Tài liệu Tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ nguyễn bính luận văn tốt nghiệp

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 499 |
  • Lượt tải: 2
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THỊ NHUNG TÍN HIỆU THẨM MĨ XUÂN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THỊ NHUNG TÍN HIỆU THẨM MĨ XUÂN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: TS. Bùi Thanh Hoa SƠN LA, NĂM 2013 LỜI CẢM ƠN Khóa luận được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học tận tình của TS. Bùi Thanh Hoa, sự quan tâm của ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các giảng viên trong tổ Tiếng Việt, khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây Bắc, cùng sự động viên, ủng hộ của các bạn sinh viên. Nhân dịp khóa luận được công bố tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Bùi Thanh Hoa, ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo, các bạn sinh viên đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 5 năm 2013 Người thực hiện Trần Thị Nhung CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TH : Tín hiệu THNN : Tín hiệu ngôn ngữ THTM : Tín hiệu thẩm mĩ BTTV : Biến thể từ vựng BTKH : Biến thể kết hợp YNTM : Ý nghĩa thẩm mĩ MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 1 3. Đối tượng vàphạm vinghiên cứu.................................................................. 2 3.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 2 3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 2 4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận .......................................................... 2 4.1. Mục đích của khóa luận ............................................................................. 2 4.2 Nhiệm vụ của khóa luận ............................................................................. 2 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 3 6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................... 3 6.1. Ý nghĩa lí luận ............................................................................................ 3 6.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................ 3 7. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................ 4 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ...................................................... 5 1.1. Cơ sở lí thuyết ............................................................................................ 5 1.1.1. Khái niệm tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ .................................. 5 1.1.1.1. Tín hiệu ngôn ngữ .................................................................................. 5 1.1.1.2. Tín hiệu thẩm mĩ .................................................................................... 9 1.1.2. Phương thức cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật ....... 11 1.1.2.1. Ẩn dụ ................................................................................................... 11 1.1.2.2. Hoán dụ ............................................................................................... 12 1.1.3. Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ ........................................................... 12 1.1.3.1. Chức năng biểu hiện ............................................................................ 12 1.1.3.2. Chức năng tác động ............................................................................. 13 1.1.4. Những đặc trưng tiêu biểu của tín hiệu thẩm mĩ .................................. 13 1.1.4.1. Tính truyền thống và tính cách tân ...................................................... 13 1.1.4.2. Tính biểu trưng .................................................................................... 14 1.1.5. Các biến thể của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật ............... 15 1.1.5.1. Biến thể từ vựng................................................................................... 15 1.1.5.2. Biến thể kết hợp ................................................................................... 15 1.2. Những nhân tố của ngữ cảnh tác động đến tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ Nguyễn Bính............................................................................................. 16 1.2.1. Tiểu sử ................................................................................................... 