chi không tái đi, tái lại. Còn cái cẳng nó nữa tề, thấy nó cứ đi lệt, lệt bất tội. E đau lắm chớ chẳng chơi, rứa hắn mới như thằng xì ke, ả để rứa mà chịu được a? Khi liệm, nói hắn gửi bệnh cho ông Nội, ông Nội gánh đi cho. - Dạ! Chị Hai Hạ mặt giãn ra, hớn hở. Chị nhón chân dòm một lượt trong đám người ngồi, đứng đông đúc trong sân mà chẳng thấy thằng Hoàng đâu. - Thím, hay thím tìm thằng Hoàng rồi nói với nó dùm cho cháu với? Kệ. Biết mô gửi cho ông, ông thương mang bệnh tật đi dùm cho, hắn bớt khổ? Bà Lượng gật đầu rồi xăng xái đi tìm thằng Hoàng. Nó đang quì đọc kinh giữa bàn thờ Phật. Bà Lượng lại gần kéo vai áo, vẫy vẫy tay kêu nó ra ngoài, ghé tai thì thầm: - Con nghe bà, chặp nữa khi liệm ông, con van vái ông, rồi đem bệnh của con, gửi ông cầm đi theo ông luôn cho. Thằng Hoàng mần thinh. - Thằng Hoàng đâu. Thằng Hoàng đâu? Tiếng bác Sáu oang oang. - Hắn có nói chi với ông thì đến nói, kẻo đến giờ đóng quan lại rồi nì. Oa. Cái thằng đâu mất rồi? Kêu hắn coi bây! - Con đây. Thằng Hoàng đã đứng cạnh quan tài từ bao giờ, trên mặt nó hai hàng nước mắt đang tuôn, có giọt bò hẳn vào trong miệng. - Con không gửi chi cho ông con hết. Con hận. Con không gánh được cho ông con một chút gì đó cái gánh nặng làm người. Cái gánh của con, thì con tự gánh, sao con lại bắt ông con gánh thêm cái phần oan nghiệt của con nữa chứ? Chẳng phải gánh cuộc đời của ông đã quá cực nhọc đó sao?! Hu hu hu… u - Thằng Hoàng khóc rống lên tồ tồ như suối chảy. Một người đàn ông bận trang phục trắng xóa từ đầu đến chân, lủi nhanh ra khỏi giường tẩm liệm. Đó chính là gã đàn ông tên Nhân, chú thằng Hoàng. Ra đến bên ngoài, gã bỗng dưng ngồi bệt xuống nền đất vật mình khóc òa thiệt to. Tiếng khóc lần đầu vỡ ra được từ lồng ngực khô khốc của hắn. Cũng là lần đâu tiên hắn gọi Lão Miễn: Cha ơi! Cha ơi cha! Tiếng gọi tan loãng vào sự ồn ào trong cái giờ động quan. Có ai đó nạt át đi. Gã nhìn lên, mắt gã đụng phải thằng Hoàng, gã chợt nghĩ nhiều người biết, gã cũng biết, chỉ thằng Hoàng không biết, nó là đứa trẻ nhặt được từ trạm xá, khi vừa lọt lòng. Người ta quấn nó trong một tấm mền rách đem về cho chị Hai Hạ làm con nuôi. KẺ MẠNH Truyện ngắn Hắn thấy Hắn là một kẻ mạnh. Kẻ mạnh là kẻ có tiền, có quyền. Hắn dư thừa cả hai thứ ấy! Nhà ư, Hắn có nhà hàng khách sạn Thiên Thai, tiêu chuẩn bốn sao ở thành phố. Cái nhà ấy, đang nở cho hắn những mùa hoa tiền tài sung mãn nhất. “Nhà vườn” ở quê ư? Hắn thích gọi “nhà vườn” nghe cho nó bình dân. Ở một mặt nào đó, cách nói bình dân đang được nhìn nhận là nói khiêm tốn, hay nói khác đi, đó là cách nói nhã nhặn của người có văn hóa. Vả lại, cách nói này nói còn là cơ hội để ngỏ, để không ít kẻ cần Hắn làm lá chắn, cần Hắn chỉ cho một lối đi, sẽ bật kêu thảng thốt: Ôi chao! Mấy cái biệt thự ở khu ngoại ô Sài Gòn, cứ phải gọi “nhà vườn” của ông anh bằng cụ. Nhìn chúng cứ vuông vức như chuồng cu, vài ba kiểu dáng na ná như nhau, vài cụm cây xanh bé tẹo trong vườn. Xì. Có cho không ông anh mấy ngôi nhà ấy, ông anh cũng chẳng buồn nhìn, nhể? Đó là chưa tính, hắn có hàng tá đất thổ cư, nằm toàn những nơi mỗi mét vuông là cả một gia tài mà người buôn thúng, bán mẹt ao ước. Quyền thì bây giờ Hắn không còn quyền nữa. Nhưng công lao gầy dựng vây cánh của Hắn mấy chục năm thành quả vẫn còn trùng trùng, điệp điệp. Những anh Hai, anh Ba của huyện này, tỉnh kia gặp Hắn vẫn cứ phải giữ gìn ý tứ. Hắn muốn cất nhắc ai vào ghế nào là chuyện “không thành vấn đề”. Hắn thú vị câu nói của một tay chơi chứng khóan giàu sụ, tay này còn trẻ, học nhiều thứ của Tây, biết không ít kiểu sống của ta, nên giọng cứ tưng tửng, hiểu theo kiểu gì cũng khoái: Tiền mua được tất! Vấn đề là giá bao nhiêu mà thôi. Hắn ngẫm nghĩ và thấy cái tay ấy lõi đời! Hắn đã bỏ ra nhiều đêm nằm vắt óc ra tìm thứ không thể mua, tuyệt nhiên thấy rằng cái gì cũng có giá của nó cả. Hắn cũng đã làm chuyện mua bán nhiều, cũng có vài bận trầy vi tróc vảy tí chút, nhưng còn lại là “trúng”. Muốn mua bán dù là thứ vặt vãnh như chút danh tiếng, hay mua quan, bán tước đều phải là người am hiểu “nghệ thuật”. Phải có “nghệ thuật” thì mới làm nổi, nếu chỉ “liều” không thôi thì cũng vứt. Nhưng đó là chuyện của trước đây, còn bây giờ Hắn đã thỏa mãn, Hắn không còn thấy hứng thú gì nữa sau khi đã quá thừa mứa. Vì không ham hố gì, Hắn bỗng thấy rằng hắn đang thuộc đẳng cấp vô giá. Nhất là khi ông trời ban cho Hắn báu vật vào thời điểm Hắn không còn hy vọng gì nữa về chuyện có một thằng con trai, thì bỗng dưng người vợ trẻ mang bầu và thằng Hậu chào đời trong hạnh phúc viên mãn của chính hắn. Thằng Hậu lên hai, trắng hồng, mũm mĩm. Thằng Hậu là thiên thần của hắn. Hắn yêu con như điên. Hắn gầm gừ mỗi khi có ai đó đụng chạm vào đứa trẻ mà phật ý hắn. Tình yêu của hổ dữ càng khiến những người chung quanh sợ sệt khi chăm bẵm, săn sóc cho thằng Hậu. Ai nấy đều lo lắng tai họa có thể trút xuống đầu họ, do một sơ sẩy nào đó. Hắn cũng rất yêu chó. Những con chó Nhật, lông trắng như bông Bạch Tuyết, khiến hắn mê mẩn. Hắn tắm táp cho những con vật ấy. Hôn hít, nâng niu hệt như Hắn hôn hít, âu yếm thằng Hậu. Còn bầy cháu long nhong, suốt ngày dầm mình với những con trâu, trong dòng sông Hà đục ngầu ở quê. Mỗi khi chia quà, hắn cố hết sức để không phải chạm vào tay, vào áo bọn chúng. Mặc dù hắn biết bàn tay trẻ thơ là bàn tay thánh thiện. Hắn vừa mua một con chó Nhật chính hiệu. Con chó đẹp như vật cưng của thần tình yêu. Lông nó trắng. Sờ tay vào mịn mượt. Mắt con vật tròn xoe như viên bi, sáng long lanh. Thỉnh thoảng, hắn để con chó cưng vui đùa cùng thằng Hậu. Hắn hài lòng thấy thằng bé cười khanh khách, khoái chí ôm ghì con chó trong đôi tay bé xíu, hồng hồng. Một ngày nọ, bé Hậu sốt. Hắn lật đật đưa con vào bệnh viện Nhi đồng, bao trọn cả phòng dịch vụ sang trọng, mời những bác sĩ giỏi nhất. Hắn nói với người bác sĩ tóc đã bạc trắng: - Tôi có tiền, rất nhiều tiền! Ông bác sĩ không nhìn hắn, chăm chú nghe nhịp tim chú bé. - Tiền cũng không thể giúp ích được gì trong trường hợp của cháu nhà, ông à. Hắn gào lên: - Tôi có quyền, ông muốn chức gì cũng được, ông hiểu không, bác sĩ? Bác sĩ vỗ vỗ lên vai hắn như vỗ về một đứa trẻ. - Tôi thật tiếc! Quyền chức gì cũng chịu. Bệnh dại mà đã phát cơn thì y học hiện tại đành bó tay. May ra, chỉ có phép lạ mới cứu được… Mà phép lạ thì tôi chưa từng thấy, cũng không biết nơi đâu để chỉ cho ông. Hắn đổ sụp xuống, toàn thân hắn nhũn oặt ra, hệt như trong tấm thân ấy, mọi chiếc xương đều biến thành rệu nhão như bột tan trong nước. Hắn rên rỉ, trời ơi! TRỜI ĐỨNG GIÓ! Truyện ngắn Thủy bước khoan thai ra khỏi quán ăn. Bữa trưa thật tuyệt. Dù món gà rang muối có hơi mặn một chút, nhưng ăn kèm với đậu hũ non chiên giòn khiến Thủy thấy ngon miệng. Thủy cắn miếng đậu, lớp vỏ vàng rộp, giòn tan quyện lẫn với sữa non vỡ ra ngậy thơm. Món canh chua nấu hải sản thập cẩm cũng là món Thủy ưng ý, nhưng vì đang ăn kiêng nên Thủy chỉ đưa đũa vào đĩa ngọn su su xào tỏi. Khi đứng dậy, bữa ăn hình như còn nguyên. Thủy thấy tiếc. Vĩnh tỉnh rụi khi móc ba trăm ngàn trả tiền bữa ăn rồi khoác tay vợ. - Nóng quá, mình đi uống cà phê, nghe nhạc đi anh. - Ừ. Để anh kiếm quán nào có chỗ đậu xe, khung cảnh được được một tí mình ngồi. Quán cà phê Thăng Long thật sang trọng. Tiếp viên nam sơ mi trắng cài ca vát lịch sự. Tiếp viên nữ, áo váy màu đen, chân dài uyển chuyển. Những cặp mắt kiên nhẫn chờ đợi, dù chỉ để lấy vài mảnh giấy làm khăn đã làm mềm lòng khách. Tiếng nhạc dịu nhẹ phát ra từ những chiếc loa được giấu khéo léo đâu đó trên bức tường nhiều dây leo. Một chú bé đánh giày lấp ló sau cành cây si bằng nhựa. - Ê. Đánh giày! Vĩnh gọi thằng nhỏ. - Dạ… Thằng nhỏ mừng rỡ nhanh nhẹn tiến đến cởi giày cho khách. Bàn tay nó khéo léo, gượng nhẹ tuồn vào dưới chân chồng Thủy đôi dép nhựa mỏng. Thấy Thủy nhìn nó bằng ánh mắt khuyến khích, thằng nhỏ mời. - Chị cũng đánh giày chị nhé. - Ừ… Vài phút sau hai đôi giày sáng bóng lên, màu tươi như mới. Vĩnh nhìn săm soi, sau cùng cũng tỏ vẻ hài lòng. - Mấy ngàn hả mày? - Dạ… Sáu ngàn. - Gì? Sao lại sáu ngàn… Thằng này đùa à? Chỉ hai ngàn thôi. - Dạ… sáu ngàn. Giá mỗi đôi giày ba ngàn lâu rồi anh à. Ai đánh giày cũng lấy như thế cả. - Mày định lừa tao à? Mày tưởng tao không biết giá chắc. Này. Bốn ngàn, cầm rồi biến đi ông nhỏ. Đừng có mà lừa tao. - Anh à, trả cho thằng bé đi, đừng đùa nó nữa mà anh. Thủy can thiệp. - Anh không đùa. Với mấy đứa ranh này, không thể đùa được. Nó từng ấy mà qua mặt lừa đảo được anh à? Này. Bốn ngàn, mày có cầm không hả? Thằng bé đưa tay ra nhận tiền, nhưng nó cứ nhìn mặt Thủy chăm chăm, bất ngờ, nó quơ tay xách thùng đồ nghề chạy vụt đi như vừa phát hiện sau lưng Thủy, hay trên mặt Thủy một bóng ma. Trong đầu Thủy chập chờn tái hiện cảnh một bà cụ dắt tay một đứa bé đến nhà gia đình chồng, vào cái ngày bố chồng cô mất. Bà lão khăng khăng nói rằng, thằng bé đó là con của cha chồng cô. Lúc ấy, Vĩnh mặt tái xanh, chỉ tay vào mặt bà cụ và quát: “Tống bọn chúng nó cho công an! Cho chúng nó đi tù rục xương, để tiệt cái nòi lừa đảo đi” Thủy nhìn theo thằng nhỏ đánh giày, trong tim Thủy như vừa có một bàn tay đầy móng vuốt trượt qua. Hôm nay, trời đứng gió! Thủy nói vậy mà không nhìn vào đâu cả. THƯỢNG ĐẾ BỊ STRESS Truyện ngắn Khi biết chắc vợ gã đã tắt thở, gã lấy cớ mấy ngày qua mệt mỏi vì chăm sóc vợ bệnh, cần được yên tĩnh nghỉ ngơi vài chục phút, rồi về phòng riêng đóng cửa, lôi bịch thuốc ngủ hàng trăm viên được chuẩn bị sẵn nuốt ừng ực. Gã đuổi kịp vợ. Cả hai cùng một lượt đặt chân vào đại sảnh của Thượng Đế. Gã vừa bái lạy vừa kể lể kêu than. Thưa Ngài, con có ba điều oan ức, ngày hôm nay con quyết đem tội lỗi mà mụ đàn bà nanh nọc kia đã gây ra cho đời con để xin Thượng Đế phán xử. - Ngươi hãy bình tĩnh. Nay ngươi và vợ ngươi đều đã ở chốn Thượng Giới, mọi việc sẽ được xét xử không một chút lươn lẹo gì. Ngươi thong thả trình bày cho rõ ràng, rồi ta sẽ liệu. - Dạ thưa Ngài, đời con sống ở cõi phàm tục được chỉ hơn bốn mươi năm, vậy mà đã phải ba lần chết. Tất cả đều do con mụ yêu quỉ này mà ra. Hơ hơ hơ - Gã nức nở kêu gào - Lần đầu tiên con chết cả cuộc đời khi mụ ta tuyên bố rằng mụ ta không thể sống với con nữa. Nguyên nhân là vì không tìm thấy những điểm tương đồng giữa con với mụ. Con hỏi mụ, thì mụ khăng khăng nói, ai cũng phải làm ra tiền mới có quyền tiêu tiền. Con thì tính rộng rãi nên khăng khăng cãi, tiền thì ai cần cứ xài, xài hết thì… thôi, sao lại nhỏ nhen vì đồng tiền mất tình đoàn kết. Mụ lại nói, thế thì mụ phải được tham gia bàn bạc khi con định thành lập vài cái công ty, đào lật toàn khu vườn lên để tìm vàng… Con thì nói, lệnh của con là đủ, vì con là chủ của gia đình, cần gì mụ cứ xin con, con sẽ cho. Con chỉ nói thế mà mười lăm năm qua nó không nhìn mặt con. Ngài thử nghĩ coi, mười lăm năm nó không nhìn con thì con còn sống được hay sao. Vậy là con chết lần thứ hai. Nó không nhìn mặt con nhưng nó vẫn là vợ của con. Con vẫn thấy bóng của nó là được, thế nghĩa là nó vẫn thuộc về con. Vậy cho nên, khi nó bệnh mà chết đi con quyết vẫn không cho nó thoát, con đã tự bức tử mình để đi vào thế giới khác, tiếp tục khẳng định nó thuộc sở hữu của con. Nhưng hỡi ôi! Khi con không làm người trần mắt thịt, con mới tá hỏa rằng nó không chung tình cùng con, nó đã ăn nằm với dăm, ba người đàn ông khác. Thế này thì Thượng Đế ơi, con lại chết luôn ngay cả sau khi con đã chết. Xin Ngài hãy trừng trị con mụ kia cho hả tấm lòng căm giận của con. Con xin Ngài xót thương! Gã cung cúc lạy như tế sao trông thật thê thảm. - Được được. Ta đã nghe cả rồi. Bây giờ người đàn bà kia, ngươi có gì để nói không? - Thượng Đế ngao ngán cất lời. Người đàn bà đầu vẫn cúi gầm, không nhìn rõ mặt, cất tiếng: - Lạy Thượng Đế, con có bốn điều buồn khổ, nay con đã ở trước mặt Thượng Đế xin ngài hãy để con được một lần thổ lộ. - Ta cho phép ngươi được nói mọi nguồn cơn. - Thưa Ngài, con sống như một con người cho đến cách đây mười lăm năm thì không còn như thế nữa, mà trở thành một đồ vật trong tay người chủ kia - Người đàn bà chỉ tay về phía người đàn ông và khóc rống lên Huhuhu. Khi con biết rõ mình chỉ là một món đồ của ông ta, con đã tìm cách giải thoát con, cũng là cứu ông ta. Con nói, hãy buông tha cho tôi, và hãy đi tìm một nguồn sống khác cho ông. Nhưng gã ta cương quyết không chịu. Vì con chắc, gã ta biết sẽ không có ai dễ dàng bị gã bắt nạt, như gã đang nắm chặt trong tay một món đồ như con. Vậy thì con làm sao mà để một lần duy nhất được sống của con lại bị hủy hoại hoàn toàn trong tay gã? Nếu Thượng Đế là con, Thượng Đế sẽ ngồi im để thấy mình mục rữa từng phần, hay sẽ đi tìm những lẽ sống khác, mà niềm vui của con người có gì mãnh liệt hơn ngoài chuyện đàn ông và đàn bà? Thế nhưng con đã làm gì nào, con đã đi tìm nguồn sống của con, hơi thở của con bằng đôi chân của kẻ ăn trộm, của kẻ cướp, của một tên gian. Thế thì, có thể gọi là con đã từng sống hay không? Và bây giờ, ngay cả khi con chết đi rồi, con vẫn chưa thoát khỏi sự truy đuổi của gã đàn ông mà hắn ràng buộc vào đời con chỉ bằng một danh nghĩa chồng vợ. Hơ hơ hơ. Con đã nói xong bốn điều… - Ngươi đã nói xong rồi phải không? Thượng Đế thét lên: - Bay đâu? Bãi triều. Ta cần giải lao để uống thuốc giảm stress trước đã. BA ĐIỀU ƯỚC Truyện ngắn Con đường vừa nghiệm thu xong thì đất, đá đã bung lên lởm chởm. Chỉ một đoạn ngắn trước nhà ông Huyện mà ngày nào cũng có người té oành ọach. Xe cấp cứu hụ còi nghe rờn rợn. Nhưng đau nhất là cái chết của ông Huyện, ông đi đám giỗ về, vì có hơi ngà ngà nên chạy nhanh hơn mọi ngày, lúc rẽ vào nhà, sơ ý không đưa tay xin đường. Người cùng chiều, sát ngay phía sau, hết chỗ tránh, tông thẳng vào xe ông. Ông Huyện ngã, đầu đập vào cạnh đá sát lề, tắt thở ngay trước ngõ nhà. Thế mới ác! Đám ma ông Huyện người ta đến dự rần rần, từ làng đến xã, từ người quen đến kẻ hiếu kỳ, từ thân đến chỉ mới nghe tên, chưa biết mặt. Xe đưa tang cả đoàn, dài ngoằng: honda, xe tải, xe khách, xe du lịch, xe máy cày, máy xới... Đầu kia đám ma đã tới nghĩa trang, đầu này mới vừa ra khỏi cổng nhà. Tiếng nói, tiếng cười át cả tiếng khóc của những người quấn khăn trắng, bận đồ tang. Có kẻ còn bật thốt lên, đám ma vui nhỉ, sau biết mình hố, người ấy mặt đỏ bừng, lủi nhanh qua chỗ khác. Hàng xóm của ông Huyện có một người tên là Làng. Lão Làng không thiếu gì tiền của, nhưng chút danh tiếng thì chưa bao giờ có được, Làng vẫn mơ một ngày kia mình được thiên hạ biết đến dù là khi đã chết. Lão Làng không đi dự đám ma, vì Lão đang bệnh, đầu nhức, mắt hoa. Nhưng cầm lòng không đậu, Lão ra hiên nhà đứng chờ đám ma ngang qua, Lão chờ từ khi tiếng chiêng la bung beng từ xa vọng đến. Rồi Lão ngó đăm đăm, ngó đến muốn nổ con mắt, ngó như trẻ con há hốc miệng ra coi hát. Khi đám ma qua một nửa, Làng đau khổ thốt lên: - Trời ơi, đám ma to quá! Tôi ước tôi được là người chết! Đám đến ngã tư thị trấn. Bà Rớt, người đàn bà lang thang, sống bằng cách lượm vỏ chai, vỏ bia, bới rác, đang bới rác trong một thùng rác ven đường, sững sờ nhìn đám tang, tay vẫn giữ nguyên mớ rác đang cầm. Bà Rớt buồn rầu than: - Người sung sướng đến vậy mà lại không sống để hưởng. Tôi ước tôi là người chết thay. Lúc làm lễ đưa quan tài xuống huyệt, Anh Hoan, con cả của ông Huyện, khóc lóc tế lạy, nước mắt đã khô trên gương mặt đỏ au, anh Hoan lầm rầm khấn vái: - Cha ơi, con ước gì cha nói cho con biết, số vàng lót tay mà cha nhận rồi chôn giấu, khi cha cho qua vụ cai thầu bớt nhựa đường đem bán… ĐUA!!! Truyện ngắn Nhờ sự lì lợm, hung tợn của đứa cháu trai có vóc dáng cao lớn mà cô giáo Châu lấy lại được chỗ ngồi đã dặn từ trước trên chuyến xe khách chật ních. Xe chạy, cô Châu nhắm mắt lại, mặc xung quanh ồn ào, chen lấn. Xe chật đến ôi cả người! Ngay lối lên xuống đã chứa đến 17 thượng đế. Tiếng kêu oai oái, mùi người nồng nặc, thượng đế ngộp thở, vậy mà chủ xe vẫn chưa thôi đón khách. Cứ mỗi lúc xe ngừng, ai nấy đều thở dài ngao ngán. Nhưng lần này xe đã ngừng mười lăm phút, hai mươi phút, rồi ba mươi phút mà vẫn chưa thấy ai lên xe. Chỉ thấy lơ xe hùng hục xách đồ nghề xuống lục đục đâu đó. Một thằng bé thì thầm vào tai mẹ nó: - Mấy chú ấy không có sửa xe, mấy chú nằm dưới gầm xe ngủ, mẹ à. - Công an đang làm phía trên kia kìa. Họ giả đò như xe đang bị hư, để lừa công an. Xe dư khách hàng đống, công an túm được có mà giam xe cả tháng. Ông già, râu tóc bạc phơ, đang ngồi ghé vào ghế trước, nói vậy Cô giáo Châu im lặng, nét mặt mệt mỏi. Cô ngả đầu tựa vào chiếc ghế, mắt vẫn nhắm. - Lên xe. Nhanh, nhanh, nhanh! Tụi nó đi rồi. Không biết mấy cha đi rồi có quay trở lại không? Chủ xe bỗng giục hối hả. - Mẹ… đua luôn! Nó quay lại thì đua, đéo sợ! Tài xế tuyên bố. Chiếc xe chạy như bị cướp đuổi, chủ xe vén màn cửa sau để quan sát. - Nó quay lại! Đạp hết ga đi. Chủ xe la toáng lên. Người trên xe chúi nhủi vào lưng nhau, khi chiếc xe vọt chồm, tăng tốc. Đứa trẻ trên tay của người phụ nữ, ngồi ghế xúp, khóc thét lên vì có người ngã ngồi vào đầu nó.Tim ai cũng thót lại vì sợ, nhưng chẳng ai dám lên tiếng. Những chiếc xe ngược chiều chạy dạt xa, những đôi mắt hai bên đường trợn tròn kinh ngạc. Cuộc rượt đuổi hứa hẹn những tai nạn thảm khốc! Cả chạy và đuổi đều quyết liệt. Hú vía! Chiếc xe cảnh sát với ngọn đèn nhấp nháy đã qua mặt. Xe khách hết đường cựa quậy. Lái xe, mặt tái mét lập cập xuống xe. - Nè, đưa cho nó năm thước. Mẹ... biết nó muốn ăn mà trốn không thoát. Năm thước mà không biết các bố có tha cho không, coi như hôm nay toi công! - Chủ xe dúi vào tay tài xế xấp giấy tờ cùng tờ giấy bạc năm trăm ngàn đồng, lầm bầm chửi rủa. Cô giáo Châu thò đầu ra ngoài xe nôn thốc, nôn tháo. Nhìn cô, mọi người đều ái ngại. Khi cô Châu ngước lên đôi mắt đờ đẫn lên, đôi mắt ấy vô tình hướng về người công an, tia mắt chụp lấy gương mặt thân quen rồi cuống cuồng tìm đôi bàn tay và ánh sáng trong đôi mắt tắt phụt, khi thấy bàn tay người công an, đang thản nhiên nhét tờ bạc vào túi. Trời ơi! Thằng Xuân, con trai cô, niềm tự hào, thiên thần