Tài liệu Tìm hiểu về thành ngữ trong truyện kiều của nguyễn du

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 419 |
  • Lượt tải: 4
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN VĂN ĐÔNG TÌM HIỂU VỀ THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN VĂN ĐÔNG TÌM HIỂU VỀ THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: TS. Bùi Thanh Hoa SƠN LA, NĂM 2013 LỜI CẢM ƠN Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo - Tiến sĩ Bùi Thanh Hoa, đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, phòng Quản lý khoa học, phòng Đào tạo, các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn cùng các phòng ban chức năng đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn độc giả, để cho khóa luận được hoàn thiện hơn. Tác giả Trần Văn Đông DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT tr trang CV chủ-vị CVB chủ-vị-bổ Đ-T đề-thuyết C-P chính-phụ Nxb Nhà xuất bản NNH Ngôn ngữ học MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2 3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................. 3 3.1. Đối tượng .................................................................................................... 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 3 3.3. Mục đích ..................................................................................................... 3 3.4. Nhiệm vụ của đề tài ..................................................................................... 3 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 3 5. Đóng góp của đề tài ........................................................................................ 4 5.1. Đóng góp về lý thuyết ................................................................................. 4 5.2. Đóng góp về thực tiễn ................................................................................. 4 6. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................... 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ......................................................................... 5 1.1. Ngữ cố định ................................................................................................. 5 1.1.1. Khái niệm ................................................................................................. 5 1.1.2. Đặc trưng ................................................................................................. 5 1.1.3. Phân loại .................................................................................................. 6 1.2. Thành ngữ ................................................................................................... 6 1.2.1. Khái niệm ................................................................................................. 6 1.2.2. Đặc điểm .................................................................................................. 8 1.2.3. Phân loại .................................................................................................. 9 1.2.4. Thành ngữ đối ........................................................................................ 11 1.2.5. Thành ngữ so sánh.................................................................................. 12 1.2.6. Thành ngữ thường .................................................................................. 13 1.3. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ, cụm từ tự do và tục ngữ ...................... 14 1.3.1. Khái quát ................................................................................................ 14 1.3.2. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ .......................................................... 14 1.3.3. Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do ..................................................... 15 1.3.4. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ ............................................................. 16 CHƯƠNG 2: NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU ............................................ 20 2.1. Nguyễn Du ................................................................................................ 20 2.1.1. Tiểu sử cuộc đời ..................................................................................... 20 2.1.2. Con người............................................................................................... 