16 1.2.2. Quê hương và thời đại ........................................................................... 18 Tiểu kết ........................................................................................................... 19 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ XUÂN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH .................................................................... 20 2.1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại .................................................... 20 2.2. Biến thể kết hợp ....................................................................................... 21 2.3. Biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ Nguyễn Bính... 22 CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA THẨM MĨ CỦA TÍN HIỆU XUÂN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH ............................................................................................. 26 3.1. Nghĩa của xuân theo từ điển ................................................................... 26 3.2. Các nét nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ Nguyễn Bính ....... 26 3.2.1. Nghĩa thực – chỉ thời gian..................................................................... 26 3.2.2. Nghĩa biểu trưng ................................................................................... 32 3.2.2.1. Biểu trưng cho tuổi trẻ và khát vọng tình yêu ...................................... 32 3.2.2.2. Biểu trưng cho bước đi của thời gian, thể hiện nỗi buồn, sự cô đơn........... 36 3.2.3. Tín hiệu thẩm mĩ xuân và những sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Bính . 42 3.3. Tín hiệu thẩm mĩ xuân và phong cách thơ Nguyễn Bính ...................... 43 PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 49 PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Chúng tôi chọn nghiên cứu khóa luận: “Tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ Nguyễn Bính” vì những lí do sau: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung và Thơ mới nói riêng, Nguyễn Bính là một nhà thơ, một cây bút xuất sắc của thơ ca lãng mạn thời kì 1932 – 1945. Ông là thi sĩ nổi tiếng ở chặng đường cuối cùng của Thơ Mới, lúc này Thơ mới không còn cái “rạo rực, băn khoăn”, “rộng mở”, “mơ màng”, “hùng tráng”… của thời trước mà nó đã dần rơi vào cái thế giới của sự bế tắc, mất phương hướng, Thơ mới chỉ còn thoi thóp chút hơi thở còn sót lại. Hầu hết các tác giả Thơ mới lúc này tìm đến với rượu, thuốc phiện, kĩ nữ và xem đó là nơi để giải tỏa nỗi niềm u uất, sự bất đắc chí… Nguyễn Bính xuất hiện trong thế giới ấy như một hiện tượng văn học hết sức rực rỡ, được đánh giá là một trong ba đỉnh cao của Thơ mới, làm vực dậy cái “hồn” Thơ mới trong thời khắc cuối cùng của nó. THTM trong tác phẩm văn học là chiếc chìa khóa để khám phá những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. THTM ấy bao giờ cũng được nhà văn sử dụng nhằm mục đích và hiệu quả nghệ thuật nhất định. THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính là một TH nghệ thuật quan trọng chứa đựng rất nhiều ý nghĩa biểu trưng về tư tưởng của nhà thơ. Đó chính là lí do chính yếu quyết định đến việc chúng tôi lựa chọn vấn đề THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính dưới góc độ là những THTM nhằm khẳng định cách tiếp cận mới các hình tượng văn học từ góc độ lí thuyết về THTM, để góp thêm tiếng nói ca ngợi tài năng xuất chúng của nhà thơ, đồng thời phục vụ cho việc giảng dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường hiện nay, và ở mức độ nhất định góp phần nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mĩ các thi phẩm Nguyễn Bính nói riêng, các tác phẩm thơ ca nói chung. 2. Lịch sử vấn đề Từ khi xuất hiện trên thi đàn thơ ca lãng mạn 1930 – 1945 Nguyễn Bính đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bạn văn, bạn thơ và giới phê bình nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu, bình luận về thơ của Nguyễn Bính ở nhiều phương diện đã xuất hiện: người nói về phong cách thơ Nguyễn Bính, nội dung thơ Nguyễn Bính, người nói về bút pháp nghệ thuật thơ Nguyễn Bính hay con người trong thơ Nguyễn Bính…. Có thể điểm qua một số tác giả nổi tiếng nghiên cứu về Nguyễn Bính như: Hoài Thanh, Chu Văn Sơn, Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương, Tô Hoài, Thanh Việt, Mã Giang Lân, Vương Trí Nhàn, 1 Hoàng Như Mai... Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Nguyễn Bính mới tập trung vào tìm hiểu các tác phẩm của ông từ góc độ văn học, những công trình nghiên cứu các tác phẩm của ông từ góc độ ngôn ngữ học còn chưa nhiều. Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính từ góc độ lí thuyết THTM nói chung, đặc biệt THTM xuân trong thơ ông hầu như cho đến nay vẫn chưa thấy có công trình chuyên khảo nào. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề này để tiến hành nghiên cứu. 3. Đối tượng vàphạm vinghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ đạo của chúng tôi trong đề tài này là đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa biểu trưng của THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính qua đó khẳng định phong cách thơ ông trong thi đàn thơ Việt. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Tiến hành đề tài này chúng tôi khảo sát, nghiên cứu tất cả các tập thơ của Nguyễn Bính trước Cách mạng gồm có: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước, Mây tần (1942). Sau Cách mạng có: Sóng biển cỏ, Ông lão mài gươm (1947), Mừng Đảng ra đời (1953), Trả ta về (1955), Gửi người vợ miền Nam (1955), Đồng Tháp Mười (1955), Nước giếng thơi (1957), Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng (1962). Các tập thơ này được giới thiệu trong cuốn Hoàng Xuân (2004), Nguyễn Bính thơ và đời, Nhà xuất bản Giáo dục. 4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 4.1. Mục đích của khóa luận Dựa trên những cơ sở lý thuyết về THTM, chúng tôi mong muốn tiếp tục thể nghiệm phương pháp nghiên cứu văn học dưới cái nhìn của TH học nói chung, THTM nói riêng, đồng thời đóng góp tiếng nói khẳng định thêm những thành công của thơ Nguyễn Bính nói riêng và dòng thơ ca lãng mạn nói chung, qua đó khắc họa phong cách ngôn ngữ của thi sĩ này. 4.2 Nhiệm vụ của khóa luận Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào các vấn đề sau: - Giới thiệu lí thuyết về THTM trong văn học. - Đôi nét về tác giả Nguyễn Bính. 2 - Tập trung làm rõ THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện khóa luận chúng tôi đã sử dụng các phương pháp, nghiên cứu sau: 1. Phương pháp nghiên cứu thống kê, phân loại: Khóa luận tiến hành thống kê tần số xuất hiện của THTM chỉ xuân trong mọi hoàn cảnh xuất hiện của chúng dưới dạng THTM, biến thể và các yếu tố ngôn ngữ khác cùng xuất hiện với các THTM này. 2. Phương pháp phân tích diễn ngôn và ngữ nghĩa tức phân tích nghĩa của từ theo ngữ cảnh sử dụng: Phương pháp này được áp dụng khi khảo sát sự xuất hiện của các từ ngữ chỉ xuân cùng với các từ ngữ khác xuất hiện kèm theo ở những ngữ cảnh khác nhau trong thơ Nguyễn Bính với tư cách là những THTM văn chương, phân tích ý nghĩa của các từ ngữ đó trong từng hoàn cảnh sử dụng, đối tượng sử dụng. 3. Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống để tìm sự khác biệt ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa: Các từ ngữ cùng chỉ xuân tuy là đồng nghĩa nhưng ở mỗi ngữ cảnh sử dụng từ chúng lại có sự khác nhau về ý nghĩa, về sắc thái biểu cảm – đánh giá và phạm vi sử dụng. 6. Đóng góp của khóa luận 6.1. Ý nghĩa lí luận Khóa luận góp phần tìm hiểu thêm về THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính. Đây là TH đặc biệt được sử dụng rất nhiều lần trong ngôn ngữ nghệ thuật, tạo nên những giá trị đặc sắc cho những tác phẩm văn chương, ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ của tác giả trong đó có Nguyễn Bính nói riêng. Việc tìm ra những ý nghĩa biểu trưng của mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính nhằm giúp bổ sung kiến thức về THTM trong văn chương được đầy đủ, toàn diện hơn. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Lí luận và thực tiễn cách nhau một khoảng rất lớn. Chúng ta thấy rõ điều đó ở phần lớn các giờ giảng môn Ngữ văn trong nhà trường THPT và THCS, giáo viên và học sinh chưa đi phân tích sâu và tỉ mỉ THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính. Vì thế phân tích, giảng dạy các tác phẩm thơ của Nguyễn Bính giáo viên hầu như chưa giúp học sinh cảm nhận và thấy được tác dụng, ý nghĩa, cái hay, cái đẹp của THTM xuân trong thơ ông. 3 Trong điều kiện có thể khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khi tìm hiểu THTM văn chương đặc biệt là THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính. 7. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần mục lục, tài liệu tham khảo, khóa luận kết cấu gồm 3 chương, cụ thể: Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính Chương 3: YNTM của TH xuân trong thơ Nguyễn Bính 4 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Cơ sở lí thuyết 1.1.1. Khái niệm tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 1.1.1.1. Tín hiệu ngôn ngữ Ở khắp mọi nơi trong đời sống xã hội, con người phát hiện, làm quen, xây dựng và sử dụng nhiều kiểu TH khác nhau. Ví như: hệ thống đèn giao thông, tiếng trống, chuông, kẻng báo hiệu giờ làm việc hoặc học tập, chữ nổi cho người mù, tiếng còi tàu…. Theo P.Guiraud: “Một TH là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [1, 25]. Theo cách hiểu như vậy thì bất kì hình thức vật chất nào mà có khả năng gợi ra trong kí ức của con người một hình ảnh nào đó thì đều được coi là TH cả, không phân biệt nguồn gốc của nó là tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay không… Một sự vật được coi là một TH phải đảm bảo ba yêu cầu sau: Phải là vật chất, kích thích đến giác quan của con người và con người cảm nhận được. Phải đại diện cho một cái gì đó, gợi ra một cái gì đó không phải là chính nó. Tức là phải có hai mặt: mặt biểu đạt (dấu hiệu vật chất có thể tác động đến giác quan con người) và mặt được biểu đạt (nội dung, ý nghĩa mà con người tiếp nhận TH lĩnh hội thông qua mặt biểu đạt). Phải nằm ngay trong một hệ thống TH nhất định để xác định tư cách TH của mình cùng với các tín hiệu khác. Ngôn ngữ có lịch sử phát triển lâu đời và được quan tâm nghiên cứu. Xét trong bình diện TH học trong nghiên cứu ngôn ngữ người ta cũng cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống THNN, mang bản chất TH. Theo GS. Bùi Minh Toán, ngôn ngữ: “là tiếng nói của con người (có thể ở dạng nói hay dạng viết) dùng để con người tư duy, giao tiếp và sáng tạo nghệ thuật”. [30, 12] Như vậy, ngôn ngữ đảm nhiệm nhiều chức năng trọng đại trong đời sống con người và xã hội loài người, trong đó có hai chức năng cơ bản nhất là: chức năng tư duy và chức năng giao tiếp. Để thực hiện điều đó, ngôn ngữ đã được tổ chức theo những nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc TH và nguyên tắc hệ thống, nói cách khác ngôn ngữ là một hệ thống TH. THNN là chất liệu để tạo nên 5 THTM trong văn chương. Để làm được điều đó cần có quá trình chuyển hóa nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả. Trong cuốn Ngôn ngữ với văn chương GS. Bùi Minh Toán bàn về TH ngôn ngữ như sau: “THNN nói riêng và TH nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội được một nội dung ý nghĩa cần thiết về hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, hành động hay cảm xúc”. [30, 125] Trong số rất nhiều các TH mà con người sử dụng hiện nay, THNN có lịch sử lâu đời và phổ biến rộng khắp nhất. Từ khi ra đời cho đến nay, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống, con người đều dung đến THNN. Có thể nói ngôn ngữ là hệ thống TH đặc biệt, là hệ thống TH phổ biến nhất, lâu đời nhất và quan trọng nhất đối với cuộc sống con người. THNN có các tính chất cơ bản sau: * Tính hai mặt Tính chất TH của ngôn ngữ thể hiện ở tính hai mặt: mặt biểu đạt của THNN là âm thanh chúng ta nghe được; mặt được biểu đạt là ý nghĩa, khái niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất… mà âm thanh đó gọi tên và phản ánh. So với các TH khác, mối quan hệ giữa hai mặt của ngôn ngữ đa dạng, phức tạp hơn nhiều. Có thể thấy mỗi từ là một thể thống nhất giữa mặt âm thanh và ý nghĩa. Thể thống nhất này vừa dùng để chỉ những sự vật, đồ vật, hành động, tính chất cụ thể trong thế giới khách quan (nghĩa biểu vật), vừa được dùng để nêu những hiểu biết của người sử dụng về những sự vật, đồ vật, hoạt động, tính chất (nghĩa biểu niệm). Mặt khác, trong những trường hợp sử dụng cụ thể, từ lại có thể đại diện cho những sự vật khác nhau (hiện tượng chuyển nghĩa). Ví dụ: Từ hoa ngoài ý nghĩa vốn có, trong từng trường hợp sử dụng cụ thể, nó có thể biểu thị những đối tượng khác nhau như: Hoa mang ý nghĩa chỉ người phụ nữ có nhan sắc khi: Giá đành trong nguyệt trên mây Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Có khi hoa lại dùng để chỉ người tình nhân hào hoa, phong nhã: 6 Nàng rằng khoảng trắng đêm trường Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Tính chất đặc biệt như vậy của THNN làm cho chúng trở nên uyển chuyển và làm cơ sở cho khả năng tạo các sắc thái tu từ, tạo tính hình tượng, tính thẩm mĩ cho tác phẩm văn học. * Mang tính chất võ đoán Mối quan hệ phổ biến giữa hai mặt của TH nói chung và THNN nói riêng là mối quan hệ võ đoán, tức là không có lí do. Song, trong THNN có một số trường hợp mức độ võ đoán thấp, nghĩa là tính có lí do. F. De. Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương NXB KHXH, H, 1973, ông đã nêu ra các trường hợp tính có lí do: Thứ nhất: có lí do về âm thanh (từ tượng thanh), tức là hình thức âm thanh của chúng là do mô phỏng âm thanh tự nhiên: rào rào, róc rách, gâu gâu, tắc kè… Thứ hai: có lí do về nghĩa (chuyển nghĩa), tức là giữa nghĩa chuyển ở từ đa nghĩa với nghĩa gốc và với âm thanh của từ đã có mối quan hệ có lí do: giống nhau ở một hay một số nét nghĩa nào đó. Ví dụ như từ đơn đầu (nghĩa gốc: bộ phận trên cùng của người hay bộ phận trước hết của con vật, có chứa bộ não, điều khiển cơ thể) so sánh nghĩa của nó với các tổ hợp: đầu bàn, đầu bút, đầu cành… (phần trước tiên của đồ vật); đầu núi, đầu sông, đầu làng… (phần trước tiên của không gian)… Chúng ta thấy nghĩa của đầu trong các cách dùng sau có tính kí do: đều chỉ phần dưới trước hết hay trên cùng của một sự vật nào đó. Như vậy, tính võ đoán của THNN không mang tính tuyệt đối. * Tính chất đa trị Ở nhiều loại TH mang tính đơn trị, tức là mỗi hình thức TH thường chỉ biểu thị một nội dung. Chẳng hạn, TH đèn giao thông: màu xanh chỉ ứng với nghĩa được đi, màu đỏ biểu đạt nghĩa dừng lại, màu vàng chỉ nghĩa chuẩn bị. Còn THNN có tính đa trị, nghĩa là có thể có các trường hợp: - Một THNN biểu thị nhiều nội dung khác nhau, như trường hợp các từ nhiều nghĩa, đồng âm. Ví dụ, cùng hình thức âm thanh đánh, theo Từ điển tiếng Việt có 27 nghĩa. - Nhiều THNN biểu thị một nội dung, như trường hợp các từ đồng nghĩa. 7 - Nội dung của mỗi THNN, ngoài phần hiện thực khách quan còn có thể gợi ra những tình cảm, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá… đối với các sự vật, hiện tượng (nghĩa biểu cảm). Các phương diện đồng âm, đồng nghĩa, nhiều nghĩa cũng như các sắc thái kèm theo của các THNN thường xuất hiện trong các tác phẩm văn học. Vì vậy, khi tiếp cận các tác phẩm văn chương, chúng ta cần chú ý đến các phương diện đó. * Mang tính hình tuyến Mặt biểu đạt của ngôn ngữ là âm thanh, khi sử dụng, các âm thanh ngôn ngữ diễn ra lần lượt, kế tiếp nhau trong thời gian. Nói cách khác, các THNN có tính hình tuyến rất chặt chẽ. Tính hình tuyến của các THNN thể hiện rõ khi chúng ta ghi lại bằng chữ viết (dùng tuyến không gian của TH văn tự thay cho sự kế tiếp trên tuyến thời gian). Chính tính hình tuyến của THNN dẫn đến một hệ quả: thứ tự của các TH cũng đóng vai trò cần yếu trong việc thể hiện nội dung ý nghĩa, thay đổi nghĩa, làm mất nghĩa, thêm nghĩa biểu cảm, nhấn mạnh ý… khi thứ tự các từ ngữ thay đổi, tuy vẫn là từ ấy. So sánh: thuê nhà/ nhà thuê, thịt gà/ gà thịt, ba tháng/ tháng ba, củi một cành khô lạc mấy dòng/ một cành củi khô lạc mấy dòng… Tính hình tuyến của THNN là điểm cơ bản giúp ta phân biệt nó với các TH khác. Các TH khác có thể được sắp xếp, phân bố trong một không gian đa chiều, thậm chí bất chấp cả trật tự không gian và thời gian, nhưng với ngôn ngữ thì tất cả đều được giới hạn trong trật tự thời gian. Tính chất này là nguyên lí cơ bản chi phối hoạt động của ngôn ngữ, giúp cho các cá nhân tham gia giao tiếp nhận biết được các đoạn âm thanh (ngữ đoạn), phân tích và hiểu được, đồng thời giúp cho các nhà nghiên cứu nhận diện, phát hiện được các đơn vị ngôn ngữ, các quy tắc cấu tạo từ, đặt câu, dựng đoạn và tạo lập văn bản… Nhờ tính hình tuyến mà văn chương có thể trần thuật, miêu tả, diễn bất tận, không hề bị giới hạn về thời gian của các biến cố hay tâm trạng. * Mang tính hệ thống Các THNN không tồn tại riêng biệt mà có mối quan hệ qua lại với nhau tạo thành một hệ thống chặt chẽ. Ngôn ngữ của con người xuất hiện và phát triển một cách tự nhiên trong vòng nhiều thế kỉ, thể hiện mình là một hệ thống phức tạp. Các đơn vị của hệ thống ngôn ngữ thuộc các loại khác nhau, thực hiện những chức năng khác nhau, và quan hệ với nhau rất phức tạp. Vì vậy ngôn ngữ không đơn giản là tập hợp cơ học các đơn vị độc lập với nhau mà là 8 một hệ thống có tổ chức, tương tác với nhau, hỗ trợ nhau một cách chặt chẽ và có hiệu quả. Các mối quan hệ thường được nhắc đến trong hệ thống ngôn ngữ là: quan hệ cấp độ, quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ dọc (đối vị liên tưởng), quan hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn). Các quan hệ này, một mặt, có tác dụng khu biệt giá trị của từng yếu tố trong hệ thống, mặt khác quy định chức năng chung