Tài liệu Tìm hiểu văn hóa xã thanh trạch trước cách mạng tháng tám 1945

  • Số trang: 67 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
sharebook

Tham gia: 25/12/2015

Mô tả:

MỤC LỤC MỤC LỤC ......................................................................................................... 1 PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 3 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 3 2. Lịch sử đề tài .................................................................................................. 4 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 7 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ................................................................... 8 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 8 6. Đóng góp của đề tài ........................................................................................ 9 7. Cấu trúc của khóa luận: ................................................................................. 9 PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 10 CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ XÃ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ......................................................................................................................... 10 1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên .............................................................. 10 1.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................. 10 1.1.2. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 10 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của xã Thanh Trạch................................. 17 1.3. Tổ chức làng xã và dân cư ......................................................................... 21 CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KINH TẾ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ............................................................................ 30 2.1. Kinh tế nông ngiệp .................................................................................... 30 2.1.1. Trồng trọt ............................................................................................... 30 2.1.2. Khai thác lâm sản ................................................................................... 32 2.1.3. Chăn nuôi ............................................................................................... 33 2.1.4. Nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản ............................................... 33 2.2. Thủ công nghiệp và thương nghiệp............................................................ 35 2.2.1. Chế biến thủy hải sản.............................................................................. 36 2.2.2. Nghề đóng tàu ........................................................................................ 37 2.3. Hoạt động trao đổi, buôn bán..................................................................... 38 2.4. Kinh tế biển ............................................................................................... 39 1 2.5. Giao thông vận tải ..................................................................................... 40 2.6. Vài nét phác thảo bức tranh đời sống kinh tế Thanh Trạch dưới chế độ thực dân phong kiến ................................................................................................. 41 CHƯƠNG 3. NHỮNG THÀNH TỰU VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ VĂN HÓA TINH THẦN CỦA XÃ THANH TRẠCH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ......................................................................................... 43 3.1. Văn hóa vật chất ........................................................................................ 43 3.1.1. Đình làng, chùa làng ............................................................................... 43 3.1.1.1. Đình làng ............................................................................................. 43 3.1.1.2. Chùa làng ............................................................................................ 44 3.1.2. Miếu điện, đền thờ .................................................................................. 47 3.1.3. Văn hóa ẩm thực ..................................................................................... 47 3.1.4. Văn hóa mặc ........................................................................................... 48 3.1.5. Nhà ở ...................................................................................................... 49 3.2. Văn hóa tinh thần ...................................................................................... 49 3.2.1. Lễ hội ..................................................................................................... 49 3.2.1.1. Hội làng ............................................................................................... 49 3.2.1.2. Lễ hội cầu ngư ..................................................................................... 50 3.2.2. Hương ước (Lệ làng) .............................................................................. 55 3.2.3. Tết .......................................................................................................... 55 3.2.3.1. Phong tục quy định trong ngày tết ....................................................... 