21 2.1.3. Sự nghiệp sáng tác.................................................................................. 21 2.1.3.1. Tác phẩm chữ Hán .............................................................................. 22 2.1.3.2. Tác phẩm chữ Nôm .............................................................................. 22 2.2. Truyện Kiều .............................................................................................. 23 2.2.1. Vị trí của Truyện Kiều trong sáng tác của Nguyễn Du............................ 23 2.2.2. Vị trí của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc và thế giới ................. 24 2.2.2.1. Vị trí của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc................................ 24 2.2.2.2. Vị trí của Truyện Kiều với văn học thế giới ......................................... 25 CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI CÁC ĐƠN VỊ THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU ................................................................................................................ 27 3.1. Thành ngữ đối ........................................................................................... 27 3.1.1. Thành ngữ đối bốn yếu tố ....................................................................... 27 3.1.2. Thành ngữ đối 6 yếu tố. .......................................................................... 33 3.2. Thành ngữ so sánh ..................................................................................... 33 3.3. Thành ngữ thường ..................................................................................... 34 CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU ................................................................................................ 37 4.1. Đặc điểm ................................................................................................... 37 4.1.1. Đặc điểm hình thức của thành ngữ trong Truyện Kiều ........................... 37 4.1.1.1. Tính cố định......................................................................................... 37 4.1.1.2. Tính hài hoà cân đối ............................................................................ 38 4.1.1.3. Phương thức cấu tạo ........................................................................... 41 4.1.2. Đặc điểm nội dung của thành ngữ trong Truyện Kiều ............................ 43 4.1.2.1. Khái quát ............................................................................................. 43 4.1.2.2. Tính biểu trưng và tính hàm súc .......................................................... 43 4.1.2.3. Phương thức cấu tạo ngữ nghĩa của thành ngữ ................................... 46 4.2. Cách sử dụng thành ngữ trong Truyện Kiều .............................................. 47 4.2.1. Sử dụng nguyên dạng ............................................................................. 47 4.2.2. Sử dụng cải biến ..................................................................................... 49 KẾT LUẬN...................................................................................................... 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguyễn Du được coi là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ông đã để lại cho chúng ta một kho tàng lớn những tác phẩm như: Thanh hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn chiêu hồn,... Qua những tác phẩm của mình, đặc biệt với Truyện Kiều ông đã thể hiện tài năng bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, tạo nên một phong cách riêng cho thơ văn Nguyễn Du. Chính vì thế, tác phẩm của ông trở thành đối tượng nghiên cứu của đông đảo các nhà phê bình văn học, các nhà ngôn ngữ học. “Đoạn trường tân thanh” (tên phổ biến là Truyện Kiều) được viết bằng chữ Nôm, gồm 3254 câu thơ theo thể lục bát. Thông qua Truyện Kiều người đọc phần nào thấy được tư tưởng nhân đạo sâu sắc cùng với tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ. Rõ ràng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật mỗi nhà văn có một cảm quan hiện thực và một cảm hứng sáng tác riêng. Hệ thống từ ngữ được tác giả sử dụng rất dung dị, tự nhiên, mang đậm hơi thở của cuộc sống. Trong đó, các thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng rất hiệu quả. Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ mang tính chất dân tộc sâu sắc. Nó thường xuyên có mặt trong lời ăn, tiếng nói của mỗi người dân trong cuộc sống. Bất kỳ ở nơi đâu, trong thời gian nào thì thành ngữ cũng có thể xuất hiện: khi kể chuyện, khi viết thư hay giao tiếp với nhau... Cùng với kho tàng tục ngữ, ca dao, Thành ngữ là một tài sản quý báu. Nói cách khác, thành ngữ được sáng tạo trong quá trình sinh hoạt quần chúng. Vì thế, chúng thường xuất hiện trong môi trường dân dã. Tất cả các đặc điểm trên làm cho thành ngữ trở thành một đối tượng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu không chỉ ở ngành ngôn ngữ học mà còn ở nhiều ngành khác như: dân tộc học, văn hóa,... Nghiên cứu thành ngữ cũng là một công việc có đóng góp rất lớn trong việc miêu tả ngôn ngữ, so sánh, đối chiếu các ngôn ngữ với nhau. Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã vận dụng khá thành công thành ngữ trong việc khắc họa hình ảnh nhân vật, miêu tả cuộc sống hiện thực lúc bấy giờ. Từ trước tới nay, có nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ, nhưng rất ít người nghiên cứu về thành ngữ trong Truyện Kiều. Chúng tôi đã tìm hiểu trên internet, báo chí, sách nghiên cứu,... những đầu sách ngữ pháp, từ loại, thành ngữ có rất nhiều nhưng liên quan đến thành ngữ trong Truyện Kiều thì rất ít. Chúng tôi chỉ tìm thấy một số bài viết, tài liệu liên quan đến thành ngữ trong Truyện Kiều mang tính khái quát. Trong khi đó, cách sử dụng thành ngữ 1 của tác giả lại chưa được chú ý đúng mức. Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài cho khóa luận của mình là: “Tìm hiểu về thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”. 2. Lịch sử vấn đề Nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt nói chung có thể nói đến giai đoạn hiện nay đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công trình nghiên cứu đầu tiên trong tiếng Việt là về “Tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh được công bố vào năm 1921. Tuy nhiên, đến những năm 60 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu thành ngữ mới có cơ sở khoa học nghiêm túc. Cái mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là việc xuất bản từ điển “Thành ngữ tiếng Việt” (1976) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang. Công trình này tuy còn chưa bao quát được hết tất cả các thành ngữ trong tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến vấn đề này một tài liệu bổ ích, có giá trị to lớn. Tiếp đó, năm 1989, Nguyễn Lân xuất bản cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, Hoàng Văn Hành “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ” (1988-1990) . Các công trình khác về sau đều đi sâu vào nghiên cứu với mục đích tìm ra sự khác biệt giữa thành ngữ với các đơn vị khác có liên quan, tức là khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa thành ngữ với ngữ định danh, giữa thành ngữ với cụm từ tự do. Có thể kể đến các công trình đó như “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành ngữ” (1973) của Cù Đình Tú, “Từ và vốn tiếng Việt hiện đại” (1976) của Nguyễn Văn Tu, “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976) của Hồ Lê, “Tục ngữ Việt Nam” của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri và gần đây nhất là “Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc” (2006) của Triều Nguyên. Như vậy, thành ngữ cho đến nay vẫn đang được tiếp cận, khám phá theo nhiều khía cạnh khác nhau nhằm làm sáng rõ những giá trị phong phú của đơn vị từ vựng này. Một trong những khía cạnh nói trên là việc nghiên cứu nghệ thuật sử dụng thành ngữ của các nhà văn, nhà thơ, những tác giả lớn. Một loạt những luận văn thạc sĩ, những khóa luận tốt nghiệp, cũng như nhiều báo cáo khoa học, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề sử dụng thành ngữ của những tên tuổi lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyên Hồng, Tản Đà, Tô Hoài... đã được tiến hành trong thời gian gần đây nhưng vẫn chưa có công trình nào tìm hiểu kĩ lưỡng về nghệ thuật dùng thành ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Trong cuốn “Những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều” (2004) của Phạm Đan Quế cũng đã đề cập đến việc vận dụng thành ngữ trong Truyện Kiều nhưng mới ở mức độ khái quát. 2 3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Đối tượng Khoá luận khảo sát các thành ngữ gốc Việt và Hán Việt trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 3.