Tài liệu Tiểu luận tìm hiểu về công ty bảo hiểm ở việt nam

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 20 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Mục lục: 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG : 1.1 Khái niệm: 1.1.1 Bảo hiểm: 1.1.2 Công ty bảo hiểm: 1.2. Đặc điểm của bảo hiểm: 1.3. Vai trò của công ty bảo hiểm: 2. CÁC NGUYÊN TẮC BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM 2.1. Nguyên tắc quản lí 2.2. Nguyên tắc hoạt động 3. PHÂN LOẠI BẢO HIỂM: 3.1. Bảo hiểm kinh doanh: 3.1.1 Khái niệm bảo hiểm kinh doanh: 3.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm kinh doanh: 3.1.3 Nguyên tắc của bảo hiểm kinh doanh: 3.1.4 Hình thức của bảo hiểm kinh doanh: 3.2 Bảo hiểm xã hội: 3.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội: 3.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội 3.2.3 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội 3.2.4 Hình thức của bảo hiểm xã hội 4. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM : 5. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA : 5.1 Bảo hiểm Việt Nam trước khi gia nhập WTO: 5.2 Bảo hiểm Việt Nam sau khi gia nhập WTO: 5.2.1 Thuận lợi: 1 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO 5.2.2 Khó khăn: 5.3 Dự đoán tương lai: 6. TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI MUA BẢO HIỂM: 2 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Lời mở đầu Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong quá trình sản xuất, kinh doanh, quản lý xã hội và cải tạo chinh phục tư nhiên, dù có tri thức khoa học ngày càng cao, con người vẫn phải đối mặt với nguy cơ xảy ra những rủi ro, tai họa từ xung quanh, các rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt,hạn hán, động đất, sét, lốc, …..các rủi ro do biến động của khoa học và công nghệ,các rủi ro do môi trường xã hội,và nhiều rủi ro khác. Nhưng bất kể nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá họai nhiều tài sản làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân,….và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung. Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra. Và mua bảo hiểm là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất. Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Ngày nay, sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngày càng được mở rộng. Bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm. Do đó, việc tìm hểu về ngành bảo hiểm, sự hình thành, phát triển và hoạt động của các công ty bảo hiểm là rất quan trọng và cần thiết. Với tư cách là sinh viên trường Đại học Duy Tân, chúng tôi xin đưa ra bài tiểu luận của mình với nội dung: “Tìm hiểu về công ty bảo hiểm ở Việt Nam”. Tuy nhiên, do kinh nghiệm nghiên cứu còn chưa nhiều, nên chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên Phan Thị Thanh Thảo đã hướng dẫn chúng tôi hoàn thành bài tiểu luận này. 3 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG : 1.1 Khái niệm: 1.1.1 Bảo hiểm: Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu như xã hội, pháp lí, kĩ thuật, nghiệp vụ… Về bản chất bảo hiểm là việc chia sẽ tổn thất, rủi ro của một người hay của số ít những người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Vậy: Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê 1.1.2 Công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính huy động vốn bằng cách bán các chứng nhận bảo hiểm cho công chúng, và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính. Nhiệm vụ của công ty bảo hiểm là phải bảo vệ, xử lý các rủi ro tài chính, nhân mạng cho những người có hợp đồng bảo hiểm (phí bảo hiểm) khi những rủi ro thuộc trách nhiệm của bảo hiểm xảy ra. 1.2. Đặc điểm của bảo hiểm: - Bảo hiểm là một loại dịch vụ đặc biệt - Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn, vừa mang tính không bồi hoàn. 1.3. Vai trò của công ty bảo hiểm: * Khía cạnh kinh tế - xã hội: - Những rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại về người và của, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của dân cư, ngưng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh 4 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO tế. Quỹ dự trữ Bảo hiểm được tạo lập trước 1 cách có ý thức, nhằm khắc phục hậu quả nói trên, bằng cách bù đắp