55 3.2.3.2. Các trò chơi trong ngày Tết ................................................................. 57 3.2.4. Tang ma.................................................................................................. 58 3.2.4. Hôn nhân ................................................................................................ 60 3.2.5. Tôn giáo, tín ngưỡng .............................................................................. 60 3.2.6. Văn học .................................................................................................. 61 3.2.6.1. Truyền thuyết ...................................................................................... 61 3.2.6.2. Truyền thuyết nàng Tô Thị ở Quảng Bình ........................................... 62 PHẦN KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ ................................................................... 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 66 2 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghiên cứu để kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa làng xã truyền thống đã và đang trở thành vấn đề quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý văn hóa. Làm thế nào để giữ gìn, kế thừa và phát huy được những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa làng xã? Văn hóa làng xã là một trong những thành tố quan trọng của nền văn hóa dân tộc, là nền tảng để xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững. Vì vậy việc tìm hiểu cặn kẽ, có hệ thống về bản sắc văn hóa xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trước Cách mạng tháng Tám 1945 là nhằm góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương và của dân tộc. Những thập kỉ gần đây, việc nghiên cứu tìm hiểu văn hóa làng xã đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 24/1999 - TTtg về xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước văn hóa ở các làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân lao động và làm cơ sở vững chắc cho việc nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn hiện nay phát triển đúng hướng theo Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quảng Bình với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh đã có quá trình hàng trăm năm hình thành và phát triển rất đáng tự hào, mang trong mình những giá trị lịch sử lâu đời, gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của các thê hệ ông cha chúng ta. Trải qua những biến chuyển thăng trầm lịch sử, Quảng Bình đã chứng kiến sự thay đổi về cương vực, sự đan xen, giao thoa giữa các nền văn hóa đã từng tồn tại và phát triển, được thể hiện qua những dấu tích lịch sử vẫn còn lưu giữ đến ngày nay. Vùng đất Quảng Bình với bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời ngay từ thời đại đồ đá, thuộc giai đoạn văn hóa Hòa Bình muộn cách đây gần 1 vạn năm, là nơi giao hội nhiều nền văn hóa lớn của dân tộc, như văn hóa Đông Sơn - Sa Huỳnh, Việt - Mường, Đại Việt - Chămpa, Đàng Trong - Đàng Ngoài, Thăng Long 3 Phú Xuân... và được phát triển tương đối liên tục và phong phú cho đến ngày nay. Chính vì vậy, vùng đất này đã và đang chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa vật chất và tinh thần rất độc đáo của dân tộc. Thanh Trạch là một xã thuộc vùng duyên hải của huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, trong lịch sử hình thành và phát triển đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột của vùng biên viễn, biên cương. Là nơi gần kề với ranh giới phân tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hơn hai thế kỉ với dòng “sông Gianh” lịch sử “Xương chất thành núi, máu chảy thành sông”. Nơi đây đã chứng kiến nhiều đau thương mất mát. Trải qua những thăng trầm đó Thanh Trạch cũng là nơi có sự giao thoa, tiếp biến của các nền văn hóa, vùng văn hóa của Dân tộc. Chính vì lẽ đó mảnh đất Thanh Trạch đã hình thành nhiều giá trị văn hóa truyền thống vừa mang đặc điểm của văn hóa cư dân Việt, vừa mang nét đặc trưng riêng của cư dân miền Trung - một vùng đất chịu nhiều biến động trong quá trình lập làng giữ nước. Nơi đây không chỉ là nơi khởi nguồn của những giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần nói chung mà còn là môi trường cho các lễ hội dân gian truyền thống tồn tại và phát triển. Là sinh viên chuyên ngành Lịch sử và cũng là một người con của quê hương Quảng Bình, tôi từng ấp ủ mong muốn được đóng góp chút hiểu biết nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về bẳn sắc văn hóa dân tộc nói chung, quê hương Quảng Bình nói riêng để nâng cao hiểu biết về văn hóa lịch sử địa phương làm giàu cho hành trang tri thức của mình. Vì vậy, tôi đã chọn vấn đề: “Tìm hiểu văn hóa xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Lịch sử đề tài Văn hóa làng xã là vấn đề đã được đề cập tới trong rất nhiều công trình thuộc nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn khác nhau, nó cũng là một bộ phận nằm trong đối tượng nghiên cứu của các nhà văn hóa học như: Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Trần Ngọc Thêm, Toan Ánh... Nghiên cứu văn hóa Việt Nam các học giả không thể không đề cập 4 đến văn hóa làng xã bởi vì Việt Nam vốn là quốc gia nông nghiệp gắn với làng xã vì thế văn hóa làng xã đã từng được xem là “hồn, cốt của văn hóa dân tộc”. Huyện Bố trạch nói chung, xã Thanh