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khóa luận này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của những thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu tình hình và xu hướng vận dụng của các thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. 3.3. Mục đích Tìm hiểu vốn thành ngữ của dân tộc là việc làm vô cùng bổ ích. Thực hiện đề tài này giúp cho người đọc và bản thân người viết thu nhận được một vốn hiểu biết sâu sắc hơn về thành ngữ, đồng thời thấy được giá trị, ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ trong sáng tác văn chương. Và đặc biệt quan trong hơn khi giúp người viết khám phá ra nét đặc sắc của việc sử dụng thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Từ đó nhận ra được những đóng góp của tác giả này đối với kho tàng ngôn ngữ dân tộc trên con đường hiện đại hóa. 3.4. Nhiệm vụ của đề tài Bước đầu làm rõ đặc điểm kết cấu, ngữ nghĩa của các thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Chỉ ra những sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng thành ngữ. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi thực hiện một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thống kê, phân loại: Nhằm tổng hợp những thành ngữ được sử dụng trong Truyện Kiều. Phương pháp phân tích: Nhằm phân tích những đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của một số thành ngữ trong Truyện Kiều. Phương pháp bình luận: Nhằm làm sáng tỏ và đánh giá tài năng của Nguyễn Du trong việc sử dụng thành ngữ. Phương pháp đối chiếu, so sánh theo khuôn mẫu cấu trúc thành ngữ. 3 5. Đóng góp của đề tài 5.1. Đóng góp về lý thuyết Thông qua việc thống kê, khảo sát những thành ngữ xuất hiện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần khẳng định sự sáng tạo và những đóng góp lớn của Nguyễn Du đối với kho tàng thành ngữ của dân tộc, đồng thời tìm hiểu giá trị phong cách của những đóng góp này. Như vậy ý nghĩa trước hết của đề tài này đó chính là khẳng định thêm một lần nữa tài năng, sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ xây dựng những trang văn kiệt tác, cùng với đó là làm rõ thêm giá trị của những thành ngữ mà ông sử dụng. 5.2. Đóng góp về thực tiễn Bằng việc nghiên cứu, phân tích kỹ những đặc điểm của thành ngữ về cấu trúc, ngữ nghĩa, phân loại về loại hình, về phản ánh cách tư duy... chúng tôi có thể cung cấp thêm nhiều thành ngữ hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn cho cuốn từ điển thành ngữ sau này chính vì thế với đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần rất nhỏ trong công việc nghiên cứu thành ngữ giai đoạn hiện nay. 6. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo thì phần nội dung của khóa luận gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Nguyễn Du và Truyện Kiều Chương 3: Phân loại các đơn vị thành ngữ trong Truyện Kiều Chương 4: Đặc điểm và cách sử dụng thành ngữ trong Truyện Kiều Ngoài ra, khóa luận còn bao gồm phần phụ lục: Danh sách thành ngữ và các biến thể của chúng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Ngữ cố định 1.1.1. Khái niệm Ngữ cố định là một cụm từ ( ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ ) nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ. Ví dụ: Kén cá chọn canh [34, 384] ; Ăn vóc học hay [34, 38] 1.1.2. Đặc trưng a. Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ. Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: Cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B, C... mang nghĩa lần lượt S[1], S[2], S[3]... tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa S[1], S[2], S[3]... thì tổ hợp A, B, C... có tính thành ngữ. Tính thành ngữ có mức độ từ thấp tới cao khác nhau. Ba hoa tinh tướng [34, 45] có tính thành ngữ thấp hơn Ba chìm bảy nổi [34, 43] nhưng Ba chìm bảy nổi có tính thành ngữ thấp hơn Ba cọc ba đồng [34, 43]... b. Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa nói chung. Thực ra trong các ngữ cố định, có nhiều ngữ có cấu tạo là các câu như: chuột sa chĩnh gạo [34, 184], Cha truyền con nối [34, 123], Chó ngáp phải ruồi [34, 171]... thậm chí có hình thức cấu tạo là câu ghép: Đâm bị thóc chọc bị gạo [34, 285], Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng [34, 19]..vv. Tiêu chí cơ bản để xác định các thành ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu. “Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc....như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu”[2, 73]. c. Những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do là các trường hợp như: nói cách khác, nói khác đi, một mặt thì, đáng chú ý là..vv..Tính chất cụm từ tự do của các ngữ này rất rõ ràng về ý nghĩa và hình thức. Đây là các cụm từ tự do đã được cố định hóa do nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải lặp đi lặp lại vì cần thiết cho sự suy nghĩ và cho sự diễn đạt. d. Nói ngữ cố định có tính chất chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúng không biến đổi trong câu văn cụ thể. Sự biến đổi của các ngữ cố định đa dạng hơn, “tự do” hơn các biến thể từ phức. 5 Các ngữ cố định cũng có thể rút gọn, như ngữ chết nhăn răng, tốt mã giẻ cùi có thể rút gọn còn nhăn răng, tốt mã. Chúng có thể được mở rộng, thêm thành phần như: ngữ học như quốc kêu được mở rộng thành học như cuốc kêu ra rả mùa hạ. 1.1.3. Phân loại Thông thường các nhà ngôn ngữ học thường phân chia ngữ cố định làm hai loại: Quán ngữ và thành ngữ. Quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính chất... chưa có tên gọi. Ví dụ như: chắc chắn là, rõ ràng, cũng thế mà thôi,.vv.. Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ. Các thành ngữ tương đương với từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa, sắc thái hóa, có tính chất miêu tả. Ta có thể phân chia các ngữ cố định tiếng Việt về hình thức (dựa theo kết cấu cú pháp gốc của chúng) thành hai loại: ngữ cố định có kết cấu câu và ngữ cố định có kết cấu cụm từ. Ngữ cố định có kết cấu câu: Mèo mù vớ cá rán [34, 450], Lươn ngắn chê trạch dài [34, 430],.vv.. Nhìn chung các ngữ cố định có kết cấu câu thường biểu thị các sự kiện, tình thế phức tạp không có từ sẵn có đồng nghĩa. 1.2. Thành ngữ 1.2.1. Khái niệm Thành ngữ là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu và đưa ra những khái niệm khác nhau, theo những hướng nhìn và khía cạnh khác nhau: Các nhà Việt ngữ học, khi nghiên cứu thành ngữ, không phải ai cũng đưa ra được những quan điểm đầy đủ và rõ ràng, thậm chí có tác giả còn cho rằng thành ngữ là tục ngữ. Chẳng hạn Nguyễn Văn Tố trong bài Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây đã viết: "Tục ngữ là những câu thành ngữ nói đã quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thuý, ý tứ sâu xa, câu nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn. Nhưng dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau...". [32, 105] Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các nhà Việt ngữ học đã dần dần có được quan niệm ngày càng hoàn thiện hơn về thành ngữ, và mặc dù còn nhiều điểm khác nhau giữa các quan niệm nhưng các tác giả đều chỉ ra được ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ. 6 Trong sách Việt Nam văn học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm đã đưa ra quan niệm: "Thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì cho có màu mè". [13, 107] Đến năm 1972, trong Tạp chí Ngôn ngữ [số 3], Nguyễn Văn Mệnh lại coi "Thành ngữ là đơn vị có nội dung bên trong miêu tả hình ảnh của các hiện tượng cũng như hành động và quan hệ". Hay trong bài Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ, ông đã chỉ ra một số nét riêng của thành ngữ như sau: "Về nội dung...thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một nét tính cách, một thái độ...Về hình thức ngữ pháp, nói chung thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh".[22, 72]. Tiếp tục hướng nghiên cứu đó, năm 1986, ông lại đưa ra một khái niệm rõ ràng hơn: "Thành ngữ là một loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế". [23, 43]. Còn Trương Đông San thì cho rằng: "Thành ngữ là những cụm từ cố định có ý nghĩa hình tượng tổng quát, không suy ra trực tiếp từ ý nghĩa của những đơn vị từ tạo ra nó. Thành ngữ gồm những đơn vị mang ý nghĩa hình tượng chung, trong đó tất cả các đơn vị từ đều mất nghĩa đen". [29, 7]. Nguyễn Văn Tu quan niệm: "Thành ngữ là những cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập cao về ý nghĩa kết hợp thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không do nghĩa của từng thành tố tạo ra. Những thành ngữ này cũng có thể có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng có thể khác nghĩa của các từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học". [30, 7]. Nhấn mạnh tính dân tộc của thành ngữ, Nguyễn Đức Dân viết: "Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù của dân tộc. Thành ngữ phản ánh các khái niệm và hiện tượng". [5, 11]. Để khắc sâu tính gợi hình ảnh của thành ngữ, Nguyễn Thiện Giáp nêu lên quan niệm: "Thành ngữ là một cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi tả. Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ . Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên hình ảnh, những biểu tượng cụ thể. Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng trên cơ sở của hiện tượng ẩn dụ và so sánh". [10, 7]. Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã định nghĩa thành ngữ như sau: "Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ. Các thành 7 ngữ tương đương với các từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa, sắc thái hoá, có tính chất miêu tả". [3, 86]. Đái Xuân Ninh cho rằng: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở các mức nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [24, 211]. Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì lại cho rằng “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động. Về mặt này, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ”.[17, 69]. Nhìn chung, quan niệm về thành ngữ khá đa dạng và phức tạp. Các tác giả đều cố gắng nêu lên quan niệm của mình về thành ngữ. Song qua đó chúng tôi nhận thấy: khái niệm về thành ngữ đã ngày càng rõ nét hơn và có những điểm thống nhất nhất định như: + Tính sẵn có của thành ngữ + Tính ổn định của tổ hợp từ gọi là thành ngữ Sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu chủ yếu thể hiện ở điểm nhấn trong từng quan niệm về cấu trúc hình thức, đặc tính ngữ nghĩa hoặc chức năng của thành ngữ. Không tham vọng xây dựng một khái niệm mới về thành ngữ, ở khoá luận này chúng tôi chỉ muốn thể hiện một hướng nghiên cứu về thành ngữ xuất phát từ ngữ nghĩa của các thành tố tạo nên chúng. Chính vì vậy, chúng tôi chọn một cách hiểu thông thường rút ra từ quan niệm của các nhà Việt ngữ học, cụ thể chúng tôi coi: "Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, thành ngữ là đơn vị có sẵn và được sử dụng tương đương với từ trong giao tiếp ngôn ngữ". 1.2.2. Đặc điểm Thành ngữ với tư cách là đơn vị có sẵn tương đương với từ có các đặc điểm cơ bản như sau: Tính ổn định về hình thức: Sự ổn định về hình thức của thành ngữ thể hiện ở mặt cấu tạo, trật tự các thành tố trong thành ngữ. Ví dụ: Há miệng mắc quai Tính ổn định về hình thức là một tiêu chí cơ bản để xác định thành ngữ. Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, thành ngữ cũng có thể có những biến đổi nhất định nhằm tăng thêm giá trị biểu cảm như: "Tất bật như nhà có đám" có thể biến 8 đổi thành "Tất ba tất bật như nhà có đám" hay trường hợp "Đi guốc trong bụng" thành "Đi dép trong bụng"... Tính biểu trưng: Tính biểu trưng của thành ngữ thể hiện ở mặt nghĩa, cụ thể: Nghĩa chung của thành ngữ không phải là phép cộng đơn giản của nghĩa từng thành tố cấu tạo nên nó. Ví dụ: Đầu trâu mặt ngựa Thành ngữ này đã vận dụng hình ảnh trâu và ngựa để chỉ hạng người hung hãn, ngang ngược thô bạo không có tính người, giống như loài trâu ngựa. Tính cụ thể: Tính biểu trưng của thành ngữ có được là do tính cụ thể. Tính cụ thể làm cho thành ngữ có thể vận dụng linh hoạt trong giao tiếp hàng ngày và trong những cảnh huống khác nhau. Ví dụ: "Cũng là tính chất lúng túng, nhưng "lúng túc như gà mắc tóc" nói đến tình trạng lúng túng do sa vào nhiều sự việc dồn dập mà không tìm được cách giải quyết. "lúng túng như thợ vụng mất kim" là nói đến sự lúng túng không phải vì gặp nhiều sự việc rắc rối mà là do chỗ chưa có kinh nghiệm, lại mất phương hướng. "Lúng túng như ếch vào rạp xiếc" là nói đến sự lúng túng do bị giam hãm trong những tình thế cực kỳ khó khăn, không thi thố được tài năng. "Lúng túng như chó ăn vụng bột" là nói đến sự lúng túng của những người phạm sai lầm muốn che giấu lỗi lầm của mình song tang chứng vẫn "sờ sờ" ra đấy...". [3, 85]. Tính dân tộc: Mỗi thành ngữ đều mang nghĩa biểu trưng, nó phản ánh tư duy của một dân tộc. Mỗi dân tộc có cách tư duy, cách nhìn nhận riêng về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Ví dụ: Người Tày có thể so sánh "Rẻ như cát" còn người Kinh thì so sánh "Rẻ như bèo", hoặc người Anh so sánh "Đắt như bánh nóng", người Việt lại so sánh "Đắt như tôm tươi"... 