của cô... Hai hàng lệ tủi hổ của người mẹ tràn xuống đôi gò má đã nhàu như tờ giấy kiếng bị vò. Có ai đó hỏi: - Bà ơi, bà có sao không ạ? Cô Châu lắc đầu, van nài: - Làm ơn chạy đi, bác tài ơi! BÃO KHÔNG CHỈ ĐẾN TỪ TRỜI Tản văn Hôm nay tôi được mượn đi theo để tính tiền cho một cuộc tiếp khách. Khi mới khởi hành, đoàn chúng tôi có năm người. Thế nhưng lúc bia rót vào ly thì mâm nhậu đã lên đến 11 người, điện thoại vẫn chưa ngừng réo anh Năm, anh Ba. Rồi các anh Năm, chú Tám, anh Hai, anh Tư đã uể oải đến, bệ vệ ngồi xuống mâm nhậu khiến cho nhiều người thóm róm và hãnh diện, nhiều người thầm ganh ghét trong lòng. Tiệc tan, tôi là người ra về sau cùng. Đây là lần thứ mấy tôi có mặt những bữa nhậu lênh láng như thế này cũng không nhớ nổi. Nhưng chắc chắn, đây chưa phải là lần sau cùng. Tôi vừa nghĩ như thế, vừa kiểm bia trong các thùng mở toang hoác để chầu chực bốn chung quanh. Trời ạ, bia lon hiệu Heineken vừa bung nắp vung vãi khắp mặt bàn và cả ở dưới gầm bàn. Tất cả mọi chiếc ly đều còn đầy bia, có ly bia tràn cả ra ngoài. Đĩa thịt kỳ đà xào sả ớt vơi gần hết. Thố ba ba hầm thuốc bắc còn một nửa. Chén gà ác ninh táo khô, cam thảo cũng mới vơi lưng lửng, những chiếc đầu gà đen thui, nằm nghẹo cổ buồn thiu. Còn nồi lẩu hải sản thì gần như chẳng ai đụng đến. Thật là một sự thừa mứa phí phạm! Chủ quán đem ra tờ hóa đơn trên năm triệu bạc. Nghĩa là bữa nhậu hơn một tấn lúa. Tết Kỷ Sửu vừa rồi, tôi nhớ lúa có hai ngàn tám mà nhà cậu Chín phải đi năn nỉ người ta mới mua dùm cho để có tiền ăn tết. Một lon bia giá trên hai mươi ngàn đồng, nghĩa là ba ký gạo trắng thơm phức, nghĩa là gần chục ký lúa. Những ký gạo trắng ấy, những hạt lúa mà cậu Chín lăn bùn quanh năm mới có được, chủ quán đang đổ ào ào vào thùng nước bẩn. Tôi nhớ đến bọn trẻ lang thang lượm rác tôi vẫn gặp mỗi ngày trên đường, bọn chúng thường nhịn đói bữa trưa và xin nước uống qua cơn ở bất kỳ giếng nước thơm thảo nào. Ra về, trời đã khuya, đường vắng tanh. Tôi vừa chạy vừa nhớ về một cuộc nhậu khác. Dạo nọ, một vị trưởng phòng đã nổi hứng sau cữ nhậu trưa, xách xe con của cơ quan chở dăm bảy người vượt trên 200 km đường đèo, đến Hồ Tuyền Lâm- Đà Lạt, nhậu tiếp. Những chiếc ca nô ngược hồ Tuyền Lâm cập bến vào đâu đó trong rừng thông đại ngàn của Đà Lạt. Dưới bóng thông ẩn những mái tranh kiểu cọ đầy vẻ mời mọc và có đủ các món ăn chơi chiêu đãi quí thượng đế lặn lội đến nơi này. Nhóm mà tôi nhắc đến đã chọn một gian quán ấm cúng, thuê trọn gói. Họ gọi một con heo rừng, loại heo sữa cắt tiết pha rượu mật gấu, và nấu cháo. Một người đi theo giám sát việc làm heo. Nhưng đến khi cậu phục vụ còm nhom, có nước da vàng bủng, bưng nồi cháo bốc khói dọn ra bàn, nhiều cặp mắt soi mói nhìn vào nồi, họ lật nghiêng, lật ngửa con heo nằm cong bên trong rồi phán: Mất mẹ nó miếng đùi rồi! Gã đàn ông mặc áo sọc ca rô đen đỏ, vục nguyên bàn tay vào nồi cháo lôi con heo ra, gật gù bảo đúng đúng, mất mẹ nó miếng thịt chỗ này này. Chủ quán được gọi đến. Anh phục vụ run như thằn lằn đứt đuôi, cúi mặt đứng lặng thinh một bên và nhận không biết bao nhiêu lời sỉ vả. Cuối cùng, nồi cháo không thể ăn hết, bởi họ còn phải xơi cái đầu heo luộc, bộ lòng xào củ riềng... Khi tất cả mọi người xuống canô trở về, họ đã gặp cậu phục vụ kia với túi xách quần áo trên tay, ngồi khép nép ở cuối đuôi thuyền. Cậu ta đã mất việc. Hóa đơn buổi ăn chơi đó cho dăm người là hai tám triệu đồng (chưa kể một người bị hất ra lề đường). Hai hôm trước, tôi lại có dịp tham dự cuộc họp tại đơn vị nọ, họ đang bàn việc quyên góp cứu trợ đồng bào bão lũ miền Trung. Vị trưởng phòng cất giọng hết sức thống thiết để nói về nỗi khổ của bà con vùng thiên tai gió quật, nước càn. Một người đàn ông mặc quần áo bảo vệ đứng lên đề nghị mỗi người góp một trăm ngàn, còn ai có hảo tâm góp nhiều hơn thì không nên hạn chế mức đóng góp. Tiếng nói của người bảo vệ va phải một sự im lặng lạnh như nước đá. Vị trưởng phòng cất tiếng đầy vẻ thông cảm, thấu hiểu: Năm nay do khủng hoảng kinh tế, các đơn vị đều báo đỏ kinh phí, đơn vị chúng ta cũng khó khăn không kém. Chúng ta lại đã có hàng trăm cuộc đóng góp quanh năm, vì vậy để chia sẻ với đồng bào bão lũ miền Trung lần này chúng ta đành gửi đến họ tấm lòng và món quà tượng trưng, tôi đề nghị toàn đơn vị ủng hộ mỗi người mười ngàn đồng?! Tiếng vỗ tay lẹt đẹt vang lên. Mười ngàn đồng được trừ từ tiền lương tháng đến. Mọi người rời khỏi phòng họp, riêng bộ phận tài vụ ở lại để hợp thức hóa thanh toán những cuộc nhậu lênh láng từ năm trước kéo sang năm nay và còn dài dài về sau. Bên ngoài mưa bắt đầu nặng hạt. Mưa hoài, chán! Có người nói, bão trên quê hương tôi không chỉ đến từ trời! CÓ PHẢI LÀ TÌNH YÊU? Tản văn Cách đây nhiều năm, có một thiếu nữ tuổi chừng đôi mươi, xinh đẹp, nói năng nhỏ nhẹ đã đến vùng này làm nghề bán vé số. Cô gái đẩy một chiếc xe lăn, trên đó có một chàng trai bị liệt hai chân. Trái với cô em gái, chàng trai đen đúa, nét mặt quàu quạu. Và trên gương mặt của chàng trai gần như không có một chút biểu cảm gì là mình đang vui hay buồn. Một buổi tối, tôi gặp người con gái bán vé số này trong một quán bánh xèo. Cô ta vào mua bánh, nhưng vì bánh đã hết nên quay ra đi ngay. Tôi nói, tội nghiệp quá, không biết hai anh em nhà ấy ở đâu nữa? Bà bán bánh cười lớn nói, họ không phải là anh em, họ là vợ chồng. Nghe đâu họ từ Sài gòn về đây, giờ đang được Nhà thờ cho ở nhờ đằng sau cái nhà kho để xe tang. Ối trời! Chị nói thiệt không đó? Hai đứa nó là vợ chồng thật à? Vậy thì phục thiệt đó... Tôi không dám nói với bà bán bánh xèo rằng tôi cảm phục cô gái, rằng cô ấy đã có một tình yêu không bờ bến mới dám lấy người con trai tật nguyền. Mà xem ra anh ta chẳng hề vui vẻ gì. Bà bán bánh xèo vừa đổ bánh vừa bực bội nói ra rả, không biết mắt mũi để đâu mà ưng chi ưng lạ. Con bé đó xinh đẹp như hoa hậu chứ phải cùi hủi gì mà tự nhiên rước cục nợ vô trong người, rồi sẽ phải đeo đẳng cả đời chứ ít đâu. Không biết mai kia chửa đẻ sẽ ra làm sao nữa?! Thấy bà bánh xèo tỏ vẻ không hài lòng, tôi không dám nói gì thêm. Nhưng từ đó trong lòng vẫn không nguôi cảm phục cô gái nhỏ. Tôi sung sướng nghĩ rằng cô đã cho tôi thấy được tình yêu thực sự trong cuộc đời. Tình yêu có thể khiến cho con người trở nên phi thường, dũng cảm và cao thượng. Đôi trẻ ấy mất hút trong cuộc đời bao la. Việc họ đến hay đi cũng không hề làm cái thị trấn của tôi xao động dù chỉ một giây. Vài năm sau họ lại xuất hiện trên đường làng. Cô gái thon thả, xinh đẹp ngày xưa nay đã trở thành một thiếu phụ trẻ. Cô đội một chiếc nón lá đã rách, quần áo xộc xệch, tay vẫn đẩy chiếc xe lăn. Trên xe, gã đàn ông ngồi bất động, nét mặt vẫn quàu quạu y hệt như ai đó vừa làm cho gã phiền lòng. Bên cạnh chiếc xe đẩy, một cháu gái bị che lấp dưới vành mũ rộng, chạy lỏn cỏn. Lâu lâu, người mẹ trẻ ngừng đẩy xe để mời khách mua vé số, và cúi xuống hỏi han gì đó với đứa trẻ. Đó là hạnh phúc ư? Họ lại rời khỏi thị trấn. Rồi họ lại quay trở lại. Lần này, người thiếu phụ mang bụng đã lại sắp đến ngày sanh. Cô mệt mỏi đẩy chiếc xe lăn. Đứa trẻ vẫn chạy lủn củn theo chân mẹ. Người nó đầy bụi đường và mùi nắng khét. Gã đàn ông vẫn y như cũ. Tôi gặp họ nhìêu lần nhưng chưa bao giờ thấy người đàn ông vui vẻ, hay thấy gã nói một lời ân cần nào với hai mẹ con. Sao vậy nhỉ? Đến lần gặp thứ ba này, tôi thực sự muốn cất lên lời chửi rủa sa sả như bà bán bánh xèo đã làm. Và cái gọi là tình yêu mà tôi tôn thờ, thực sự đã làm tôi nghẹt thở, khi nghĩ đến tất cả mọi cực nhọc mà người con gái xinh đẹp ngày xưa đang phải gánh chịu, phải đương đầu mỗi ngày trong cuộc sống cam go. Cô gái ơi, cô có hạnh phúc không? Ít nhất là về mặt tinh thần? Có phải đây là số phận của cô không? KÝ ỨC THÁNG TƯ Ký Đức Linh là vùng giải phóng sớm, từ cuối năm 1974, nhưng Sư đoàn 18 của ngụy từ Long Khánh chi viện qua ngả Quốc lộ 120, đến cây số 125 Định Quán, rồi vượt sông La Ngà sang, đóng quân trong những rừng cao su bạt ngàn, lại đánh tái chiếm. Nhưng đến ngày 23/3/1975, thì quân ngụy tháo chạy hoàn toàn. Trong thời gian từ cuối năm 1974 đến 23/3/1975, cao điểm Núi Dinh là một trong những điểm nóng hai bên quyết dành cho bằng được. Không biết bao nhiêu bom đạn rải thảm trên ngọn núi độc lập này, ban ngày đất bụi từ đỉnh núi tung đỏ trời kèm theo những tiếng nổ ùng oàng không ngớt. Ban đêm, ngọn núi cháy đỏ rực vì bom napan. Từ thị trấn, cách núi chỉ 5 km, nhìn lên, núi cháy như một bó đuốc chĩa thẳng lên nền trời, để soi sáng một điều gì đó. Ấy là thời gian tôi chứng kiến chiến tranh. Ban đêm, cả nhà ngủ trong hầm, ban ngày người người nháo nhác. Sau vì nhà tôi quá gần Chi khu quân sự của ngụy, chỉ cách khoảng 300 mét, tính theo đường chim bay, cha mẹ tôi quyết định đem cả nhà ra đồng trống. Trên cánh đồng lúa ven sông La Ngà, giáp ranh với Định Quán, mọc lên hàng trăm căn chòi tạm bợ được cất bằng vải, bằng nong, nia, bằng lau lách. Sau đó, không biết người lớn bàn bạc nhau như thế nào, mà mọi người kéo trở ngược vào thôn rồi leo lên những chiếc xe tải. Hàng đoàn cả trăm chiếc xe tải, chở hàng ngàn người rời bỏ nhà cửa ra đi. Khi xe chạy theo con đường vòng qua Chi khu, tôi nhìn thấy khói bốc lên nghi ngút, đây đó trắng xóa giấy tờ như ai rải truyền đơn, và vắng hoe không một bóng người. Quân Ngụy đã rút chạy hòan toàn. Đó là những ngày cuối tháng 3/1974. Những chiếc xe tải chở chúng tôi phải dừng lại ở Trà Tân, cách nhà tôi chừng 10 km. Phía trước, trên con đường độc đạo, đang có giao tranh ở Gia Rây, cách nơi chúng tôi dừng lại cũng khoảng 10 km. Mọi người rời xe tải, nằm vật vạ dưới những bóng cây, hoặc kiếm một cái gì đó che tạm. Trẻ con khóc mếu máo vì sợ, vì đói và vì cả khát nữa. Tháng ba, đang mùa khô. Nước mang theo của từng gia đình đã cạn. Tôi chạy theo những người kiếm nước ở những suối nước trong rừng sâu. Nhưng chỉ kiếm được một ít nước đục ngầu. Ngày hôm sau, tiếng súng giao tranh phía trước vẫn đì đùng. Nhiều người quay trở lại nơi đã ra đi. Nhiều người bàn bạc tìm con đường xuyên rừng để ra quốc lộ 1. Cha mẹ tôi đi theo những người quả quyết xuyên rừng. Họ hăm hở bắt đầu cuộc hành trình mà tôi luôn luôn tự hỏi, không biết họ chạy đi đâu? Đầu tiên là vất bỏ những thứ nặng mặc dù đó là gia tài của họ, về sau, cả xe Honda cũng vất bỏ vì hết xăng không thể đẩy trong đường rừng, cuối cùng, cả gạo cũng chỉ mang theo đủ vài ngày ăn. Đoàn người lếch thếch vất vả đi theo những con đường ngoằn ngoèo trong rừng mà hình như chẳng ai biết con đường sẽ dẫn họ đến đâu. Khổ nhất là không có nước. Nhiều người chặt dây rừng để uống. Cha mẹ tôi không biết chặt dây rừng, tôi thương Đen khát khô nẻ cả môi miệng mà chẳng biết làm sao, tôi tìm những bông hoa nở dọc đường hái đưa cho Đen hút nhụy cho đỡ khát. Có một hố bom đọng nước đỏ ngầu ven đường mòn, nhiều người lao xuống múc uống, tôi cũng nhào xuống tranh, tôi múc đầy chiếc bình hai lít mang theo người, đem lên cho Đen tu ừng ực thứ nước đầy bùn đỏ và nòng nọc con. Đêm đó, Đen và tôi cùng đau bụng quằn quại. Khổ nhất là Đen đi ngoài cả khi đang ngủ, nó bị đòn, còn tôi thì lò mò tìm cái để lau, để thay và để an ủi Đen. Ba ngày sau, chúng tôi tìm thấy bìa rừng, tìm thấy nhà và thấy nước, nơi chúng tôi tìm thấy chính là Gia Rây, chỗ chiến sự mấy hôm trước. Nhiều nơi khói chiến tranh vẫn còn bốc lên đầy đe dọa. Theo đường tỉnh lộ 133 đoàn người rồng rằn bồng bế, cõng nhau lội bộ vượt qua Gia Rây, qua ngã ba Ông Đồn. Tại ngã ba Ông Đồn, nơi ngày nay là Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc, tôi nhìn thấy xác người, chân tay của họ vương vãi trên bờ dây thép gai của chi khu quân sự. Trên đường, tôi thấy một đoàn quân Giải phóng vượt quốc lộ 1, họ băng từ bên này sang bên kia, tất cả đều mặc đồ đen, mang dép cao su có quai hậu, quấn khăn rằn trên cổ. Đó là lần duy nhất tôi nhìn thấy quân giải phóng trên suốt hành trình tháo chạy vô vọng của những người sợ chiến tranh. Mọi người dừng lại một đêm ở Suối Cát, cách ngã ba Ông Đồn chừng 2km. Hôm sau, họ lại băng rừng ra Căn cứ 2. Lần này, họ đã thành công. Ở Căn Cứ 2 họ tìm được xe đi nhờ về Bình Tuy. Tại Bình Tuy, có một nơi gọi là Trại Tỵ nạn dành cho những người chạy nạn, hàng trăm căn nhà cất tạm bằng lá buông được cất trên một khu đất trống. Mỗi gia đình được cấp một căn nhà lá buông và 50 kg gạo. Tôi thầm mong gia đình tôi ở mãi nơi ấy luôn, vì tôi không biết họ chạy đi đâu, để làm gì. Không ai quan tâm đến tôi, và chẳng ai buồn trả lời những câu tôi hỏi. Tôi lang thang ra đường quốc lộ, trên đường xe quân sự đủ loại, chở đầy lính và súng ống đạn dược, có cả những quả đạn dài thong, nhọn hoắt, đuôi xòe hoa. Xe chạy ngược, chạy xuôi. Lính ngụy cũng rất nhiều, chạy xuôi, chạy ngược. Có cả những hàng lính đi bộ nữa, họ đi hối hả, vội vàng nhưng có vẻ như không biết đi đâu. Vì nhìn họ vẻ hốt hoảng, nét mặt thất thần, đi từng tốp, từng nhóm, không có hàng ngũ gì cả. Sau này tôi biết, đó là những lính ngụy vừa rời bỏ mặt trận, rời bỏ nhiệm vụ, tháo chạy. Ba mẹ tôi lại theo đoàn người rời căn nhà lá buông mà tôi rất thích, vì nó cho tôi sự yên tâm, vì Đen có thể thoải mái nằm ngủ giữa căn nhà rộng tuềnh toàng, mà ít bị ăn đòn. Theo cha mẹ, tôi và mọi người ra cửa biển, bước lên những chiếc ghe đánh cá. Cửa biển sóng chồm từng cơn trắng xóa hung dữ, chiếc thuyền tròng trành như lá tre trên mặt nước. Con người quá nhỏ bé, mong manh trước bao la biển trời, nhưng đồng thời, con người cũng là loài có sức mạnh hủy diệt ngang bằng với sức mạnh của tạo hóa. Tôi bò lên trên mũi thuyền để nằm. Chiếc thuyền chạy ven bờ biển, mảnh trăng non buồn bã trên nền trời. Tôi khấn tên Phật Quan Thế Âm cho đỡ sợ, rồi nằm nhìn bầu trời và lâu lâu sờ mũi Đen thử Đen còn thở không. Thuyền cập bãi biển Vũng Tàu. Đó là Bãi Trước. Tôi nằm sóng xoài trên bờ say đứ đừ sang cả hôm sau. Tôi nằm như con mèo ướt dưới hàng ngàn bàn chân hối hả đi đi, lại lại mà không hề biết phải đi đâu.Gia đình tôi lang thang, loanh quanh ở nhiều nơi tại Vũng Tàu. Có hôm, cả nhà qua đêm trên một nhà vệ sinh lộ thiên mà không biết, sáng hôm sau, dưới lưng, bầy dòi từ những lỗ đi đại tiện bò lúc nhúc. Thành phố vắng hoe, thi thoảng có tiếng súng đâu đó. Trời ạ, không phải súng giao tranh mà là súng phá cửa những kho hàng, cửa hiệu để cướp của. Trong đoàn người của chúng tôi cũng có nhiều người tham gia những vụ cướp của ấy. Chúng tôi lay lắt, từ bến tàu đến sân chùa, từ trong nội thị tìm về những nẻo thôn. Ngày này qua ngày khác, chúng tôi cứ lang thang như vậy mà không biết để làm gì. Có nhiều ngày, tôi chạy ra bến tàu, thấy những chiếc tàu to lớn chất đầy người chuẩn bị nhổ neo. Trên bến, nhung nhúc người chen chúc xô đẩy để giành những chỗ chật hẹp lên chiếc cầu tàu. Một vị linh mục đứng nhìn cảnh ấy và lần tràng hạt cầu kinh. Có lần, tôi nhìn thấy một chiếc tàu màu đỏ, to lớn, vừa rời cảng biển chưa kịp khuất tầm mắt thì đã chìm nghỉm. Tiếng khóc, tiếng la cầu cứu rền một góc trời. Tuyệt nhiên, không hề nghe tiếng súng giao tranh như dự đoán của nhiều người. Sau đó, gia đình tôi lại lang thang tìm qua Long Hải. Ở Long Hải một thời gian nữa, lại lang thang tìm đường về Biên Hòa, Long Thành, Đồng Nai, và cuối cùng chúng tôi trở lại nhà sau bốn tháng chạy trước hòn tên mũi đạn. Cho đến bây giờ, tất cả những người trong đoàn người chạy rồng rắn ngày nọ, không ai giải thích được là họ chạy đi đâu, làm gì vào những ngày tháng đó. Họ không giải thích, hay không thể giải thích nhỉ? Chuyến đi ấy, vô tình tôi đã đưa tôi đến cùng những giây phút lịch sử của đất nước qua nhiều vùng miền. Bây giờ, lịch sử chứng minh, quân ngụy sau khi thất bại nặng nề ở Tây Nguyên và bị Mỹ bỏ rơi đã khủng hoảng tinh thần. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng đã bị nhân dân cả nước, bạn bè trên thế giới lên án cực lực, buộc chúng vào tình thế chỉ có thể đầu hàng, buông súng chứ không có chọn lựa nào khác. Tôi cũng đã chứng kiến, họ buông súng thật. Cái sự buông súng kịp thời, đúng lúc đó là may mắn lớn của dân tộc Việt Nam. Vì sau khi Tây Nguyên thất trận, từ Quảng Trị đổ vào, chỉ có Xuân Lộc - Đồng Nai là nơi xảy ra giao chiến, còn lại quân Giải phóng đã tiếp quản nhiều thành phố, quân khu để ngỏ. Không có giao chiến trên nhiều tỉnh thành, điều này đồng nghĩa là không có thiệt hại xương máu của hàng trăm ngàn người ở cả hai bên. Và cả những người dân lành vô tội, ngu ngơ như đoàn người chạy trước mũi súng. Nếu chiến sự diễn ra nơi nơi, biết đâu, một viên đạn đã cướp mất tôi từ ngày nọ, khi còn là một cô bé mũi dãi lòng thòng trong đoàn người đi như vịt? BÍ ẨN CỦA ĐẤT Tản văn Không khí đầy mùi ẩm ướt và hầm hập oi nồng. Bầy chim sẻ bứt rứt nhảy loạn xạ trên cành xoài, tiếng hót lanh lảnh của chúng rớt xuống từ một vòm lá xanh thẫm. Những đám mây không đủ bình tĩnh vùn vụt bay cuống quít từ phía tây sang phía đông, nhưng rồi lại thấy từ sau rặng bạch đàn đám mây ùn ùn đùn lên đen như tẩm mực. Cơn mưa như bầy trẻ con bất chợt chạy ào ào trong sân và tung chân nhún nhảy cùng nắng vẫn vàng tươi trước hiên nhà. Mẹ tôi nói, mưa nắng, trời lại hầm như vầy e nấm mối mọc đây. Nấm gieo mạ. Đi hái nấm! Câu nói đó với rất nhiều người thật xa lạ. Với cũng rất nhiều người là kinh ngạc và ngay lập tức họ sẽ lắc đầu e dè kèm đôi mắt trợn ngược, miệng thốt lên coi chừng nấm độc, ăn có họa điên. Nhưng với tôi, đó là một ma lực không sao cưỡng lại nổi. Tôi vùng chạy đi, cho dù có đang làm gì, có bận mấy thì tôi cũng sẽ chạy đi. Tôi không thể không nhìn thấy những đóa hoa bí ẩn thơm nồng nàn nở ra từ đất. Đúng vậy, hoa nở ngay trên đất! Đó là những ngày tháng 5. Hoa dại đầy trên lối đi. Bầy dế hát ri ri trong đám cỏ. Bình thường tôi sẽ ngắm không chán những bông cúc ngầy ngật thơm, đang được những chú bướm vàng ve vãn, hoặc tần ngần trước những giọt sương nặng trĩu bám đầy trên vạt bông cỏ sữa màu tím nhạt, bâng khuâng không nỡ cất bước trước những đám rau càng cua xanh nõn, rung rung khêu gợi dưới gốc cao su. Nhưng bây giờ tôi chỉ nhìn chăm chăm, nhìn khắp nơi và mong mỏi sao ánh mắt sẽ chạm đến một đám hoa màu trắng trên mặt đất. Tôi biết rõ cái sắc trắng lấp lóa, hình tròn tròn, chúng sáng lên như được phủ một lớp nhũ bằng bạc, dù cách xa hàng trăm mét tôi vẫn biết đó là nấm mối. Đó là hoa của đất, là món quà tặng đặc biệt nhất của thiên nhiên. Có một người bạn trầm ngâm hồi tưởng rồi chậm rãi kể cho tôi nghe: vào một buổi tối trời mưa, anh nói với đứa con trai nhỏ rằng con có muốn coi ti vi không? Thằng bé nói, ti vi đâu mà coi hở ba, đi sang nhà bác Hai thì trời đang mưa? - Không. Đi làm gì. Để ba mở tivi nhà mình cho con coi. - Nhà mình đâu có ti vi mà mở ba? - Có! - Đừng nghe ba phỉnh đó con - Vợ anh đang nằm ôm con cười rung cả giường và bảo như vậy - Ba đùa đó. - Không. Ba nói thiệt, coi thì ba mở nha? - Coi. Con coi cải lương. Ba mở đi ba! - Thằng bé hét lên - Thật bất ngờ, chiếc tủ bật nắp ra và sau cánh cửa là màn hình một chiếc tivi to thiệt to được giấu kín từ bao giờ. Niềm vui như vỡ tung trên mặt hai mẹ con của một gia đình nghèo. Tôi cũng vui y chang như vậy khi nhìn thấy đám nấm, dù đã cất công đi tìm kiếm, nhưng khi nhìn thấy chúng, niềm vui sướng của tôi cũng òa vỡ đầy bất ngờ với thú vị khó kiềm chế. Từ mặt đất đầy mùi lá mục và cỏ, một vạt nấm nhú lên, từng cây, từng cây mập mạp. Tôi thận trọng nhổ, cố tình sao cho cây nấm không bị đứt ngang, bên dưới gốc, tôi gặp tầng đất đặc trưng của tổ mối. Lạ lùng và đầy bí ẩn, nấm mối mọc lên từ tầng đất do con mối tạo ra, nhưng không phải tầng đất mối tạo ra nào cũng mọc thành nấm mối. Mùi thơm của cây nấm phảng phất mùi của con mối và hương thơm của tất cả mọi loại hoa, mọi loài vật gộp lại. Thơm điếc mũi. Ngay lập tức, những con vật bị mùi thơm quyến rũ, chúng tìm đến ăn nấm. Kiến cũng kéo đến từng bầy để dự bữa tiệc chiêu đãi. Cây nấm sẽ nở ra ban sáng, sẽ tàn ngay buổi chiều. Đôi lúc, cũng gặp được những cây nấm còn đầy sức sống trong buổi sáng hôm sau, nhưng trong tàn của chúng đã đầy những sinh vật bám lúc nhúc. Ngày ba tôi con sống, ông mê ăn nấm mối, mê nhất là món nấm tẩm chút muối ớt, bó trong mảnh vỏ chuối đem nướng. Các món nướng bao giờ cũng thơm náo nức, ngon hơn hẳn. Nấm mối nướng chín tới, mùi thơm ngòn ngọt đã bay tận đầu ngõ. Bóc lớp vỏ chuối cháy xém, những cọng nấm tứa ra một lớp nước ươn uớt và óng vàng như được tẩm mật ong, thịt thơm như thịt gà, loại thịt được sinh ra từ sự kết tinh của đất với không khí và hương thơm tinh khiết mà thành. Nhưng mẹ tôi chỉ thích nấu canh nấm với rau lang. Rau lang có vị chan chát, vị chát ấy được cái ngọt đậm đà của nấm trung hòa, chan cơm thì ăn không biết no. Còn tôi chỉ thích um nấm với chút xiu mắm, rắc hột tiêu rồi bẻ bánh tráng ngồi xúc. Với tôi không có món ngon nào có thể sánh bằng nấm mối. Nhưng tuyệt nhất là những sợi nấm khô. Nếu um xì dầu rồi phơi khô thì khô nai cũng khó sánh kịp. Mỗi năm, ở miền Đông Nam bộ thường có hai lần nấm mối mọc ở những vùng đất nhiều bóng râm và lá mục. Lần đầu nấm mọc trong tháng 5, vào những ngày thời tiết nóng ẩm và có mưa. Thời gian này được gọi là “Nấm gieo mạ” (mọc vào thời điểm người nông dân gieo mạ). Lần mọc thứ hai diễn ra vào tháng 8, cũng vào những ngày nóng ẩm và có mưa. Thời gian này được gọi là “Nấm rạ thóc” (tức lúa đã gặt) Tôi biết có rất nhiều người chưa hề được nếm món nấm mối, vì nấm mối cho đến bây giờ chưa thấy ai trồng. Nấm mối vẫn là một bí ẩn thú vị bậc nhất của thiên nhiên. HÀ NỘI MÙA THU PHÍA CHÂN TRỜI Tản văn Hà nội đón tôi bằng những bông cúc vàng, khi mùa Thu vẫn còn dùng dằng đâu đó phía chân trời. Màu vàng của hoa cúc mới thật lạ lùng, đó là màu nắng còn non, có thể màu nắng ấy chính là “nắng hàng cau” ở thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử; cũng có thể đó là màu nắng xuyên qua tán thông già rồi nhẹ nhàng tung vào thành phố sương mù Đà Lạt. Thứ nắng óng ả như lụa, mong manh và suốt trong. Thiên nhiên đã cô đọng lại, gắn kết tài hoa màu nắng vàng ấy thành màu hoa cúc, thanh tao và kiêu hãnh? Bốn giờ chiều, trời nóng hầm hập, tôi xuống phố đây cúc vàng ơi. Vẫy tay chào những bông hoa, tôi khóa cửa phòng bước ra phố phường Hà Nội. Phố Tràng Tiền, nơi mà ngày còn là học sinh, tôi từng đứng bên góc Hồ Gươm nhìn chăm chắm dòng người nối nhau vào mua kem, có lúc, tôi đã nhìn hau háu chiếc que kem màu tím thẫm ấy như bị thôi miên. Thật là một hạnh ngộ bất ngờ, chung vách với khách sạn Tràng Tiền là Hãng kem Tràng Tiền trong muôn vàn giấc mơ của tôi, vẫn dòng người xếp hàng mua kem như xưa, nhưng tôi không đứng ngó từ xa nữa, tôi sung sướng chen chân vào: Kem ốc Huế ba ngàn rưỡi, kem que hai ngàn. Tôi mua tất cả, mua hào hứng và ngắm nhìn những đôi thanh niên nam nữ vừa ăn kem vừa nhìn nhau nồng nàn. Một tốp những người lính trẻ đứng tụm vào nhau, vừa ăn vừa cười nói ồn ào. Họ cắn miếng kem ngập chân răng. Nhìn họ ăn mới ngon làm sao! Có lẽ, chỉ có ở Hà Nội, và cũng chỉ riêng ở phố Tràng Tiền mới có nơi xếp hàng mua kem rồi đứng ăn hồn nhiên như thế này. Đến Hà Nội nhiều lần, thậm chí ở đây nhiều năm, nhưng lần này tôi mới đến được Chùa Trấn Quốc. Ngôi chùa cũ lắm, nép mình khiêm nhường trên một rẻo đất nhỏ ven Hồ Tây. Bước chân qua khỏi cổng, không gian bỗng trầm lặng hẳn xuống, không khí thanh tịnh bao trùm, giây lát thấy lòng lắng lại, thanh thản. Đồng thời đâu đó trong hồn dấy lên niềm tự hào hòa quyện với xúc động. Hai chữ “Trấn Quốc” uy nghiêm, làm người vãng cảnh tưởng như mỗi hạt đất, mỗi mắt lá, và trong làn khói hương thoang thoảng thơm kia, hồn thiêng sông núi tụ hội, chất ngất. Cũng là lần đầu tiên, trong buổi chiều ấy, tôi ngồi ven bờ Hồ trước Phủ thờ bà Liễu Hạnh. Đến Phủ thờ phải đi vòng qua đê sông Hồng, vào sâu trong một ngõ nhỏ, Phủ nằm nép mình dưới nhiều gốc cây si, trong đó có một gốc đại thụ cành lá sum suê xòa trên mặt hồ. Từ đó, nhìn qua bên kia Hà Nội lấp lánh những ánh đèn muôn màu. Cuộc sống nghĩ thật lạ, ranh giới tịnh yên và ồn ào, giữa trong lành và mù đục chỉ cách nhau lằn ranh không có hình hài. Tôi tin câu nói: “Thiên đường, Địa ngục đều có cả trong cõi trần”. Tôi còn đi qua Làng Hoa bây giờ chỉ toàn là nhà cao tầng, qua phố Cổ, qua Hà Nội mới, qua nhiều lắm…, nhưng không sao gặp được ngọn gió heo may về thì thầm trên những tầng lá, không thể chạm tay vào chút se lạnh đầu thu để nhìn má thiếu nữ ửng hồng, không thể phiêu diêu trước Hồ Gươm ngắm hạt mưa vỡ lăn tăn trên mặt nước, nhìn liễu rũ dịu dàng đong đưa, và gặp chính tôi trong thỏa thuê khao khát, đi lang thang, lang thang giữa Hà Nội với trời thu. Đêm đó, tôi và những đóa hoa cúc chia sẻ một không gian nhỏ bé trong phòng nghỉ Tràng Tiền. Tôi nhìn những đóa hoa lòng đầy ái ngại. Trưa nay, vì bối rối, cái bối rối y hệt như lần đầu tiên đến chỗ hò hẹn, mặt bừng đỏ và tay chân thừa thãi. Đúng vậy, tôi đã luống cuống đến mức cầm vòi nước nóng khoảng 45 độ tưới lên bình hoa, tưới đến lúc nước gần đầy bình mới giật mình... Nhưng hình như những bông cúc không hề hấn gì, chúng như mặt trời nhỏ, vẫn khỏe khoắn, tươi thắm và kiêu hãnh. Xin lỗi nhé cúc vàng. Tôi không cố ý. Tôi vẫn tin rằng Hà Nội sẽ tặng tôi một buổi chớm thu về, vì vậy, gặp Hà Nội lần này tôi hóa ngẩn ngơ. Tôi thiếp đi mang vào giấc ngủ cái nháy mắt của những bông hoa màu nắng và niềm hy vọng mong manh thu về. Thế nhưng không như tôi mong đợi, hôm sau, ngọn gió vẫn ẩn mình đâu đó trên những đám mây trắng hờ hững, để mặc nắng quạt lửa vào mặt người. Bầu trời xanh ngăn ngắt, cao vời vợi, không khí hầm hập đặc sánh lại, hàng liễu rũ ven Hồ Gươm im lìm đứng ngắm chính bóng mình. Mùa Thu vẫn đâu đó phía chân trời, mặc dù đã nghe dịch chuyển, bầy chim nhao nhác thiên di và cả bâng khuâng lay động tầng chiều. Một chút gì như thật gần, gần như hơi thở đâu đó trên bờ vai mà vẫn không sao chạm vào được thu về. Mùa Thu ơi, thôi đừng hò hẹn, tôi là người không đến kịp bao giờ! CHUYỆN VỀ LOÀI HOA BỒ CÔNG ANH Tản văn Có một vùng của đất nước Mỹ, bát ngát dưới thung lũng, xanh rờn cả một triền đồi, hoặc từng thảm non mềm mại chạy dọc các đại lộ, hay bên lối nhỏ đi vào nhà, thậm chí ngay cả trước bậc thềm cũng mọc lên những cây hoa bồ công anh. Đến mùa, những bông bồ công anh nở trắng, trên chiếc cuống xanh ròn mảnh mai vươn thẳng là môt quả cầu trắng đính đầy những cọng tơ trời mịn màng, mỏng manh. Chúng chờ những ngọn gió đến mang chúng phiêu lãng trong bầu trời. Mùa hoa bồ công anh cũng là mùa mà cư dân của vùng đất có loài cây này, từ cụ già đến em bé phải mang những chứng bệnh ho viêm họng, viêm mũi, viêm phế quản do những sợi tơ li ti từ những bông hoa bay trong gió gây ra. Loại cây xanh yếu ớt, những bông hoa nhỏ nhoi mang trên mình những cọng tơ mềm mại bỗng nhiên trở thành đối thủ thù địch của con người. Tiêu diệt chúng, tấn công chúng để bảo vệ chúng ta? Đương nhiên rồi! Ôi loài người tưởng như hiền lành, nhưng chính sự hủy diệt nằm trong tay họ nhiều hơn là trong tay của Thánh thần, hoặc Ma quỷ… Tất cả sẽ là tro bụi, nhưng từ tro bụi cũng có thể hồi sinh vì vậy phải làm cho chúng vĩnh viễn biến mất. Sẽ là thế, nếu con người muốn! Nhưng, con người ở vùng đất Mỹ kia đã quyết định: Hoa bồ công anh đã có mặt nơi đây khi chưa từng có một con người nào, kể cả người Mỹ. Chúng là chủ nhân của vùng đất này! Một phần tất yếu, đương nhiên và là quà tặng của tạo hóa đã ban cho. Vùng đất này nếu không còn hoa bồ công anh thì sự sống của con người, trong góc hồn của họ sẽ trống hoác ra không có gì bù đắp nổi. Và con người quyết định: “Chung sống hòa bình với hoa bồ công anh”. Những sợi tơ mịn màng đến mùa cứ bay, những quả cầu trắng bé xinh xinh cứ tự do nở bung trong nắng mai vàng rực. Con người sẽ đeo khẩu trang, khi muốn ở trên cánh đồng thưởng thức mùi hương ngai ngái và ngọt ngào từ cỏ tươi, đất ẩm; sẽ đứng bên trong cửa kính mà ngắm nhìn chúng. Cuộc sống thật thanh bình biết bao! Một ngày, ta chợt đứng trước những bông hoa bồ công anh, bông hoa nhỏ nhoi kiêu hãnh tung mình trong gió. Phút giây ấy, ta nhận ra sự vĩnh cửu trường tồn và hư vô nằm bên nhau, nhận ra cái thiện và ác tiềm ẩn trong con người cũng chỉ cách nhau mong manh như tơ của loài hoa bồ công anh. HOÀI NIỆM XA XĂM Tản văn Vào những ngày giữa tháng chạp, ba tôi bắc chiếc thang lên cành mai ẻo lả. Cành mai oặt vẹo đi, nhưng cái thang đã được tựa khéo léo vào một đám cành đan xen. Ba tôi trèo từng bước như bước loài mèo. Nhẩn nha từng chút một, ông hái lá mai một cách kiên trì, thong thả như đang thưởng thức một thú chơi. Lùa tay vào cuống chiếc lá, tách khẽ ngay khớp. Chiếc lá rời cành nhẹ nhàng. Cách làm này tránh cho cành mai không bị trầy xước. Nếu lỡ có một vết xước, ba tôi xuýt xoa y hệt như vừa làm chúng đau, khiến tôi đứng nhìn ông làm mà phì cười. “Cây cỏ cũng có hồn, có tiếng nói đó con, chỉ là do ta không nghe được mà thôi”. Ba tôi nói vậy. Đám lá rời khỏi tay ông, bay lảo đảo trong gió, đậu nhẹ nhàng xuống mặt sân, trước khi tan biến vào đất, chiếc lá còn mượn gió quẫy lên từng đám lao xao. Chiều tối, cây mai chỉ còn lại những chiếc cành nho nhỏ trơ trụi, chĩa lên nền trời đang sẫm tối như than vãn. Có lẽ, ba tôi hái lá mai đã làm những nụ mầm thức giấc. Vì sau khi hái lá vài ba hôm, những nụ cái với lớp vỏ cứng ngủ im lìm trên cành suốt bao ngày tháng, bỗng một sớm tinh mơ cựa mình, đầu nụ, hé lộ một chút nõn xanh. Rồi những nụ xanh ấy ùa ra từng bầy, đậu chi chít trên cành. Lúc này, cành mai đã đẹp lắm! Từng cụm hoa xanh tuyệt vời như bích ngọc, chúng nhón gót đứng nhún nhảy cạnh nhau một cách kiêu hãnh, điệu đàng. Một hôm, khi trong nhà bay tràn mùi hương trầm ngan ngát từ bát nhang cúng tất niên, thì đầu cành mai, tự bao giờ đã hé rưng rưng những cánh vàng với làn hương thật thoảng, thật nhẹ, e âp đâu đó trong đêm tĩnh lặng. Đó, thông điệp của mùa xuân mà hoa mai gửi con người và vạn vật. Ở Đức Linh, hầu như nhà nào cũng có một vài cây mai. Có nhà có cả một vườn. Còn những hàng mai cạnh bờ rào, bờ dậu thì hơi đâu mà đếm. Ngày xưa, vùng này còn có cả những rừng mai như Láng Mai, Thác Mai. Mỗi mùa xuân về hoa nở vàng rợp cả một miền. Ngày ấy, người Đức Linh mấy ai trồng mai. Trên rừng nhiều như thế, muốn bao nhiêu cứ lên rừng mà chặt, việc gì phải trồng. Nhà tôi, năm nào cũng có một bình mai, lấy từ rừng. Ba tôi nhờ người ta lấy cái vỏ đạn đại bác, làm thành một cái bình thật đẹp, cứ đến tết lại sai tôi mang bình ra, lấy giấy nhám đánh bình bóng đến mức thấy gương mặt tôi trong đó méo xẹo. Có những năm, tết của nhà tôi chỉ duy nhất là cành mai vàng. Vào khoảng 19, hay 20 tháng chạp, người ta rủ nhau ùn ùn lên rừng chặt mai. Hầu hết là đám thanh niên. Mai rừng, mai núi thường không đẹp vì cành mảnh, nụ bé. Mai mọc rải rác ở ven các dòng suối cành mới khỏe, nụ cái nhiều và to. Hai anh tôi đi mất một buổi, vác về từng ôm lớn rồi hì hục thui thui, đốt đốt. Có một năm, sau khi bưng ngọn đèn dầu ra mồi nhóm đống lửa thui mai ở sau hè xong, anh tôi bảo thằng Út bưng cây đèn vô bếp cất. Út vì nóng lòng ra ngồi hóng, nó chạy, chân vấp vào ngạch cửa bếp, ngọn đèn dầu văng tuốt vô mái tranh vách bếp. Ngọn lửa táp nhanh. Gió kéo về thổi rần rật. Trong nháy mắt, lưỡi lửa đã liếm trọn căn nhà. Khói bốc ngùn ngụt tận trời xanh. Anh em tôi sững sờ đến cứng cả người, cứ đứng há hốc miệng ra nhìn ngôi nhà rụi tan trong đám lửa tàn bạo như giặc cướp. Làng xóm chạy rần rần. Tiếng la, tiếng kêu cứu vang dậy từ đầu thôn đến cuối xóm. Năm ấy, cả nhà ăn tết trong căn nhà tranh dựng vội, trống tuềnh toàng. Bên dưới mái tranh, mẹ tôi treo chục cây bánh tét tòng teng. Ánh mắt của tôi bị đóng đinh vào chỗ ấy. Không biết bằng cách nào, tôi cũng có chiếc áo mới loè loẹt hoa tím đỏ. Tôi khoác vào, chiếc áo thòng tận đầu gối. Cái sự dài khiến tôi an tâm, nó che được chiếc quần rách. Tôi vênh mặt mỗi khi bọn trẻ trong xóm nhìn tôi chòng chọc rồi cùng cười rú lên. Năm sau, hai anh tôi đứng nhìn thanh niên trong xóm đi chặt mai với ánh mắt lấm lét. Ba tôi từ trong nhà bước ra, ấn vào tay hai anh cây rựa nhỏ rồi nói: “Đi sớm, mới có thời gian lựa cành đèm đẹp con à”. Anh tôi lao chiếc xe đạp ra khỏi nhà như người ta làm xiếc. Năm nào cũng vậy, dù có buồn ngủ mấy tôi cũng ráng thức chờ nghe tiếng pháo giao thừa và ngắm những bông mai đầu tiên nở trong cái đêm nồng nàn hương khói, chờ những phút giây đầu tiên của năm mới sang với rất nhiều phấn khích. Nửa đêm, ba tôi bày một bàn hương đèn ra giữa sân. Chung quanh vắng lặng và thiêng liêng, tôi tưởng như trong màn đêm dày đặc chung quanh có những đấng bề trên của gia đình hiện diện. Ba tôi lầm bầm cầu khấn một cách vô cùng thành khẩn, ông xin cho chúng tôi được mạnh khỏe, ăn nên làm ra. Lúc này, trong nhà tôi đèn sáng choang. Tôi đến bên cành mai nhìn trên đầu những chiếc nụ xanh nhô nhú hẳn lên một đoạn màu vàng rồi một cánh mai vàng hoe, dịu dàng bước ra khỏi chiếc vỏ lụa xanh, mang theo làn hương mỏng, ngây ngất. Bây giờ, đêm giao thừa tôi vẫn còn thức nhìn mai nở, vẫn say với niềm hạnh phúc được thấy sự kỳ diệu của một bông hoa trong giây phút trở mình, bung cánh. Đã qua bao mùa hoa mai tàn nở rồi? Đã có quá nhiều đổi thay. Những thay đổi ấy rõ ràng được là thêm ra về con số, về vật chất nhưng sao lòng cứ hao khuyết. Cứ mỗi khi nhìn bông mai vàng tươi tinh khôi tung cánh trên cành, lòng tôi lại nao nao xao xuyến cái gì như nhớ mong, như luyến tiếc lay động. Tôi tiếc cái gì? Tôi mất gì? Không thật rõ ràng nhưng hình như nhiều quá. Hao cạn quá! Những cánh vàng mỏng manh, như một tâm hồn bị ai đó giày vò rồi dát mỏng, bứt rời và ném tung xuống mặt đất. Vẫn biết là không thể khác mà bâng khuâng ngậm ngùi, khôn nguôi. Cây mai của nhà tôi được ba tôi trồng từ cái ngày gia đình tôi đến ở vùng đất này. Nó là cành mai đầu tiên chặt từ rừng về chơi tết. Qua tết, ba tôi đem cành dâm xuống một bên giếng rồi chăm tưới, nó bén rễ. Sau này, ba tôi bứng ra trồng ở cuối góc sân bên phải phía trước nhà. Một ngày nọ, ba tôi họp cả nhà lại để phân chia tài sản. Tất cả chúng tôi không ai lấy gì. Nhà cửa, ruộng vườn đồng ý để cho cậu Út tất. “Cái nhà muốn ở thì ở, muốn cho con cháu thì cho, không ở thì để làm nơi thờ tự. Tuyệt đối không được bán. Thửa đất cạnh nhà cho tùy ý, khi túng thiếu có thể bán đi mà xoay sở làm ăn. Nhưng riêng những cây mai, ba muốn cho Cúc. Cúc nó thích hoa mai, ba cho nó, để nó tự do muốn đến chặt cành về chơi lúc nào thì tuỳ nó. Quyền của nó, không phải xin ai nữa. Tính khí của nó tao biết, chúng mày - Ba tôi chỉ vào vợ chồng Út - nói năng bỗ bã như thế nó tự ái, nó lại không đếm xỉa đâu.” Vài năm sau thì ba tôi mất. Ba tôi cho những cây mai, còn viết giấy cẩn thận bảo các anh và vợ chồng cậu Út cùng ký vào rồi giao cho tôi giữ. Tôi vẫn chưa một lần nào về chặt cành mai. Tôi không nỡ. Có năm, tôi bấm bụng đi mua cành mai giá bằng một tháng tiền ăn của cả nhà về chơi mấy ngày tết, nhưng kiên quyết giữ những cây mai của ba vẹn toàn. Mai già, mai lão bỗng có giá. Người thành phố về lùng sục khắp nơi. Đào đào. Bới bới. Chuyên chuyên. Chở chở. Làng quê mất dần những cây mai đẹp dáng, đẹp hoa, mất cả những kỷ niệm thân thiết vì mấy ai cưỡng nổi khát vọng tiền tài. Những gốc mai vất vưởng bên bờ rào, những lão mai từng chứng kiến bao thăng trầm của gia chủ trở thành miếng mồi trong mắt thợ săn. Cây mai của tôi nằm trong số ấy. Tôi về thăm, ngôi nhà cũ nhìn tôi ngơ ngác. Chỗ hàng mai chỉ còn là một khoảng trống, mặt đất bị đào xới loang lổ, trên đó đã kịp mọc lên vài búi cỏ dại. Nghe đâu, cậu Út bán cụm mai già vài triệu từ lâu rồi. Cho đến bây giờ, khi ngồi viết những dòng này tôi vẫn chưa hề hỏi cậu Út vì sao bán hàng cây mai. Tôi sợ lời phân bua và cái kết quả mà tôi được nghe. Thôi, cứ để hàng cây sống trong hoài niệm của tôi với những Láng Mai, Thác Mai và một thời thơ dại cháy trong cánh áo đỏ lùng nhùng xa xăm. (1/2007 và 1/2008) HOÀI VÂN ĐÁNH BẮT XA BỜ Truyện ngắn Là giám đốc một công ty lớn, ông là một người đàn ông đúng kiểu người của chủ nghĩa xã hội những năm 60 của thế kỷ trước. Một vợ, hai con gái xinh đẹp, giỏi giang đã trưởng thành, gia đình ông là