Trạch nói riêng tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên khảo, chuyên sâu về lịch sử và văn hóa nhưng cũng đã có một số công trình nghiên cứu mang tính khái quát qua một vài biên khảo về lịch sử văn hóa địa phương và làng xã của mình. Thanh Trạch là một trong những xã có vị trí địa lý khá quan trọng, có bề dày lịch sử 550 năm với nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, đã trở thành đề tài nghiên cứu của một số học giả về lịch sử và văn hóa. Ở mức độ rất sơ lược, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bố Trạch trong Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1 (1930 1954), xuất bản tháng 11 - 1995 ở phần Quê hương Bố Trạch đã trình bày khái quát sơ lược quá trình đổi thay về địa lý hành chính của vùng đất Bố Trạch trong tiến trình lịch sử từ thời nguyên thủy đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (có Thanh Trạch). Ở trang 10 có nói đến di chỉ văn hóa Bàu Khê (Thanh Trạch) là di chỉ hỗn hợp vừa có hiện vật mang đặc trưng văn hóa Bàu Tró vừa có hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn. Ở trang 20, Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1 đã viết về núi Lệ Đệ; ở trang 23 có nhắc đến nghề đóng thuyền ở làng Thanh Hà (Thanh Trạch). Ở sách Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1 tại chương I, mục I - Tình hình Bố Trạch trước khi thành lập Đảng trang 31 có đoạn viết: “Chính quyền “Bảo hộ” thiết lập đồn binh ở Thanh Khê bao gồm lính bản xứ đặt dưới sự chỉ huy của sỹ quan Pháp”. Trong mục này sách Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch tập 1 có đề cập việc chính quyền thực dân phong kiến cho phép giáo dân xây dựng nhà thờ Thiên chúa giáo tại làng Thanh Bồ (Thanh Trạch). Bên cạnh đó ở phần Quê hương Bố Trạch trong nội dung còn những sai sót, nhầm lẫn nhất định. Tại trang 9 từ dòng 4 đến dòng 14 Lịch sử Đảng bộ Huyện tập 1 chép: “Thời kỳ Bắc thuộc nhà nước Âu Lạc bị chia làm ba quận… Bố Trạch lúc này thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam…” việc dùng cụm từ “nhà nước Âu Lạc” ở đây là sai vì thời Bắc thuộc nhà nước Âu Lạc không còn nữa mà đã sụp đổ từ năm 179 TCN khi Triệu Đà đánh bại An Dương Vương rồi. Mặt khác, thời Bắc thuộc Bố Trạch không thể thuộc 5 huyện Tượng Lâm vì quận Nhật Nam thời Hán được chia thành 5 huyện gồm: Tây Quyển, Tỷ Cảnh, Chu Ngô, Lô Dung và Tượng Lâm; huyện Tây Quyển là vùng đất từ phía Nam Đèo Ngang đến hết đất huyện Bố Trạch (thời gian nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp thì huyện Tây Quyển được đổi thành châu Bố Chinh đến năm 1075, Nhà Lý thực thi chủ quyền ở đây đã đổi tên Bố Chinh thành châu Bố Chính), huyện Tượng Lâm thời Hán là vùng đất từ Quảng Nam đến Bình Định do đó Bố Trạch (có Thanh Trạch) không thể nằm trong huyện Tượng Lâm được. Ở mức độ đề cập sơ lược đến Thanh Trạch còn có một số bài báo, bài viết trên tạp chí ca ngợi về quê hương con người ở đây dưới dạng văn, thơ, vè như bài thơ Lũy thép Nam Gianh, Vè làm Đình làng, Bài vè chiến dịch Hòn La… Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Trạch tập 1 (1945 - 2010), cũng đã giới thiệu khái lược về văn hóa, sự thay đổi về địa lý hành chính và tập trung giới lịch sử hình thành và phát triển của Đảng bộ xã Thanh Trạch từ năm 1945 đến năm 2000. Bên cạnh đó sách cũng có giới thiệu sơ lược vài nét về quá trình khai canh thành lập làng xã, xóm thôn ở Thanh Trạch. Tuy còn rất sơ lược nhưng Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Trạch tập 1 (1930 - 2000) cũng đã giúp người đọc có những thông tin sơ lược về một số địa danh lịch sử như tên đất tên làng, một số nhân vật lịch sử và một vài nét giá trị văn hóa tiêu biểu của xã Thanh Trạch. Tuy nhiên trong phần lịch sử thay đổi địa danh hành chính Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Trạch cũng lặp lại những sai sót nhầm lẫn của Lịch sử Đảng bộ huyện Bố Trạch như đã nêu ở trên. Ở mức độ chuyên sâu cho đến nay mới có nhà nghiên cứu Nguyễn Tú trong công trình biên khảo Địa chí xã Thanh Trạch, xuất bản vào năm 1995, là công trình đầu tiên nghiên cứu khá nhiều khía cạnh của lịch sử văn hóa xã Thanh Trạch từ khi thành lập làng đến năm 1990. Cuốn sách đã giới thiệu một vài nét về điều kiện tự nhiên và lịch sử khai thiết của xã Thanh Trạch để rồi đi sâu giới thiệu về một số thành tựu về văn hóa vật thể và phi vật thể qua các thời kỳ lịch sử của Thanh Trạch. Điểm hạn chế của Địa chí xã Thanh Trạch là chưa bao quát được một cách toàn diện các thành tựu văn hóa, chưa đề xuất được các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của xã Thanh Trạch. 