1.2.3. Phân loại Từ trước tới nay các nhà Việt ngữ học đã chú ý tới sự phân loại thành ngữ nhưng dường như các tác giả chỉ mới dừng lại ở những phạm vi nhất định với mục đích phục vụ cho việc phân loại hệ thống hoá các lớp từ ngữ trong tiếng Việt. Điều này đã được thể hiện rõ qua các chuyên luận từ vựng học, ngữ pháp học của Nguyễn Kim Thản (1962), Nguyễn Văn Tu (1968), Hồ Lê (1976), Đái Xuân Ninh (1978), Đỗ Hữu Châu (1981), Cù Đình Tú (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Hoàng Văn Hành (1993). 9 Khi phân loại thành ngữ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường dựa vào những tiêu chí sau: Chức năng, ngữ nghĩa, hình thức. Do mục đích nghiên cứu khác nhau nên kết quả phân loại cũng khác nhau. Chúng tôi xin điểm lại một số kết quả phân loại chính như sau: Đặt thành ngữ trong sự tương ứng với từ về mặt chức năng và khả năng thay thế cho nhau, Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ". [3, 86]. Đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từ ghép, Nguyễn Thiện Giáp phân thành ngữ tiếng Việt thành hai loại: + Thành ngữ hợp kết. + Thành ngữ hoà kết. Dựa vào ngữ nghĩa, Cù Đình Tú chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại: + Thành ngữ biểu thị sự vật. + Thành ngữ biểu thị hành động. + Thành ngữ biểu thị tính chất. Xuất phát từ cách nhìn thành ngữ là một chỉnh thể cấu trúc hình thái ngữ nghĩa, Nguyễn Công Đức chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại lớn: + Thành ngữ đối. + Thành ngữ so sánh. + Thành ngữ thường (không đối, không so sánh). Như vậy, ranh giới giữa từng kiểu loại cụ thể được xác định tuỳ theo mục đích nghiên cứu của từng tác giả. Nếu đi sâu vào từng kiểu nhỏ thì đường ranh giới đó lại càng đa dạng và phức tạp hơn. Theo chúng tôi, để phân loại thành ngữ phải chú ý đến tất cả những nhân tố tham gia cấu tạo thành ngữ, làm sao cho sự phân loại không chỉ là sự sắp xếp các thành ngữ thành từng loại một cách triệt để mà còn phải nhằm mục đích nhận thức các thành ngữ. Do vậy, khi phân loại thành ngữ cần thiết phải có sự kết hợp các tiêu chí hình thức, ngữ nghĩa để định loại. Về mặt cấu trúc của thành ngữ ta có thể hình dung hệ thống thành ngữ tiếng Việt bằng sơ đồ tổng quát sau đây: 10 Thành ngữ Thành ngữ đối Thành ngữ so sánh Thành ngữ thường 1.2.4. Thành ngữ đối Thành ngữ đối là bộ phận quan trọng trong vốn thành ngữ của bất kỳ một ngôn ngữ nào. Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ. Nguyễn Thiện Giáp cũng đã đề cập đến tính chất đối ứng của các yếu tố tạo nên thành ngữ. Theo tác giả: "về hình thức, thành ngữ vẫn phân biệt với cụm từ tự do ở tính phi cú pháp trong quan hệ. Tính chất phi cú pháp của thành ngữ được bộc lộ rõ nhất ở tính đối ứng của các thành tố." [9, 83] Bùi Khắc Việt (1981) đã miêu tả khá kỹ lưỡng về thành ngữ đối. Theo tác giả: "đối là cách chơi chữ cốt đặt hai tiếng, hai phần của câu hoặc hai câu song song và cân xứng nhau. Hai từ đối nhau nếu: về ngữ pháp cùng thuộc loại từ; về ngữ nghĩa vừa có những đồng nhất vừa có những khác biệt; về ngữ âm, có số lượng âm tiết ngang nhau, đối lập với âm điệu bằng trắc. Trong ba điều kiện trên, đối về nghĩa là căn bản." [33, 28]. Đi vào chi tiết, các nhà Việt ngữ học cũng đã phân tích sự đối ứng, điệp hay đối lập giữa các thành tố trong hai vế của thành ngữ, ví như quan hệ về từ loại, quan hệ về các phạm trù ngữ nghĩa giữa các yếu tố. Ở đây các quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa, điệp nghĩa được miêu tả khá tỉ mỉ. Các tác giả đi sâu vào việc tìm hiểu những quy luật bằng trắc, các yếu tố với sự thống kê khá công phu: - Bằng bằng trắc trắc (quê cha đất tổ) - Trắc trắc bằng bằng (gạn đục khơi trong) - Trắc bằng bằng trắc (mặt chai mày đá) - Bằng trắc trắc bằng (xôi hỏng bỏng không) Trong cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Hoàng Văn Hành đã khái quát đặc điểm cơ bản của thành ngữ đối được xây dựng qua hai bậc-bậc đối ý và bậc đối lời. Đối ý là bậc đối ứng giữa hai vế của thành ngữ với nhau về mặt ý. Ví dụ, 11 đó là sự đối ứng giữa đời cha ăn mặn và đời con khát nước trong thành ngữ đời cha ăn mặn đời con khát nước. Quan hệ đối ứng về ý giữa hai vế của thành ngữ này là: đời cha đã hưởng nhiều, hưởng hết, hưởng quá phần được hưởng thì đời con phải chịu thiếu thốn, phải chịu thiệt thòi. Như vậy, nghĩa của thành ngữ đối được xác lập chính