Tài liệu Tìm hiểu trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian việt nam

  • Số trang: 96 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1878 |
  • Lượt tải: 2
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG ĐĂNG TRỊ TÌM HIỂU TRƢỜNG NGHĨA BIỂU VẬT TRONG TRUYỆN CƢỜI DÂN GIAN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội, 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG ĐĂNG TRỊ TÌM HIỂU TRƢỜNG NGHĨA BIỂU VẬT TRONG TRUYỆN CƢỜI DÂN GIAN VIỆT NAM Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 02 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Tất Thắng Hà Nội, 2015 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................1 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................2 4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................2 5. Ý nghĩa nghiên cứu ........................................................................................................3 6. Bố cục của luận văn .......................................................................................................3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái quát về nghĩa của từ ...........................................................................................4 1.1.1. Nghĩa của từ là gì?................................................................................. 4 1.1.2. Cơ cấu nghĩa của từ ............................................................................... 7 1.2. Các mối quan hệ ngữ nghĩa..................................................................................... 14 1.2.1. Đa nghĩa .............................................................................................. 14 1.2.2. Đồng nghĩa .......................................................................................... 17 1.2.3. Trái nghĩa ............................................................................................ 20 1.2.4. Trường từ vựng ................................................................................... 21 1.3. Khái quát về trường từ vựng - ngữ nghĩa ............................................................... 22 1.3.1. Lí thuyết về trường nghĩa .................................................................... 22 1.3.2. Trường nghĩa biểu vật ......................................................................... 25 1.4. Khái quát về truyện cười trong văn học dân gian Việt Nam................................. 26 1.4.1. Thế nào là truyện cười? ....................................................................... 26 1.4.2. Vai trò của truyện cười trong đời sống văn hóa của dân tộc ............... 28 CHƢƠNG 2 TRƢỜNG NGHĨA BIỂU VẬT CỦA CÁC TỪ TRONG TRUYỆN CƢỜI DÂN GIAN VIỆT NAM 2.1. Đặt vấn đề ................................................................................................................. 32 2.2. Các trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian Việt Nam ............. 33 2.2.1. Trường nghĩa biểu vật chỉ con người .................................................. 33 2.2.2. Trường nghĩa biểu vật chỉ động vật .................................................... 42 2.2.3. Trường nghĩa biểu vật chỉ thực vật ..................................................... 47 2.2.4. Trường nghĩa biểu vật chỉ đồ vật ........................................................ 50 2.2.5. Nghĩa biểu vật chỉ hiện tượng tự nhiên ............................................... 54 2.2.6. Tiểu kết ................................................................................................ 58 CHƢƠNG 3 VAI TRÒ CỦA TRƢỜNG NGHĨA BIỂU VẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỂ HIỆN NỘI DUNG CỦA TRUYỆN CƢỜI DÂN GIAN VIỆT NAM 3.1. Đặt vấn đề ................................................................................................................. 60 3.2. Vai trò của trường nghĩa biểu vật đối với đời sống giao tiếp cộng đồng. ............ 61 3.3. Vai trò của các trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian ....... 64 3.3.1. Mua vui, giải trí ................................................................................... 