Tài liệu Tiểu luận thờ tự

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
trangtranthi64149

Tham gia: 04/06/2016

Mô tả:

Tiếp biến qua thờ tự: Do đề tài rộng nên phần này chúng tôi sẽ không thể nói hết về tiếp biến văn hóa trung hoa- Việt Nam qua thờ tự. Thay vào đó chúng tôi sẽ đi cụ thể vào những tín ngưỡng mà chúng tôi cho rằng là nó thể hiện yếu tố tiếp xúc tiếp biến rõ ràng nhất: Tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu: Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Trung Quốc trải qua gần 1000 năm lịch sử, tồn tại trong mối dung hòa với Đạo giáo, Phật giáo và quan hệ thỏa hiệp với Nho giáo, góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Hoa Nam rất đặc sắc (La Xuân Vinh 2006). Người Trung Quốc và Đài Loan thờ Thiên Hậu, coi bà là thủy-hải thần, là nữ thần hộ mệnh; nữ thần sinh sôi, nữ thần khai sơn v.v., thi thoảng đồng nhất với Quan âm trong Phật giáo, Tây vương Thánh mẫu trong Đạo giáo, với Lâm Thủy phu nhân, Kim Hoa phu nhân trong tín ngưỡng thờ Mẫu vùng Hoa Nam. Tín ngưỡng Thiên Hậu du nhập vào Nam Bộ Việt Nam theo dòng di dân người Hoa vào thời Minh – Thanh, đặc biệt là cuối Minh – đầu Thanh. Đợt 1 vào khoảng thập niên 1660, có khoảng 7000 người Hoa Nam do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên (người Quảng Đông) dẫn đầu vào định cư tại Đồng Nai, Đề Ngạn (Chợ Lớn) và Mỹ Tho. Đợt thứ 2 do Mạc Cửu dẫn đầu khai phá đất Hà Tiên, sau phát triển dần xuống bán đảo Cà Mau. Từ cuối thể kỷ 17 cho đến đầu thế kỷ 20, nhiều dòng di dân người Hoa người tiếp tục đến vùng Nam Bộ, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19, Việt Nam làm thuộc địa của Pháp, các hiệp ước Pháp – Thanh năm 1885 và 1886 đã mở ra nhiều cơ hội để người Hoa di dân đến Việt Nam. Từ đó trở đi, đồng bào người Hoa đã chung sống chan hòa cùng các cộng đồng bản địa gồm Việt, Khmer và Chăm, cùng tạo dựng văn hóa Nam Bộ. Hiện tại toàn Nam Bộ có khoảng 800.000 người dân tộc Hoa (2009), phân thành 5 nhóm hệ dân Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (còn gọi là Hẹ). Người Quảng Đông tập trung chủ yếu ở Tp. Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và một số thành phố, thị xã lớn ở Tây Nam Bộ; người Triều Châu cư trú nhiều nhất ở bán đảo Cà Mau (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau); người Phúc Kiến và người Hải Nam sinh sống rải rác khắp vùng miền; người Khách Gia định cư rải rác ở Biên Hòa và khu vực hai bên sông Tiền, sông Hậu, nhiều nhất là Long Xuyên. Ban đầu cả 5 hệ dân cùng phối hợp nhau dựng các Thất phủ cổ miếu (Cù lao Phố, Tp. Hồ Chí Minh, Mỹ Tho, Vĩnh Long v.v.) chủ yếu thờ Thiên Hậu, Quan Công, nhưng sau từng nhóm tách riêng tự xây cất các miếu cho riêng mình. Tại tiểu vùng Tây Nam Bộ có hiện tượng người dân (kể cả người Hoa và người Việt) thờ Thiên Hậu ở gia đình, chẳng hạn tại thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng), một số cư dân địa phương phối thờ Thiên Hậu Thánh mẫu cùng với tổ tiên gia đình. Ngoài ra, trong một số cơ sở tín ngưỡng thờ các vị thần khác nhưng vẫn phối thờ Thiên Hậu, chẳng hạn tại Hội quán Nghĩa An (đường Nguyễn Trãi, F. 11, Q. 5, Tp. Hồ Chí Minh) ngoài thờ chính là Quan Công còn thờ Thiên Hậu. Xét theo chiều dài lịch sử, tín ngưỡng Thiên Hậu có mặt tại Nam Bộ Việt Nam đã 300 năm nay, song chỉ khoảng hai thập niên cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 này thì mối quan hệ giao lưu văn hóa Hoa – Việt thể hiện qua tục thờ này mới phát triển đến đỉnh cao. Suốt thời Nguyễn, thời Pháp thuộc và thời chống Mỹ, tín ngưỡng Thiên Hậu tồn tại âm thầm trong cộng đồng người Hoa, tuy người Việt có tham gia các hoạt động cúng bái song không mang tính chất hệ thống. Kể từ sau khi đất nước cải cách mở cửa, nền kinh tế thị trường đã làm cuộc sống cư dân Nam Bộ đổi thay, tiến bộ thì người Việt tại đây bắt đầu tiếp nhận nhiều hơn và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tín