là nhờ vào bậc đối ý này. Đối lời là quan hệ đối ứng giữa các yếu tố xen cài trong hai vế của thành ngữ. Trong thành ngữ mẹ tròn con vuông, sở dĩ ta nhận thấy quan hệ đối ý (sau khi sinh) mẹ khoẻ khoắn, vẹn toàn, con lành lặn, kháu khỉnh là nhờ có quan hệ đối ứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn với vuông. Tóm lại, tuy các quan niệm về thành ngữ đối của các tác giả mà chúng tôi liệt kê ở trên không có sự trùng khít với nhau nhưng vẫn có điểm đồng nhất: đều khẳng định đặc điểm nổi bật của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ (đối lời) và nhờ quan hệ đối ứng này mà ta xác định được quan hệ đối ứng về ý của thành ngữ để từ đó suy ra ý nghĩa của từng thành ngữ. Khoá luận này lấy quan niệm về thành ngữ đối như đã nêu của các tác giả tiền bối để làm căn cứ cho việc thống kê, phân tích các đặc điểm cấu tạo của thành ngữ đối trong Truyện Kiều. 1.2.5. Thành ngữ so sánh Khi nghiên cứu về thành ngữ so sánh, các tác giả đã đưa ra khá nhiều quan niệm khác nhau, trong khoá luận này, do khuôn khổ có hạn, vì thế chúng tôi chỉ xin điểm qua một vài quan niệm tiêu biểu. Nhà Việt ngữ học Trương Đông San-tác giả bài viết Thành ngữ so sánh tiếng Việt (Tạp chí ngôn ngữ, số 1/1974) thành ngữ so sánh, theo Trương Đông San: "đó là một cụm từ cố định, được dùng đi dùng lại thường xuyên, nhưng rất sinh động tươi mát, ví von, chân xác vì đã được đúc kết từ thực tiễn lâu đời và được mọi người Việt Nam thừa nhận" [16, 2]. Ví dụ: Lừ đừ như ông từ vào đền, Vắng như chùa bà đanh, Lòng vả cũng như lòng sung, Lúng túng như ngậm hột thị, Nóng như Trương Phi,... Tập thể tác giả biên soạn cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (Hoàng Văn Hành (chủ biên), 1991) nêu quan niệm về thành ngữ so sánh như sau: "Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh với nghĩa biểu trưng" [12, 7]. Ví dụ: rách như tổ đỉa, khoẻ như vâm, ngu như bò, béo như cum cút, xoay như chong chóng, như cá nằm trên thớt, như mở cờ trong bụng,... Để làm sáng tỏ hơn về thành ngữ so sánh, Nguyễn Văn Hằng nhấn mạnh: "Trong thành ngữ so sánh, yếu tố so sánh là yếu tố mang hình ảnh, được xem 12 như mẫu mực của tính chất hay thuộc tính được gán ghép cho chủ thể và cả cụm từ có ý nghĩa khái quát" [8, 104]. Qua các ý kiến nêu trên, chúng tôi nhận thấy: Quan niệm về thành ngữ so sánh của các tác giả tuy có khác nhau nhưng về cơ bản các tác giả đều dựa trên phép so sánh để đưa ra các khái niệm sao cho rõ ràng và đầy đủ nhất. Trong khoá luận này, từ việc tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi quan niệm về thành ngữ so sánh như sau: Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh về nghĩa, bắt nguồn từ phép so sánh. Hình tượng của thành ngữ so sánh rất phong phú và sinh động, gần gũi và quen thuộc với người bản ngữ, được đúc kết từ trong đời sống. Đây là khái niệm riêng của khoá luận, nó được coi là cơ sở để chúng tôi giải quyết nhiệm vụ mà khoá luận đã đề ra. 1.2.6. Thành ngữ thường Thành ngữ thường chiếm một số lượng rất đáng kể trong "kho" thành ngữ của bất kỳ một dân tộc nào. Với loại thành ngữ này, nếu không tập trung chú ý thì dễ bị che lấp bởi các loại thành ngữ so sánh và thành ngữ đối. Chính vì vậy, chúng ta thường thấy các nhà Việt ngữ học hoặc chỉ nghiên cứu thành ngữ nói chung hoặc lấy các đặc điểm nổi trội của thành ngữ so sánh và thành ngữ đối làm đối tượng nghiên cứu của mình. Kì thực thì thành ngữ thường là một loại riêng, có con đường tạo lập nghĩa riêng và rất độc đáo. Về hình thức, một bộ phận khá lớn các thành ngữ thường xuất hiện dưới dạng một kết cấu chủ vị, nói chính xác hơn là tương đương với một câu trọn vẹn. Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi Gà què ăn quẩn cối xay Nhìn một cách tổng quát thì thành ngữ thường chủ yếu được hình thành bằng xu hướng cố định hoá câu và các cụm động từ. Nguyên nhân tạo nên xu hướng này là do bản thân ngữ nghĩa của loại thành ngữ này quy định. Thành ngữ thường hẳn là được hình thành nhờ vào sự quan sát sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội với một quá trình lâu dài được hình thành trong tư duy của con người, làm nảy sinh những liên tưởng với những điều gần gũi, thân thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày. Thông thường những liên tưởng đó phải viện đến một hình thức cố định như kết cấu chủ vị hay cụm động từ (nòng cốt đóng vai trò vị 13
- Xem thêm -