65 3.3.2. Châm biếm, mỉa mai ........................................................................... 71 3.3.3. Phê bình, giáo dục ............................................................................... 79 3.4. Tiểu kết ..................................................................................................................... 84 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 88 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa, lý thuyết trường nghĩa đóng góp một phần rất quan trọng vào việc phân chia các lớp từ vựng cũng như vạch ra mối quan hệ bản chất giữa các nhóm từ trong một lớp, giữa các từ trong một nhóm. Khi đi sâu vào phân tích ngữ nghĩa từ vựng, lý thuyết trường nghĩa còn cho chúng ta nhìn nhận một cách hệ thống về quá trình phát triển của nghĩa từ và cơ cấu nghĩa của nó. Chính vì thế khi nhắc đến cơ cấu nghĩa của từ, người ta thường nhắc đến bốn loại nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp. Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu nghĩa biểu vật. Sở dĩ, chúng tôi chọn loại nghĩa này là vì trước hết nghĩa biểu vật phản ánh sự tri nhận hiện thực khách quan của con người và cách nhìn của cộng đồng ngôn ngữ về thế giới nói chung. Đồng thời nghĩa biểu vật cũng phản ánh lối tư duy đặc trưng của một dân tộc, cũng như lối suy nghĩ và cách gọi tên các sự vật của con người. Trong văn học dân gian, có nhiều thể loại: truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyền thuyết,… Tất cả các thể loại đó đều có đặc điểm chung ghi lại lối tiếp cận của con người, và truyện cười là một trong những thể loại mang nhiều đặc trưng văn hóa dân gian hơn cả. Đã có nhiều nghiên cứu khái quát, vĩ mô về truyện cười dân gian, song chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về loại nghĩa biểu vật hay trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian. Chính vì thế mà chúng tôi chọn truyện cười làm đối tượng nghiên cứu, thông qua những câu chuyện cười dân gian để tìm hiểu lối suy nghĩ, lối biểu cảm của người Việt trong việc định danh các sự vật. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Mục đích của luận văn là khảo sát các nhóm từ vựng có ý nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian. Từ đó đi tìm hiểu mối quan hệ giữa ý nghĩa 1 biểu vật với việc sử dụng nó vào nội dung của truyện cười dân gian Việt Nam. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là khảo sát những nhóm từ vựng chỉ ý nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam. Trên cơ sở việc phân tích ý nghĩa biểu vật của từ, luận văn muốn tìm lối suy nghĩ về cách gọi tên các sự vật của người Việt. Từ đó, luận văn có một cách nhìn nhận về mối quan hệ của nghĩa biểu vật với nội dung phản ánh của các truyện cười dân gian Việt Nam. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trường nghĩa biểu vật của các từ trong truyện cười dân gian Việt Nam. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi biểu vật trong văn học dân gian nói chung, và trong truyện cười nói riêng có khá nhiều, như biểu vật chỉ địa danh, biểu vật chỉ tên riêng, biểu vật chỉ màu sắc,... Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung đến các biểu vật có liên quan trực tiếp đến đời sống của cộng đồng người Việt. Cụ thể, đó là những biểu vật chỉ con người, biểu vật chỉ đồ vật, biểu vật chỉ hiện tượng tự nhiên, biểu vật chỉ động vật, biểu vật chỉ thực vật. Chúng tôi dựa vào các truyện cười dân gian Việt Nam, thông qua cuốn: “Truyện cười dân gian Việt Nam chọn lọc”, Nxb Văn học 2011. Cuốn truyện cười chọn lọc gồm 128 truyện cười có độ dài ngắn cũng như nội dung khác nhau. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp chủ yếu của đề tài này là phân tích thành tố ý nghĩa và miêu tả trường nghĩa biểu vật của từ, để thấy được cách sử dụng các biểu vật của từ như là một phương tiện thể hiện nội dung trong truyện cười, cũng như tác dụng của các biểu vật ấy trong truyện cười dân gian. 2 Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiểu phương pháp và thủ pháp khác như: thống kê, so sánh và lập sơ đồ bảng biểu,... 