của toàn bộ hệ thống. Sự khu biệt các yếu tố trong hệ thống dựa trên quan hệ đồng nhất và đối lập giữa các TH trên trục liên tưởng của ngôn ngữ. Chẳng hạn, xét một dãy đồng nghĩa: ăn, tọng, đớp, hốc… đều mang nghĩa chung (là hành động đưa thức ăn vào miệng), nhưng mặt đối lập của các đơn vị từ vựng chính là màu sắc tu từ của từng đơn vị. Như vậy giá trị của một THNN tự nhiên được xác định bởi mối quan hệ trong nội bộ hệ thống. Từ đó có thể khẳng định, bản chất hệ thống của THNN đảm bảo cho ngôn ngữ thực hiện những chức năng trọng đại trong tư duy và giao tiếp của con người trong cộng đồng ngôn ngữ. Ngoài các tính chất trên, ngôn ngữ nói chung và THNN nói riêng còn mang tính biểu cảm, dân tộc. 1.1.1.2. Tín hiệu thẩm mĩ Mỗi loại hình nghệ thuật luôn có một chất liệu riêng để biểu hiện tư tưởng, cảm xúc thẩm mĩ của tác giả. Các nhà nghiên cứu gọi chung những chất liệu ấy bằng khái niệm: tín hiệu thẩm mĩ (THTM). Như vậy, khái niệm này có thể hiểu theo hai cách: Thứ nhất (nghĩa rộng): THTM là chất liệu để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của tất cả các ngành nghệ thuật nói chung. Chẳng hạn, TH của hội họa là đường nét, màu sắc, bố cục; của âm nhạc là âm thanh, tiết tấu; của điện ảnh là hình ảnh; của sân khấu là hành động. Trong văn học người nghệ sĩ dùng chất liệu ngôn từ để tạo ra các THTM, mỗi THTM đó đều có những ý nghĩa và chức năng nhất định. Ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. (Ca dao) Ở đây, câu ca dao không chỉ đơn thuần nói về chuyện sông nước, thuyền bến mà còn mang ý nghĩa cao đẹp hơn, nó thể hiện tình cảm thủy chung, son sắt 9 giữa người con trai và người con gái. Thuyền và biển trở thành THTM biểu hiện cho tình cảm con người. Thứ hai (nghĩa hẹp): THTM là chất liệu của văn học. THTM lấy THNN tự nhiên làm chất liệu nhưng đi vào từng tác phẩm cụ thể chúng được tổ chức lại để phục vụ cho một mục đích thẩm mĩ nhất định. Dù có nguồn gốc từ hiện thực hay chịu ảnh hưởng từ các nguồn văn học khác nhau, khi thực hiện chức năng thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học, các THTM đều được cấu tạo lại, tổ chức lại trong mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc biệt như một hoạt động sáng tạo. THTM (theo nghĩa hẹp), từ khi ra đời cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa trọn vẹn, thống nhất. Điểm chung trong quan niệm của các nhà nghiên cứu là việc thừa nhận THTM là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Trên cơ sở tiếp thu những người đi trước, chúng tôi chọn khái niệm THTM của Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa như sau: “THTM là những tín hiệu được sử dụng để thực hiện chức năng thẩm mĩ: xây dựng hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật”. [11, 270] THTM được xây dựng trên cơ sở THNN tự nhiên, lấy ngôn ngữ tự nhiên làm chất liệu biểu hiện. Do đó, “nếu coi ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống TH nguyên cấp (hệ thống TH thứ nhất) thì ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống TH thứ cấp (hệ thống TH thứ hai). Cái biểu đạt của THTM bao gồm cả hình thức ngữ âm và ý nghĩa sự vật – logic của ngôn ngữ tự nhiên. Cái được biểu đạt là lớp ý nghĩa hình tượng. Đây chính là trường hợp mà hệ thống thứ nhất sẽ được dùng làm bình diện thể hiện hoặc làm cái biểu đạt cho hệ thống thứ hai”. [11, 10] Như vậy, THTM là một TH phức hợp. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của THTM không phải là mối quan hệ võ đoán mà mang tính có lí do. Có thể miêu tả bản chất TH học của THTM như sau: Âm thanh Cái biểu đạt: Tín hiệu ngôn ngữ Ý nghĩa sự vật, lô gic THTM Cái được biểu đạt: Ý nghĩa thẩm mĩ Như vậy, giá trị của một THTM chủ yếu được quy định bởi những mối quan hệ bên ngoài ngôn ngữ. Sự thực hiện chức năng của THTM của các mối 10 quan hệ ngữ đoạn, quan hệ tuyến tính trong văn bản ngôn từ và các nhân tố này. Tuy nhiên, khác với ngôn ngữ tự nhiên, những mối quan hệ này là quan hệ mang tính hàm ẩn, không biểu hiện một cách trực tiếp, tường minh. 1.1.2. Phương thức cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật THTM hình thành từ hai cơ sở: Ý nghĩa và giá trị thực thể của các thực thể văn hóa và ý nghĩa bản thể trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên. Sự tổ chức lại các TH tự nhiên thành các THTM để nâng cấp hoạt động nhận thức và biểu hiện thế giới trong thế giới tinh thần của con người là một bước tiến quan trọng nhất trong tư duy con người, biểu hiện sự kết hợp giữa tư duy lí tính và tư duy biểu tượng: “Con người không chỉ phản ứng một cách trực tiếp và thô sơ trong phạm vi những nhu cầu thực dụng, trái lại, những mối liên hệ đầy ý nghĩa của các sự vật, đối tượng luôn bao bọc thế giới của con người. Nói cách khác, phản ứng của một con người, trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào ý nghĩa biểu trưng của sự vật, hơn thế con người còn khác xa với loài vật ở chỗ không chỉ nhận biết ý nghĩa mối liên hệ của các sự vật riêng biệt mà luôn cố gắng sáng tạo, phủ định, điều chỉnh lại sự diễn đạt bằng biểu tượng”.