các tổn thất phát sinh, tái lập và đảm bảo tính thường xuyên liên tục của quá trình xã hội. Như vậy, bảo hiểm có vai trò bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia mua bảo hiểm, thúc đẩy ý thức đề phòng – hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội. Giải quyết việc làm cho phần lớn lực lượng lao động và tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước. * Khía cạnh tài chính: - Đối với người tham gia bảo hiểm: giúp cho tài sản và bản thân người tham gia bảo hiểm được bảo đảm bằng một khoản tiền nào đó. Và nếu như có rủi ro xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm thì họ sẽ được các công ty bảo hiểm chia sẻ một phần nào đó khó khăn, giúp họ có khả năng tài chính để có thể vượt qua được khó khăn trước mắt. - Đối với công ty bảo hiểm: bảo hiểm chính là một kênh tập trung vốn của các công ty bảo hiểm. Với số tiền mà khách hàng đóng vào, sẽ giúp công ty bảo hiểm đầu tư vào các ngành kinh doanh khác, mang lại lợi nhuận nhiều hơn, qua đó giúp tăng khả năng tài chính của công ty, đồng thời bảo đảm nguồn tiền mặt đối với các hoạt động thường ngày của một công ty. - Đối với xã hội: bảo hiểm là một kênh luân chuyển tiền tệ của nền kinh tế. Nó tạo ra sự an tâm của dân chúng và nhà đầu tư, thúc đẩy các hoạt động tài chính, các hoạt động kinh tế giữa các nước thông qua các hoạt động tái bảo hiểm. Sau ngân hàng thì công ty bảo hiểm là những trung gian tài chính có khả năng huy động lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ dân chúng, từ đó cung cấp vốn cho nền kinh tế, đồng thời các công ty bảo hiểm cũng được coi như những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, làm cho thị trường tài chính tiền tệ hoạt động ổn định và có hiệu quả. 5 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO 2. CÁC NGUYÊN TẮC BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM 2.1. Nguyên tắc quản lí  Sàng lọc  Phí bảo hiểm dựa trên rủi ro  Những điều khoản hạn chế  Phòng ngừa gian lận  Huỷ bỏ bảo hiểm  Khoản khấu trừ  Đồng bảo hiểm  Những giới hạn của số tiền bảo hiểm 2.2 Nguyên tắc hoạt động  Số đông đoàn kết  Cùng nhau chia sẻ rủi ro, mang lại sự an toàn  Tổn thất của số ít người trở thành trách nhiệm của tất cả các thành viên cùng gánh chịu 3. PHÂN LOẠI BẢO HIỂM: 3.1. Bảo hiểm kinh doanh: 3.1.1 Khái niệm bảo hiểm kinh doanh: BHKD là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn lực thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm để lập quỹ bảo hiểm, phân phối, sử dụng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường tổn thất của các đối tượng bảo hiểm khi các sự kiện bảo hiểm xảy ra. 3.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm kinh doanh:  Người tham gia bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm  Là một biện pháp hiệu quả nhất cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và an toàn với đời sống cộng đồng. 3.1.3 Nguyên tắc của bảo hiểm kinh doanh: 6 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO  Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm cũng như doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm  Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh  Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tuân theo luật pháp quy định cho doanh nghiệp nói chung, và cho doanh nghiệp bảo hiểm nói chung  Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít  Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc an toàn tài chính 3.1.4 Hình thức của bảo hiểm kinh doanh: + Bảo hiểm tài sản + Bảo hiểm trách nhiệm dân sự + Bảo hiểm con người + Bảo hiểm các nghiệp vụ bảo hiểm khác 3.2 Bảo hiểm xã hội: 3.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động. 3.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội  Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định, Nhà nước bảo hộ các hoạt động của BHXH.  Quỹ BHXH vừa có tính sử dụng tức thời vừa có tính sử dụng lâu dài.  Quỹ BHXH vừa có thể là một tài khoản vừa có thể là một tổ chức BHXH. 3.2.3 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội  Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia.  Mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người LĐ. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người LĐ lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung. 7 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO  Người LĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH.  Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.  Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia. 3.2.4 Hình thức của bảo hiểm xã hội + Bảo hiểm xã hội + Bảo hiểm y tế 4. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM : Trong thực tế, khái niệm bảo hiểm đã xuất hiện rất lâu đời. Từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, người ta đã cố tìm cách giảm nhẹ tổn thất. Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay mạo hiểm” đã xuất hiện. Tuy nhiên số vụ tổn thất xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và hình thức bảo hiểm ra đời. Đến thế kỷ XVI – XVII, hoạt động bảo hiểm phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Năm 1929 công ty bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn ra đời đặt tên là Việt Nam Bảo Hiểm Công Ty. Tuy nhiên, công ty này chỉ hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm xe ô tô. Từ năm 1952 trở về sau, các công ty bảo hiểm mới bắt đầu hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau với sự tham gia của các công ty trong và ngoài nước. Tại Miền Bắc,ngày 15/1/1965, công ty Bảo Hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) mới chính thức đi vào hoạt động, song chỉ hoạt động về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu, bảo hiểm tàu viễn dương…mặc dù đã mở rộng mạng 8 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO lưới vào phía nam nhưng quy mô còn nhỏ nên Bảo Việt vẫn chỉ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực hàng hải. Trong giai đoạn từ năm 1976 tới năm 1989, Bảo Việt đã triển khai mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ trên khắp cả nước và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm con người, bảo hiểm tàu sông, tàu cá, bảo hiểm xe cơ giới. Năm 1989, Công ty bảo hiểm Việt Nam được Chính phủ chuyển đổi thành Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam, tổng doanh thu của Bảo Việt đã đạt con số 78 tỷ, tổng tài sản đạt 73 tỷ, lợi nhuận thu được là 6,6 tỷ đồng. Năm 1992, Bảo Việt bắt đầu xuất hiện trên thị trường quốc tế. Công ty bảo hiểm BAVINA được thành lập tại Vương Quốc Anh (nơi có thị trường kinh doanh bảo hiểm phát triển nhất trên thế giới) đã góp phần đưa thương hiệu của Bảo Việt ra thị trường quốc tế. Giai đoạn năm 1995, bắt đầu xuất hiện cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Bảo Việt nhận thấy rõ yêu cầu kinh doanh là phải cạnh tranh và phát triển dựa trên cơ sở chất lượng dịch vụ tối ưu. Phương châm “Phục vụ Khách hàng tốt nhất để phát triển” đã được khởi xướng, thể hiện quan điểm coi khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động. Năm 1996, doanh số của Bảo Việt đạt 970 tỷ đồng. Trong đó, doanh thu từ bảo hiểm phi nhân thọ đạt 882 tỷ, doanh thu đầu tư tài chính đạt 80 tỷ đồng. Cũng trong năm 1996, thực hiện chủ trương mở rộng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tới các tầng lớp dân cư, Bảo Việt đã nghiên cứu và đưa ra thị trường dịch vụ bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên ở Việt Nam, thể hiện vai trò tiên phong của Bảo Việt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Năm 2000, doanh thu bảo hiểm nhân thọ là 915 tỷ đồng, bằng với doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ và tới năm 2004, doanh thu bảo hiểm nhân thọ đã gấp 1,7 lần doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ. Tới năm 2001, Bảo Việt đã thành lập được 61 Công ty, chi nhánh bảo hiểm nhân thọ tại tất cả các tỉnh trên toàn quốc. Sự phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm nhân thọ đã thể hiện bước đi đúng đắn của Bảo Việt trong việc đáp ứng các nhu cầu của đông đảo dân cư. 9 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt và Bảo Việt đã chính thức trở thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam kinh doanh đa ngành. Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Trên thị trường bảo hiểm đã xuất hiện nhiều sản phẩm mới và khá độc đáo trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố tiết kiệm - đầu tư bảo vệ, được công luận đánh giá cao. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Các công ty bảo hiểm Việt Nam đang tích cực hợp tác, giúp đỡ nhau cùng có lợi và đã có được bản đồng thoả thuận về khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt. Đặc biệt, sự ra đời của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp cũng thể hiện những bước tiến tích cực của bảo hiểm Việt Nam 5. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA : Bảo hiểm ở Việt Nam từ khi hình thành đến nay đã trải qua nhiều biến đổi, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. 5.1. Bảo hiểm Việt Nam trước khi gia nhập WTO: Thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đang là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh và ấn tượng nhất trong khu vực và trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993 – 2005 đạt khoảng 29%/năm. Trong một thập kỷ qua, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP đó tăng từ 0,37% (1993) lên trên 2,0 % năm 2005. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2010, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP của thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ đạt 4,5% đến 5%. Các doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đã khẳng định là một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Đến hết năm 2005, các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư trở lại nền kinh tế gần 20.000 tỷ VND (khoảng 1,2 tỷ USD). 10 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Cơ cấu đầu tư đã chuyển mạnh từ đầu tư ngắn hạn sang đầu tư dài hạn, dưới các hình thức: mua trái phiếu Chính phủ, đầu tư vào cổ phiếu niêm yết và chưa niêm yết; đầu tư trực tiếp vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng như: giao thông, năng lượng, khu đô thị, khu công nghiệp, các dự án sản xuất, dịch vụ… Tỷ trọng đầu tư trung và dài hạn ngày càng tăng, trong đó tỷ trọng đầu tư trái phiếu Chính phủ năm 2005 đã tăng 1,5 lần so với năm 2003. Một số công ty bảo hiểm trong đó có Bảo Việt đã thành lập các Công ty Chứng khoán, Công ty Quản lý Quỹ đầu tư để chuyên nghiệp hoá hoạt động kinh doanh, cung cấp thêm các dịch vụ tài chính cho thị trường qua đó góp phần tạo thêm kênh huy động vốn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế, nhất là vốn từ các tầng lớp dân cư. Chính sự tham gia tích cực và ngay từ đầu của các doanh nghiệp bảo hiểm vào thị trường vốn và thị trường chứng khoán Việt Nam là yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của thị truờng. Trong vai trò là nhà đầu tư có tổ chức, các doanh nghiệp bảo hiểm có lợi thế là lượng vốn nhàn rỗi lớn. Đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có nguồn vốn dài hạn (10, 15 và 20 năm) cho phép đầu tư vào các công cụ tài chính dài hạn trên thị trường vốn. Bên cạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm truyền thống, các doanh nghiệp bảo hiểm như: Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo Long, Prudential, … cũng rất chú trọng tới việc phát triển hoạt động đầu tư tài chính, coi hoạt động đầu tư tài chính là một mục tiêu chiến lược quan trọng để phát triển doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm chuẩn bị cho hội nhập sau khi Việt Nam ra nhập WTO. Chính vì vậy, ngay cả trong thời gian qua khi điều kiện thị trường đầu tư khó khăn, chỉ số VN Index giảm nhưng thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao 5.2 Bảo hiểm Việt Nam sau khi gia nhập WTO: 5.2.1 Thuận lợi: 11 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Mở cửa thị trường theo các cam kết WTO dẫn đến tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của các ngành BHVN và bản thân các công ty trong nước. Việc tham gia thị trường của các công ty bảo hiểm mới làm đa dạng hóa, thị trường thêm sôi động, tạo sự trao đổi kiến thức và khả năng chuyên ngành. Thị trường phát triển nhanh về quy mô, đa dạng sản phẩm 5.2.2 Khó khăn: Các công ty trong nước phải chia sẻ thị trường, sức ép về quyền lợi người tiêu dùng, khả năng giải quyết tranh chấp thị trường bị chia cắt nhỏ, lẻ 5.3 Dự đoán tương lai: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO,thực hiện cam kết mở cửa thị trường thì nhiều công ty tham gia vào thị trường BH hơn (kể cả công ty trong và ngoài nước). Các công ty BH hoạt động chuyên nghiệp hơn. Cạnh tranh quyết liệt hơn giữa các công ty BH bắt buộc phải có nhiều sản phẩm ưu việt hơn, chăm sóc hỗ trợ khách hàng tốt hơn. Các công ty BH sẽ mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như thiên tai trong nông nghiệp, BH toàn thân, BH tín dụng mặt đất….Nhiều công ty BH xuất hiện, đồng nghĩa với việc chia nhỏ thị trường sẽ có sự sát nhập lại với nhau hoặc các công ty BH sẽ liên kết với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng để trở thành các tập đoàn mạnh để có thể đứng vững cạnh tranh trên thị trường. Khách hàng sẽ có thêm nhiều sự lựa chọn, các công ty phải luôn đổi mới phương thức sản xuất, hoạt động không ngừng sáng tạo, tập trung vào khâu chăm sóc, maketting nhiều hơn, chất lượng BH ngày càng cao, khách hàng được hưởng nhiều ưu đãi hơn. Ngành BH Việt Nam vừa đứng trước cơ hội phát triển mạnh hơn vừa nhiều thách thức hơn đòi hỏi chất lượng, sáng tạo, đổi mới không ngừng ở các doanh nghiệp. Thị trường BH ở Việt Nam hứa hẹn sẻ có nhiều biến động, phát triển mạnh hơn rất nhiều. 6. TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI MUA BẢO HIỂM: 12 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Trong quá trình tái sản xuất con người với tư cách là chủ thể của ý thức luôn phải đối đầu với nhiều các rủi ro: những rủi ro do chính con người tạo ra và những rủi ro từ tự nhiên. Những rủi ro đó con người không lường trước đựơc nhưng bên cạnh đó vẫn có những rủi ro mà con người có thể đoán trước tuy nhiên nó vẫn xảy ra mà chúng ta không thể ngăn lại được. Cho dù rủi ro dự đoán trước được hay không thì rủi ro phát sinh đều ảnh hưởng đến con người với tư cách là cá thể trong xã hội và cả xã hội loài người nhưng mức độ thiệt hại là khác nhau. Như vậy thì cần phải có sự đảm bảo đó cho những rủi ro, đó là cơ sở và tiền đề khách quan cho sự ra đời của hoạt động bảo hiểm. Hoạt động bảo hiểm ra đời nhằm mục đích đảm bảo cho sự an toàn con người, tài sản vật chất, của cải xã hội…chính sự tích lũy của bảo hiểm đã đảm bảo cho quá trình sinh hoạt con người được liên tục, quá trình tái sản xuất không bị gián đoạn…Sự tồn tại của quỹ bảo hiểm càng có cơ sở kinh tế vững chắc khi kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển với khối lương sản phẩm xã hội ngày càng nhiều. Vì vậy, với vai trò quan trọng thì việc mua bảo hiểm là việc làm tất yếu của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội. Kết luận: 13 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Bảo hiểm là ngành hoạt động dịch vụ. Sản phẩm của bảo hiểm có những đặc thù riêng. Là ngành dịch vụ bảo hiểm phải thỏa mãn yêu cầu của mọi thành viên xã hội, mọi đơn vị kinh tế - xã hội trong nền kinh tế quốc dân…Điều đó có nghĩa, ở đâu có nhu cầu chuyển giao rủi ro thì ở đó bảo hiểm phải xem xét, chấp nhận. Bảo hiểm không chỉ nhằm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, gây tổn thất về người và tài sản của xã hội, mà còn nhằm tạo ra dự phòng tài chính cần và đủ để bồi thường tổn thất ấy, góp phần ổn định sản xuất, đời sống kinh tế-xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bản thân nó không chỉ góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo việc làm cho người lao động, giải quyết đời sống cho người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm mà còn góp phần tạo ra thu nhập cho nền kinh tế, tức góp phần làm tăng tổng sản phẩm trong nước, hay nói cách khác góp phần làm tăng trưởng kinh tế. Hoạt động bảo hiểm phát triển trong mối quan hệ ràng buộc giữa người tham gia với người bảo hiểm ( tổ chức bảo hiểm). Trong thực tế, hoạt động này không dừng lại ở người tham gia với người bảo hiểm mà còn phát triển trong mối quan hệ giữa các tổ chức bảo hiểm với nhau. Ngoài tác động chung của bảo hiểm đến sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi loại hình bảo hiểm còn có những tác động mang tính đặc thù riêng. Chính vì tầm quan trọng và cần thiết của bảo hiểm mà dịch vụ bảo hiểm là hoạt động không thể thiếu trong xã hội. TÀI LIỆU THAM KHẢO 14 GVHD: PHAN THỊ THANH THẢO Tài liệu tiếng Việt: 1. TS Nguyễn Văn Định, Giáo trình bảo hiểm, nxb Thống kê, 2005 2. TS Nguyễn Hữu Tài, Giáo trình lý thuyết tài chính – tiền tệ, NXB Thống kê, 2002 Tài liệu điện tử: http://www.aaa.com.vn http://www.via.com.vn http://baohiemnhantho.etieudung.com http://www.vatgia.com http://www.baoviet.com.vn http://nganhang.anet.vn http://isponre.gov.vn 15
- Xem thêm -