5. Ý nghĩa nghiên cứu - Về mặt lý luận: việc tìm hiểu trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam góp phần bổ sung những lí thuyết nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa, đồng thời đem đến một bức tranh ngữ nghĩa mang đậm văn hóa dân gian của người Việt thông qua những truyện cười dân gian. Hơn thế nữa, việc nghiên cứu trường nghĩa biểu vật của từ trong giai đoạn hiện nay, nhất là các phạm trù định danh đã góp phần không nhỏ trong xác định bức tranh ngôn ngữ về thế giới của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. - Về mặt thực tiễn: việc khảo sát trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười giúp cho chúng ta hiểu hơn về lối định danh sự vật của người Việt, qua đó thấy được những nét đặc trưng văn hóa của người Việt xưa, đồng thời cũng góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân gian của người Việt. Một phần không thể thiếu của đề tài này là bổ sung thêm tư liệu dạy và học truyện cười trong chương trình phổ thông theo hướng tích hợp và tích cực. 6. Bố cục của luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài - Chương 2: Trường nghĩa biểu vật của từ trong truyện cười dân gian Việt Nam. - Chương 3: Vai trò của trường nghĩa biểu vật của từ trong nội dung của truyện cười dân gian Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái quát về nghĩa của từ 1.1.1. Nghĩa của từ là gì? “Nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học. Có nhiều cách lí giải khác nhau về khái niệm này. Dưới đây là một số quan niệm, cũng như cách giải thích về nghĩa của từ ở trên thế giới và ở Việt Nam. 1.1.1.1. Trên thế giới A.I.Smirnitckiy quan niệm: “nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật , hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lí tương tự về tính chất, hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng rẽ của thực tế ) nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ và so với nghĩa thì ngữ âm của từ hiện ra như vỏ vật chất cần thiết không phải chỉ để biểu thị và trao đổi nghĩa đó với những người khác mà còn cần thiết cho sự nảy sinh, hình thành, tồn tại và phát triển của nghĩa” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 119]). Với cách lí giải về nghĩa của từ là quy nó về mối quan hệ giữa từ và đối tượng. A. A. Reformatskiy cho rằng: “Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ”. (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). Đồng quan điểm này, có V.A. Arlomov và A.C.Chikobava cho rằng: “Nghĩa của từ là sự lệ thuộc của nó với sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực. (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). Nghĩa của từ là mối liên hệ của từ với sự vật của thực tế” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). Quan điểm cho nghĩa của từ là quan hệ nhưng không phải là quan hệ giữa từ và đối tượng mà là quan hệ giữa từ và khái niệm, biểu tượng. P. A. Budagov viết: “...có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta và được biểu 4 hiện trong bản thân từ” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). B.N.Golovin cũng phát biểu tương tự: “...sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật chất của từ và sự vật tương ứng chúng tôi sẽ gọi là nghĩa”. (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). Có thể nói, quan niệm này bắt nguồn từ học thuyết của F.de Saussure về bản chất hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ. Theo F.de Saussure: “nghĩa là quan hệ giữa cái biểu hiện (significant) và cái được biểu hiện (signifie), trong đó cái biểu hiện không phải là bản thân tổ hợp ngữ âm cụ thể mà là hình ảnh tâm lí của nó và cái được biểu hiện là tư tưởng” [12]. Kế tục F.de Saussure, St. Ullman, cho rằng: “nghĩa của từ là mối liên hệ liên tưởng giữa âm thanh của từ - name và nội dung khái niệm sense của nó” [53]. Với sự ra đời của chủ nghĩa kết cấu hiện đại, nghĩa của từ lại được quan niệm là mối quan hệ giữa các từ với nhau. Ju.D.Aprecjan viết: "...nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân. Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với từ khác cũng thuộc trường ấy” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). Những nhà ngôn ngữ học miêu tả Mĩ quan niệm “phân bố theo nghĩa rộng” chính là nghĩa từ vựng. Miêu tả nghĩa của từ thực chất là miêu tả sự phân bố của nó. Những người theo thuyết chức năng mà đại diện nổi tiếng của họ là Witgenstein và J.Rile lại cho nghĩa của từ là chức năng, là vai trò từ đảm nhận trong ngôn ngữ. Vì vậy, biết một từ nói lên cái gì chẳng qua là biết những quy tắc sử dụng từ này mà thôi. Một quan điểm nữa về ý nghĩa của từ là quan niệm của những người theo chủ nghĩa hành vi. Người đại diện của phái này là Morris. Ông cho nghĩa của từ là “khả năng hành động có sẵn”, là “sự sẵn sàng hành động 5 theo một phương thức nhất định do các từ gây nên” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 120]). 1.1.1.2. Ở Việt Nam Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm nghĩa của từ của các nhà ngôn ngữ học, cũng như của các trường phái về ngôn ngữ trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đưa ra cách hiểu của mình về vấn đề này như sau: Với quan điểm cho rằng nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm hay sự phản ánh, v.v.), Nguyễn Văn Tu cho rằng “Nghĩa của từ là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị” [45], hay Đỗ Hữu Châu cho rằng "nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức..." [4]. Trong giáo trình “Ngữ nghĩa học”, Đỗ Việt Hùng nhận định “Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [22]. Nguyễn Thiện Giáp cũng đồng quan điểm với A. A. Reformatskiy, ông cho rằng: "nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ" ..." [15]. Hoàng Văn Hành cho rằng: “Nghĩa của từ không phải chỉ là hệ quả của quá trình nhận thức, mà còn là hệ quả của các quá trình có tính chất tâm lí xã hội, có tính chất lịch sử nữa” [21]. Hoàng Phê cũng đến kết luận rằng: “Nghĩa của từ, nói chung là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc), biểu hiện ở 6 khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện ở khả năng độc lập tổ hợp và tác động qua lại với những nét nghĩa của những từ khác khi từ tổ hợp với nhau”[31]. Trong cuốn sách “Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường”, Nguyễn Đức Tồn trình bày quan điểm của mình về khái niệm nghĩa của từ. Theo tác giả, “nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lí, tinh thần, nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy”[43]. Tác giả cũng cho rằng, “cũng có nghĩa là nghĩa của từ không thể nhìn thấy, nghe thấy, hay động chạm đến được… bằng năm giác quan” [43]. Để hiểu và nhận biết được nghĩa của từ, mỗi người chỉ có thể tự cảm nhận trong trí não. Trên đây chưa phải là toàn bộ các quan niệm về nghĩa của từ nhưng đó là những quan niệm chính đại diện cho các trường phái cũng như các hướng nghiên cứu chính trong ngôn ngữ học. Tùy theo mục đích và phương pháp luận nghiên cứu, có thể có những quan niệm khác nhau về nghĩa của từ. Nhưng nhìn chung các ý kiến bàn về nghĩa của từ, chúng ta thấy nổi lên hai khuyh hướng sau: - Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh,…) - Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng hoặc quan hệ của từ với khái niệm,…) 1.1.2. Cơ cấu nghĩa của từ Cũng từ những quan niệm trên cho chúng ta hiểu: khi nói đến ý nghĩa của từ, ta cần phải hiểu rằng đó là một tập hợp của những thành phần ý nghĩa khác nhau, ứng với các chức năng khác nhau của từ. Khi nhắc đến nghĩa của từ, người ta thường nhắc đến 4 loại nghĩa sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp. Tùy vào mục 7 đích nghiên cứu của từng đề tài, mà mỗi loại nghĩa này được vận dụng hay làm rõ ở một khía cạnh cụ thể. Trong các sách giáo khoa và sách nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa, tuy về đại thể , các tác giả giống nhau về quan niệm nhưng cách giải thích, cách minh họa bằng những ví dụ khác nhau. Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, dựa trên ý nghĩa của từ, Nguyễn Thiện Giáp phân chia thành 4 loại nghĩa chính: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng và nghĩa kết cấu. Ông giải thích rõ các thành tố ngữ nghĩa: nghĩa sở chỉ là quan hệ với đối tượng mà từ biểu thị; nghĩa sở biểu là quan hệ của từ với biểu tượng, khái niệm; nghĩa sở dụng là quan hệ của từ với người sử dụng; nghĩa kết cấu là quan hệ của từ đa dạng và phức tạp với các từ khác [15]. Đỗ Hữu Châu đi sâu về mặt ngữ nghĩa học và ông cho rằng ba thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái) được gọi chung là ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ tư là: ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp. Các thành phần nghĩa trên không phải chỉ từ mới có mà các đơn vị ngôn ngữ trong văn bản lớn hơn từ cũng có. Tuy nhiên, chúng ta chỉ bàn tới các thành phần ý nghĩa trong từ. Ngoài 4 thành phần ý nghĩa trên, có tác giả còn nói tới nghĩa hành vi. Đó là những phản ứng tâm lí, những phản ứng hành động mà một từ có thể gây ra ở người nghe. Có tác giả nói tới ý nghĩa cấu trúc của từ cho rằng ý nghĩa cấu trúc là do quan hệ giữa từ với từ về mặt ngữ nghĩa trong ngôn ngữ mà có. Đúng là các thành phần ý nghĩa kể trên, từ ý nghĩa biểu vật cho đến ý ngữ pháp không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ mà có. Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác trong ngôn ngữ qui định trên. Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính chất tương đối cố định, bền vững, chúng là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn 8 ngữ. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến mặt ý nghĩa biêủ vật của từ. Thực ra khi nói đến nghĩa biểu vật, cũng có nhiều quan điểm được đưa ra. Ở trong mỗi một công trình, các tác giả đưa ra những cách hiểu hay những quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có quan điểm đồng nhất với nhau, nhưng cũng có quan điểm khác biệt nhau hoàn toàn. Trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến hiểu nghĩa biểu vật (denotative meaning): “Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động,...) mà nó chỉ ra. Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động,... đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat). Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất. Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thàn, thiên đường, địa ngục,...”[7] Theo các tác giả Lê Đình Tư và Vũ Ngọc Cân: “Ý nghĩa biểu vật còn được gọi là ý nghĩa sự vật hoặc ý nghĩa sở chỉ. Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị sự vật/hiện tượng của từ. Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng” [44]. Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện tượng cùng loại. Thật vậy, từ "bàn" trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi cái bàn có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là bàn gỗ, bàn sắt, bàn vuông, bàn tròn, bàn ba chân, bàn bốn chân… Từ "bàn" chỉ có thể có được khả năng ấy, nếu nó không gắn với một cái bàn cụ thể nào cả. Nói cách khác, “cái bàn” mà từ "bàn" trong tiếng Việt biểu thị là một cái bàn chung chung, một cái bàn đã được khái quát hoá để đưa vào ngôn ngữ. Nhờ đó, trong hoạt động giao tiếp, từ "bàn" sẽ ứng được với tất cả những cái bàn 9 cụ thể, bằng cách gợi lên trong tâm lý người sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái bàn mà họ muốn nói tới. Do vậy, có thể nói: ý nghĩa biểu vật của từ là hình ảnh chung nhất của tất cả các sự vật, hiện tượng cùng loại mà từ có thể gọi tên hay gợi ra. Hoặc cũng có thể nói theo cách khác: Sự tương ứng giữa từ và sự vật hay hiện tượng là sự tương ứng mang tính tổng loại (toàn loại) chứ không phải sự tương ứng theo kiểu một – một. Điều này cũng đúng với cả những trường hợp mà ý nghĩa biểu vật của từ là một sự vật duy nhất thuộc loại, ví dụ như trường hợp các từ: mặt trời, mặt trăng hay thượng đế chẳng hạn, bởi lẽ ngay cả trong các trường hợp này, từ cũng loại bỏ mọi biểu hiện riêng biệt của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tức là những cái có tính chất tổng loại. Ví dụ: từ "mặt trăng" chỉ biểu thị một mặt trăng chung chung, mà trong thực tế có thể ứng với "trăng non", "trăng rằm", "trăng mùa hạ", "trăng mùa thu", v.v… Như vậy, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nó tồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vào trong ngôn ngữ. Cho nên, sự vật/hiện tượng do từ biểu thị được gọi là "cái biểu vật" (denotat). Cái biểu vật chính là hình ảnh chung nhất về sự vật/ hiện tượng mà từ gợi ra và có thể khác nhau giữa các ngôn ngữ, thậm chí giữa các cá nhân, do đặc điểm hiện thực