hình mẫu gia đình lý tưởng. Không nhậu nhẹt, không hút thuốc, không rượu chè, không lăng nhăng bồ bịch, tóm lại là như mấy anh em tai quái trong công ty tán láo, sống bốn không như vậy thì sống chẳng hiểu để làm gì. Sáng nào cũng như sáng nào, ông có mặt ở cơ quan trước năm phút khi giờ làm bắt đầu, như một cái đồng hồ sống. Mọi nhân viên đi làm muộn cho dù chỉ vài phút đều lấm lét canh chừng sao cho không bị ông phê bình. Ông luôn luôn là tấm gương đạo đức xã hội chủ nghĩa sáng ngời cho nhân viên noi theo. Năm năm trước lúc về hưu, ông được cấp trên điều động làm Giám đốc một công ty liên doanh mới thành lập ở một thành phố nhỏ ven biển để áp dụng một công nghệ đánh bắt hải sản mới, đánh bắt xa bờ. Ông cắp cặp đi xa theo lệnh điều động. Hàng tuần, rồi dần dần hàng tháng ông mới về thăm vợ con một lần. Vợ con ông chẳng mấy khi đến thăm ông, và tin tưởng ông tuyệt đối. Sau khi về hưu, ông đột ngột dắt về nhà một thiếu phụ trạc 40 tuổi và một chú nhóc khoảng năm tuổi, bụ bẫm, kháu khỉnh, giống ông như đúc. Vợ con ông chỉ còn biết chết đứng như Từ Hải, và chấp nhận cô vợ nhỏ cùng đứa con của ông. Ông đã thu hoạch được cả cá lớn, cá bé, cá mẹ, cá con, áp dụng thành công mỹ mãn công nghệ “đánh bắt xa bờ”. TIN NHẮN THỨ HAI Truyện ngắn Lan và anh yêu nhau khủng khiếp. Những ngày anh đi công tác nước ngoài, không ngày nào là họ không gặp nhau qua chat. May mà điện thoại của anh không hòa mạng quốc tế, nếu không sẽ tốn tiền nấu cháo điện thoại quốc tế suốt ngày. Những ngày này Lan coi như anh ở “ngoài vùng phủ sóng”. Lan nhớ anh và cháy lòng mong đợi ngày anh trở về. Trong lần chat cuối cùng với anh, Lan hiểu anh chỉ ghé Sài gòn có vài tiếng tối chủ nhật, transit ở sân bay rồi bay luôn đi Hà Nội để sáng thứ hai còn đi làm. Mặc dù nó phụng phịu đòi anh ở lại Sài Gòn để gặp nó, anh nói rất tiếc anh không thể ở lại vì có công chuyện quan trọng sáng thứ hai. Anh hứa sẽ nhắn tin hoặc điện thoại cho Lan khi đến Sài gòn, khi đã về “vùng phủ sóng”. Tối chủ nhật, Lan thắc thỏm ngóng chờ điện thoại của anh. Mệt mỏi, nó thiếp đi với cái điện thoại nắm chặt trong tay. Gần nửa đêm nó bừng tỉnh với tín hiệu nhạc báo tin nhắn đến. Dụi mắt nó thì thầm đọc những lời có cánh của anh: “Anh đã về đến Sài gòn. Nhớ em và yêu em nhiều Lan ạ, hôn em yêu dấu của anh.” Nó những muốn hôn lên màn hình điện thoại, nhưng buồn ngủ quá nó lại lăn ra ngủ. Nhưng rồi tiếng nhạc báo tin nhắn thứ hai lại đánh thức nó dậy sau vài phút. Nó dụi mắt mấy lần mới đọc hết tin nhắn thứ hai của anh mà nó không sao hiểu nổi lúc mới đọc, và khi đã hiểu ra thì nó thấy đau nhói ở ngực: “Anh đã về đến Sài gòn. Nhớ em và yêu em nhiều Hạnh ạ, hôn em yêu dấu của anh. Chiều mai anh bay Hà Nội, sáng mai mình gặp nhau ở Cafe Tím nhé em.” Tội nghiệp cho cái điện thoại mới của anh và cho trái tim mong manh, khờ khạo của Lan. HẸN HÕ QUA MẠNG Truyện ngắn Sau một cuộc hôn nhân bất hạnh, Hạnh chia tay với người chồng thiếu trách nhiệm và sống một mình nuôi con đã năm năm. Như con chim sợ cành cong, nàng thu mình lại và hầu như không giao du tìm kiếm tình yêu mới trong năm năm qua. May cho nàng là thời đại ngày nay có mạng internet với những trang làm quen kết bạn, tìm bạn trăm năm đầy rẫy như lá rụng mùa thu. Sau những giờ làm việc và những công việc nhà bất tận, buổi tối nàng hay lang thang vào mạng. Và nàng đã lựa chọn phương án tìm bạn đời qua mạng như một giải pháp tương đối thận trọng cho cuộc đời mình. “Thiếu phụ 35 tuổi, đã ly hôn, sống với một con trai 10 tuổi, tính tình giản dị, sống nội tâm, quí trọng gia đình, yêu văn thơ, thích du lịch. Mong muốn tìm bạn nam có cùng hoàn cảnh, hiểu biết, có học thức, nghiêm túc, tuổi trên 35, nếu hợp có thể sẽ là bạn đời” Sau khi gửi mấy dòng này cùng một tấm ảnh chân dung lên trang Elove, Hạnh nhận được rất nhiều thư làm quen. Nhiều thư đến mức nàng phải soạn sẵn một thư trả lời ban đầu và gửi lại cho tất cả như nhau, chỉ thay mỗi tên người nhận. Sau vài tuần và dăm ba thư qua lại với tất cả các đối tượng, Hạnh chỉ chọn được ba người có cùng hoàn cảnh (điều kiện tiên quyết của nàng) có vẻ phù hợp nhất để tiếp tục thư từ. Một người tên Thành là công chức ở Hà nội, tỏ ra điềm đạm, hiểu biết, thông minh, sống một mình gà trống nuôi con, hơi vụng về và có vẻ chân thực. Người thứ hai là một kỹ sư tên Sơn làm việc ở Sài gòn, viết thư ngắn gọn, giản dị với lời lẽ dễ thương, sống một mình sau ly hôn. Người cuối cùng là một Việt kiều tên Hiếu sống ở Pháp với những bức thư buồn và tha thiết nhớ về quê hương từ nơi xa xứ. Một cuối tuần nọ, kỹ sư Sơn gửi thư cho nàng: “Hay là mình gặp nhau đi, cuối tuần này anh nghỉ làm hai ngày mà không biết làm gì, buồn quá”. Sơn là người ở cùng thành phố với Hạnh, nên nàng ngẫm nghĩ, tại sao không thử gặp xem sao. Nàng đắn đo mãi mới nhắn tin lại vào số di động mà Sơn đã ghi cho nàng: “Đồng ý, mình gặp nhau ở quán cà phê Nhạc Trịnh lúc bảy giờ tối thứ bảy, bàn đầu tiên bên trái”. Tối thứ bảy, sau khi trang điểm kỹ lưỡng, Hạnh vẫn không tự tin lắm khi ngắm mình trong gương: Một thiếu phụ không còn trẻ trung với khuôn mặt phúc hậu và đôi mắt dịu dàng đượm buồn đang nhìn nàng. Nàng đến chỗ hẹn với tâm trạng lo lắng, bồn chồn. Quán Nhạc Trịnh là một quán khá lịch sự, yên tĩnh với âm nhạc du dương của tình yêu, nơi Hạnh đôi lúc ghé vào với cô bạn cùng văn phòng để nghe nhạc và thư giãn. Khi bước vào quán, nàng nhìn thấy một thanh niên khá trẻ, có lẽ trẻ hơn nàng, đang ngồi một mình bên góc bàn bên trái, ly cà phê bên cạnh một cái gạt tàn bốc khói. Hạnh do dự đến gần khi thấy anh ta đứng dậy đón nàng: - Hạnh đúng không? - Dạ, anh Sơn? - Anh chờ em hơi lâu rồi, sao em đến muộn vậy? - Em bị kẹt xe.... Ngồi xuống đối diện với Sơn, Hạnh lúng túng đưa mắt nhìn trả ánh mắt dò hỏi, xét nét của Sơn. Có vẻ như anh ta đang quan sát và đánh giá Hạnh. Quả là một thanh niên đẹp trai, cao lớn, dáng tự tin và trí thức. Mãi sau đó khá lâu nàng mới lấy lại được bình tĩnh để trò chuyện với Sơn. Câu chuyện cũng mặn mà, đem đến cho cả hai nhiều thông tin mới về nhau. Hạnh thấy nói chuyện với Sơn khá hợp, anh có cùng sở thích văn thơ và biết lắng nghe nàng với ánh mắt nhìn khuyến khích, đầm ấm. - Anh không phải tên Sơn, mà tên Long - Hạnh chợt nghe tiếng anh ta nhỏ nhẹ. - Vậy sao? Nàng ngơ ngác. - Anh mới 34 tuổi, chứ không phải 37 như đã nói qua thư. - Em cũng đoán thế. Nàng ngập ngừng xác nhận. - Và đây mới là thông tin quan trọng nhất: anh không ly hôn, mà chỉ sống một mình xa gia đình. Vợ con anh ở Hà Nội, còn anh phải vào công tác Sài Gòn biệt phái trong ba năm. - ... Nhìn thấy vẻ mặt thất vọng của Hạnh, anh ta hơi lo lắng. - Anh nghĩ là anh nên trung thực với em ngay từ lần đầu gặp gỡ. Anh nghĩ em và anh có thể là bạn tâm tình. Anh không muốn lừa dối em, anh tự nguyện nói thật với em ngay từ đầu để mình không phải trách cứ gì nhau sau này. - Cám ơn anh đã thành thực. Nhưng em không nghĩ là em có thể tiếp tục tin anh - Hạnh tỏ vẻ chán nản. - Em phải tin anh, và anh vẫn nghĩ mình có thể là bạn mà em? - Em cũng không nghĩ mình có thể là bạn nếu như anh vẫn vướng bận gia đình và chỉ ở Sài Gòn trong thời gian ngắn. - Anh rất muốn được chia sẻ tình cảm với em trong những thời gian rảnh rỗi ở phương trời xa xôi này, khi anh được tự do một mình. - Xin lỗi, chắc em phải về rồi. Rất hân hạnh được quen biết anh. - Hạnh chán ngán nhìn đồng hồ, đã gần 10 giờ. - Hạnh, anh thực sự thích em và muốn kết bạn với em mà. - Hạnh nghe tiếng anh ta nài nỉ, nhưng nàng đã đứng dậy và hướng về phía cửa. Hạnh lấy xe máy và ra về, trên đường đi vẫn nghe tiếng anh ta lải nhải từ cái xe máy bên cạnh. Làm thế nào để cắt đuôi nhỉ? - Xin lỗi, anh về trước đi, em phải ghé nhà cô em gái có chút việc. Hạnh dừng lại, tạt vào bấm chuông một ngôi nhà bên đường. Anh ta do dự một giây rồi đi thẳng. Hú vía, Hạnh chờ một lát rồi vội vàng rẽ phải, trước khi chủ nhà kịp ra mở cổng cho kẻ bấm chuông phá rối là Hạnh. Thế là hết, Hạnh thở dài chán nản sau khi xóa thư từ, địa chỉ email của anh chàng “kỹ sư Sơn” khỏi hộp thư của mình. TẢN MẠN VỀ NỖI CÔ ĐƠN Tản văn Ta lấy thời gian đo nỗi nhớ Lấy biển khơi đo độ rộng tâm hồn Lấy cuộc đời đo tình yêu dang dở Nhưng biết lấy gì để đo nỗi cô đơn? Cô đơn là tâm trạng của tôi, của bạn, của rất nhiều người trên thế giới này. Cho dù có đến 6 tỷ người trên thế giới rộng lớn bao la này, bạn vẫn cảm thấy cô đơn vào một lúc nào đó, vào một ngày nào đó. Đó là những buổi chiều chủ nhật mưa gió hay rét mướt căm căm… khi mà bạn ngồi một mình ngắm hòang hôn đổ dài trên bãi biển hay trên triền núi xa xa, khi mà bạn không có một ai bên cạnh để chia sẻ nỗi niềm, khi mà bạn có cảm giác trống vắng đến nao lòng… Đó là những buổi tối vắng lặng, khi mà bạn ngắm nhìn cái điện thọai vô hồn, lướt tìm cả mấy trăm số thân quen mà không biết gọi cho ai để chia sẻ nỗi lòng… Đó là những đêm dài lạnh lẽo, khi mà bạn một mình ôm gối suy tư với những nỗi vui buồn của cuộc đời trong màn đêm thăm thẳm... Đó cũng có thể là một buổi sáng mùa hè nắng đẹp, khi mà bạn tỉnh giấc bên người bạn đời mà bạn không còn yêu thương, không còn có thể chia sẻ nỗi niềm, chỉ còn lại những nghĩa vụ mệt mỏi của cuộc sống chung… Đó cũng có thể là một buổi chiều nhộn nhịp tan sở, khi mà bạn chen lấn trong đám đông cả trăm người trên đường về nhà, sốt ruột, mệt mỏi chờ mong đèn đường chuyển màu từ đỏ thành xanh… Đó cũng có thể là một buổi tối vắng lặng, khi mà bạn ngồi chờ đợi khắc khoải bên mâm cơm đã nguội lạnh mà người bạn đời của bạn vẫn còn la cà nhậu nhẹt đâu đó chưa về… Có nỗi cô đơn mà bạn thực sự thấm thía cả nghĩa đen và nghĩa bóng, khi mà bạn thực sự một mình không có ai bên cạnh và cũng không thể chia sẻ nỗi lòng được với bất cứ ai. Nhưng còn có nỗi cô đơn chỉ thuần túy theo nghĩa bóng, khi mà bạn có ai đó bên cạnh mà lại không thể chia sẻ nỗi lòng. Và đôi khi nỗi cô đơn này lại trở nên mênh mông đến mức không thể chịu đựng nổi. Bạn chỉ có thể hiểu bản thân mình tường tận khi mà bạn thấm thía nỗi cô đơn. Hãy nói cho tôi biết bạn làm gì mỗi khi cô đơn, tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai. Lúc cô đơn bạn thường làm gì? Tìm đến một người bạn để chia sẻ? Tìm một thú vui để thư giãn? Lang thang trên mạng đọc sách báo hoặc trao đổi ý kiến trên các forum? Tìm đến một ly rượu hoặc một liều ma túy để quên đi cảm giác trống vắng? Hay đơn giản chỉ tự suy ngẫm về thế thái nhân tình để rồi có thể sống tốt hơn? Như vậy cô đơn đôi khi là cần thiết cho một số người trong chúng ta. Chỉ có điều đừng để sự cô đơn kéo dài triền miên, nó sẽ gặm nhấm tâm hồn bạn, làm nản lòng bạn, làm bạn trở nên sầu não, bi quan với cuộc đời. Đừng để mình rơi tự do với nỗi cô đơn. Hãy nhấc điện thọai lên gọi cho người bạn thân nhất của bạn cho dù chỉ để nói một câu thăm hỏi sức khỏe. Bạn hãy tưởng tượng người bạn đó của bạn cũng đang cô đơn, bất ngờ nhận được một tin nhắn vui vui của bạn, hay một câu hỏi thăm sức khỏe của bạn, người bạn đó sẽ thấy hạnh phúc đến chừng nào. NHÀ VỆ SINH TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG DU LỊCH Tản văn Người ta nói, nếu muốn xem xét đánh giá trình độ văn minh của một dân tộc và chất lượng cuộc sống của dân tộc đó, hãy nhìn vào nhà vệ sinh công cộng của họ là đủ! (The public toilet is to reflect the civilization index of each country. It also reveals the country's civilization level and quality of life). Là kẻ hay lang thang trên những nẻo đường du lịch, tôi đã từng có những kỷ niệm buồn cười và những ấn tượng khó phai về dịch vụ vệ sinh công cộng này. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có khoảng 2,6 tỉ người trên toàn cầu đang thiếu nhà vệ sinh sạch. Hơn một nửa trong số đó sống tại Ấn Độ, Trung Quốc và các nước châu Á. Toilet, hay còn được gọi là water closet (bồn cầu giật nước), hay lavatory, hay rest room... Ở Việt Nam, ta quen với những từ nhà vệ sinh, hố xí, nhà cầu... Tóm lại đây là nơi chúng ta trút bầu tâm sự, giải tỏa nỗi buồn... khó tả để sau đó ta thở phào nhẹ nhõm. Nói như tiền nhân ngày trước, đây là nơi ta thưởng thức một trong bốn “tứ khoái”. Vì đó là một nơi... tất yếu, không thể thiếu được cho cuộc sống con người, trong thế giới văn minh, nó được chú trọng thiết kế và chăm sóc như một nơi nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí... Vài năm trước khi được mời tham gia một hội nghị khá long trọng của Nhật Bản, chúng tôi được Chính phủ Nhật chiêu đãi ở khách sạn năm sao với tiêu chuẩn ăn ở cao cấp. Và trong khách sạn năm sao này, chúng tôi được dịp tiếp cận và sử dụng những bồn cầu hiện đại kiểu Nhật với bàn phím điều khiển ở nơi để tay vịn. Với bàn phím này, bạn có thể điều khiển mùi hương, âm nhạc, nhiệt độ, thông gió trong nhà vệ sinh từ trên bệ ngồi rất tiện nghi của mình. Được biết, những bồn cầu tiêu chuẩn năm sao này cũng đã được nhập vào Việt Nam và xuất hiện tại những biệt thự, những khách sạn năm sao mới xây dựng. Ở Abu Dhabi, thành phố của các ông hoàng dầu mỏ, có một khách sạn bảy sao với một nhà vệ sinh được giát bằng vàng ròng. Trong cái nhà vệ sinh xa hoa của mấy ông hoàng Ả Rập này, bạn thấy cái gì cũng lấp lánh ánh vàng, từ cái bồn rửa tay đến cái bồn cầu vệ sinh. Tuy nhiên khi vào đó chụp ảnh kỷ niệm, tôi cũng không quên nhắc nhở cái chức năng chính của nó là nơi giải quyết nỗi buồn cho du khách. Trong một chuyến đi vòng quanh châu Âu, tôi cũng có vài ấn tượng khó quên về cái nơi giải tỏa nỗi buồn của du khách, ấy là nó quá ít và quá thiếu cho những điểm du lịch chật ních người chẳng hạn như tháp Epphen, nhà thờ Đức bà ở Pa ri (Pháp) hay Colosseum, Vatican ở Rome (Italy). Xếp hàng mua vé vào cửa những điểm du lịch này đã khiếp đảm rồi, mà xếp hàng đi vệ sinh thì còn ngán ngẩm hơn. Cũng may nhờ có nền văn minh xếp hàng rất lịch sự và nghiêm túc của du khách phương tây mà những cái hàng dài dằng dặc vào nhà vệ sinh cũng chỉ hù dọa du khách yếu bóng vía như tôi chứ thực tế cũng không lấy mất của du khách nhiều thời gian như người ta tưởng ban đầu. Và một điểm rất đáng khen ngợi là tuy rất hiếm, những nhà vệ sinh công cộng này vẫn rất sạch sẽ theo đúng nghĩa nhà vệ sinh, tuy có cả một biển người sử dụng nó liên tục suốt ngày. Thường là có người quản lý, dọn dẹp ở những nhà vệ sinh công cộng này, với mức thu phí kha khá đủ chi tiêu. Có nơi bạn phải nhét đồng xu một Euro (khoảng 25000 đồng Việt Nam) để có thể lách qua máy tự động khi vào nhà vệ sinh công cộng... Nhà vệ sinh công cộng đủ tiêu chuẩn “vệ sinh” phải được thiết kế trang bị những thiết bị đáp ứng cường độ sử dụng cao như: Máy sấy tay, hộp đựng giấy vệ sinh loại lớn, thùng rác vệ sinh phụ nữ, hộp khử trùng, hệ thống khử mùi... và nhân viên quản lý dịch vụ có mặt thường xuyên. Trong chuyến du lịch Trung hoa vĩ đại và thử làm hảo hán leo trường thành, tôi có một ấn tượng vô cùng xấu với nhà vệ sinh nơi đây. Dưới chân Vạn lý trường thành là một nhà vệ sinh công cộng bẩn chưa từng thấy trên thế giới, vì không có một giọt nước thậm chí chỉ để rửa tay chứ đừng nói chuyện để dội rửa những chất thải của hàng ngàn, hàng vạn du khách mơ làm hảo hán. Về những cái nhà “mất vệ sinh” khủng khiếp theo đúng nghĩa đen của từ này ở Việt Nam, bạn có thể tưởng tượng đến những cái nhà cầu bên bờ mấy con kênh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long hay những cái hố kèm theo một tấm ván có quây cót xung quanh ở những điểm du lịch sinh thái như Yên Tử, Chùa Hương... Nếu chẳng may bạn có nhu cầu giải quyết... nỗi buồn mà chẳng thể nào trì hoãn nổi ở những điểm du lịch này, chắc chắn bạn sẽ có một ấn tượng kinh khủng không thể nào quên. Thật may bây giờ trong các thành phố lớn của Việt nam, tuy có rất ít những nhà vệ sinh công cộng, nhưng lại có khá nhiều siêu thị, khách sạn, nhà hàng... nơi mà du khách có thể tranh thủ ghé qua không phải để... mua sắm, ăn uống hay nghỉ ngơi, mà là để giải quyết nỗi buồn khó tả của mình. Tuy vậy việc du khách phàn nàn thiếu nhà vệ sinh công cộng hay nhà vệ sinh công cộng... thiếu vệ sinh vẫn là đề tài thường trực trong các tour du lịch ở Việt Nam. Đây cũng là vấn đề nan giải của ngành du lịch nước nhà. (8.2008) KINH HOÀNG LỄ HỘI XUÂN YÊN TỬ Tản văn “Trăm năm tích đức tu hành Chưa đi Yên Tử, chưa thành quả tu” Chủ nhật ngày 2.3.2008, tức ngày 25 tháng Giêng âm lịch, chúng tôi lên đường du xuân đến Yên Tử. Trải qua quãng đường 120 km từ Hà Nội, chúng tôi hồ hởi vui mừng khi nhìn thấy khu di tích Yên Tử hiện ra trước mắt mình với núi non trùng điệp và mấy đường cáp treo như sợi chỉ đính kèm mấy “quả” cabin lửng lơ trôi trên triền núi. Xe du lịch của chúng tôi từ từ lăn bánh vào bãi gửi xe. Chúng tôi hoảng hồn khi nhìn thấy một bãi xe rộng mênh mông, trùng điệp, đầy ăm ắp các loại xe lớn nhỏ. Mới có 9h sáng, thấy lạ sao du khách đến sớm quá vậy. Chẳng lẽ công sức mình dậy sớm để khởi hành từ 6h sáng chẳng ăn nhằm gì so với thiên hạ? Lục tục xuống xe vào khu di tích, chúng tôi choáng váng với một biển người đông như kiến và một biển rác bẩn thỉu, nhếch nhác đến ghê người. Sau khi mua vé cáp treo giá 45,000 đ/lượt/một chiều, chúng tôi chen chúc vào sảnh chờ để… xếp hàng đi cáp treo. Nhìn biển người mênh mông lúc nhúc chen lấn, cái cảm giác vô vọng chán nản đã từ từ làm cho chúng tôi mệt mỏi đến rã rời. Vâng, kiểu xếp hàng có một không hai của Việt nam ta là cái kiểu xếp hàng lên cáp treo của biển người đó. Bạn không thể đếm được đó là hàng mười hay hàng hai mươi, chỉ thấy một đám đông nhốn nháo, ai cũng mong vượt lên trên. Thỉnh thoảng đám đông lại dềnh lên như những đợt sóng, cuốn bạn trôi đến một hàng cột nào đó, đè bạn bẹp dí vào chân cột, làm bạn ngạt thở với đủ loại mùi mồ hôi, mùi khí thải, mùi xú uế… Sau ba giờ đồng hồ bất lực trong biển người đó, bạn bị chen lấn te tua đến rã rời, và đến khi bạn nguội ngắt không còn một khí thế du xuân nào hết, bạn sẽ được người ta tống vào cái hộp ca bin cáp treo để bay vù lên lưng chừng trời chỉ trong vòng 5-6 phút. Chùa Hoa Yên nằm ở độ cao 543 m là điểm đến của tuyến cáp treo thứ nhất, nhưng ở đó mới chỉ là nửa con đường khổ ải của kiếp nạn du xuân Yên Tử. Yên Tử có hai tuyến đường cáp treo với 16 cabin công suất vận chuyển chừng 600-700 hành khách một giờ. Tuy nhiên, con số này là quá nhỏ so với hàng chục vạn du khách mỗi ngày. Tôi không hiểu tại sao hai đường cáp treo này lại được thiết kế hoàn toàn tách biệt nhau với hai nhà ga khác nhau ở khá xa nhau. Vì vậy khi bạn đi hết một chặng, bạn lại phải di chuyển đến nhà ga thứ hai khá xa xôi, để tiếp tục một công cuộc xếp hàng lên tuyến cáp treo thứ hai. Ở đây thời gian xếp hàng chỉ là… hai giờ đồng hồ nữa, và bạn lại được bay vèo lên đỉnh núi một lần nữa. Điểm cuối của tuyến cáp treo thứ 2 là nơi có Tượng đá Yên Kỳ Sinh. Từ đó thì mời bạn leo bộ lên chùa Đồng ở độ cao 1068m. Khi đi xuống bằng cáp treo với hai tuyến đường như đã nói, bạn sẽ phải xếp hàng chờ đợi với thời gian trung bình hai giờ cho mỗi tuyến. Như vậy việc thiết kế cáp treo thành hai tuyến với bốn lần chờ đợi sẽ lấy mất của bạn tám giờ vàng ngọc và hầu như tất cả cảm hứng du xuân của bạn. Trên đường lên đỉnh Yên tử, bạn sẽ khó có thể nhìn thấy cảnh quan đẹp đẽ và thiên nhiên thơ mộng khi mà bạn lạc vào một biển người và một biển rác. Rác ngập ngụa mọi nơi, mọi chốn. Một dòng sông rác trải từ trên đỉnh núi xuống dưới chân núi. Ngay tại chỗ ghi công đức đóng góp xây chùa, nơi có thể nói là linh thiêng nhất, bởi hơn 700 năm trước, đức Trần Nhân Tông đã từng ngồi thiền, cũng ngập ngụa trong rác. Những cái túi nilông, vỏ chai, lon bia vứt lăn lóc khắp nơi. Thùng rác công cộng là quá ít để chứa đựng một lượng rác thải khổng lồ từ du khách. Và ý thức của du khách cũng là một nguyên nhân quan trọng nữa, ăn uống tự túc, xả rác tự do xuống chân mình bất kể đó là đâu, sân chùa, đường đi hay rừng cây, bãi cỏ… Trong không khí “lãng mạn” của lễ hội xuân, bạn luôn thấy thoang thoảng mùi ammoniac và mùi hôi thối bốc lên từ bên đường. Chẳng có gì lạ khi một biển người du xuân mà chỉ có một vài cái nhà… “mất vệ sinh” công cộng, chẳng có gì hơn là một mảnh ván, một cái rãnh giữa rừng và một tấm nilon quây trống tuyềnh trống toàng xung quanh. Thế mà khi từ nhà “mất vệ sinh” công cộng đi ra, tôi giật mình khi thấy một người đàn ông bặm trợn chìa tay trước mặt mình để đòi tiền dịch vụ “mất vệ sinh” giá 2,000đ. Dịch vụ bán hàng rong lừa đảo, chặt chém nhan nhản khắp nơi, nạn móc túi hoành hành… Những đội bán hàng lưu động cung cấp hàng hóa tới tận tay người tiêu dùng: măng trúc, dứa dại, phong lan... Trúc lâm Yên Tử vì thế mà ngày càng trụi dần. Măng non bị bẻ làm thức ăn, trúc “cơ nhỡ” được các chị vệ sinh sử dụng làm chổi quét đường, còn những thân trúc đã cứng cáp được chặt ngang làm chiếc “chân thứ ba” cho các ông già bà lão và cả những nam thanh nữ tú. Một chiếc gậy trúc bán ra với giá 20.000 đồng quả là một món lời khó cưỡng lại của người dân nơi đây. Loa phóng thanh của “Ban Tổ chức lễ hội xuân Yên tử” luôn vang vang với những thông tin tìm người lạc, cảnh báo lừa đảo, cảnh báo móc túi, ăn cắp, thông báo tìm giấy tờ mất cắp… Đau lòng cho một điểm du lịch sinh thái còn được gọi là Thánh địa Yên Tử bị con người tàn phá và làm ô nhiễm một cách tệ hại và vô ý thức như vậy. Du khách Việt như chúng tôi còn kinh hoàng một đi không trở lại, nữa là du khách nước ngoài. Ngành du lịch Việt nam bao giờ mới biết kinh doanh thực sự với những điểm du lịch sinh thái là thế mạnh duy nhất của ngành du lịch Việt Nam? (3.2008) HẠT SẠN TRONG BỮA TIỆC Tản văn Thời gian này tôi đang tham gia khóa học CEO do công ty tổ chức. Đăng ký học vì thời gian này tôi khá rảnh và cũng vì tôi vốn ham học từ thủa nhỏ. Khóa học kéo dài tận ba tháng, học tất cả các ngày thứ bảy. Thế là sáng thứ bảy tôi không còn được ngủ nướng nữa, lọ mọ dậy sớm cắp laptop đến lớp. Đi học ngày nay sướng thật, ngồi trong phòng máy lạnh, có laptop WIFI nhí nhoáy vào mạng viết blog và đọc báo, thi thoảng liếc qua bài giảng của thày cũng trên laptop của mình ở cửa sổ bên cạnh. Ai không đem laptop thì cũng copy bài giảng của thày vào USB đem về nhà đọc lại thoải mái, chẳng cần giáo trình, tài liệu, sách vở làm gì cho mệt. Thứ bảy tuần qua, chúng tôi có một ông thầy đầu bạc, complê caravat lịch sự, GSTS, Tổng giám đốc một công ty liên doanh. (Ghi chú: GSTS là Giáo Sư Tiến Sĩ, không phải Gà Sống Thiến Sót). Thầy giới thiệu đã từng du học ở Canada, đã từng bôn ba năm châu bốn bể, tiếng Anh như gió, tuy nhiên trong khóa học này thầy sẽ ưu tiên giảng bằng tiếng Việt mẹ đẻ cho yêu nước. Vâng, giới thiệu về khóa học và về ông thầy hơi kỹ, chỉ để nhấn mạnh cho cái mục đích chính của tôi. Đấy là bắt lỗi chính tả trong bài giảng tiếng Việt của thầy. File powerpoint xanh đỏ tím vàng, hình ảnh động, âm thanh nổi, bấm slides chạy ra chạy vào đồng hành cùng các loại hình ảnh và âm thanh. Thế mà hỡi ôi, bài giảng “chất lượng cao” của thầy đầy rẫy lỗi chính tả và lỗi đánh máy. Ngoài những lỗi chính tả thông thường, người miền nam còn hay mắc lỗi lẫn lộn dấu hỏi và dấu ngã, lẫn lộn giữa t và c trong văn phong nói và kéo luôn cả vào văn phong viết. “Rũi ro”, “chia sẽ”, “xử dụng”, “xác xuất‟, “sác địng”, “chặc chẻ”, sẳn sàng”, tóm lượt”, “mồi lữa”… là một số lỗi trong bài giảng nhan nhản lỗi của ông thầy. Tôi ngán ngẩm nhìn bài giảng của thầy mà ước ao sao thầy không để nó nguyên bản tiếng Anh thì hay hơn nhiều dịch nó ra tiếng Việt. Tiếng Việt cha sinh mẹ đẻ của thầy mà sao thầy không thông thạo bằng tiếng Anh nơi thầy du học? Tôi có một thói xấu là khi nhìn thấy lỗi chính tả hay lỗi đánh máy trong sách báo nhất là trong văn chương… là thấy ngứa mắt và khó chịu vô cùng. Và rồi tự dưng tôi chỉ còn nhìn thấy mấy cái lỗi chính tả mà chẳng còn thấy bài văn bài thơ đó còn gì hay ho nữa. Cái cảm giác giống hệt như đang nhấm nháp sơn hào hải vị chợt nhai phải hạt sạn to đùng mẻ hết cả răng, chỉ còn một cách duy nhất là nhổ miếng ngon trong miệng đi. Trên mạng tôi may mắn được đọc khá nhiều nhà văn, nhà thơ, có danh cũng như vô danh qua blog của họ. Dĩ nhiên họ là những bậc kỳ tài trong việc tung hứng với các con chữ. Họ múa bàn phím toanh toách, bấm chuột nhoay nhoáy, thả thơ viết văn cứ như thả diều, nhẹ nhàng như chơi. Tuy nhiên, một số vẫn mắc phải những lỗi chính tả sơ đẳng nhất. Những lỗi chính tả này làm cho những bài văn, bài thơ tuyệt tác của họ trở nên… kém giá trị, thậm chí vô nghĩa đối với bạn đọc, giống y như những món sơn hào hải vị có sạn vậy. Vì vậy, hãy để ý nhặt sạn trước khi chuẩn bị món cho bữa tiệc của bạn nhé, hỡi các nhà văn nhà thơ vô cùng đáng kính. MY PAIN, YOUR GAIN! Tản văn Vào những ngày nóng bỏng trên thị trường chứng khoán này, tôi muốn viết vài điều tản mạn về thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Chứng khoán hiện đang là thời sự nóng của xã hội. Ở bất cứ tờ báo giấy nào, hay bất cứ trang báo điện tử nào, bạn cũng có thể tìm thấy mục thông tin về chứng khoán. Nhà nhà chơi chứng khoán, người người chơi chứng khoán. Người ta ví von thị trường chứng khoán của Việt Nam là canh bạc của những người giàu có và là lô đề của các bà nội trợ, quả không sai. Tôi có mấy cô bạn học cùng thời phổ thông cũng lao vào vòng xoáy của chứng khoán. Nga, một cô bạn xinh đẹp, nhanh nhẹn, tháo vát, buôn bán kinh doanh giỏi. Nga có vốn liếng kha khá cỡ vài tỷ trước khi lao vào chứng khoán. Nga không ngại ngần vứt toàn bộ vốn liếng vào chứng khoán, suốt ngày ngồi đồng ở các sàn giao dịch chứng khoán. Đến thời điểm tháng 3 vừa rồi, nghĩa là trước khi thị trường xuống dốc không phanh, Nga có khoảng 12 tỷ trong tài khoản chứng khoán của mình. Vì thế có thể gọi Nga là một “đại gia” trong “canh bạc” chứng khoán. Mai, cô bạn thứ hai, chỉ là một công chức làm công ăn lương, chịu khó, đảm đang nhưng hơi bị lạc hậu với thời cuộc. Mai chỉ có vài chục triệu gửi tiết kiệm đề phòng những lúc trái gió trở trời. Thế mà rồi khi bị cuốn vào “lô đề” chứng khoán, “tiểu gia” Mai cũng không ngại ngần vứt toàn bộ vốn liếng của mình, rồi của anh chị em, bố mẹ mình vào chứng khoán. Đến thời điểm tháng 3 vừa rồi, Mai cũng có khoảng 400-500 triệu trong tài khoản chứng khoán của mình. Thế rồi, thị trường chứng khoán đỏ ngầu, giá cổ phiếu xuống dốc không phanh khoảng 20-30% trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 5. “Đại gia” Nga có nhiều tin tức về thị trường, kịp thời bán đi vài tỷ trị giá chứng khoán khi thị trường đang ở đỉnh, thu hồi vốn chờ thời cơ khi giá thấp lại mua vào kiếm lời. Số dư tài khoản của Nga vẫn tăng lên mặc dù thị trường chao đảo. “Tiểu gia” Mai ôm giữ mấy chứng khoán cò con của mình, chậm chạp ngóng nhìn chứng khoán lên giá, đau đớn nhìn chứng khoán giảm giá. Đến nay, vốn đầu tư của Mai đã thụt đi khoảng 30% so với khi mua vào ở đỉnh. Tội nghiệp nhất là Mai đã gom góp hết từng đồng tiết kiệm của mình, của gia đình, rồi vay thêm ngân hàng đổ vào “lô đề”, để bây giờ ruột như xát muối khi thấy mình thua trắng. Ngạn ngữ châu Âu có câu “No pain, no gain”. Còn ở thị trường chứng khoán Việt Nam, câu ngạn ngữ này bị biến thái thành “My pain, your gain”. (5. 2007) MẶT TRỜI CỦA MẸ Tản văn Hôm nay con trai yêu quí tròn 21 tuổi. Có thể ở ta, tuổi 21 lẻ không quan trọng, nhưng ở nước ngoài, sinh nhật tuổi này làm long trọng lắm, đó là lễ trưởng thành của một con người. Qua tuổi 21, đứa con không còn phải ở dưới sự bảo mẫu của cha mẹ, được trưởng thành như một con người chín chắn, đủ năng lực, đủ trách nhiệm. Mẹ nhớ những ngày tuổi thơ đã đi qua của con khi mà mẹ đã cố gắng chăm sóc cho con bằng tất cả khả năng, bằng tất cả tình cảm của mình. “Vừa là mẹ, vừa là cha, Vừa là bà chủ vừa là osin”, mẹ đã cố gắng đảm nhiệm vai trò “bốn trong một” như một câu thơ tếu. Mẹ nhớ mãi kỷ niệm lần đầu tiên dẫn con đến lớp, nhớ cái bóng bé nhỏ của con nhút nhát, ngơ ngác đứng vào hàng cùng các bạn. Cái cảm giác thương con đến nao lòng, khi nghĩ rằng con sẽ không còn luôn được bao bọc trong vòng tay mẹ, mà sẽ phải bước vào cuộc đời đầy cam go thử thách. Mẹ cũng nhớ lắm cái ngày cùng con đến đăng ký vào trường đại học, con đã là một thanh niên cao lớn, tuy vẫn còn rụt rè, ngơ ngác giữa đám đông sinh viên ồn ào. Và chỉ ngay sau khi vào năm thứ nhất, con đã thử sức thi TOEFL mà hầu như không có chuẩn bị gì. Kết quả thi 630 điểm/660 max của con làm cho cả danh sách thi phải ghen tị và ngưỡng mộ, và mẹ thì vừa ngạc nhiên vừa tự hào về con như một bà mẹ hạnh phúc nhất trần gian. Sinh nhật con hôm nay, mẹ thấy con thực sự chín chắn, trưởng thành, mạnh mẽ. Mẹ tin là con trai của mẹ sẽ là một người đàn ông thành đạt trong tương lai. Mẹ tin con, tự hào về con và mẹ yêu con nhất trên đời, mặt trời của mẹ. (7.2008) LOVE ME, LOVE MY DOG! Tản văn Bên trời tây, thứ tự ưu tiên được cưng chiều thứ nhất là trẻ con, thứ nhì là phụ nữ, thứ ba là chó, thứ tư mới đến đàn ông. Người ta cũng có câu ngạn ngữ: “nếu yêu tôi, hãy yêu cả con chó của tôi”. Thực sự con chó là người bạn thân thiết của con người, con chó yêu người chủ của nó bằng một tình yêu hoàn toàn thuần khiết. Con chó đầu tiên của nhà tôi tên là Tô. Về sau, nhà tôi có nuôi thêm mấy con chó nữa và toàn đặt tên Tô để nhớ về nó. Tuy nhiên con Tô đầu tiên của tôi thực sự khôn ngoan và đã in dấu ấn vào tâm hồn thơ ấu của tôi như một kỷ niệm không thể nào quên. Hồi đó nhà tôi sơ tán ở Nho quan. Mẹ tôi mua một cái nhà có vườn rộng, có rất nhiều cây trái xum xuê quanh nhà, chạy nhảy trong vườn sướng mê ly. Ngay trong sân là một cây muỗm rất to, con Tô hay nằm ngủ ở gốc cây muỗm. Xung quanh nhà là mấy cây trứng gà, mấy cây na trĩu quả. Sát hàng rào là mấy cây nhãn, là nơi bọn trẻ tụi tôi suốt ngày leo trèo, nằm ngủ cả trên nhánh chạc ba của nó. Hồi đó tôi mới 10 tuổi, anh trai tôi 15 tuổi, em gái tôi 5 tuổi. Chúng tôi hay lục lọi sách vở của anh để xem, mà anh ấy thì ngăn nắp lắm, không thích bọn nhóc lục lọi. Buồn cười anh ấy đánh dấu sách vở xếp ngay ngắn, lệch khoảng mấy phân trên giá, về nhà thấy lệch khác đi một li là tra hỏi và bạt tai bọn tôi. Bọn tôi hay bị anh trai bắt nạt, nên ghét anh lắm, chỉ thích chơi với con Tô. Tôi yêu nó nhất nhà, tôi suốt ngày quanh quẩn bên nó, chơi đùa với nó. Tôi đi học ở chân đồi, con Tô ngày nào cũng lon ton theo tôi đi học. Nó hay ngồi ở cửa lớp, nhìn vào xem cả lớp học hành ra sao cứ như một ông thanh tra vậy. Vì ở xứ rừng núi nên tôi học giỏi nhất lớp, tôi khoái chí tưởng tượng thấy con Tô nhìn tôi ngưỡng mộ khi tôi được cô khen trước lớp. Con Tô hay ra vẻ khảnh ăn. Đến bữa không bao giờ nó chạy lăng xăng quanh mâm đòi ăn. Nó nằm dài ở sân, mặt ghếch ra ngõ, ra cái điều có mời chắc gì ta đã ăn. Hết bữa, tôi lùa hết thức ăn thừa vào bát của nó, phải gọi hai ba lần nó mới ngoe nguẩy đuôi uể oải đi vào, kiểu làm bộ, ăn cho vui thôi nhé. Ở góc vườn nhà tôi có một cái ao và một cái giếng nước ăn. Một lần đi tắm ở ao, tôi bị tụt chân xuống khỏi cầu ao, suýt chết đuối. Chới với bì bõm vì không biết bơi, may có con Tô nhảy xuống cắn áo kéo vào bờ. Một hôm tôi đi chơi về, thấy mẹ đang ngồi bên con Tô bị xích cổ vào gốc cây muỗm. Nó nằm im nhưng toàn thân run rẩy, đôi mắt ướt nhẹp ngước lên nhìn tôi cầu khẩn. Tôi hỏi mẹ làm gì con Tô thế. Mẹ tôi nói có lệnh cấm nuôi chó vì đang có dịch chó dại, đành bán nó đi cho mấy chú bộ đội trong xóm để làm thịt. Tôi vừa khóc lóc ầm ĩ, vừa đòi mẹ giữ nó lại. Mẹ nói không được, có lệnh cấm rồi. Chiều, có một chú bộ đội đến bắt con Tô. Khi chú ấy vừa bước vào sân, con Tô giật đứt xích và bỏ chạy. Mẹ tôi gọi mãi nó mới ngoe nguẩy đuôi chạy về. Ngờ đâu chú bộ đội nấp sau cánh cổng cầm gậy vụt nó một cái gãy chân. Nó kêu ăng ẳng rồi lại khập khiễng bỏ chạy mất tăm. Cả nhà đi tìm không thấy nó đâu. Chú bộ đội đành đi về. Tối đến, tôi đi lang thang vừa gọi nó vừa khóc. Thì ra nó trốn vào bụi cây, nằm im trong đó. Nghe tiếng tôi gọi, nói lừ đừ chui ra ngoe nguẩy đuôi. Tôi bế nó về cho ăn và băng chân cho nó. Nó nằm bên chân tôi, mắt ngước nhìn tôi van lơn. Tôi nhìn thấy nước mắt nó ứa ra ngoài khóe mắt, nó khóc như người. Tôi ngồi ôm nó khóc như mưa. Mẹ tôi cũng khóc, anh tôi cũng khóc, em gái tôi cũng khóc, cả nhà khóc. Tôi van xin mẹ đừng bán nó nữa, nhốt nó trong nhà trốn lệnh cấm chó. Mẹ im lặng không nói gì, chỉ thấy mắt mẹ đỏ hoe. Sáng hôm sau khi ngủ dậy, tôi không thấy con Tô đâu. Mẹ cũng đã đi làm. Tôi hoảng sợ chạy khắp nơi tìm con Tô mà không thấy. Hôm đó tôi bỏ học, đi lang thang khắp nơi tìm con Tô, vừa tìm, vừa khóc. Đến tối, mẹ đi làm về, mới biết sáng sớm mẹ đã giao con Tô cho chú bộ đội rồi. Tôi giận mẹ quá, vừa khóc huhu vừa chạy trốn khỏi nhà. Tối đó tôi bỏ cơm, trèo lên cây nhãn nằm ngủ, mẹ phải ra bế về nhà. Đêm đó tôi nằm mơ thấy con Tô bị giết, hai chân trước chắp lại van xin, nước mắt ròng ròng. Kết thúc bài viết này, tôi lại vẩn vơ nghĩ đến một câu blast trên blog: “Càng hiểu về loài người, ta càng thêm yêu quí loài chó”. “SORRY AIRLINE” Tản văn Nếu bạn đã từng có dịp hân hạnh vi hành cùng hãng hàng không quốc gia Việt Nam thì chắc chắn bạn biết hãng hàng không quốc gia Việt Nam nổi (tai) tiếng này còn có tên thứ hai là Sorry Airline do những vị “khách bị hành” ưu ái đặt cho. Tôi là một hành khách thường xuyên của hãng này, vì tôi luôn phải đi lại tuyến Hà Nội - TP Hồ Chí Minh vì lý do công tác, mà tuyến bay nội địa béo bở nhất này hầu như bị Sorry Airline độc quyền “phục vụ”. Ai cũng biết hãng này độc quyền “phục vụ” đến 90%, còn lại khỏang 10% là hãng Pacific Airline, một hãng anh em ruột của Sorry Airline. Tuy nhiên cái sự độc quyền này thậm chí còn được ưu ái qui định trong Luật hàng không của nhà nước ta thì không phải ai cũng biết. Sau đây là một ví dụ tiêu biểu của phong cách phục vụ độc quyền “hành khách” của hãng Sorry Airline. Ngày 15.10.2006, tôi dậy sớm từ năm h sáng để ra sân bay Nội bài, những mong kịp đáp chuyến bay 8:00 am của hãng Sorry Airline đi TP Hồ Chí Minh. Khi làm thủ tục tại quầy VIP, tôi thất vọng nhìn thấy một tờ thông báo dán trên mặt quầy “Vì LÝ DO KẾ HỌACH THAY ĐỔI, chuyến bay VN 213 sẽ bị chậm đến 8:40”. Một lý do vô cùng khó hiểu, kế họach bay trong ngày thay đổi vào phút chót và hòan tòan không được thông báo trước cho khách hàng kể cả khách hàng VIP. Chặc lưỡi thôi thì ngồi lê ở phòng chờ sân bay thêm 40 phút cũng là… “chuyện thường ngày ở huyện”, tôi làm thủ tục check-in và vào phòng chờ. Chăm chú với cái laptop và những cuốn sách ebook thú vị của mình, tôi hầu như quên mất thời gian cho đến 8:40. Lúc đó tôi chợt thấy lạ khi thấy nhân viên hàng không lật đật đẩy các xe chở mấy khay thức ăn đến gate số 2, nơi mà hành khách đi chuyến bay VN 213 làm thủ tục boading. Chắc chết rồi, khi mà hành khách bị “phục vụ” ăn sáng tại phòng chờ. Các quí khách lo âu và hồi hộp chờ đợi mãi đến 9:30 thì tiếng loa phóng thanh mới êm ái cất lên: “Xin hành khách chú ý! Hãng hàng không quốc gia Việt Nam xin trân trọng thông báo, vì LÝ DO MÁY BAY VỀ CHẬM, chuyến bay VN 213 đi TP Hồ Chí Minh sẽ bị chậm, giờ khởi hành dự kiến là 12:00. Hành khách nào có yêu cầu liên hệ nhân viên ở gate số 2 để được thông tin chi tiết hơn. Chúng tôi sẽ phục vụ quí khách bữa ăn sáng tại gate số 2. Chúng tôi xin lỗi vì sự châm trễ của chuyến bay.” Các quí khách kẻ thở dài ngao ngán, người văng tục chửi thề. Chuyến bay chậm đến bốn giờ đồng hồ vì những lý do lãng nhách thậm vô lý. Và điều này được thông báo cho quí khách một cách thản nhiên, chuyên nghiệp, tiêu biểu theo phong cách “Sorry Airline”. Tại gate số 2, các nhân viên hàng không mặc áo dài xanh nước biển thướt tha tụ lại thành một nhóm khỏang gần chục người, kẻ buôn dưa lê với đồng nghiệp, người ngồi buồn xa vắng sau quầy, thản nhiên vô cảm trước nỗi đau khổ của các quí khách “bị hành”. Cũng là bình thường thật, vì đây đâu phải chuyên lạ đó đây, và vì đây đâu phải nỗi đau khổ của các nhân viên phục vụ. Quí khách làm thượng đế mãi rồi thì cũng phải chia sẻ nỗi khổ với giai cấp phục vụ chứ? Tại sao Giám đốc của hãng không giảm biên chế ít nhất là 70% số nhân viên mặt đất tại đây, vì thực tế chỉ cần một nhân viên trực quầy