[11, 63] Như vậy, các THTM trong văn học nghệ thuật có thể có nguồn gốc từ tự nhiên - xã hội (các loại cây cối, động vật, các hiện tượng, vật thể tự nhiên hay nhân tạo) hoặc là những chi tiết, sự kiện hay sản phẩm tinh thần thuộc đời sống văn hóa của từng dân tộc hay nhân loại. Từ những nguồn ấy, THTM được cấu tạo chủ yếu theo hai phương thức sau: 1.1.2.1. Ẩn dụ Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa (lấy tên gọi của đối tượng này làm tên gọi cho đối tượng khác) dựa trên mối quan hệ tương đồng, tức là có đặc điểm nào đó giống nhau. Ở đây, đối tượng được quan niệm là giống nhau về phương diện thẩm mĩ, chuyển từ nghĩa thông thường của tín hiệu ngôn ngữ sang nghĩa thẩm mĩ của THTM. Ví dụ: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. (Viếng lăng Bác – Viễn Phương) Nổi bật trong đoạn thơ là THTM mặt trời. TH này được xác định từ phương thức ẩn dụ, từ sự tương đồng giữa mặt trời (thiên thể vĩnh hằng trong vũ 11 trụ, phát ra ánh sáng và nhiệt độ, là điều kiện cần thiết cho sự sống) với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (mang lại ánh sáng cho dân tộc Việt Nam). 1.1.2.2. Hoán dụ Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa (lấy tên gọi của đối tượng này làm tên gọi cho đối tượng khác) dựa trên mối quan hệ tương cận, tức là thường xuyên đi đôi, gần gũi với nhau. Chẳng hạn: Sống trong cát, chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời. (Mẹ Tơm – Tố Hữu) Tim là một THTM được xây dựng theo phương thức hoán dụ để chỉ những người mẹ như mẹ Tơm giàu tình thương yêu các chiến sĩ cách mạng, giàu lòng yêu nước. Tóm lại, ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chủ yếu để xây dựng THTM từ các TH ngôn ngữ. Nhưng để có được giá trị và hiệu quả thẩm mĩ cao thì bên cạnh việc thực hiện hai phương thức trên còn phải phối hợp với một số biện pháp nghệ thuật khác như: các biện pháp về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. 1.1.3. Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ 1.1.3.1. Chức năng biểu hiện Những kết quả nghiên cứu văn học từ góc độ TH học như: R. Jakovson, R. Barthes, Y. Lotman… có thể cung cấp cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn về cái gọi là chức năng phản ánh của TH. Trong tác phẩm nghệ thuật, sự phản ánh bản chất của đối tượng luôn đi liền với vai trò xây dựng hình tượng nghệ thuật. Vì vậy, khái niệm chức năng biểu hiện bộc lộ rõ hơn mối quan hệ mật thiết giữa: tác giả - đối tượng - TH- hình tượng nghệ thuật. Trong phạm vi tác phẩm văn học, chức năng biểu hiện đối tượng và xây dựng hình tượng của THTM phải luôn luôn là một sự tương tác của các kiểu quan hệ, các cấu trúc. Do đó, THTM luôn được tổ chức theo các cấp độ mà ở cơ sở là từ ngữ rồi đến các quan hệ cú đoạn và văn bản. Bên cạnh đó, đối tượng văn học mà tác phẩm văn học biểu hiện không phải là một đối tượng mang tính khách quan mà luôn là một đối tượng đã được chủ quan hóa, tinh thần hóa ở các mức độ khác nhau. Cho nên, cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện không phải là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái của đời sống mà là toàn bộ thế giới cảm xúc và tri nhận về đời sống ấy, đặc điểm ấy của một chủ thể nhất định. 12 Chẳng hạn: trong truyện ngắn của Nam Cao, giá trị biểu hiện là cảm quan hiện thực của chính tác giả trước toàn bộ những hình ảnh đời sống đói khổ của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng với nạn đói năm 1945 và trình bày cảm quan ấy trong một hình thức phù hợp, Nam Cao nhìn thấy cái đau của nhân tính bị tha hóa nhưng vẫn khẳng định khao khát hướng thiện của con người ngay trong cảnh khốn cùng vì miếng cơm manh áo. 1.1.3.2. Chức năng tác động L. X. Vư gôt xki đã chỉ ra cơ chế của quá trình tác động từ các THNN đến độc giả: “Sẽ đúng hơn nếu nói rằng khi cảm thụ nghệ thuật hình tượng cũng như nghệ thuật trữ tình, quá trình tâm lí được diễn