của mỗi dân tộc hay của mỗi người. Ví dụ: Hình ảnh "cánh đồng" trong tâm trí người Nga, người Pháp và người Việt không hoàn toàn giống nhau. Trong cuốn sách mới viết gần đây, Đỗ Việt Hùng cho rằng: “Nghĩa của từ có thành phần biểu vật, tức mối liên hệ với sự vật, hiện tượng…trong thực tế khách quan. Nhưng ý nghĩa biểu vật của từ mang tính khái quát, nó được trừu tượng hóa khỏi những biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng”[22]. Ông cũng cho rằng, sự khái quát của nghĩa biểu vật trở nên xác định khi từ được sử dụng. Khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ tương ứng với 10 những sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất,…cụ thể, xác định. Sự tương ứng giữa nghĩa của từ với sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được gọi là sự chiếu vật, hay sự hiện thực hóa nghĩa của từ trong sử dụng. Song, ngay cả khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ vẫn còn chứa những đặc điểm khái quát. Nói “cái bàn này” là từ (cái) bàn đã có nghĩa chiếu vật vào một đồ vật cụ thể với những đặc điểm riêng của nó. Tuy nhiên, người nghe không thể chú ý vào đặc điểm đó mà vẫn tri nhận (cái) bàn với những đặc điểm khái quát. Trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cũng đã phân tích rất kỹ về ý nghĩa biểu vật, đồng thời ông cũng chỉ ra những quan điểm dễ gây hiểu lầm về nghĩa biểu vật: “Sự vật hiện tượng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ” [3]. Quan niệm này ông cho rằng: ý nghĩa biểu vật trùng hợp hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất…trong thực tế khách quan. Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra rằng trong từ vựng của tất cả các ngôn ngữ, có một bộ phận lớn câc từ mà ý nghĩa biểu vật của chúng trùng hợp với sự vật, biểu vật, biểu tượng tính chất…ngoài ngôn ngữ. Đó là các từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa khọc. Nhưng đối với các từ thông thường thì sự chia cắt thực tế khách quan khác nhau trong ngôn ngữ học và ý nghĩa biểu vật. Ngôn ngữ học đã phát hiện ra hiện tượng được gọi là sự chia cắt thực thể khách quan khác nhau trong từng ngôn ngữ. Thực thể khách quan về cơ bản đồng nhất đối với mọi dân tộc, với mọi ngôn ngữ. Song mỗi ngôn ngữ lại có những tên gọi ứng với những bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt không trùng ranh giới của thực thể. . Như thế, ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng ...y như chúng có thực trong thực tế. Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi. 11 “Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật hiện tượng...trong thực tế vào ngôn ngữ. Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế” [3]. Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện tượng tồn tại chỉ trong dạng cá thể: trong thực tế, chúng ta gặp từng chiếc bàn, từng cái cây, từng con gà...từng hoạt động đi, từng hành động chặt, cắt...độc lập với nhau, riêng rẽ với nhau. Trong thực tế chúng ta không gặp “loại” sự vật, hiện tượng...trọn vẹn. Chúng ta không gặp “loại” bàn, không gặp loại cây, không gặp “loại” hoạt động đi...thế nhưng, ý nghiã biểu vật của các từ bàn, cây, gà, đi, chặt, cắt...lại là loại của những sự vật, hiện tượng đó. Hơn thế nữa, sự vật, hiện tượng...trong thực tế khách quan gắn bó chặt chẽ với nhau trong tính cụ thể của chúng. Có nghĩa là trong thực tế những hoạt động như: đi, chạy, nhảy, chặt, cắt, đào, nói, kêu...bao giờ cũng gắn với một sự vật nào đó, bao giờ cũng do một sự vật nào đó tiến hành. Không có những hoạt động “lơ lửng” không do một cái gì cả thực hiện. Các tính chất cũng thế. Tách các sự vật khỏi nhau, tách hoạt động tính chất...lơ lửng khỏi các chủ thể của chúng là sản phẩm của tư duy được ghi giữ lại thành ý nghĩa biểu vật của các từ. Không những sự vật, hoạt động, tính chất...