6 Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa xã Thanh Trạch của các học giả cho đến nay vẫn đang còn rất ít và chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và cân đối; đặc biệt là đi sâu phân tích các đặc trưng văn hóa của Thanh Trạch; chưa đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị đó trong xu thế đô thị hóa nông thôn đã và đang diễn ra hiện nay. Các công trình nghiên cứu trước đây cũng chưa giới thiệu một cách rành mạch, cụ thể về quá trình hình thành các xã, phường, thôn, xóm trên vùng đất Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945. Mặt khác, ở phần lịch sử về sự đổi thay địa lý hành chính của vùng đất Thanh Trạch cũng có một số sai sót nhầm lẫn. Vì vậy trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, cùng với việc điền giả, chúng tôi đã tập hợp, xử lý, giám định để chỉnh lý và lựa chọn, bổ sung các tài liệu về lịch sử và văn hóa của xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945 để xác định đề tài, nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Đề tài xác định mục đích nghiên cứu là hệ thống hóa lại các thành quả của các công trình nghiên cứu trước đây, xây dựng lại thành một chỉnh thể và cố gắng làm rõ các đặc trưng bản sắc văn hóa làng, xã của Thanh Trạch. Trên cơ sở đó, khóa luận của chúng tôi sẽ góp phần vào việc bảo tồn và phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa - lịch sử để xây dựng và phát triển xã Thanh Trạch nói riêng và công cuộc xây dựng nông thôn mới, xây dựng làng, thôn văn hóa nói chung hiện nay. Đây cũng là một việc làm thiết thực góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) của Đảng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, nhiệm vụ của khóa luận là tiến hành nghiên cứu một cách khái quát về địa lý, lịch sử xã Thanh Trạch; đặc biệt đi sâu nghiên cứu giới thiệu toàn diện các thành tựu văn hóa vật chất, văn hóa 7 tinh thần và làm rõ các đặc điểm đặc trưng văn hóa của xã Thanh Trạch từ khi thành lập làng xã cho đến Cách mạng tháng Tám 1945. 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4.1. Phạm vi nghiên cứu: a) Về không gian, khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu văn hóa trong phạm vi xã Thanh Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có tham chiếu văn hóa các làng lân cận và một số địa chí địa phương các làng xã trên địa bàn Quảng Bình. b) Về thời gian, khóa luận tập trung nghiên cứu văn hóa Thanh Trạch trong thời gian từ khi làng Bồ Khê thành lập đến trước Cách mạng tháng Tám (1472tháng 8/1945). 4.2. Đối tượng nghiên cứu Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa của xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Thực hiện đề tài chúng tôi quán triệt và vận dụng quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu văn hóa. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Tác giả khóa luận sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây: + Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm tài liệu thành văn để tập hợp các tài liệu đã được công bố và sử dụng 2 phương pháp chủ lực là phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong quá trình nghiên cứu kết hợp với một số phương pháp liên ngành như thống kê so sánh để khai thác thông tin phục vụ đề tài. + Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: để bổ sung và giám định tài liệu, tác giả khóa luận còn tiến hành điền dả dân tộc học tại địa phương để thực địa thu thập tài liệu dân tộc học, điều tra khảo sát, đàm thoại, phỏng vấn nhằm 8 thu thập thêm tài liệu lịch sử, văn hóa địa phương và giám định một số thông tin mà các tài liệu thành văn trình bày thiếu sự thống nhất. 6. Đóng góp của đề tài Khóa luận có những đóng góp sau đây: 1) Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về địa lý, lịch sử và văn hóa xã Thanh Trạch trước Cách mạng tháng Tám 1945 chúng tôi tập hợp được một danh mục tài liệu tham khảo khá đầy đủ cho những ai quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến văn hóa và lịch sử xã Thanh Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình tính đến hiện nay (2019). 2) Khóa luận đã tái hiện lại bức tranh có hệ thống, đa dạng, phong phú và làm rõ những đặc điểm đặc trưng văn hóa truyền thống của xã Thanh Trạch trước cách mạng tháng Tám 1945. 3) Khóa luận đã chỉnh lý lại những thông tin thiếu chính xác về lịch sử của Thanh Trạch được trình bày trong một số tài liệu thành văn dựa trên những cơ sở khoa học và tin cậy. 4) Khóa luận mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của xã Thanh Trạch. 7. Cấu trúc của khóa luận: Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, thì nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương: + Chương 1: Khái quát lịch sử xã Thanh Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) trước cách mạng tháng Tám 1945. + Chương 2: Những đặc điểm của kinh tế Thanh Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) trước Cách mạng tháng Tám 1945. + Chương 3: Những thành tựu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của Thanh Trạch (huyện Bố trạch, tỉnh Quảng Bình) trước Cách mạng tháng Tám 1945. 9 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ XÃ THANH TRẠCH (HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1.1.1. Vị trí địa lý Xã Thanh Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Xã Thanh Trạch nằm ở tọa độ từ 17064’68’’ đến 17070’30’’vĩ độ Bắc, từ 106047’ đến 106051’ kinh độ Đông. Thanh Trạch có diện tích tự nhiên 24,39 km2. Phía Bắc giáp phường Quảng Phúc thuộc thị xã Ba Đồn qua sông Gianh, phía Tây và Tây Bắc giáp xã Bắc Trạch, phía Tây và Tây Nam giáp xã Phú Trạch, phía Nam giáp xã Hải Trạch, phía Đông giáp biển Đông; Thanh Trạch có Quốc lộ 1A chạy qua. Xã Thanh Trạch cách cầu Gianh về phía Nam 5km, cách thành phố Đồng Hới trên 35 km; nơi đây được thiên nhiên ưu đãi một vị trí địa lý hết sức đặc biệt. Thật hiếm có một làng xã nào ở Quảng Bình lại có địa hình đa dạng như ở Thanh Trạch: vừa có biển, có sông, có đồng bằng, có núi rừng núi, có gò đồi. 1.1.2. Điều kiện tự nhiên + Khí hậu, Thanh Trạch là một xã ven biển vì thế mà khí hậu ở đây cũng mang những đặc điểm của khí hậu các xã duyên hải của tỉnh Quảng