cộng thêm hai nhân viên phát bữa ăn sáng cho khách. Cái cơ chế “xin-cho” được biểu hiện rõ rệt qua cách phục vụ quí khách của các nhân viên hàng không với vẻ mặt vô cảm, lạnh tanh và những câu nói khó chịu. Do nhiều chuyến bay bị dồn lại cùng lúc, các quí khách thậm chí không còn ghế để ngồi, đành ngồi bệt la liệt dưới đất để thưởng thức bữa sáng của hãng hàng không. Quang cảnh trông như một ga xép chờ mấy chuyến tàu chợ. Cũng phải nói thêm là mấy quán ăn trong phòng chờ của Sorry Airline phục vụ quí khách bằng cách chặt chém cắt cổ với giá cả tăng gấp 200300% so với thị trường bên ngoài. Điều này cho phép tôi nghi ngờ hàng không cố tình chậm trễ vài chuyến bay trong ngày để tăng doanh thu (và lợi nhuận tương ứng) của mấy quán ăn vốn ế ẩm vì chặt chém quá mức này. Chung qui cũng vì cái sự độc quyền mà hãng Sorry Airline có thể hành xử kiểu này với hành khách mà vẫn “bình chân như vại” không sợ mât khách. Quí khách đâu có lựa chọn nào khác là cứ phải tiếp tục vi hành cùng Sorry Airline, cho dù có “bị hành” đến cỡ nào đi chăng nữa. Hay là các quí khách chuyển sang vi hành cùng Đường sắt Việt Nam hay Đường bộ Việt nam? Cám ơn và hẹn gặp lại quí khách trên những chuyến bay tới của Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam. KIM OANH TIN NHẮN MỘT CHIỀU Truyện ngắn Bà mệt mỏi và đau đớn ngồi cạnh quan tài ông. Hai người lấy nhau do tình thương và sống với nhau vì nghĩa. Họ tôn trọng và có trách nhiệm với nhau. Thế là đủ cho sự yên ấm và các con thấy hạnh phúc. Nhưng quá thiếu cho những khi trời về chiều rơi vài hạt mưa, không gian u ám và hơi lạnh, để họ thấy cái giây phút được thổ lộ tâm tình với ai đó phải được tính đến trong bao nhiêu thời gian đi qua đời họ. Bà không làm thế, không phải bà quá bận, không phải bà thiếu lãng mạn hay bà không có ai theo đuổi. Chỉ đơn giản là bà nhìn tình yêu như một sự hy sinh mà đời bà hy sinh đủ rồi. Ông cũng sống như bà cho đến ngày ông gặp một cô bạn cũ đã mất chồng. Họ trao đổi qua điện thoại. Khi về nhà hầu như không bao giờ ông nhắn tin hay nhận tin, nhưng rồi bà cũng biết. Thay vì đau xót, căm phẫn thì bà lại ngồi im và nghĩ. Bà vẫn chưa biết làm thế nào để giải quyết chuyện này thì ông bị phát hiện ung thư. Ông nằm đó, mắt bạc phếch và trong veo như trẻ con nhìn ra khoảng trời bên cửa sổ. Rồi ông có tin nhắn và nhẹ nhàng trả lời tin nhắn. Bà tảng lờ dọn dẹp mấy chai nước, cất cam và sữa vào tủ. Tin nhắn không nhiều, khoảng 8 giờ sáng và 5 giờ chiều. Mỗi khi có tín hiệu bà lại vội vàng bật dậy đi tìm việc gì đó để làm. Dần dần bà cũng chờ tin nhắn như ông, nhất là khi thấy ông như khoẻ hơn khi có tin nhắn. Bây giờ thì ông nằm đó sau ba ngày không trả lời mà chỉ nhận tin nhắn. Bà run rẩy bật máy lên: “Không thấy anh trả lời tin nhắn nữa. Em nghĩ anh đã kiệt sức rồi. Thôi, đi đi anh, cái chết không có gì đáng sợ, chỉ là sự yên nghỉ thôi. Em vẫn ở bên cạnh anh”. “Anh sợ em nhìn thấy anh trong bộ dạng thảm thương, xộc xệch, tóc dựng đứng lên, tay gầy khô như que củi ư… Thì em vẫn nghĩ anh như vậy. Anh có đẹp trai bao giờ đâu”. “Để em kể cho anh nghe một câu chuyện vui…” “Anh biết không, mất ngủ lại làm em trẻ ra hay sao ấy, hôm nay em va phải một người đi đường, họ mắng em là: con điên. Đáng ra phải là bà điên chứ nhỉ…” “Em sợ quá và lo thắt ruột anh ạ. Có phải ngày ấy đang đến không anh. Ngày mà tin nhắn đi, anh không trả lời nữa ấy”… Bà đi tìm bộ sạc, cắm vào và nhìn những vạch đen chạy đều đều cho đến khi nó dừng lại. Nhón chân lên, bà đặt chiếc điện thoại trên ngực ông, nơi trái tim giằng xé giữa người đàn bà ông yêu và người đàn bà ông thương đã thôi đập. Tin nhắn được gửi đến để sưởi ấm trái tim ông dù ông đã ở dưới đất. Các tin nhắn một chiều. CHIẾC LÁ Truyện ngắn Cứ đi làm về, cơm nước xong là Bảo lại mang giấy bút ra gọi vợ ngồi bàn bạc. Em tính đi, đất mình còn rộng, trường cấp hai gần đây, bỏ không rất phí, nếu mình xây nhà trọ thì mỗi tháng sẽ có thêm vài triệu. Con cái mấy gia đình ở xa về học có chỗ ăn chỗ ngủ. Diệu ngạc nhiên vì xưa nay chồng có bao giờ nói chuyện làm ăn. Chính vì vậy cô cũng hăng hái tham gia. Bảo cũng lạ, bao nhiêu năm nay toàn lo chơi, hết bi da, bia bọt lại cà phê… giờ hai thứ tóc mới nói chuyện làm ăn. Mà cũng phải, Bảo đã quá bốn mươi, để Diệu chèo chống bấy lâu nay đủ mệt, giờ phải đền đáp chứ. Nhà xây xong, học trò thuê lèo tèo. Trong đám ấy có một con bé cực kỳ dễ thương. Hơi nhát nhưng biết ý. Mỗi khi Diệu cho nó cái gì nó đều cám ơn rất lễ phép. Vườn tược, nhà cửa nó quét dọn đâu ra đấy. Mới một tháng qua, cả hai vợ chồng Diệu đều quý nó. Nhất là Bảo, anh cứ suýt soa ước gì mình có một cô con gái như thế, con nhà ai mà xinh quá, hay mình nhận nó làm con nuôi đi. Diệu nghĩ thầm khi thì đòi con trai sằng sặc, giờ lại ham con gái, đúng là chả biết đằng nào mà lần. Mùa thu đã đến cả tháng mà khí hậu vẫn rất khó chịu. Cứ chiều về là oi bức đến ngạt thở. Mưa được còn đỡ, vần vũ mãi thì Bụt cũng phát cuồng. Hôm nay trời nặng muốn đè sập mái nhà mà vẫn không mưa. Bảo đi công tác chưa về, mấy đứa con ngủ riêng. Diệu ra nhà trọ gọi con bé qua phòng mình vì có máy lạnh. Hai cô cháu nằm bên nhau, Diệu hỏi nó vài chuyện nhưng hoá ra con bé cũng rất kín miệng, cái gì cũng dạ dạ, chả có mấy thông tin. Diệu nói nó ngủ đi rồi bật ti vi xem phim Hàn Quốc với những mối tình tay ba, tay tư bất hủ. Khi cô chuẩn bị tắt đèn thì bỗng nhận ra con bé co ro mé giường rất tội nghiệp. Diệu nhẹ nhàng luồn tay dưới gáy, bế nó nằm thẳng ra. Khi cô cúi xuống sát gương mặt nó, cô nhận ra mùi hơi thở rất quen. Bỗng một cảm giác lạ lùng không lý giải nổi len vào tâm trí cô, Diệu lật chiếc áo mỏng con bé đang mặc. Ngay phần bụng non tơ phập phồng nhè nhẹ của nó là một cái bớt màu đỏ hình chiếc lá. Đêm tân hôn hai mươi năm trước Bảo ngượng ngùng nói nhà anh ai cũng có cái bớt hình chiếc lá này, chỉ khác chỗ mà thôi. Ở anh là trên ngực, ở ba anh là phần bụng. Hai đứa con Diệu cũng có cái bớt này và Diệu hay tủm tỉm cười khi nghĩ đó là dấu vết để nhận biết con cháu dòng họ Trần Vĩnh của làng Đông. BÁT CÁM Truyện ngắn Bà Lỷ có bốn đứa con tất cả. Đứa 26, đứa 25, đứa 18 và đứa 10 tuổi. Số con và số tuổi của chúng tương ứng với lần và khoảng cách ông Phiệt chồng bà - về thăm nhà. Sau giải phóng ông Phiệt không về quê mà lần lượt đưa từng đứa con vào Phan Thiết, người cuối cùng của gia đình là bà Lỷ. Khi bà Lỷ đến, tôi mới sinh đứa con đầu lòng, khu tập thể đi làm hết nên bà hay qua nhà tôi chơi. Bà lép kẹp, nhàu như miếng thịt nách, tóc tai xơ xác nhưng ẵm cháu rất khéo. Con tôi ọ ẹ là bà ngọng líu ngọng lô: “Bà xương, bà xương”. Tôi ngạc nhiên nhiều điều về bà, khi bà làm như cả cái xóm Lộc ngoài Thanh Hoá là nhà bà vậy, ai cũng thân thiết, khi bà ăn một miếng thịt heo và hỏi tôi cái gì mà ngon thế, rồi bà tần ngần: “Nghe tên thịt heo nhưng chưa ăn bao giờ” Ông Phiệt ít khi về nhà. Người ta nói ông có bà Hai, bà Lỷ biết nên cũng ghen. Cái ghen của người hiền bao gồm nhắm nhẳng với chồng, lên nhà đối thủ đi loanh quanh hàng xóm ra chiều tôi là vợ ông Phiệt, rồi gặp đối thủ đưa đề nghị... Tất cả chẳng ăn thua gì. Ông Phiệt cứ đi và bà cứ ra cửa ngồi nhìn ngược ngó xuôi y như nông dân mất hết ruộng. Người miền Nam ít can thiệp chuyện nhà khác nên bà Lỷ chỉ âm thầm đau khổ một mình. Thế nhưng có một buổi chiều nhà bà ầm ầm tiếng quát mắng, tiếng đập chén dĩa, ông Phiệt nhảy tót lên xe, vừa đạp vừa chửi: “Tao không về nữa cho mẹ con mày ăn cám với nhau”. Bà Chiêu - hàng xóm - thì thầm : “Bà Lỷ dọn cơm cho chồng, mâm cơm có đúng một bát cám, ông Phiệt tát bà túi bụi, đá mâm cơm và chửi: mày coi tao là heo à”. Thiên hạ ngao ngán, gì thì gì chứ dọn cám cho chồng là quá hỗn. Tôi tiết kiệm tiền, mua nhà rồi dọn đi khỏi khu tập thể lầy lội ấy nên lâu lâu mới gặp bà. Mấy năm sau biết bà ốm nặng khó qua khỏi tôi mới lên thăm. Bà Lỷ nằm dán trên giường, thẫn thờ nhìn qua ô cửa sổ bé tí có mắc miếng rèm cũ bằng thun xanh. Khi tôi chào ra về bà mới kéo tôi lại: “Chị Oanh ạ, tôi dọn bát cám năm ấy là vì tôi từng ăn cám, ăn nhiều lắm, khi ông ấy đi xa, có cám mà ăn đã mừng, cho ông ấy ăn để ông ấy biết. Những năm ấy tôi sung sướng nhất đấy, vì không biết ông ấy xấu thế. Nếu tôi chết, chị cúng tôi bát cám là được.” Tôi hỏi ông Phiệt có biết bà từng ăn cám nhường cơm cho chồng khi ông về thăm không, bà nói ngày ấy không biết, bây giờ nói thì không tin. Đám tang bà Lỷ có đầy đủ chồng con và hàng xóm. Ông Phiệt đứng cạnh quan tài ụt ịt hỉ mũi. Chăm sóc vợ không làm ông ốm đi, nom ông giờ cũng non bảy yến. (Yến = 10 kg. Đơn vị đo lường cũ) ANH YÊU VẺ LƠ ĐÃNG CỦA EM Truyện ngắn Duy là nhà thơ, nhiều lần còn lên truyền hình, khác giới yêu anh mê mệt. Chưa chồng, đã bỏ chồng, còn chung sống với chồng... Giải thích vì sao họ yêu thì chịu nhưng cứ biết cả cuộc đời, từ khi mới trổ mã đến lúc ngoài năm mươi anh vẫn thường xuyên nằm trong tầm ngắm của mọi lứa tuổi phụ nữ. Duy không rõ lắm về chữ Mối Tình Đầu. Với anh, ai cũng là mối tình đầu. Khi yêu thì như điên như cuồng, ở bên nhau mà vẫn nhớ nhau. Xa một chút là phát hoảng loạn. Nhưng bao nhiêu cuộc tình rồi cũng đi qua, khi thì vì cái này, khi thì vì cái kia, khi thì chẳng sao hết, tự nhiên hết yêu. Anh khổ vì phụ nữ cũng nhiều như phụ nữ khổ vì anh. Tất nhiên người khổ nhất là vợ anh - người biết chắc là không bao giờ mất danh phận làm vợ nhưng cũng chẳng bao giờ giữ nổi chữ ấy cho trọn vẹn Bẵng đi một thời gian Duy chẳng yêu ai hết. Tự nhiên thấy bão hoà. Đẹp như hoa hậu cũng là cười cười nói nói, thông minh như mấy cô tiến sĩ cũng lý luận này kia khác nọ, nghe vui tai, hôn một cái lại quên biến, nói năng như mấy bà giật mình nói nhịu. Tưởng rằng thế là thôi, chán phụ nữ như chán vợ thì bỗng nhiên Duy lại gặp Khuê, một phụ nữ rất bình thường. Trong cuộc gặp mặt, ai cũng trổ hết tài ngoại giao, nào cười, nào nói, nào hỏi thăm, nào khuyên nhủ, nào hứa hẹn giúp đỡ... Trong những sự ngạc nhiên thích thú giả tạo, những lời ngon ngọt chỉ cần thay tên người nhận là dùng ở đâu cũng còn tính thời sự thì Khuê lại im lặng lơ đãng nhìn ra cửa sổ. Tóc cô... hình như dài vừa phải, hơi mỏng. Dáng cô... hơi cao, hơi gầy, có vẻ nữ tính chứ không bốc lửa... Mắt cô... mí khá rõ, lông mi dài nhưng không cong vút mà lại thẳng như đan vào hàng mi dưới khi cô chớp mắt. Cô ngồi im lặng nhìn ra ngoài, chân đung đưa. Duy nhìn đôi chân cô. Tuyệt. Không mang vớ, không mang giày, chủ nhà quy định thế. Bàn chân nhỏ, nếu sống vào đời nhà Thanh bên Trung Quốc chắc không phải bó chân. Một đường gân xanh mờ mờ chạy từ khe giữa ngón cái và ngón bên cạnh lên đến cổ chân. Nghe bảo nếu bàn chân có đường chỉ chạy vào giữa hai ngón ấy thì sẽ là một... ngôi sao giường chiếu. Bàn chân cô không mập mạp như chân trẻ em, không gầy guộc như chân vợ anh. Nó vừa yếu ớt vừa không mất sức sống. Duy nhớ Mạc Ngôn đã tả đôi bàn chân của cô dâu trong Cao lương đỏ: Như một cánh chim non. Anh nhìn bàn chân cô hồi lâu, quay đi, rồi lại nhìn tiếp. Ao ước được ủ nó trong đôi bàn tay to và thô của mình, chắc nó sẽ mềm mại lắm. Khuê bắt gặp ánh mắt Duy, chỉ thoáng qua nhưng cô hiểu. Cô thôi đung đưa chân nhưng vẫn lại nhìn lơ đãng qua cửa sổ. Duy xin số điện thoại của Khuê, làm thơ tặng cô, nói thích cô. Anh biết cô đã ly dị, anh thì không, nhưng với anh, yêu và có vợ cũng hiển nhiên như bao chuyện khác. Dần dần hai người đi chơi với nhau. Cô vẫn hay nhìn ra ngoài khi câu chuyện tạm gián đoạn. Không hồ hởi, không quan tâm đến sự nổi tiếng của anh, không hỏi thăm công việc của anh, cô cứ thế ngồi nghe anh nói, đôi mắt lâu lâu lại lang thang đâu đó trong miền ký ức và trong trí tưởng tượng. Duy nghĩ mình yêu cái vẻ lơ đãng của cô. Nó có cái gì đó vừa xa lạ vừa thân quen, vừa sang trọng vừa yếu ớt, vừa dựa dẫm vừa thờ ơ... Người ta vẫn nói, trong tình yêu, ai yêu nhiều hơn người ấy là nô lệ, chắc thế. Duy nhìn thấy trong cái lơ đãng ấy bao nhiêu điều người khác không có. Ít ra cô không hề choáng trước tên tuổi của anh, không vụng về khi anh cứ chiếu cặp mắt đục cả đi vì si mê vào cô. Cô ngồi im làm công việc trong đầu óc của mình mặc kệ anh với một trí tưởng tượng còn kinh khủng hơn gấp nhiều lần. Cứ thế... Một ngày, anh đem chuyện ấy nói với ông bạn thân nhất. Ông bạn hạnh phúc như giời nghe hết câu chuyện một cách kiên nhẫn giống như ta từng nghe người đang yêu thổ lộ, dù chán đến tận cổ thì vẫn phải nghe vì biết bên nói sẽ chẳng bao giờ ngừng nói, cho đến khi hết yêu. Nghe xong, ông trầm ngâm: “Ông nói yêu vẻ lơ đãng ư, vì nó chạm tự ái ông chứ gì. Cô ấy mà vồ lấy ông thì ông cũng sẽ bỏ như bao cô khác. Vậy, tôi nói cho ông biết, cái vẻ lơ đãng ấy chỉ là tạm thời thôi. Vì sao ư? Phụ nữ khi yêu họ tự chia tình cảm của mình ra nhiều giai đoạn lắm. Đầu tiên các nàng ngúng nguẩy chờ dỗ dành, rồi các nàng lim dim tận hưởng tình yêu. Thế rồi mọi chuyện hỏng bét khi các nàng thể hiện quyền chiếm hữu nô lệ. Nào là anh ăn chưa, hút thuốc ít thôi, mặc đồ ấm vào, ngủ sớm đi... Nhà thơ như ông lại còn khổ gấp mười vì rồi ông sẽ chẳng làm thơ cho nàng nữa, nghĩ tới nàng chữ nghĩa nó chạy hết. Khi ấy sẽ là bài thơ này cho ai, quen ở đâu, sao lại không có ai, hình tượng để làm thơ là thế nào... Tóm lại, vẻ lơ đãng không còn. Tôi cũng từng yêu một cô như thế, ban đầu cô ấy lơ đãng, sau này là tôi lơ đãng, rồi cả hai cùng lơ đãng.” Rời nhà ông bạn, Duy vừa đi vừa nghĩ: “Nếu nàng mất đi vẻ lơ đãng thì mình có yêu nàng không nhỉ? Có thể có chứ vì nàng đáng yêu, nàng có bàn chân rất đẹp, được người yêu quan tâm thì tốt chứ sao. Nhưng cũng có thể không vì nàng lại giống vợ ta”. Duy hốt hoảng nhớ tới vợ mình. Ừ nhỉ. Hồi ấy mình cũng yêu nàng ghê gớm. Nàng rất ngây thơ, hỏi cái gì cũng đáp lại bằng câu: “Anh bảo gì cơ ạ?”. Nghe sướng thế chứ lỵ. Cứ tưởng nàng coi mình bằng giời nên mới thế. Sau này cưới rồi, có thai, nói em đọc thêm sách báo xem ăn uống thế nào cho tốt, đáp “Anh bảo gì cơ ạ?”. Nói nấu canh cải mà cho hành vào ăn gắt lắm, sao em không bỏ gừng, đáp “Anh bảo gì cơ ạ?”. Chán. Nhưng con cái cứ ùn ra, đứa nào cũng thiên thần mê ly, bỏ thế nào được. Thôi thì cứ yên tâm xây dựng hậu phương vững mạnh, Duy ra tiền tuyến kiếm cảm xúc làm thơ viết văn, lấy tiền về nuôi nơi thiếu cảm xúc... Chợt điện thoại báo có tin nhắn, Duy dừng xe, móc túi quần. Nàng... Tin nhắn: “Trời đang mưa. Chắc anh lại đang hút thuốc, vừa phải thôi anh ạ, thuốc lá có hại lắm”. Duy thẫn thờ nhìn màn hình điện thoại cho đến khi nó tắt đi, anh không trả lời và chợt thấy mình lơ đãng. NHỤC HƠN CON ĐIẾM Truyện ngắn Hai chị em ngồi im lặng cả giờ. Mỹ bối rối vì lần đầu tiên thấy Sơn có mùi rượu mà cô lại không dám hỏi. Cô chờ mãi, chờ mãi cho đến khi Sơn hỏi cô nghĩ sao về Sơn. Nghĩ sao à, có gì đâu nhỉ. Sơn rất đẹp trai, trắng trẻo và thanh tú, Sơn mười tám tuổi… Sơn buồn buồn nói em nhục hơn con điếm. Mỹ giật mình. Các cô gái cave dù có ăn mặc, để đầu tóc như mọi người thì vẫn bị những con mắt trong sạch của thiên hạ nhặt ra khỏi đám đông. Vì thế các cô thường ít dám đi chơi. Nhưng Mỹ tưởng Sơn không biết nghề của cô. Vậy chắc Sơn nói câu ấy là để an ủi cô, có ai nhục hơn một con điếm đâu. - Cách đây hai năm em làm ở cơ sở massage của tỉnh. Lão ấy đến vài lần rồi giở trò với em. Em không dám gay gắt mà chỉ gạt tay lão ra và không xoa bóp nữa. Lão ấy góp ý với hội trưởng là em gây khó khăn cho khách nên cuối cùng em phải thôi việc. Em đã đi một nơi nữa nhưng cũng bị lão theo, đây là nơi thứ 3 và có lẽ cũng là nơi cuối cùng. Hồi chiều lão đến, bảo em nếu khó chịu thì làm một ly rượu. Cái cảm giác chiều nay ấy… buồn nôn lắm. Đó cũng là cảm giác thường trực của Mỹ. Những bộ mặt nhầy nhụa mồ hôi, những cái miệng mùi chuột chết, những bàn tay xù xì rách da rách thịt… Nhưng sao Sơn không thấy cô nhục bằng nó? - Chị dù sao cũng thuận theo lẽ tự nhiên khi phải chung đụng với đàn ông. Còn em… Em cũng biết em khó mà lấy vợ nhưng em cũng ham muốn con gái. Lão ấy cứ bất chợt đến, không biết lúc nào để mà đề phòng, chỉ chọn mình em, bỏ ra 40.000 đ và em phải xoa bóp cho lão một giờ theo quy định một suất massage. Lão nằm đó, tận hưởng em, sờ soạng em, bóp em đau điếng. Em hết đường rồi, em có phải là điếm đâu mà hoàn lương. Mỹ nghe lòng quắt lại, ừ đúng là nghề của cô vẫn còn có một con đường. - Chị ạ, chiều nay em không khóc nữa nhưng em cứ bị nấc. Những tiếng nấc dội vào lòng em, y như đè trái tim em trĩu xuống. Xuống đến gan, ruột non, ruột già... Khi em đi cầu trái tim em sẽ đi ra luôn. Mà cho dù nó không ra thì cũng thối lắm rồi. Mỹ nhìn Sơn qua hàng nước mắt. Sơn làm sao đổi nghề được, làm sao thoát được gã nửa đàn ông - nửa đàn bà kiên nhẫn, tham lam và nhiều dục vọng ấy được. Nó chỉ là một đứa bé nghèo khiếm thị phải đi làm cho cơ sở massage Ánh Sáng. “CÁI TÔI” LÀ CÁI GÌ? Truyện ngắn Cu Thịnh yêu cái Nhi. Cả hai nhà đều nghèo nên cuối cùng cu Thịnh về ở rể nhà cái Nhi, làm phận chó chui gầm chạn. Nhà Nhi tuy có rộng hơn nhà Thịnh nhưng cũng ba cặp vợ chồng cùng bố mẹ, ông bà và một đống cháu. Đứa thì mới biết bò, đứa lớp một, đứa đã biết nhìn xem trên ngực áo bạn gái có cái gì cao cao. Vì thế ban ngày mọi người toả đi làm, hít thở bụi đường, bụi máy xay gạo, bụi rê thóc... Ban đêm các cặp vợ chồng đều nín thở. Anh Thịnh nín thở mệt nhất vì vợ chồng anh trẻ nhất, lại có cái giường kê ở trung tâm “phòng ngủ” cả nhà. Giường cũ, không mấy chắc chắn và không thèm giữ trật tự. Tuy nín thở, anh chị cũng có ba đứa con. Bác Thịnh được đi tập huấn một lớp ngắn hạn và về làm ở xã, chỉ là làm việc nhỏ thôi nhưng đó cũng là một bước đổi đời. Bác như trẻ hẳn ra, mặt mày hồng hào, nói cười mắt tít lại. Bà con trong thôn ai cũng bảo cứ tưởng phụ nữ mới hồi xuân ai dè nam giới hồi xuân nom cũng tình tứ phết. Từ đó, bác Thịnh hay đi họp trên xã, trên huyện, thậm chí có lần còn được đi báo cáo trên tỉnh. Mỗi lần đi về bác đều mua quà cho vợ, những món quà khiến bác gái cứ vừa liếc trộm vừa bảo ghê chết. Cụ Thịnh nay đã già, ngồi gối cao hơn tai. Cụ hay xem phim Hàn Quốc và cũng hay thở dài nhìn vợ. Người viết bài này dịch cái thở dài như sau: “Tội nghiệp bà Nhi, bà ấy chưa bao giờ biết cái tôi là cái gì. Mình cũng suýt không biết, may mà mấy cô ở khách sạn…” NẰM NGHIÊNG NGHIÊNG BÊN ĐỜI Truyện ngắn Lâu lâu ra đường Ngân lại nhìn những chiếc ô tô đang lao về phía mình và nghĩ: “Có khi nào chính nó đâm chết mình không nhỉ”. Chiếc ô tô không đâm chết Ngân nhưng nó làm cô bị thương rất nặng. Hai tháng sau Ngân xuất viện với nửa gương mặt biến dạng vì mất một con mắt và vì sẹo. Gia đình Ngân ai cũng đẹp. Các nét trên gương mặt họ chuẩn xác đến nỗi qua bao nhiêu lần kết hôn, cho dù có khác đi một chút thì dòng họ của họ vẫn gồm những người đẹp. Với họ, nhan sắc giống như một thứ tài sản. Từ đó họ mua được sự tự tin, lòng mến mộ và nhiều thứ khác nữa như việc làm, bạn bè... Với người không nhan sắc, họ có nhiều tài sản ngang ngang giá. Nhưng người đẹp thì nhan sắc là tài sản lớn nhất. Mất nó, có nghĩa mất nguồn quan trọng và họ thấy hoảng hốt. Ngân cũng vậy. Một lần thức giấc, cô thấy chồng đang chăm chú nhìn mình. Từ đó cô biết cô đã bị thẩm định lại giá. Cô chuyển từ tư thế nằm ngửa thoải mái sang nằm nghiêng, nửa gương mặt với con mắt giả trao tráo chết chóc vùi sâu vào bóng tối, vào lớp chăn tơ tằm mềm mại. Cô bỏ việc làm, ở nhà và từ sáng đến tối dành hết thời gian trả lời câu hỏi: Sống tiếp hay là chết. Thật may, thời buổi này ai đi ra đường cũng che mặt kín mít, đến con mắt cũng biến mất sau tròng kính đen sì. Ngân che mặt, đeo kính đi chợ và tìm thấy cảm giác thoải mái, quyền uy trước kia. Cô hỏi giá, trả giá, chê bai hàng không chất lượng, dạy bảo người bán vài câu theo kiểu “Lời khuyên của thượng đế” rồi về. Thế giới không ai nhìn thấy cô dần dần lấn át thế giới thực. Từ đó, Ngân đến với mạng. Cô lập blog, lấy tên giả, nick đẹp và bắt đầu đưa những chuyện xưa nay chỉ ngồi lê đôi mách với đám nhân viên văn phòng lên. Cô có nhiều thời gian, sự buồn chán cô đơn khiến cô quan tâm đến mọi người, nhất là người không may. Cô trả lời ân cần các cảm nhận và dần dần, cô thành một ngôi sao blog. Những khi không có chồng, Ngân lại nằm thoải mái nhớ đến những lời trao đổi trên blog và mỉm cười thú vị. Ngân đã biến mất trước cuộc đời thật. Nhưng may mắn là có một cuộc đời khác để cho cô tiếp tục sống. ĐẶC CÔNG THỦY LÊN BỜ Truyện ngắn Xóm nhà chồ ven sông Cà Ty cứ khoảng 9 giờ tối là leo lét đèn, phần lớn đã đi ngủ, vài nhà thức thì cũng rón rén như đã canh ba. Nhưng có một căn nhà bé tí thì thường xuyên để đèn. Thụy chọn chỗ ấy để tiếp nước. Sau khi vo quần dài và chiếc áo thun lại một cục tròn như trái bưởi, Thụy nhét nó xuống dưới một miếng ván kênh lên rồi nhẹ nhàng trườn đi. Bàn chân tiếp nước mát lạnh khiến Thụy muốn nở một nụ cười. Cuộc đời trai trẻ của Thụy gắn với sông nước ở đảo Phú Qúy. Chẳng biết tại sao người vợ lấy do yêu nhau đến phát khùng lên cuối cùng cũng thấy chán. Thực ra là cô ấy chán Thụy. Anh không đáp ứng một vài điều gì đó của cô. Thế thì chia tay, con còn nhỏ được giao cho mẹ. Ra quân không vợ, không con, không tiền… nhưng ông chú lại gọi về cho một mảnh thanh long đang thu hoạch, bảo: “Làm lấy mà ăn, về quê cũng thế, ngoài ấy tất đất tấc vàng chẳng chen nổi đâu, khéo lại sinh chuyện giành giật anh em mất thân thiết”. Thụy ở lại, chẳng biết trồng thanh long là gì nên cứ loanh quanh mấy lão nông trong xóm hỏi kỹ thuật. Ai thấy anh chàng hiền lành, rắn rỏi lại có cái mác đặc công ra cũng muốn gả con gái cho. Thụy ngán đàn bà nên cứ ừ hử thoát thân đã. Lạ một nỗi cái nghiệp nước nó chẳng tha anh. Cứ ngày quần quật với vườn, tối Thụy lại xuống sông. Sông Cà Ty thông ra biển, khúc trong hẹp, càng ra ngoài càng rộng, bơi vài trăm mét là đã nghe sóng đập ì oạp. Nước sông, nước biển giao hoà lúc mặn lúc lợ. Mùa tôm vào đẻ, đi bắt tôm là cái thú không thể bỏ được của Thụy. Thế giới dưới nước yên lặng của anh và bọn tôm rất thân thiện, Thụy đi theo chúng, nhẹ nhàng, không ra tay, cả hai bò dọc bờ kè nhích dần vào trong, đến một vách đá nhô ra nào đó thì nghỉ. Thụy nhìn nó, mỉm cười, khoát tay trườn đi. Đôi khi anh mang theo những chai nhựa đựng nước khoáng cũ, bỏ thức ăn vào trong, lũ cá đối chui vào ăn rồi không ra dược, chỉ cần cầm chai lên xóc một cái là cu cậu văng ra, giãy đành đạch. Đi nhờ cái nhà chồ đó đến ngày thứ ba thì Thụy phát hiện chủ nhà là một cô gái, vóc dáng còn trẻ, cô ngồi quay lưng về phía cửa, chưa bao giờ quay lại. Quan sát phía dưới nhà thấy buộc một chiếc xuồng nhỏ có mấy cái cần xế đựng trái cây, bếp lò, can nhựa… thì ra cô nàng chèo xuồng đi bán dạo trên sông. Người nghèo, nhà chẳng có gì, chỉ mỗi cái ti vi lúc nào cũng phát đủ thứ chương trình, nối nhau như một nhiệm vụ bất di bất dịch. Cô ta chắc chưa chồng. Con gái vùng biển lấy chồng cũng không khó nhưng không biết tại sao chủ nhân căn nhà lại ở không suốt, chẳng thấy đi chơi. Thụy quan sát cô ta nhiều lần nhưng cô ta chẳng hề hay biết. Vì thế mới có chuyện oái oăm là bỗng dưng một đêm nghe tiếng dội nước. Thụy vừa định thò chân xuống sông, giật nảy cả mình, nhìn lên, cô ấy đã bắt đầu việc tắm rửa của mình. Anh vội vàng lao đi, khi về nhìn thử xem chủ nhà ngủ chưa mới lên bờ. Ngày hôm sau cũng vậy, rồi ngày hôm sau nữa. Bây giờ thì Thụy biết cô ấy chẳng hề nghĩ mình bị quan sát. Người khá mảnh mai, chắc do nhiều năm chèo thuyền, tóc dài che hết một phần lưng khi tắm, đèn mờ không nhìn thấy rõ mà cũng chẳng cần rõ, Thụy thấy người ngây ngây như sốt. Muốn chuyển giờ ra sông để tránh cảnh đáng xem mà không dám xem, nhưng chẳng hiểu sao cứ đến giờ đó lại đi, lại vo quần áo nhét xuống miếng gỗ, lại nhìn lên và nghe tiếng nước xối. Nhưng qua đến ngày thứ bảy thì Thụy lên cơn sốt thật ngay khi vừa về đến nhà cô gái, anh cố leo lên miếng ván bắc làm cầu rồi nằm vật ra. Biết cô gái đỡ mình vào, lau người, thay quần áo dùm, rồi xoa dầu… Khuya anh tỉnh dậy, cơn sốt qua đi nhanh như nó đến, thay vào đó là một cơn sốt khác khi nằm cạnh là cô chủ nhà, mềm mại ấm áp. Anh ngồi dậy, chưa biết làm gì thì một cánh tay đã nhẹ nhàng níu anh xuống. Má con gái mịn như nhung, hơi thở thơm mùi một loại trái cây nào đó mà giờ này anh không nhớ nổi, mái tóc dài quấn lấy hai người. May mà nhà chồ cũng còn vững… Thụy đưa cô về giới thiệu với chú. Cô tên là Ba Ngọc, đã 27 tuổi, chưa chồng, đúng là quanh năm chèo đò đi bán dạo cho các thuyền nào là nước ngọt, rượu, trái cây… Chú Thụy thở ngắn thở dài. Khi Thụy đưa Ngọc về, quay lại, chú bảo: - Chú biết nhan sắc là thứ có hay không cũng chẳng quan trọng nhưng đàn bà con gái mà hỏng hết một mắt thế này thì… Thụy cười: - Chuyện đó có sao đâu chú. Ông chú cũng thiếu lý lẽ nên chịu thua. Ngọc kể hồi bé bị anh trai xô ngã trúng cọc nhà nên bị hỏng một mắt. Vì thế cô không lấy được chồng. Thụy nhìn Ngọc nghĩ: “Không hỏng mắt thì chẳng đến lượt mình”. Lạ là anh chẳng thấy chuyện cô chỉ có một mắt là quan trọng. Cô nhìn rất uyển chuyển, người mềm mại như sợi dây mây, người nhỏ nhưng ngực nở nang, rất thích. Những lúc hai người với nhau trong đêm Thụy chỉ muốn cô xấu bớt đi để chẳng thằng nào nhòm ngó. Ba Ngọc yêu Thụy như điên, lúc nào mắt cũng cười, miệng cũng cười, da mặt cứ hồng rực lên. Vắng người một chút là đứng sát vào, không làm được gì thì cũng chạm chân, chạm tay. Thụy cũng say Ba Ngọc đến mệt chết người, nhưng anh chẳng dừng lại được. Chín tháng sau Thụy lên chức ba, con gái, rồi năm rưỡi sau một lần nữa, con trai. Dân trong làng xì xào về cô dâu một mắt giờ đã hoan hỉ chúc mừng. Ngọc chẳng bao giờ nề hà chuyện chồng mình giúp đỡ hàng xóm nên cuối cùng cô cũng được yêu thương. Tôi nghe bạn bè xúi mua một miếng đất gần nhà Thụy nên lâu lâu chạy sang chơi. Thấy bên hiên nhà lúc nào cũng có một cái thúng chai loại đường kính miệng một mét, rửa sạch sẽ. Một ngày lai rai bên bàn nhậu, Thụy cười cười: - Hồi mới lấy nhau, hỏi bả thích gì, bả nói thích được tắm trong bồn tắm. Trời đất ơi, ngư dân mà thích bồn tắm. Bây giờ chưa đủ tiền xây nhưng tui xin lại cái thúng chai cũ, trét dầu rái lên, đêm nào bả cũng tắm, khoái muốn chết. - Hình như chuyện của hai người cũng bắt đầu từ tắm táp gì đó phải không. Tôi hỏi dò Thụy nháy mắt, ghé tai tôi: - Nói ra quê chết nhưng mình là đặc công thuỷ mà thua bả. Tui đi giờ nào, về giờ nào bả biết hết. Bả ưng tui, mà tui không dám nên bả lập phương án mới. Bả quyết định tắm vậy… vậy đó, để tui hết chịu nổi phải nhào vô chớ sao. Tôi phì cười phun cả rượu ra, nếu Ngọc không làm vậy thì cô ấy đâu lấy được chồng, Thụy đâu có vợ, mà lại là một cặp yêu nhau đắm đuối mới vui chứ. Trong trường hợp này sex đúng là hiệu quả. Tiếng cười thoải mái của hai gã đàn ông còn “sung” vang dội khiến Ba Ngọc tò mò. Thấy chúng tôi ngả nghiêng, Ba Ngọc nguýt một cái bằng con mắt còn lại. Tình tứ, duyên dáng quá, tôi cũng thấy xốn xang nên ra về. HƠI THỞ CỦA BIỂN Truyện ngắn Hai người đi bên nhau trên bãi biển xâm xấp nước. Cát trong khu du lịch cao cấp mịn và trắng không một cọng rác. Ánh trăng yếu ớt chiếu lên những con sóng lâu lâu lại làm ướt bờ cát. Không nói. Họ quen và thân nhau trên mạng. Nói thân thì thật tức cười khi hai người chưa từng giáp mặt. Nhưng điều đó là sự thật, họ biết tính nết của nhau rõ đến nỗi tất cả những ẩn ý đều được bên kia đón nhận mà không ai trên blog đoán ra. Cứ như thế, từ thế giới ảo họ bước ra thế giới thật. Bây giờ cũng vậy, dù không ai nói ra nhưng họ hiểu người kia đang nghĩ gì và họ vui vì ấn tượng mà mình mang lại. Long hít vào một hơi thật sâu để nén những cảm giác xao xuyến đang dâng lên mỗi lúc một mãnh liệt trong anh. Trên blog, Ly đưa một bông hoa màu trắng thay cho bức chân dung. Cô hay tự nhận mình là một bà già xấu xí và nông cạn. Chỉ có những vần thơ cô viết là đằm thắm. Vì thơ mà Long có cảm tình với cô. Anh cũng nhận mình là một nhà thơ tỉnh lẻ, thực tế Long là một kỹ sư và anh viết cho đỡ căng thẳng khi cuộc sống càng ngày càng không như anh mong muốn. Chữ đẹp không xứng đáng với Ly bởi người đẹp là tác phẩm tâm đắc của tạo hoá nhưng cô lại là phút xuất thần không bao giờ có lại lần thứ hai. Cô có gương mặt thanh tú đến lạ nhưng cái nhìn thẳng thắn không chút bối rối. Cô hầu như không nói nhưng tất cả mọi suy nghĩ đều được diễn đạt qua đôi môi xinh như hai chiếc vỏ sò. Khi mới nhìn thấy Long lần đầu, Ly cười thật thoải mái, đôi môi ít son phấn xếch lên vui vẻ. Khi anh nói không ngờ cô thật xinh đẹp, trên đôi môi cô có một chút làm như mỉa mai nhưng rõ ràng nó cũng ẩn giấu một nụ cười. Khi anh định khai thật về mình, anh nhìn vào đôi môi cô và không nói nữa. Còn bây giờ đôi môi ấy hơi dẩu ra, nửa như ham hố, nửa như dỗi hờn. Long cố nghĩ rằng mình không có ý định hôn cô một lần cho đỡ khát khao. Phía xa, những chiếc thúng chai nằm um úp thân thiết bên nhau. Đêm có trăng nên thuyền câu mực không giăng một thành phố diễm lệ trên mặt nước. Không gian vắng vẻ trong thanh bình. Bóng những tàu lá dừa đan qua đan lại trên đất khiến cho hai người muốn đi gần nhau hơn. Tiếng bọn dế ra uống sương đêm và ăn cỏ non da diết giục người ta tìm đến những gì tươi sáng nhất. Không ai bắt đầu cất tiếng vì họ rất sợ cảm giác yên ổn trong mỗi người bị phá vỡ mất. Những xao xuyến đi nhè nhẹ trong tim. Qua một rãnh nước đang cố len lỏi ra biển, Long kéo Ly dừng lại. Anh không ngờ cô ép sát vào anh, gọn trong một vòng tay. Lần đầu tiên Long có cảm giác thật rõ ràng khi ôm một người vừa tầm mình đến thế. Cơ thể cô mềm mại, rắn chắc và ngoan ngoãn toả ra một hơi ấm dịu nhẹ. Hương thơm từ mái tóc cô lẫn trong mùi mằn mặn của gió biển, gương mặt cô vương những hạt cát li ti nhưng đôi môi mượt mà mềm như lụa, ươn ướt và có mùi của trái sơ ri vừa chín. Trời nổi gió, một con sóng ào đến vỡ tan trên cát lôi hai người ra khỏi thời gian mê mải mà họ không thể đo đếm được. Đêm qua đi rất nhanh trong nỗi nhớ về đôi môi dịu dàng của Ly, nỗi nhớ về cơ thể ấm áp và mềm mại của Ly, về mùi hương cô mang theo, về cái nhìn ẩn chứa điều gì đó còn chưa nói hết. Ngày hôm sau Long về tới Sài Gòn. Anh vội vàng mở máy, tìm vào trang cô. Một dòng chữ đập vào mắt: “Không thể đọc ra các chủ đề mà bạn yêu cầu”. Anh bấm F5 nhiều lần nhưng tất cả đều vô ích. Điện thoại Ly chưa một lần trong vùng phủ sóng. Qua nhà của mình, Long thấy một cảm nhận mới: “Em phải đi xa, không bao giờ còn là thành viên của blog này nữa. Hãy nhớ về em một chút nhé”. Người viết ký tên: “Hơi thở của biển.” Long ngây người. Một sự ban phát, một chút phiêu lưu, một tình yêu kìm nén, một kỷ niệm ngọt ngào… hay là tất cả? Long ngồi trên blog hai tháng nữa để biết rằng tất cả vẫn là thế giới ảo. Hay chính đêm ấy cũng là ảo giác. Hay anh chưa từng gặp Ly trên đời. Cô là ai nhỉ, cái tên Ly là thật hay chỉ là một cái nick. Cô có gia đình hay độc thân, cô có yêu anh không?... Tất cả các câu hỏi đều không bao giờ được trả lời. Nó thuộc về thế giới ảo. Thế giới đẹp bàng bạc và không có thật. LẠI CHƯA BIẾT TÊN Truyện ngắn Trái với suy nghĩ của Phi, Thành - thằng con trai một sếp trên Uỷ ban gửi không chỉ hiền mà còn rất ngoan. Những ngày đầu đi làm, Thành đến trước chờ cô tạp vụ rồi cùng dọn nhà vệ sinh, lau bàn ghế, rửa ấm chén... Những bộ quần áo đắt tiền của nó lem luốc, trán lúc nào cũng lấm tấm mồ hôi. Có gì để làm là mắt nó sáng rực lên, cười như hoa nở. Can thì Thành bảo: “Ở nhà má con không cho làm gì, chán lắm”. Thấy vậy, ai cũng ý tứ hơn, uống xong đổ nước cặn, úp ly, rác bỏ vào giỏ công văn ngay ngắn trên bàn… Có lẽ ai cũng muốn thằng bé khỏi mệt công đi dọn. Vì thế chỉ một tuần sau Thành lại hết việc, nó sà bên này bên kia: “Chỉ cho con làm đi, con làm được mà”, nhưng ai cũng nựng nó một cái rồi kêu nó đi chơi đi. Nó trượt Đại học thì đi làm chứ đã được đào tạo gì đâu. Thành buồn, ngồi thừ ra, đôi mắt trong veo nhìn lung tung. Buổi chiều Phước chạy như bay vào phòng đưa cho Phi một tờ giấy cũ kỹ, úa vàng: - Anh ơi, người dẫn đường đi tìm mộ liệt sĩ đến rồi, đang ở nhà khách. Ông ấy là đồng đội cũ, về nhà làm nông, bây giờ mới có kinh phí đi vào Bình Thuận. Mảnh giấy này ghi cách đây gần ba mươi năm, có tên người, quê quán, thứ tự mộ. Thành nghe câu chuyện sà qua: - Cho con đi với. Mấy chị lớn tuổi cười “cậu chẳng biết đi tìm mộ liệt sĩ là gì cả”. Nhưng dù ai nói vắt nhiều, đỉa đen nước, đi bộ hai ngày, đào bằng dao găm, mùi khó chịu… Thành vẫn khăng khăng. Nhìn nó sắp ứa nước mắt, Phi đành nhượng bộ. Nhưng trong cơ quan có người bĩu môi: “Ngữ ấy vào đời cũng là thứ ăn hại, hai mươi rồi mà như tám chín tuổi” Đường lên núi Chà Vầu rất khó đi lại gặp ngày mưa nên hai ngày đoàn mới về tới nơi. Lúc ấy đã xế chiều Phi ra xe đứng nhìn. Phước hồ hởi: - Tìm được hết anh ơi, tiếc là không quấn võng nên gần tan hết, chẳng phân biệt nổi, may nhờ tờ giấy này chứ không thì lại thành liệt sĩ vô danh. Phi leo lên xe bò tháo dây, giỡ tấm bạt ra, những bộ hài cốt liệt sĩ được bó trong nilon nằm san sát cạnh nhau có những vệt xanh rất lạ. Anh ôm từng bộ lên vội vàng lật qua lật về, không còn một dòng chữ nào trên đó, Phi xé một miếng nilon lớn, một khúc xương rơi ra, bên trong tuyệt nhiên không có tờ giấy ghi tên họ, quê quán liệt sĩ như đội quy tập vẫn làm. - Tên liệt sĩ viết ở đâu. Phi quát. Phước nhìn sang Thành, Thành trả lời: - Con lấy bút lông viết bên ngoài. Phước lắp bắp: - Chú đã đưa giấy nói con viết tên liệt sĩ bỏ vào từng bộ trước khi quấn lại rồi mà - Cuộn giấy chú đưa bị rơi khi qua suối nên con không có giấy để làm như chú bày. Đường xa, mưa ướt, nilon trơn, các bộ hài cốt cọ xát vào nhau, tên liệt sĩ viết bằng viết lông giờ thành một bệt màu nhợt nhạt. Phi khuỵu xuống cạnh chiếc bánh xe bò bằng gỗ, nhìn thằng Thành: - Mày giết chết chín liệt sĩ rồi con ơi. Phi nhắm mắt lại, thấy rất rõ hàng bia mộ trắng toát ghi sáu chữ: “Liệt sĩ chưa tìm thấy tên” TÔI NĂM TUỔI Tản văn Năm tuổi, tôi lần đầu tiên nhìn thấy mặt của mình. Hồi ấy nhà tôi ở Vĩnh Linh - Quảng Trị, túi bom của cả nước. Nhà tôi là hai cái hầm chữ A nối với nhau bằng một giao thông hào. Trong nhà không có giường mà chỉ là những cành phi lao trải chiếu chăn lên. Nhà không có tủ, không có bàn, không có gương soi. Tôi hoàn toàn không biết mặt mình cho đến khi lên năm tuổi. Lần ấy, thay vì cắt tóc cho con, mẹ lại nhờ một ông thợ. Ông ấy có cái gương đặt trước mặt. Tôi nhìn thấy mình với một cuộn tóc quấn trong kẹp ba lá và gài lại chính giữa đỉnh đầu (bây giờ không ai gài tóc kiểu ấy nữa). Tôi rất muốn người ta cắt bằng cách xén ngang cái cuộn tóc ấy đi nhưng họ không làm thế vì họ biết cắt tóc. Tôi không có ý niệm về cái đẹp, xung quanh người ta cũng không ai nói xấu đẹp nên tôi không biết từ này. Cho đến năm tuổi, tôi gặp nhiều nhất tổng cộng là hai mươi người, gồm gia đình tôi, gia đình mà tối tối mẹ tôi nhờ các cô chú cõng tôi qua gửi (phân tán con cái để có chết thì cũng còn lấy một hai đứa) và hiếm hoi những người đi qua hầm. Tôi đến gia đình đó, chui vào ngủ, không ai nói chuyện với tôi, tôi không nói chuyện với ai. Sáng hôm sau ngủ dậy lúc nào thì về lúc ấy. Không có ai đưa đón, không có ai bắt đi học mẫu giáo. Nếu có máy bay thì nhảy xuống giao thông hào mà đi. Cho đến năm tuổi tôi vẫn không có ký ức về người chị thứ hai. Chị thường được đi ngủ gửi sớm hơn tôi. Tôi chỉ nhớ chị thứ nhất vào ngày chị kéo cành phi lao ngụy trang hầm làm chết một con gà con, chị đã thổi vào mỏ nó rất lâu mà nó vẫn chết. Vào một buổi sáng tự đi về như thế, tôi gặp một đứa con gái khác lớn hơn một chút. Nó nói: “Nhà mày chết hết rồi”. Tôi không có khái niệm về cái chết nên cũng nhẩn nha đi về nhà. Mẹ tôi trần truồng, cháy rộp từ đầu xuống chân đang dựa lưng vào vách hầm cháy nham nhở và được người ta đổ xà bông. Em tôi với những khúc chân tay bị quấn băng to sù sụ, băng xanh để không bị lộ khi máy bay tới. Em út cháy thảm hại nhất quấn kín mít, và nó qua đời ít lâu sau đó, không phải do trận cháy này mà do bế đi tiêm thuốc bị bom quăng lên trời, rơi xuống vỡ tim mà chết. Ba tôi không có mặt vì ông là y tá, có bom là chạy đi chứ không nghĩ nhà mình cũng có thể bị bom. Tôi và hai chị được