được tách rời, chúng lại còn bị loại trừ hết mọi biểu hiện cụ thể thực có nữa. Cái bàn trong thực tế bao giờ cũng mang những biểu hiện cụ thể: chất liệu gỗ, sắt, nhôm... màu sắc: trắng, xanh, đỏ, hồng...Cách đi của đứa bé khác cách đi của người lớn; màu xanh của cây ổi khác với màu xanh của cây chuối, khác với màu xanh của tấm vải, của mặt hồ... Nhưng, trong ngôn ngữ, ý nghĩa biểu vật của các từ bàn, đi, xanh...bỏ qua những biểu hiện cụ thể, sinh động đó. Do tính khái quát mà các ý nghĩa biểu vật không trùng với sự vật, hiện tượng...trong thực tế khách quan vốn có đặc trưng là cá thể và cụ thể. Ý nghĩa biểu vật của từ trong ngôn ngữ có tính chất khái quát nhưng cách khái quát không giống nhau. Sự khác nhau về mặt này thể hiện ở: 12 - Phạm vi rộng hẹp của các loại mà từ biểu thị: có những từ chỉ những loại rộng, có những từ chỉ loại hẹp và các loại này là những loại nhỏ nằm trong các loại lớn. - Quan niệm riêng của từng ngôn ngữ trong việc khái quát các ý nghĩa biểu vật thành các loại khác nhau. Trong các loại do từ biểu thị, có những loại được lập nên theo sự phân loại lôgic, ít nhiều phù hợp với nhận thức khoa học như loại "đồ đạc” gồm các sự vật như bàn, ghế, giường, tủ đối lập với các loại "dụng cụ” như kìm, búa, vồ, giũa đục, cưa... Ý nghĩa biểu vật và hệ thống cấu tạo từ: mỗi ngôn ngữ có các kiểu cấu tạo từ và hệ thống các hình vị cấu tạo không giống nhau, cho nên mỗi ngôn ngữ có những kiểu ý nghĩa cấu tạo khác nhau. Chúng hoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật này, hoặc cản trở không cho xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật kia trong một ngôn ngữ nào đấy. Trong từ láy, từ ghép hợp nghĩa... các ý nghĩa biểu vật không có trong tiếng Nga vì tiếng Nga không sử dụng các kiểu cấu tạo đó. Nhưng với sự sử dụng rộng rãi phương thức phụ gia và với hệ thống các phụ tố cấu tạo từ, tiếng Nga lại có thể tạo ra hàng loạt ý nghĩa biểu vật mà tiếng Việt không có từ tương ứng. Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyện Thiện Giáp chỉ ra rằng “Nghĩa sở chỉ (referentive meaning ) là quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị. Đối tượng mà từ biêu thị không phải chỉ là các sự vật mà còn là quá trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó. Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tượng mà từ biểu thị được gọi là cái sở chỉ (referent ) của từ. Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ”[15]. Cái sở chỉ có thể bao gồm các đối tượng ngoài ngôn ngữ lẫn các đối tượng thuộc ngôn ngữ. Các đối tượng thực tế ngoài ngôn ngữ có thể bao gồm các sự vật khác nhau, những thuộc tính, hành động, phẩm chất, quan hệ vốn có đối với các sự vật ấy lẫn những đối tượng hoang đường như ma quỷ, thần thánh... các đối tượng thuộc ngôn ngữ gồm: 13 - Những hiện tượng được biểu thị bằng các thuật ngữ ngôn ngữ học: cụm từ, trọng âm, âm tiết, âm vị.... - Những thông báo về các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ được biểu thị bằng các hư từ, tức là bằng các liên từ, giới từ, đại từ... Trong quan điểm của mình, Nguyễn Thiện Giáp đã phân biệt rõ cái sở chỉ (referent) tức là những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tượng mà từ biểu thị và mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ (referentive meaning). Chính việc phân biệt rõ ràng này đã giúp chúng ta có cách nhìn dễ dàng hơn về nghĩa biểu vật. Trên đây là mốt số quan điểm về cách hiểu nghĩa biểu vật của từ. Cũng từ những phân tích này, có thể thấy việc hiểu và phân loại nghĩa biểu vật với một số loại nghĩa khác không hề đơn giản chút nào nhưng chúng tôi thấy thực sự cần thiết với việc hiểu loại nghĩa này. Đó cũng là lí do, mà chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn “Tìm hiểu nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam”, để thấy được tính ứng dụng của lý thuyết ngôn ngữ học trong việc hiểu và tiếp cận những cái hay, cái đặc sắc của những thể loại văn học dân gian Việt Nam. 1.2. Các mối quan hệ ngữ nghĩa Các từ trong vốn từ vựng không tồn tại một cách cô lập mà tạo thành những loại, những nhóm cùng loại có tính chất hệ thống nào đó, cùng với một số từ khác thì được gọi là quan hệ ngữ nghĩa. Tính hệ thống này "có mặt trong mọi cấp độ tổ chức từ vựng" và được thể hiện ở các hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, và trường từ vựng-ngữ nghĩa. Cụ thể như sau: 1.2.1. Đa nghĩa Đa nghĩa là hiện tượng một từ có nhiều nghĩa, các nghĩa này có thể có liên hệ với nhau về mặt lịch sử - dẫn đến sự phân biệt nghĩa gốc hay nghĩa phái sinh, hoặc liên hệ về logic - có nghĩa cụ thể hay nghĩa trừu tượng, nghĩa chính hay nghĩa phụ; các mối liên hệ này lại tạo nên tính hệ thống chặt chẽ giữa các nghĩa trong từ đa nghĩa. 