ra theo công thức: từ cảm xúc do hình thức đến một cái gì tiếp sau đó. Vô luân trong trường hợp nào, cảm xúc do hình thức vẫn là điểm mở đầu và xuất phát mà nếu thiếu nó thì hoàn toàn không tiến hành được việc tìm hiểu nghệ thuật” [11, 108]. Đây là một luận điểm quan trọng trong tâm lí học nghệ thuật và hoàn toàn xác đáng khi dùng để nói về quá trình tác động của các THTM đến người đọc: hình thức là nhân tố đầu tiên tác động đến cảm xúc thẩm mĩ của độc giả. Quá trình tác động của ngôn ngữ nghệ thuật là sự tổng hòa và thẩm thấu tất cả các phạm vi của đời sống tinh thần. Quá trình tác động thẩm mĩ chính là sự kích thích những năng lực tưởng tượng và cảm xúc một cách có định hướng rõ rệt nhằm cung cấp cho con người một khả năng tự ý thức, tự soi chiếu vào bản thể của mình, đưa ra cái phần vô thức “từ chốn chật chội và bí lối của lĩnh vực cá nhân ra khoảng không rộng lớn, bỏ mặc lại sau tất cả tính tạm thời và hữu hạn của một cá tính bị giới hạn”. [11, 110] 1.1.4. Những đặc trưng tiêu biểu của tín hiệu thẩm mĩ 1.1.4.1. Tính truyền thống và tính cách tân Tính truyền thống và tính cách tân của THTM liên quan đến vấn đề cái mới của nó. Theo Đỗ Hữu Châu: “Truyền thống và cách tân là hai phương diện biện chứng của THTM” [5, 559]. Nói đến tính truyền thống là nói đến cái cố định, tính lặp lại, tính kế thừa, có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc. Nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi tác gả, thậm chí là trong từng tác phẩm. Nếu không có tính cách tân thì THTM sẽ bị mài mòn, bị mất đi giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc. Trái lại nếu không có tính truyền thống thì THTM sẽ bị mất đi những điều kiện nhất định về mặt liên tưởng giúp cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm. Phải bắt nguồn từ ca dao thì những câu thơ sau của Nguyễn Du mới có sức lay động lòng người đến như vậy: Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi 13 dặm trường. Nếu theo truyền thống thì ca dao chỉ diễn tả được quy luật như một lẽ thường, đó là cảnh chia lìa xuôi ngược. Song Nguyễn Du đã cách tân ở chỗ dùng lẽ thường ở đời đó mà khơi sâu được bi kịch tình yêu hết sức nghiệt ngã giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, khi hai người chia tay nhau để chàng Thúc về quê thưa chuyện với Hoạn Thư mong được lấy nàng Kiều làm vợ lẽ. Đây cũng chính là cuộc chia tay chưa biết ngày gặp lại, chưa biết sự thể sẽ thế nào nên nó thấm đẫm màu sắc tâm trạng. Những yếu tố truyền thống mang tính cố định, ổn dịnh như điển cố, những ước lệ, tượng trưng khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ có sức khơi gợi thẩm mĩ rất lớn. Cái mới trong cách sử dụng THTM có thể được thể hiện ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là sự cách tân các THTM, ở việc đổi mới các THTM có sẵn trong truyền thống, mang lại cho chúng những YNTM mới. Điều này chỉ có được thông qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ. 1.1.4.2. Tính biểu trưng Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện. Đây là mối quan hệ có lí do, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm Tiếng Việt. Theo Nguyễn Thái Hòa: “Tính biểu trưng là khả năng gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận”. [12, 103] Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực. Mặt khác, đó là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận. Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này chính là tính có lí do trong THTM nói chung. Đặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội… gắn với một cộng đồng nào đó, từ đó hình thành ý nghĩa xã hội, được cả cộng đồng chấp nhận như vừa nói tới ở trên. Ví dụ: Hình ảnh con cò trong ca dao Việt Nam thường gắn với thân phận thấp bé (Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao), đức tính chịu thương, chịu khó (Cái cò lặn lội bờ ao/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non), có khi lại được hiểu là người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa phải vất vả, lam lũ, một nắng hai sương lo cho chồng, cho con.. Cũng do tính biểu trưng mà hiệu lực, giá trị của các THTM phụ thuộc vào cách tri nhận, cách giải thích theo một thiên hướng nào đấy, một quy ước nào đấy của cả cộng đồng mà có khi lại trái ngược với cộng đồng khác. Chẳng hạn, với cộng đồng Ấn Độ giáo, Phật giáo như ở Nhật Bản, Việt Nam… biểu trưng hoa sen được hiểu theo ý nghĩa đạo đức trong trắng, tiết độ, cứng rắn, một biểu 14
- Xem thêm -