Bình. Thanh Trạch có khí hậu nhiệt đới gió mùa, “chịu ảnh hưởng sâu sắc của hoàn lưu khí quyển nhiệt đới như dải hội tụ nhiệt đới, áp cao cận nhiệt đới, vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, một mùa chịu đặc trưng nhiệt đới phía Nam một mùa chịu đặc trưng rét đậm phía Bắc. Do địa hình hẹp, bị chia cắt mạnh, núi gần sát với biển ở vĩ độ thấp nên diễn biến khí hậu phức tạp, vừa có tính lục địa, vừa ảnh hưởng của khí hậu biển, phản ánh sự giao tranh của khí hậu cả hai chiều Nam - Bắc, Đông - Tây. Các yếu tố khí hậu mang tính phân cực lớn. Mỗi năm khí hậu chia làm hai kì rõ rệt: mùa nắng nóng và mùa mưa rét, đối lập với một chu kì hạn hán gay gắt là một chu kì độ ẩm rất cao. Mùa mưa đi kèm với rét và bão, lụt. Mùa nắng đi liền với gió Tây khô nóng (gió Lào) và hạn hán. 10 Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình khoảng 29°C, những ngày nắng cao nhiệt độ có thể lên tới 35°C. Đây là giới hạn nhiệt độ có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái. Mùa mưa rét kéo dài từ tháng 9 đến đầu tháng 3 năm sau. Thời gian rét đậm khoảng 60 ngày. Nhiệt độ trung bình khoảng 20°C trở xuống. Giao thời giữa hai mùa là thời kì chuyển tiếp có khí hậu hỗn hợp có xen kẽ mưa, nắng, nóng rét không có quy luật” [20]. Địa hình, vùng đất này rất đa dạng, chia làm ba dạng riêng biệt: rừng - gò đồi, sông - biển và đồng bằng. + Vùng rừng - gò đồi, nằm ở phía Nam xã Thanh Trạch, vắt ngang từ Đông sang Tây liền mạch trong núi Lệ Đệ với nhiều dãy nhấp nhô, có sông suối chen vào giữa tạo nên nhiều thung lũng rộng như: Mù U, Ổ Gà, Đồng Đen. Các thung lũng này có diện tích khoảng từ 40 đến 100 ha. Vùng rừng - gò đồi có núi Lệ Đệ chặn ngang, cắt địa hình vùng Nam sông Gianh thành hai khu vực. Núi Lệ Đệ (còn gọi là núi Bung, núi Lễ Đễ, núi Đệ Thê) với bạt ngàn cây cối “reo vui, dạo nhạc” giữa mây với gió. Núi không cao lắm, từ Đông sang Tây liên tiếp có hơn trăm ngọn chắn ngang đường cái quan. Ngọn cao nhất chưa tới 250m, nhưng mỗi ngọn núi trong dãy núi này mang những cái tên tượng trưng cho đạo trung hiếu gia tộc. Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn nói: “Cách sông ở phía Nam, một dãy núi xanh đứng chắn ngang ở bên trời”. Dương Văn An trong Ô Châu cận lục viết: “Núi tên Lễ Đệ như dáng hổ phục tầng tầng”[1; 74]. Là chỉ hình thể của dãy núi ấy mà nói. Núi Lệ Đệ vốn đẹp rồi lại còn được người đời khoác thêm những truyền thuyết, huyền thoại nên càng hấp dẫn và kỳ bí. Dưới chân núi Mái Am là một vùng cư dân xóm Sơn, xóm Cồn, về phía Đông là cánh đồng Con Ruộng có hồ chứa nước cùng tên, như một đường phân cách giữa hai hòn Mái Am và Cha Màn. Nhìn từ Tây sang Đông núi Cha Màn đổ xuống khe nước lấn dần ra biển có cánh đồng nhỏ là đồng Cửa Nghè, phân cách với hòn Cửa Chùa, cũng gọi là Động Cửa Chùa. Cạnh động núi Cửa Chùa về phía Đông Nam là núi Đá Nhảy. Nó là một nhánh bắt đầu từ núi Cốt Lầu, tiến 11 dần ra biển, bên trong núi Đá Nhảy liền với núi Chùa Thầy Rộng thuộc xã Phú Trạch [12]. Nằm sâu trong vùng núi Lệ Đệ là một số khe suối có vai trò quan trọng đối với xã Thanh Trạch. Khe suối như một hệ thống dẫn nước thiên nhiên tạo ra từ sơn hệ trong dãy Lệ Đệ đổ về các cánh đồng phì nhiêu, vừa cung cấp nguồn nước cung cấp cho việc tưới tiêu ruộng vườn, cây cối. Tất cả đều đổ về hướng một con sông nhỏ gọi là Rào Chùa. Sỡ dĩ sông được gọi là Rào Chùa, vì trong lưu vực sông có một ngôi Chùa Phật hiện đang là một di tích văn hóa của địa phương. Sơn hệ núi Lệ Đệ này đi đôi với hệ khe suối xen kẽ trong đó, ngày xưa là rừng rậm, nay chỉ là gò đồi. Nhiều núi đá lộ thiên, các gò đồi tầng đất mỏng, dễ khai thác và sử dụng... Nếu không có con sông Rào Chùa đón nhận dòng chảy của nhiều khe suối rồi đổ vào sông Gianh ở đoạn hạ lưu này thì không những khe suối và núi đồi kia sẽ tách rời hẳn con sông Gianh mà cũng không thể hợp với biển cả thành một hành lang sông nước bao vây lấy ba bề tả hửu và sau lưng xã Thanh Trạch. + Vùng lãnh hải và cồn cát ven biển Hải phận xã Thanh Trạch có bề rộng từ bờ biển ra đến vùng thềm lục địa (theo luật quốc tế và tuyên bố của Việt Nam có chiều rộng từ vùng nội thủy ra đến giáp vùng thềm lục địa trên 224 hải lý) và chiều dài (tính từ cửa sông Gianh) bắt đầu từ cột Hải Đăng nơi cửa sông Gianh đến mõm Đá Nhảy khoảng 6 km. Vùng biển này không có rạn ngầm như ở Bảo Ninh, đây là vùng biển thoai thoải gần như bằng phẳng. Trên dải đất gần dưới chân cột Hải Đăng là một Hồ Sen hình bầu dục, xưa kia là một thắng cảnh, nơi quần tụ của hồ với đền, chùa, lăng, miếu, cây cối um tùm rậm rạp. Địa hình vùng cát này gần như bằng phẳng, cao hơn bãi biển khoảng 3m, không có những đụn cát quá cao như núi hoặc không xuống thấp đột ngột như thung lũng. Đây là một đặc trưng về địa lý của vùng cát ven bển Thanh Trạch, khác với những vùng ven biển còn lại tính từ cửa Gianh vào Nam Quảng Bình; bãi cát bằng phẳng không có rạn ngầm, nghiêng the chiều từ tây 12 sang đông khoảng 20 độ, sát biển có rừng phi lao chắn gió cát. Đặc biệt ở phần phía Nam vùng cát ven biển xã Thanh Trạch nối với vùng ven biển phía Bắc xã Hải trạch là danh thắng Bãi biển Đá Nhảy. Bãi biển Đá Nhảy là một trong những danh lam thắng cảnh làm say đắm lòng người. Tính về phía Nam Bãi biển Đá Nhảy cách trung tâm thành phố Đồng Hới khoảng 35km. Bãi Đá Nhảy là một quần thể núi đá, nằm ngay dọc bờ biển dưới chân đèo Lý Hòa. Dù chỉ cách đường sá xe cộ ồn ào