14 So với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt cũng có những đặc điểm riêng của mình. Để biểu thị những sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm mới ra đời, tiếng Việt có thiên hướng cấu tạo các đơn vị từ vựng mới hơn là phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có từ trước. Số đơn vị có nhiều nghĩa cũng như số nghĩa trong những từ đa nghĩa của tiếng Việt đều thấp so với nhiều ngôn ngữ khác. Trong khi đó số lượng các đơn vị từ vựng mới tăng lên rất nhanh, đặc biệt là những đơn vị hai âm tiết. Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt chủ yếu xảy ra ở các từ. Các ngữ (các đơn vị từ vựng đa âm tiết) cũng có hiện tượng nhiều nghĩa, song tỉ lệ rất thấp. Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt có hai kiểu sau: - Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động tự do. - Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động hạn chế. Các kiểu nghĩa của đơn vị đa nghĩa: 1.2.1.1. Nghĩa trực tiếp và nghĩa chuyển tiếp: căn cứ vào sự khác nhau của những mối quan hệ với sự vật có thể chia ra: - Nghĩa trực tiếp là nghĩa phản ánh sự vật một cách trực tiếp, không thông qua nghĩa nào khác của từ này. - Nghĩa chuyển tiếp là nghĩa phản ánh đối tượng gián tiếp thông qua nghĩa khác. Hai kiểu nghĩa này cũng đối lập nhau ở chỗ có thể giải thích được hay không giải thích được. Nghĩa chuyển tiếp bao giờ cũng có thể giải thích được qua nghĩa trực tiếp, còn nghĩa trực tiếp không giải thích được. 1.2.1.2. Nghĩa đen và nghĩa bóng Cách chia nghĩa đen và nghĩa bóng dựa trên sự đối lập có tính hình tượng hay không hình tượng. Nghĩa đen là nghĩa vốn có của từ, không có tính hình tượng. Ngược lại nghĩa bóng có tính hình tượng. Thực chất, nghĩa bong cũng là một kiểu nghĩa chuyển tiếp: nghĩa bóng biểu thị sự vật gián tiếp thông qua nghĩa đen. Tuy nhiên không phải tất cả các nghĩa chuyển 15 tiếp đều là nghĩa bóng. Những nghĩa chuyển tiếp đã mất tính hình tượng tạo ra các nghĩa đen của từ chứ không phải nghĩa bóng. 1.2.1.3. Nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ Căn cứ vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với nhận thức, có thể chia ra nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ. Nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ phản ánh trình độ nhận thức khác nhau đối với sự vật, hiện tượng. Nghĩa thông thường phản ánh những đặc điểm bên ngoài của sự vật đủ để phân biệt những đối tượng cùng loại được khái quát trong nghĩa đó với những đối tượng khác. Nghĩa thuật ngữ phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Nghĩa chính và nghĩa phụ, nghĩa tự do và nghĩa hạn chế Căn cú vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với các từ khác trong ngôn ngữ, người ta phân loại nghĩa của từ đa nghĩa thành: nghĩa chính và nghĩa phụ, nghĩa tự do và nghĩa hạn chế. Nghĩa chính là nghĩa thường dùng nhất. Cơ sở của việc phân chia nghĩa chính và nghĩa phụ là nguyên tắc thống kê. Nghĩa tự do là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các hiện tượng của thực tế khách quan. Mối quan hệ của các từ có nghĩa tự do với các từ khác không phải do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng quy định mà do bản thân những mối liên hệ có thật giữa những sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan được các từ này biểu thị quy định Nghĩa hạn chế là nghĩa được thực hiện trong các thành ngữ. Các từ trong những thành ngữ này kết hợp được với nhau không phải do nội dung logic của các từ mà do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng. Mối liên hệ của các từ có nghĩa hạn chế với đối tượng thực tế được chúng biểu thị không phải là trực tiếp mà là gián tiếp. Nghĩa của nó chỉ trở nên rõ ràng khi thay thế bằng các từ đồng nghĩa, có nghĩa tự do. 1.2.1.4. Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Căn cứ vào sự hình thành và phát triển của các nghĩa, có thẻ chia ra: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh. Ví dụ: nghĩa gốc của từ tiếng là âm mà tai có 16
- Xem thêm -