đem gửi nên lành lặn. Sau đó hai chị ra Bắc theo trường con em miền Nam. Tôi đi theo mẹ và đứa em sống sót đi bộ ra Bắc khi mẹ tôi khoẻ. Cho đến năm tuổi, tôi đã từng nói chuyện với ai? Có lẽ hiếm lắm vì trẻ con chui hết dưới hầm, người lớn đi làm và đi tránh bom. Gia đình thì luôn luôn phải phân ra từng mảnh nhỏ. Cho đến năm tuổi, những điều sơ đẳng nhất về cái xấu, cái đẹp, miếng ăn ngon dở, cái kẹo, trái cây, quần áo đẹp, dép êm chân..., tất cả đều chưa đến trong tôi. Chỉ là những tháng ngày loanh quanh trong giao thông hào, thơ thẩn vào rừng phi lao, nhìn lên trời để tránh máy bay, nghe bom đạn rít. Và cũng sẽ không biết đau, biết vui khi gặp những việc cần phải như vậy. Khi con tôi năm tuổi, nó phá quá, tôi giả bộ đuổi đi không nuôi nữa. Nó vào nhà quay số: “Chị Dẽm đấy à chị Dẽm. Em đến nhà chị, chị nuôi em nhé” (Diễm là cô bé giúp việc nhà bác nó). Tôi phì cười: “Mẹ tha cho con lần này đấy, cất quần áo đi”. Lúc ấy nó mới oà lên khóc nức nở. Khôn thế, chẳng như mẹ ngày xưa, chiến tranh làm cho mẹ tha thẩn, chẳng có chút kiến thức gì về xung quanh cho đến khi năm tuổi. Chiến tranh đã lấy mất tuổi thơ của mẹ. SUỐI NƯỚC NÓNG BƯNG THỊ Tản văn Ngay cả người Phan Thiết cũng ít biết Bưng Thị dù nó chỉ cách có ba mươi lăm ki-lô-mét. Bưng Thị nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Ta kóu, gần như không có đường vào. Tôi đi Bưng Thị lần thứ nhất bằng cách thông thường, đó là ghé trạm kiểm lâm nhờ chỉ đường. Các anh nhìn mấy nhà báo lỉnh kỉnh máy móc nói: “Không đi được”. Nhưng do bọn tôi cứ chứng minh là mình quen đi bộ nên cũng được chỉ. Đi hết cả buổi sáng mà chẳng thấy cái bưng nào, đành quay ra, chạy xe sang xã khác cách đó cả hai chục km để đi vào phía bên kia bưng, vẫn không được, đành về. Lần thứ hai chúng tôi vào nhà dân nhờ một cái máy cày Liên Xô cũ to đùng chở đi. Một cô nhà báo ngồi với bác tài, ba đứa ngồi trên… lưỡi cày. Đường không có nên cứ chui rừng mà đi. Đang chui, một cành cây quệt xuống lôi cái nón của tôi ra khỏi đầu và treo lơ lửng trên cao. Mặc kệ, cả bọn tạm biệt nó rồi lại đi. Cuối cùng cũng vào tới nơi. Bưng Thị có gì mà hấp dẫn nhà báo thế? Hẳn sẽ có người tò mò. Đây là một suối nước nóng thuộc huyện Hàm Thuận Nam của tỉnh Bình Thuận. Vào năm 1976 một đoàn địa chất đã khoan ở đây hai mũi và cắm xuống hai chiếc ống đường kính khoảng 10 cm. Hai ống nằm cách nhau hơn một mét nhưng một bên là nước nóng, một bên là nước lạnh. Thời gian đã làm ống nước lạnh hỏng mất, nước nóng chảy chan hoà trên mặt đất, nóng đến 76 độ C. Người ta thường mang trứng gà đến thả vào dòng chảy rồi lấy ra ăn. Chúng tôi trải nilon nằm dưới rừng dầu, cắt cơm nắm chấm với muối mè ăn. Đang vào mùa trái chín, mỗi cơn gió nhẹ thổi lên là hàng trăm bông hoa dầu bay ra khỏi cây phiêu du trong gió. Hoa dầu ở thành thị thảng hoặc cũng có nhưng nhỏ xíu, hoa dầu trong rừng trái bằng trái nhãn, hai chiếc tai thỏ xinh xinh dài khoảng 7 cm, khi bay theo gió, trái xoay tít như chong chóng. Nhìn lên có cảm giác một bầy chuồn chuồn đang lượn trong không gian. Nhờ những chiếc tai dài này mà trái dầu phát tán đi khắp nơi để mọc thành cây dầu mới, một cây cung cấp nhựa cho người dân biển trét thúng chai đi đánh bắt hải sản. Cây dầu bị khai thác theo kiểu chặt vát một miếng ở thân tạo ra một mặt bằng đủ rộng và trũng xuống để chứa dầu, người dân sẽ múc dầu từ đó khi đầy chứ không gắn chén vào cây như cao su. Cách khai thác này có vẻ huỷ diệt quá nhưng khi chúng tôi nằm dưới tán rừng này ở một góc phù hợp những cây dầu bị vát cùng một miếng như nhau nhìn lại ngồ ngộ. Nhưng thú nhất là đi dưới rừng Bưng Thị với chi chít cây nắp ấm. Trong cuốn Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Đỗ Tất Lợi cây nắp ấm là cây ăn côn trùng, chữa được nhiều bệnh trong đó có bệnh phù thủng vàng da. Cây nắp ấm mới mọc đã có một cái ấm bé tẹo màu vàng xanh nhàn nhạt để thu hút côn trùng bò vào, thường chúng sống ở vùng đất nghèo dinh dưỡng nên hút chất dưới đất chẳng đủ nuôi cây. Cây càng lớn cái ấm càng to, chúng dài khoảng 25 cm trông như một chiếc ống nghiệm, phía trên có một vành môi màu đỏ tươi rất đẹp và trơn, trên ống là một cái nắp nhỏ. Khi côn trùng ngửi thấy mùi thơm sẽ bò vào, ngã xuống ống và không thể nào lên được, nắp sẽ dậy lại và côn trùng bị tiêu huỷ từ từ. Tôi nhìn vào trong từng ống, ống nào cũng có vài ba con côn trùng, không hiểu chúng bị tiêu hủy bằng cách nào nhưng nếu không tiêu hủy được thì mỗi ấm chứa khoảng vài chục con chứ không phải vài con vì con nào cũng đang còn sống. Cây nắp ấm cũng có lá, những chiếc lá rất dài, lá và ống được nối với nhau bằng một đoạn dây dài gấp ba lần ống. Cây lớn, ấm treo lủng lẳng vắt lên những cây khác để săn mồi, cây nhỏ thì ấm đặt chi chít dưới chân nhìn yêu vô cùng. Nắp ấm và dầu chỉ là hai trong số hàng nghìn loài cây của Bưng Thị. Cây dương xỉ ở đây cao quá đầu người và xanh mướt mát. Nhiều loại dây leo không tìm nổi gốc, to như bắp chân người cứ vặn vẹo từ cây nọ bò sang cây kia. Phần lớn tôi không biết tên tuổi của chúng nhưng những thảm cỏ thì tuyệt. Chúng dày, mượt, mê man hoa dại tím, trắng, vàng, xanh nhạt… Hoa dại biến cỏ thành những tấm thảm trải dài trong rừng, khiến giấc mơ chuyện cổ tích thời con trẻ bỗng như có thật. Mùa chúng tôi đi không có, nhưng đầu xuân, cánh rừng này tím ngát Địa lan. Chúng là nguyên nhân của các cuộc tham quan nở rộ gần Tết. Giống như trên bờ, con suối nhỏ và rất cạn cũng có hai làn nước trong cùng một dòng chảy. Một bên nước 46 độ C bốc hơi nghi ngút, một bên nước gần như nước để trong ngăn dưới tủ lạnh. Chỗ hai làn nước giao nhau âm ấm. Có những con cá bé bé bơi lội tung tăng trong nước lạnh tuyệt nhiên chưa nhảy qua nước nóng bao giờ. Chúng tôi cứ thò tay vào nước nóng kêu oai oái rồi lại chọc chân vào nước lạnh, trầm trồ thán phục sự kỳ diệu của thiên nhiên. Chơi trên bờ chán, tôi và Giang lội xuống suối, con suối cạn thế bỗng cứ lún dần lún dần, hai đứa vừa kêu om sòm vừa phải bám víu vào những gì có thể để lên lại trên bờ. Hoá ra lá cây mục khiến dòng suối nhìn cạn chứ thực ra không biết nó sâu đến đâu. Suối cũng không hẳn là có dòng chảy, có bờ, ven bờ hoa dại nở lác đác… như tôi vẫn nghĩ. Suối nằm lẫn trong cây. Có nhiều cây lá dài lằng nhằng bé tí như lá thông, có cây lá to hơn lá chuối, rừng rậm không có gió lớn nên chúng lành lặn, xanh mướt nhìn như lụa. Đi dọc bờ suối toàn gặp rắn, con thì xanh, con thì vàng, không lớn lắm nhưng rất đáng sợ nên chúng tôi phải cầm theo những cây que dài để xua đuổi rắn trước khi bước vào thế giới của chúng. Buổi chiều chúng tôi ra khỏi rừng, đi ngang chỗ cái cây giữ nón của mình, nhìn lên không thấy nón đâu, hoá ra gió đã lấy lại dùm và gửi xuống đất. Không ai đi qua để nhặt nó nhưng cát và lá vàng đã khiến chiếc nón của tôi cũ rích. Chúng tôi nhảy xuống nhặt nón và leo lại lên chiếc xe đi chậm còn hơn người ta đi bộ. Lần thứ ba tôi vào Bưng Thị cùng nhóm làm phim của đài THVN, có xe huyện Hàm Thuận Nam đưa đi. Tài xế rất giỏi đường, nhìn trước mặt là cây nhưng khi xe lao vào thì lại có đường nên chúng tôi đến nơi rất nhanh. Mọi người bỏ xuống suối nước nóng 50 cái trứng gà và chờ 10 phút. Trứng chín rất lạ, đập ra lòng trắng không chín, chảy đi hết còn lại lòng đỏ, nhưng lòng đỏ co lại biến thành một viên bi vàng sẫm ăn không bị chín qúa cũng không lòng đào mà dẻo và thơm, ngon lạ lùng. Đạo diễn Bùi Phùng của VTV bảo: “Tôi ghét nhất trứng gà luộc” nhưng cuối cùng ăn đến bốn trái. Cháu ngoại nhạc sĩ Phạm Tuyên mới hai tuổi cũng ăn được 3 trái. Tôi được mời làm dẫn chương trình, ăn nhiều không tốt nhưng vì ngon quá nên mặc kệ lời nhắc của đạo diễn. Khi về tôi mang theo một chai nước, đổ vào nồi, cho trứng vào luộc, chín như luộc bằng nước máy. Lạ thế. Huyện Hàm Thuận Nam biết Bưng Thị rất qúy và độc đáo nhưng chưa biết nên chọn cách đầu tư nào để vừa giữ được cảnh quan thiên nhiên vừa khai thác tiềm năng cho hiệu quả. Để nhiều người biết Bưng Thị - nơi một dòng suối có hai nhiệt độ nước, nơi trứng chín lòng đỏ chứ không chín lòng trắng, nơi cây nắp ấm đung đưa dụ côn trùng, nơi hoa dại nở ngát trời… là một ước muốn của tôi, tôi muốn khoe với nhiều người cảnh đẹp này, muốn họ được hoà mình vào nó, được xoè tay đón hoa dầu rơi. Nhưng tôi cũng sợ Bưng Thị sẽ ồn ào hơn, đô thị hơn. Chúng tôi đã hẹn nhau quay lại Bưng Thị, mang theo một cái xẻng con và tấm nilon, chúng tôi sẽ đào một cái hố, lót nilon xuống để có một bồn nước nóng sang trọng giữa rừng rậm. Nhưng tất cả vẫn chỉ là hẹn, còn thực hiện nó, có lẽ chờ mùa Địa Lan nở tím trời. TACHIANA LÀ AI Truyện ngắn Đêm khuya trong Ký túc xá có một tiếng đàn guitar nhè nhẹ, buồn buồn, ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi. Tiếng đàn làm giấc ngủ của tôi có một chút xao xuyến. Người ấy ngồi chơi đàn ở chiếc ghế đá gãy hai chân, chiếc ghế dựa vào cây phượng già, cây phượng lúc nào cũng chực đổ nhưng nó vẫn đứng đó, lủng lẳng trên cành những chiếc vỏ, ruột xe đạp sinh viên hỏng. Cây phượng trở thành hậu cảnh, chiếc ghế là trung cảnh và người chơi đàn là ngôi sao sân khấu hào hoa, lãng mạn nhất trong kí ức của tôi. Tôi chờ ở cầu thang lúc 23 giờ 30. Chàng xuống. Quần jean, áo thun, nam tính, xách cây đàn guitar thùng. Đi qua tôi vài bậc cầu thang chàng dừng lại, quay nhìn và: “Chào Tachiana”. Tôi mắt to, eo nhỏ, việc gì phải trả lời. Những buổi trưa và chiều xếp hàng lấy cơm ở nhà ăn ký túc xá. Tôi biết có chàng, chàng biết có tôi, không tiến xa hơn, chẳng hiểu vì sao. Đôi lần chàng đứng xích ra nhường chỗ cho tôi và rất nhỏ: “Chào Tachiana”. Ra trường, tôi về Phan Thiết, chàng về Mỹ Tho, tôi biết chàng tên là Thông, Nha sĩ. Hai mươi lăm năm sau đi qua Mỹ Tho. Không khó để tìm ra phòng khám của chàng. Tôi chờ hết người mới vào. Chàng đã cởi áo blu, đang nhìn gì đó trong cuốn sổ: - Xin mời ngồi! Tôi ngồi. - Chị bị sao? - Tôi… đau răng. Chàng nhìn lên. Ngạc nhiên, thích thú, một nét cười thoáng qua. Chàng gấp sổ lại: - Răng đẹp tuyệt trần, không đau gì hết nhưng phải uống thuốc để giữ mãi vẻ đẹp này. Tôi im lặng. Tôi nữ tính, ngọt ngào, có gia đình rồi. Vì sao phải tiến xa? Tôi cầm đơn thuốc chàng đã bỏ trong bì thư đi ra. Chàng tiễn đến cửa xe taxi. Xe chạy, tôi mở đơn thuốc, nhìn thấy: “Chào Tachiana” Cái gì nhỉ? Một chuyện tình, một hoài niệm, một niềm vui nhặt được… Không biết. Và Tachiana là ai trong văn học Nga vậy trời? ÔI QUÊ HƯƠNG... Tản văn Mẹ tôi nghẹn ngào trong điện thoại: “Con ra ngay đi, thím con nằm hôn mê cả tuần rồi”. Thím dâu tôi năm nay 63 tuổi. Buổi sáng thím dậy nấu cơm cho cả nhà, mới bước chân xuống thì chóng mặt, ngã vật ra. Thím bị tai biến mạch máu não. Mười ngày không tỉnh lại và ra đi luôn. Thím tôi hiền và siêng năng như bao phụ nữ nghèo quê tôi. Trong xóm ai ốm đau là thím nấu cháo xách chạy. Thím tốt bụng một cách tự nhiên, không cần theo giáo lý nào. Thím tôi không bao giờ nói nặng với ai. Có đứa con gái duy nhất đi làm ăn xa, lấy phải thằng rể vũ phu. Biết con bị chồng đánh bị thương, thím lần đầu tiên ra khỏi làng, vượt 1000 km, đến nhà con, thằng rể ra chào mẹ mới vào. Thím nói: “Tui không mạ con chi với eng hết” rồi khóc oà lên. Nửa tháng ở đó cũng không mắng được thằng rể câu nào chỉ nắm tay nắm chân con gái mà rơi nước mắt. Thằng rể thấy vậy sau này hối hận, tử tế với vợ con. Ngày đưa thím đi, nó khóc thật sự, khóc đến lả cả người. Thím tôi thơm thảo, cháu đi học ra thăm, thím vơ quàng vơ xiên hết mọi thứ ăn được trong nhà bỏ vào bị rồi ra chuồng gà ngồi nhìn đăm đăm, chờ con gà nhảy ra khỏi ổ là lấy quả trứng nóng hổi ra đưa luôn cho cháu. Tôi chưa một lần nhìn thấy thím nằm. Khi tôi ngủ thím còn lục đục dưới bếp. Khi tôi dậy, thím đã ngồi chờ với mâm cơm mới nấu. Tôi nói với chị tôi: “Ra đến nơi, em sẽ nhìn thấy thím nằm một lần”. Nhưng tôi ra thì thím đã ở trong quan tài đóng kín. Tôi hỏi sao không làm mặt kính để tôi nhìn mặt thím, người nhà nói quan tài này do hội Cựu chiến binh làm. Mẹ tôi nói tội lắm con ơi, thím nằm gầy như con gà tre, tay khô khốc cáu đen như những cái chân gà tre. Thím con suốt đời cào bới ngoài đồng móng tay không cần cắt cũng không ra được. Đám ma đưa thím đi trên đường làng, qua ngã rẽ vào xóm nhà thím, đứa con gái kêu: “Mạ ơi, đường ni về nhà mạ” vì mỗi lần nó về quê cứ hay nói xe ôm: “Rẽ đường ni, đường ni”. Anh trai thím bị bệnh tâm thần đi song song đám tang, trên đường bờ ruộng. Không biết trong trí óc lẫn lộn của ông có nhớ gì về em gái không. Nếu nhớ, ông phải nhớ luôn hai người anh đầu là liệt sĩ ngày ngày nhìn thím tôi qua hàng khói hương. Nếu nhớ, ông cũng phải nhớ đứa em tất bật chân đi không bén đất chưa bao giờ dám ăn cái gì ngon. Cô con dâu mồ côi coi mạ chồng như mạ ruột và rồi nó cũng tất bật, cũng đảm đang, cũng phúc hậu, cũng nghèo khổ như thím tôi. Mấy ngày đám ma đám cháu tha thẩn chơi không ai chăm sóc. Tôi nhìn chúng thật xinh đẹp, ngoan ngoãn, rất muốn nhận về nuôi dùm ít năm nhưng gia đình không chịu xa con. Chúng tôi biết nhà quê không có cây ATM nên mang theo tiền mặt, tối đi ngủ thấy cửa không có chốt thì thắc mắc. Em tôi ra trước cả tuần bảo ở đây làm cửa cho đẹp chứ không làm chốt hoặc có làm cũng không dùng, chưa ai mất trộm bao giờ, honda cũng để ngoài sân mà nhà không có cổng. Tôi bàn với các chú thím còn lại đưa gia đình vào Bình Thuận, mấy chị em tôi sẽ lo việc tìm đất đai, công việc, lo cho các cháu học hành chứ nếu không cũng sẽ nghèo đời này qua đời kia, nghèo đến nỗi chẳng có gì cho kẻ trộm lấy. Nhưng không ai muốn đi. Lý do là ông bà nằm đây hết, phải lo nhang khói, ai cũng nghèo nhưng không đói vì nuôi gà, vịt, heo, bò, trồng cải, dền ớt... được rồi. Thuyết phục mãi không được, tôi buồn không nói nữa, đứa em bảo mọi người không nghĩ họ khổ đâu, thím dâu, vợ của em cùng cha khác mẹ mất mà cả nhà mình ra tận Vĩnh Linh lo tang ma thì họ thấy được an ủi rồi. Mình cứ sống như vậy và họ cứ sống như vậy đi, ai nói tụi mình sướng hết còn họ khổ hết đâu. Gia đình tôi lại lên xe về Phan Thiết. Hết huyện Vĩnh Linh, qua cầu Hiền Lương, đến thị xã Đông Hà... Những cái tên quen thuộc qua lời mẹ cha hiện ra qua những biển báo rồi khuất dần. Nếu ngày ấy ba tôi không thoát ly, không đưa cả nhà ra khỏi đất Quảng Trị thì hôm nay biết gia đình tôi còn lại mấy người và chắc chúng tôi cũng lam lũ như chú thím tôi, con cái cũng khó khăn như các cháu tôi. Nhưng mấy ngày về quê tôi mới thấy hai chữ Vĩnh Linh gắn bó với mình đến nhường nào. Nơi tôi được sinh ra đó, nơi có những người đàn bà như thím dâu của tôi - cho đến khi qua đời không hề làm ai bẽ mặt hay buồn phiền. Sống như vậy rất khó, nhưng miền quê nghèo của tôi có nhiều người như vậy. ĐÁNH MẤT MỘT ÔNG CHỒNG Truyện ngắn Ở cơ quan, nàng không có quyền bắt ai chờ đợi vì nàng ngồi nơi cuống phễu, qua chỗ đó mọi thứ mới ào ra. Ở nhà, nàng không có quyền bắt ai chờ đợi. Chồng nàng cần những bữa ăn ngon, đẹp mắt, bổ dưỡng và quan trọng nhất là nóng sốt và luôn thay đổi để chuẩn bị cho những công việc đã tới và sắp tới. Con nàng cần được đi ngủ đúng giờ, mặc những bộ quần áo trang nhã mà không đắt tiền, sành điệu mà không đua đòi, nó cũng phải đứng thứ nhất trong lớp và giật một số giải thưởng trong học tập và sinh hoạt đoàn đội. Gia đình nàng và gia đình chồng nàng phải được chăm lo một cách ân cần, chia sẻ, không có sự phân biệt dâu hay con cái... Những cái “phải” ấy khi thực hiện bằng được đã khiến đôi mắt mơ màng của nàng ánh lên những tia sắc sảo, quyết đoán rất ít nữ tính, khiến nàng đi dần lên đến những chức vụ mà nàng hoàn toàn muốn chối bỏ. Những cái “phải” chậm thực hiện được làm cho ngày của nàng đen sì và tối đến nó cứ óng ánh óng ánh thành những sợi tóc bạc găm vào mái đầu nàng. Những cái “phải” không thực hiện được khiến cái nhìn của nàng hướng về gia đình bé mọn có vẻ giống cái nhìn bất lực hối lỗi của con chó già thấy kẻ trộm cũng không sủa được thành tiếng. Khiến cái cau mày suy nghĩ ngự lại nơi trán nàng, nơi đuôi mắt nàng thành những thời gian nghiệt ngã. Nàng lê về nhà. Đã sáu giờ tối, phố xá lên đèn, những ngọn đèn vàng vọt buồn bã và hết sinh khí. Nàng uể oải mở cổng, sắp xếp trong đầu: mặc tạp dề, lấy nồi, đổ gạo, mở tủ lạnh... Nhưng khi cánh cửa vừa hé ra, nàng nghe một mùi thức ăn ấm sực lên với hành khô, tỏi phi, rau xào và mùi cá. Nàng nhìn thấy chồng. Anh đứng quay mặt vào bếp đang bận tay đảo liên tục. Anh thấy em về trễ nên nấu rồi, chắc chẳng ra gì đâu, ăn tạm vậy. Mệt không em. Nàng tựa cửa thở phào và mỉm cười. Đấy là người con trai nàng yêu khi mới 18 tuổi. Anh đẹp trai, vui tính, học rất giỏi. Đấy là người chồng nàng yêu, anh tháo vát, tiết kiệm, thương yêu vợ con hết mực. Đấy là người đàn ông nàng yêu, anh thành đạt trong sự nghiệp, ăn mặc đúng kiểu, giao tiếp rất giỏi... Nhưng... tất cả là ảo ảnh. Hoặc không phải ảo ảnh mà là đã lùi xa. Vì nàng đã thấy những hình ảnh ấy rồi, những hình ảnh nàng đã làm mất. Bếp vắng tanh. Nàng lại sửa soạn công việc: Đeo tạp dề, lấy nồi... Ba mươi phút sau tất cả đã xong, một mâm cơm nóng hổi, thơm lừng, đủ màu sắc được dọn ra. Nàng đi lên lầu, mở cửa phòng chồng, nơi anh đang ngồi trước máy vi tính với những con số. Nàng hít một hơi thật sâu để tiếng nói phải bật ra mạnh mẽ, tràn đầy sức sống, phơi phới niềm vui, giống như chuyện mời được chồng xuống ăn cơm là cả một đặc ân, vai này nàng diễn rất đạt. Anh ơi, ăn cơm thôi. Chồng nàng quay đầu lại: Ừ, anh đói quá. Nàng đi trước, từng bước mệt mỏi, từng bước lùi về những ngày xa ấy. Mình đã đánh mất người yêu, người chồng, người đàn ông của mình vào khoảng nào nhỉ. Đến hết cầu thang nàng sực hiểu ra: Mình đã đánh mất anh ấy vào đúng cái ngày “Em ơi, anh tiết kiệm được một ít tiền, em cầm trả nợ dần đám cưới tụi mình đi, không thì họ sẽ đòi phiền lắm. Thôi, anh giữ lấy mà đi cà phê với bạn bè, em làm ra tiền mà, em trả hết rồi, để đến bây giờ thì họ làm thịt mình chứ phiền hả” Ngày ấy nàng đã tước hết mọi vai trò của anh và đặt vào tay anh vị trí mà chính nàng cũng không làm nổi: Trợ lý vợ.
- Xem thêm -