vài bước chân nhưng Bãi Đá Nhảy vẫn giữ nguyên nét đơn sơ mộc mạc của đá núi bị bào mòn. Sự hòa quyện giữa vẻ đẹp của núi đá và biển cả mênh mông tạo nên ấn tượng khó phai cho những ai đã từng một lần đến và dừng chân nơi đây. Núi đá ven biển ở Đá Nhảy trải dài hơn 400m, trong đó nổi bật nhất là hệ thống núi đá dưới chân đèo Lý Hòa. Đá ở đây nằm rải rác trên bờ suốt bốn mùa vui đùa cùng sóng đánh. Các khối đá nhô mình ra biển với vô vàn khối đá to nhỏ, cao thấp khác nhau, tạo nên trăm vẻ kì thú. Có nhiều truyền thuyết khác nhau về cái tên Đá Nhảy kỳ lạ. Có người cho rằng, vùng biển này được gọi là Đá Nhảy bởi sự đa dạng của hàng trăm hòn đá mọc lên trên bờ biển. Mỗi khi sóng biển vỗ vào bờ, những hòn đá ở đây cứ như hàng trăm con vật to nhỏ nối nhau nhảy chồm lên sóng, lao ra với biển. Cũng có người cho rằng, cái tên Đá Nhảy là hình ảnh người ta nhìn thấy khi đi qua bãi biển này. Bãi biển Đá Nhảy, với nhiều tảng đá to nằm rải rác trên bãi biển quanh năm suốt tháng được sóng biển mài dũa, bãi Đá Nhảy nhìn xa như một bức tranh tuyệt đẹp với trùng điệp núi đá xù xì. Có tảng đá to đùng xám đen tựa con trâu đang nằm phơi nắng giữa trời. Có khối đá giống như voi phục, hổ quỳ, có những hòn đá lô nhô trên bãi biển trông như một bầy cóc nhảy trên đầu ngọn nước. Trong vô vàn tảng đá nằm bên chân sóng, có một khối đá rất nổi bật, trụ cao 5 6m. Phía dưới chân có bệ đá vững chắc, người xưa để lại cho trụ đá những cái tên như Ông Tượng, Cột Đá trụ trời, Cây bút thần. Người dân ở đây đã miêu tả rằng trụ đá này chính là “thần giữ biển” và canh giữ vẻ đẹp cho Đá Nhảy trường tồn với thời gian. + Vùng đồng bằng 13 Vùng đồng bằng nằm dưới chân núi Lệ Đệ dọc theo bờ Nam sông Gianh và trục giao thông Quốc lộ 1A. Vùng đồng bằng của Thanh Trạch tuy diện tích không lớn nhưng lại có một vị trí có tầm chiến lược về kinh tế - xã hội và quân sự hết sức quan trọng trong tiến trình xây dựng, phát triển và bảo vệ vùng đất Bố Trạch. Vùng đồng bằng của Thanh Trạch là vùng sản xuất lúa gạo, hoa màu và là địa bàn cung cấp lực lượng lao động trong sản xuất và binh lính trong chiến tranh. Chính vì vậy, khi có chiến tranh nơi đây thường sớm trở thành chiến địa ác liệt giữa ta và địch nhằm chiếm lấy bằng được nguồn lực lớn của cải và con người phục vụ cho chiến tranh. Đồng ruộng ở xã Thanh Trạch mỗi năm canh tác hai vụ là Đông Xuân và Hè Thu, tuy Thanh Trạch chưa có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh nhưng lại có các khe suối cung cấp nguồn nước phục vụ cho các vụ mùa, cây cối. Mặc dù Thanh Trạch có các hồ chứa nước như Mù U, Con Ruộng nhưng lại chưa có hệ thống kênh mương dẫn nước từ các hồ này về tưới cho đồng ruộng nên tiềm năng thủy lợi này vãn chưa phát huy được tác dụng. + Núi Lệ Đệ (núi Bung) là một dãy núi chạy dọc theo chiều dài của xã, làm thành một xương sống vững chãi, án ngự làm ranh giới ở phía Tây. Lệ Đệ được nhà sử học Lê Qúy Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục. Núi bắt nguồn phía Tây từ dãy Trường Sơn xuống phía Đông của Thanh Trạch khi về đến địa phận xã này thì chạy thẳng ra biển, nối tiếp với Đá Nhảy. Núi Lệ Đệ nằm vắt ngang giữa 2 xã Thanh Trạch và Phú Trạch từ Đông sang Tây và chấm dứt bởi hòn Động Gioi. Núi như một bức tranh khổng lồ có những địa danh đến kì lạ: Cha Màn, Con Ruộng, Mạ Ca, O Mò, Chú Se... + Sông Gianh Có một dòng chảy do đất trời sinh tạo từ mấy trăm triệu năm về trước, thuở sơ khai chưa có bóng người vẫn còn dài rộng, sung mãn đến hôm nay. Bắt đầu từ một nét đứt gãy địa chất ở vùng đất phía Bắc tỉnh Quảng Bình bây giờ, một địa hào đã được tạo nên để trên bản đồ Tổ quốc, nơi eo thắt nhất của miền Trung nắng gió bão lũ giữ dằn có đường nét quanh co của sông Gianh. Nằm thắt thẻo van vát ở phía Nam đèo Ngang tựa như sông Cái giữa châu thổ Hồng Hà mênh mang trù phú vậy. Sông Gianh nối hai phương mặt trời lặn, mọc có nguồn chính 14 khởi thủy từ núi Cô Pi cao 2017 mét trong vạn lý Trường Sơn trùng trùng điệp điệp ở miền Tây Quảng Bình, khi thao thác, khi thong dong chảy qua các huyện thị Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Ba Đồn, Bố Trạch để cuối cùng hòa nhập với biển Việt mênh mang ở phía Đông qua cửa Gianh thuộc xã Thanh Trạch (bờ Nam). Con sông dài chừng 160 cây số, uốn khúc quanh co nằm gần trọn trong vùng đất phía Bắc của tỉnh Quảng Bình. Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1471, vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, khi ghé qua cửa biển này đã làm bài thơ “Linh Giang hải tấn”. Thơ còn lưu lại đến mai sau. Phiên âm từ chữ Hán là: “Sơn bảo bồi hoàn hải diểu di Bố Chính tùng cổ hiệu hoang thùy Tịnh hà thôn lạc mao vi ốc Triệt phố quan tân trúc tác kỳ Nữ thượng phong yêu khoa yển vãn Dân điều quých thiệt ngũ thù ly Ký Nam thánh hóa hoằng nhu viễn Khẳng hạn phong cương ngoại đảo vi.” Bức tranh về một vùng cửa sông hiện lên thật rõ nét, có núi có sông, có biển có người, có cây cỏ có chim muông, có cờ bay có gái đẹp, có cảnh có tình. Đặc biệt có cả tâm hồn, chí khí, tầm nhìn xa trông rộng của một minh chủ thời hưng thịnh. Cụ Nguyễn Đình Diệm đã dịch rất hay bài thơ này: Cửa biển sông Gianh: Núi bọc xung quanh biển mịt mờ Bố Chinh ngày trước vẫn hoang sơ Ven sông làng xóm nhà tranh cỏ Khuất bến tre pheo dựng cột cờ Gái thắt lưng ong khoe yểu điệu Dân hòa giọng quých nói líu lo Trời Nam đã rưới ơn mưa móc Chẳng phải xa xôi bỏ cõi bờ. 15 Hóa ra con gái vùng này từ thời xa lắc xa lơ đã duyên dáng đến thế rồi ư! Gái thắt lưng ong khoe yểu điệu. Những yểu điệu thục nữ cuối Linh Giang đã hồn nhiên làm xiêu lòng bao khanh tướng văn nhân. Cũng lạ cho ông vua Lê Thánh Tông, việc nước việc quân bộn bề ngổn ngang như thế mà khi đi qua cửa biển Linh Giang mịt mờ khói sóng vẫn để mắt tới tấm lưng ong thon thắt nõn nà của các cô gái miền phên dậu này. Minh chủ cũng là thi nhân, người cầm gươm chỉ huy ba quân đánh giặc cũng là người múa bút ngợi ca vẻ đẹp non sông, con người Đại Việt. Thật là hồng phúc cho trăm họ xa gần. Có một câu thơ mang tầm nhìn xa rộng trong kế sách giữ nước của vua Lê Thánh Tông. Đó là Khẳng hạn phong cương ngoại đạo vi, không vì ngoài biên cương hiểm trở mà bỏ người dân nơi hải đảo này. Muốn giữ nhà phải rào chắc phên dậu, muốn giữ nước phải chăm lo hải đảo biên thùy. Biển đảo là không gian sinh tồn của dân Việt, xưa đã vậy, nay càng phải vậy. Không thể nào khác được! Tài nguyên, khoáng sản + Tài nguyên thiên nhiên Là vùng đất có sự đa dạng và phức tạp về địa hình và địa chất, cho nên tài nguyên thiên nhiên ở đây cũng khá phong phú. Rừng ở Thanh Trạch đa phần là rừng tự nhiên, trước đây có nhiều loại cây gỗ quý như Lim, táu, dạ hương, huê... rất cần thiết cho các công trình xây dựng nhà cửa, đền miếu, chùa chiền, cầu kè..., trong các công trình dân sinh, quân sự. Động vật thì có Lợn rừng, Khỉ, Sóc, Dê núi...và nhiều loài chim muông. Lâm sản có Mây, Tre, Nứa. Dâu, Sim; cây dược liệu thì có cây Tràm. + Khoáng sản Ở vùng núi Thanh Trạch đã tìm ra được loại Đá cát kết dùng trong xây dựng, tại tọa độ 17°39´6´´ - 106°36´28´´. Đá có đặc điểm là cát kết ít khoáng, cát kết thạch anh kệ tầng Bản Giàng. Tính chất cơ lý: độ hút nước 1.59%, dung trọng tự nhiên 2.54g/cm³, dung trọng khô 2.5g/cm³, cường độ nén khô 1582 kg/cm², cường độ kháng kéo 100kg/cm²[13; 456]. Trong sách Địa chí xã Thanh Thạch của Nguyễn Tú có ghi: “Núi này (núi Mái Am) có sản sinh ra một loại đá xây, có thể nói là một nguồn lợi lớn cho nhân 16 dân trong xã, không những cho thêm nghề khai thác đá, mà còn là vật liệu đắc lực phục vụ việc xây dựng nhà cửa. Cư dân Thanh Trạch đa số xây nhà bằng loại gạch này mà rất ít dùng gạch đốt nung. Nhờ đó mà nhiều người thợ đá chuyên nghiệp nơi đây nhanh chóng trở nên giàu có, nhờ chuyên cần chăm chỉ làm ăn.” Ở vùng biển Thanh Trạch còn có nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng là cát trắng. Vùng cát có chiều dài từ 1km đến 2 km, rộng 0.5 - 1km, chiều sâu chưa xác định được. Cát ở đây giống cát ở Ba Đồn, có thể dùng để sản xuất thủy tinh. Cát được tìm thấy ở tọa độ 17°40´44´´ - 106°29´40´'[13; 435]. Thiên nhiên và con người quần tụ lại ở Thanh Trạch tạo thành bức tranh sơn thủy tùng đình: biển rộng, sông sâu, núi cao, dân cư đông đúc, dân tình thuần hậu. Phía Nam có sông Thanh Ba bắt nguồn từ Khe Su của dãy núi Bung chạy về hợp thành với dòng Đại Linh Giang. Thiên nhiên đã ban tặng cho con người ở vùng đất hiền hòa này đủ 5 thế mạnh. Ấy là: 1. Rừng núi và gò đồi 2. Nông nghiệp với nhiều khả năng thủy lợi 3. Công thương nghiệp và dịch vụ giao thông thủy bộ 4. Ngư nghiệp với nhiều nghề truyền thống 5. Du lịch và nghĩ dưỡng 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của xã Thanh Trạch Dưới thời Hùng Vương dựng nước, Thanh Trạch nằm trong mười lăm bộ của nhà nước Văng Lang. Thời kì Bắc Thuộc, nhà nước Âu Lạc chia thành ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Thanh Trạch lúc này thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam (thuộc bộ Việt Thường xưa). Vào năm 192, dưới thời nhà Hán, Khu Liên cùng nhân dân Chămpa đứng dậy khởi nghĩa đánh đuổi bọn phong kiến Phương Bắc ra khỏi đất Nhật Nam, dựng nên nước Lâm Ấp (từ Đèo Ngang trở vào đến Bình Thuận) có năm châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Châu Ô và Châu Lý, Thanh Trạch thuộc châu Bố Chính của nước Lâm Ấp. Trong gần bảy thế kỷ, Quảng Bình là địa cầu của Vương quốc Chămpa (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XI). Suốt thời kì ấy mảnh đất này luôn luôn là vùng tranh chấp giữa hai vương quốc là Chămpa và Đại Việt. Đến đời nhà Lý, nhằm loại 17 trừ mối uy hiếp từ phía Nam để phá tan âm mưu của phong kiến phương Bắc cấu kết với phong kiến Chămpa đánh Đại Việt, mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1069, triều Lý cử một đạo quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh vào kinh thành Chămpa lúc bấy giờ là Chế Cũ. Để chuộc tội Chế Cũ đã cắt ba châu: Địa Lý, Bố Chính, Mai Linh (từ Quảng Bình đến Gio Linh ngày nay) nhường cho nhà Lý. Cũng từ đó, dải đất từ Đèo Ngang đến Cửa Việt trở về với Đại Việt. Đến năm 1075 vua sai Lý Thường Kiệt đi tuần biên thùy, vẽ địa đồ hình thế núi sông cả ba châu ấy dâng lên và đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình. Vùng đất Quảng Bình từ đó chính thức đưa vào bản đồ nước ta. Sau khi vạch rõ cương giới lãnh thổ, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu mộ dân đến ở. Hưởng ứng chiếu mộ dân, nhiều người từ vùng đất phía Bắc bắt đầu di cư vào Nam Hoành Sơn sinh sống. Ngoài dân phiêu tán ở các vùng Thanh – Nghệ, còn có binh lính đóng ở đồng trại và các tội nhân đã tự nguyện đến khai khẩn đất hoang. Trải qua hàng trăm năm, miền đất xa lạ phía Nam Hoành Sơn đã thực sự trở thành quê hương thứ hai của họ. Có thể nói đó là những cư dân đầu tiên ở miền ngoài vào khai sơn lập ấp, tạo dựng xóm làng làm ăn sinh sống. Đó cũng là lực lượng chủ yếu bảo vệ biên thùy phía Nam của nhà nước Đại Việt thời Lý. Trải qua các triều đại từ Lý, Trần, Hồ đến Lê, quy mô các cuộc di dân đến vùng đất Nam Hoành Sơn ngày một lớn. Năm 1491, nhà Lê định lại bản đồ đất nước, miền đất từ Nam Hoành Sơn đến Hải Vân được gọi là xứ Thuận Hóa, vùng đất Thanh Trạch nằm trong xứ Thuận Hóa. Dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, châu Bố Chính (Quảng Trạch và Bố Trạch ngày nay) được chia thành hai châu Bố Chính nội và Bố Chính ngoại. Bồ Khê nằm trong Bố Chính nội đặt dưới sự kiểm soát của nhà Nguyễn. Đến năm 1831, vua Minh Mệnh (Nguyễn Thánh Tổ Phúc Đảm 1820 - 1840) đổi châu Bố Chính nội thành huyện Bố Trạch, Thanh Trạch lúc này gồm 5 làng Bồ Khê xã, Thanh Hà, Bồ khê phường, xóm Thanh Bồ và xóm Trường Hải nằm trong 2 tổng thuộc huyện Bố Trạch. Qua nghiên cứu một số gia phả các họ tộc trong xã thì 3 người đầu tiên có công khai khẩn ra làng Bồ Khê - xã Thanh Trạch là thủy tổ của 3 dòng họ: Lưu, 18 Mai và Nguyễn. Gia phả họ Lưu chép rằng ông thủy tổ dòng họ này đến vùng đất Thanh Trạch đầu tiên thường gọi là cố Lưu. Cố Lưu đến khai khẩn vùng đất Thanh Trạch năm Hồng Đức thứ 3 tính năm dương lịch là năm 1472, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) tính đến nay đã 537 năm. Tiếp sau Cố Lưu là Cố Nguyễn cũng từ Cao Lao xuống bồ Khê. Tuy là người thứ hai đến lập nghiệp ở Bồ Khê, song công lao khai phá đất ruộng của Cố Nguyễn cũng không phải là nhỏ. Cố đắp đê ngăn mặn, khai khẩn ra Đồng Sác, từ Múi Thụy đến Mái Am… Lúc ấy ngài đóng trại ở Đồng Na, lập ra xóm Phúc Lộc. Theo gia phả họ Mai nguyên là vọng tộc Mai Thúc Loan ở quận Cửu Chân, Sau khi Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bị nhà Đường đàn áp, một số hậu duệ đi dần về phía Nam sinh sống. Đến cuối thế kỷ XV thì cố Mai đã di cư đến vùng đất Thanh Trạch khai khẩn đất hoang kiến thiết làng mạc ruộng đồng và cùng các bậc tiền bối các họ, tạo lập ra xã Bồ Khê là tiền thân của xã Thanh Trạch hiện nay. Cùng thời còn có Cố Lê húy là Văn Dương. Đến cư trú nơi đây vào khoảng 1564 đã khai phá cho con cháu cánh đồng Hà Lồi, đồng Bàu Đa. Từ Bàu Lồi ra sông Gianh có ngăn đập chừa cống thoát lũ và ngăn mặn. Cố Lê cùng với Cô Nguyễn, Cố Lưu, Cố Mai xây dựng ra Bồ Khê xã và ngôi đình làng này. Người thứ năm đồng với các cụ cố trên là một vị tướng quân họ Võ. Ngài khai phá ra đồng Chà Màn. Ở đó còn lại một địa danh gọi là Rú Voi lăn. Do sự tích Võ tướng quân dùng voi khai phá đồng ruộng núi rừng. Ngài đã lợi dụng một con khe (Khe Nước hiện nay) làm con kênh thoát nước tự nhiên, cho nên con ruộng Chà Màn, hai bên núi dốc, khi mưa nước chảy về giữ dội mà không bị ngập. Thời còn sống, ngài ở ngay trên vùng đồi núi mà ngài khai khẩn ra, ngài nuôi Dê làm thuốc, nên được gọi là Cốt Xạ Dê và ở đây về sau cũng là nơi lăng mộ ngài an giấc. Bồ Khê xã hiện nay có nhiều họ tộc cùng chung sức xây dựng làng xã. Nhưng theo gia phả để lại thì năm họ trên đây là những họ đến trước gọi là tiền hiền khai khẩn. Các vị tiền hiền khai canh Bồ Khê xã do khẩn phá ruộng hoang từ các khe suối ở vùng dãy núi Lệ Đệ tiến dần ra đồng bằng màu mỡ mà đặt tên cho làng xã mình là Bồ Khê, Khê có nghĩa là khe (Thùy Liễu), Bồ là cây xương 19 bồ (hoặc cây lác làm chiếu). Bồ Khê xã nay là hai thôn Tiền Phong và Quyết Thắng. Qua tìm hiểu các tài liệu lịch sử như Phủ biên tạp lục (1776) của nhà sử học Lê Quý Đôn, cùng nhiều gia phả của các dòng họ để lại và một số sách báo; đặc biệt trong Địa chí xã Thanh Trạch cụ Nguyễn Tú có viết: “... Đến đây chúng ta có thể nhận định về niên đại các thôn làng cổ xưa của xã Thanh Trạch ngày nay theo thứ tự như sau: 1) Bồ Khê xã có thể ra đời vào đời đầu Hậu Lê, điều này được gia phả họ Lưu ở Thanh Trạch chép ông tổ họ Lưu đến khai khẩn Bồ Khê năm Hồng Đức thứ 3 (1473) hoặc trước thời nhà Mạc khá lâu vì trong Ô Châu cận lục quyển 4Bản đồ chép: làng Bồ Khê là 1 trong 69 làng thuộc châu Bố Chính. Trong Phủ biên Tạp lục, Xã Bồ Khê nằm trong tổng Cao Lao thuộc châu Nam Bố Chính. Thông tin này được lặp lại trong Đồng Khánh dư địa chí (khắc in năm 1888) 2) Làng Thanh Hà có thể thành lập trong giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh (1672) trở về sau. Trong Ô Châu cận lục thì Dịch giả Trần Đại Vình lại chú thích làng Thanh Bào sau đổi tên thành làng Thanh Hà. Nếu Thanh Bào đúng là Thanh Hà thì Thanh Hà phải có lịch sử trên dưới 500 năm thành lập. Tuy nhiên có thể khẳng định chắc chắn là Thanh Hà ra đời trước thế kỷ XVIII, vì trong Phủ biên tạp lục Lê Qúy Đôn chép: Thôn Thanh Hà là cùng với 1 xã, 15 thôn 6 phường, 5 trang nằm trong tổng Lương Xá của châu Nam Bố Chính. Các Làng Bồ Khê phường, Thanh Bào Trường Hải đều chưa có tên. Đồng Khánh Dư địa chí chép Thôn Thanh Hà nằm trong tổng Hà Bạc cùng với 5 thôn và 1 phường. 3) Bồ Khê phường là một làng nhỏ nằm bên bờ nam sông Gianh. Làng này hình thành là do dân chài lưới đến định cư trên rẻo đất ven sông của xã Bồ Khê lập ra; Bồ Khê phường vốn là một làng chài, cư dân của làng này đều theo đạo Thiên Chúa. 4) Làng giáo Thanh Bồ, chắc chắn sau khi người Pháp đặt nền đô hộ ở Quảng Bình (1885) hoặc sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888)...” Thanh Bồ tồn tại đến sau khi Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết (21/7/1954) thì bị thực dân 20
- Xem thêm -