ngưỡng thờ Thiên Hậu. Vào các dịp tết Xuân, Rằm tháng Giêng, Lễ vía bà tháng 3, Rằm tháng 7, Rằm tháng 10 v.v., rất nhiều người Việt theo nhiều tôn giáo khác nhau tham gia viếng Bà hay “vay tiền” Bà. Có thể nói, hiện rất khó có thể phân biệt tách bạch sắc thái Hoa và Việt qua các hoạt động lễ hội bởi sự dung hợp hài hòa sâu sắc giữa hai dòng văn hóa này. Qua bước đầu khảo cứu, chúng tôi cho rằng hiện tượng tham gia ngày càng sâu sắc hơn của cộng đồng người Việt trong tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có: (1)Truyền thống thờ nữ thần vốn rất phổ biến trong văn hóa Việt tạo tiền đề để người Việt dễ dàng tiếp nhận tục thờ Thiên Hậu khi phù hợp (giống như trường hợp tích hợp văn hoá Việt-Chăm-Khmer trong các tục thờ Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen) và Bà Chúa Xứ tại Nam Bộ); (2)Qua gần 300 năm tồn tại, người Việt thường chỉ nghĩ rằng Thiên Hậu là một vị phúc thần, vị thánh mẫu ban phát phúc lành, thịnh vượng, sung túc hơn là một vị hải thần[9]; và do vậy việc tiếp nhận tục thờ hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng đời sống văn hóa tâm linh; (3)Truyền thống đa thần của người Việt cùng với tính cách mở - thoáng của người Việt Nam Bộ đã giúp họ sẵn sàng đón nhận một vị nữ thần mới; (4)Một bộ phận người Hoa ở đô thị làm thương mại, dịch vụ trở nên giàu có, nhiều người Việt cho rằng Thiên Hậu Thánh mẫu đã ban phúc lành ấy, do vậy một bộ phận người Việt có xu hướng tiếp nhận phong cách văn hóa tín ngưỡng của người Hoa; (5)Sau chiến tranh, văn hóa người Hoa hội nhập sâu rộng hơn vào dòng văn hóa chủ lưu của người Việt tại Nam Bộ. (6)Có hiện tượng người Việt tiếp nhận Thiên Hậu qua lăng kính của Phật giáo, tức coi Thiên Hậu là/hoặc tương đương một vị Phật bà hay Bồ tát. Trong suy nghĩ của người Hoa, Thiên Hậu Thánh mẫu là hải thần, vị thần đã giúp tổ tiên họ vượt biển cả gian nan để đến bến bờ mới an toàn. Từ vị trí một vị hải thần, Thiên Hậu đã trở thành thần bảo hộ cho cộng đồng mình, mang đầy đủ ý nghĩa của một vị Bồ tát. Tuy nhiên, trong con mắt của người Việt và người Khmer, Thiên Hậu trước hết là vị phúc thần (Bebevolent Goddess), là một Thánh Mẫu linh thiêng như các Thánh Mẫu khác trong truyền thống như Liễu Hạnh, Bà Chúa Kho, Thiên Y Yana Ponagar, Bà Chúa Xứ v.v.. Với vị trí một phúc thần, Thiên Hậu được người Việt tiếp nhận theo ngả Phật giáo. Trong tư tưởng người Việt, miếu thờ Thiên Hậu là “nhà chùa” (Chùa Thiên Hậu), và Bà Thiên Hậu hiển linh như Phật Bồ tát vậy. Bên cạnh đó là hiện tượng một bộ phận người Việt, Khmer trong khu vực tiếp nhận và thực hiện các nghi thức cúng tế Thiên Hậu như người Hoa([13]). Miếu Thiên Hậu ở Giồng Trôm (Bến Tre) do chính người Việt lập ra để thờ Bà. Trong một vài ngôi chùa người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh thờ Phật, người ta đã bắt đầu đặt ngẫu tượng bà Thiên Hậu cùng thờ, chẳng hạn chùa Vĩnh Phước An ở Sóc Trăng. Ở Nghĩa Nhuận hội quán, một ngôi chùa người Việt thờ Thành hoàng bổn cảnh, người ta còn phối thờ cả Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Công (Nguyễn Đức Hiệp 2011). Ở Chùa Tổ thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, vốn là một ngôi miếu thờ Tổ nghề của người Việt, người ta phối thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu (Võ Văn Hoàng 2009). Trong bất kì hoạt động lễ hội nào diễn ra ở các miếu Thiên Hậu, người Việt đều tham gia với tất cả lòng cung kính, nhiệt thành. Và vì thế, để phục vụ đông đảo các tín đồ người Hoa và người Việt, ở nhiều miếu Thiên Hậu người ta tổ chức tế lễ và hát tuồng bằng tiếng phổ thông – tiếng Việt (Võ Văn Hoàng 2009). Tại Tp. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, hiện tượng đi viếng chùa Bà Thiên Hậu tại Bình Dương những ngày đầu năm mới âm lịch đã trở thành một phong tục quan trọng trong năm. Trong những ngày ấy, số thiện nam tín nữ người Việt đến viếng chiếm đại đa số, mỗi ngày có đến hàng ngàn người, náo nhiệt hơn hẳn những cơ sở tín ngưỡng – tôn giáo của chính người Việt. Khảo sát tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Đà Nẵng: Người Việt nơi đây cũng tiếp nhận tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu như một tín ngưỡng của mình. Người Việt gọi Bà Thiên Hậu là Mẹ, trong khấn lễ cũng kính cẩn hô là Thánh Mẫu. Để thông linh với Thánh Mẫu, người Việt cũng thể theo cách thức của người Hoa. Ví như, khi có nhu cầu được hộ trì, họ cũng dâng Bà một vòng hương (hình nón chóp, cao khoảng 1m) và gắn trong đó lời thỉnh cầu xin Bà chứng độ. Vòng hương này khoảng ba tháng sau mới tắt. Nếu đạt nguyện vọng, họ đến cúng tạ Bà, còn chưa thì lại dâng hương cầu tiếp. Chùa Bà hiện có rất nhiều dãy hương vòng của người Việt lẫn người Hoa, dâng thắp từ cửa gian tiền điện đến gian chánh điện. Khảo cứu những lời khấn cầu của người dân Hoa,Việt thể hiện trong các vòng hương sẽ thấy muôn mặt đời thường của con người trong xã hội hiện đại cùng những ước vọng nhân sinh cụ thể, bình dị. Người thì: “…xin mẹ Thánh Mẫu và Ban hội đồng chư vị cho gia đình con bình an, sức khỏe, cho công ty TNHH…làm ăn phát đạt, vạn sự như ý”; người lại: “… cầu xin Mẫu ban phúc, che chở cho con được đầu xuôi đuôi lọt thuận buồm xuôi gió cửa quan pháp lý”; có người cầu nơi ở được yên, người trong nhà hết bệnh tật; người có xe chở khách thì “ cầu cho xe chạy thượng lộ bình an”; người chưa có con trai “cầu xin mẹ cho con có đứa con trai để nối dõi tông đường”; người muốn đạt chuẩn ngoại ngữ để đi du học “…cầu xin mẹ cho con ước nguyện đạt được điểm Anh văn như ước nguyện để con có thể sang Úc du học…”; kẻ học trò cầu: “… cho con học hành chăm chỉ, xin cho đi đầu trên bước đường công danh…”; người sắp khai trương cửa hàng cầu: “… xin mẹ Thánh Mẫu cho con khai trương của hàng áo cưới, làm ăn phát tài phát lộc, mọi công việc đều hanh thông”. Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Đà Nẵng (có thể nhìn rộng ra là xứ Quảng?) như vậy cũng là một biểu hiện của quan hệ giao lưu văn hóa tự nhiên Việt-Hoa, trên một vùng lãnh thổ do người Việt làm chủ thể. Hiện nay, không chỉ đi chùa, lễ Mẫu, mà tại nhiều điện tư gia thờ Mẫu ở Đà Nẵng, ngày vía Thiên Hậu cũng là một ngày lễ trọng của cộng đồng người Việt theo “cửa thánh”. Chính khát vọng thường trực trong tư tưởng người dân về cuộc sống an lành, hưng thịnh dưới sự chở che của các Bà Mẹ, đã đưa đến việc tiếp nhận Thánh Mẫu Thiên Hậu trong điện Mẫu của người Việt. Khát vọng thiêng liêng đó nói lên tư duy cởi mở, sáng tạo, hòa đồng, xuất phát từ môi trường môi sinh địa- chính trị, địa-lịch sử, địa-văn hóa của vùng đất Quảng. Sáng tạo truyền thống từ một biểu tượng tương đồng rồi chuyển hóa biểu tượng thông qua tiếp nhận và tham dự vào thờ Mẫu có cội nguồn khác Việt, điều đó còn thể hiện tư tưởng nhân văn truyền thống Việt. Tiếp nhận và kính tín Thiên Hậu Thánh Mẫu chính là tôn vinh một người phụ nữ có lòng hiếu thảo, đức hy sinh vì gia đình và cộng đồng một cách vô tư. Nét nhân cách này nằm trong tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Quan công: Tín ngưỡng này của người Hoa được người Việt tiếp nhận và trở thành một trong những vị thần gắn liền với đời sống văn hoá tinh thần của họ trên mảnh đất Nam bộ. Đặc biệt, không chỉ có người Hoa mà người Việt còn thỉnh Quan Công vào thơ ở trong nhà trên một “trang” thờ ở nơi cao trong nhà cùng với các thần, phật khác như: Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Quan Am, Thích Ca,… Quan Công trở thành vị thần độ mạng cho nam giới trong gia đình người Việt. Hình Quan Công được vẽ theo dạng tranh kiếng giống như bộ tượng Quan Công trong miếu hoặc Quan Công tay cầm Thanh Long đao đứng riêng, Quan Công xem án thư với nhiều kích cỡ khác nhau. Tùy vào độ tuổi của vị gia chủ mà bộ tượng Quan Công khắc trên tranh kiếng được thay đổi: Thanh Long đao hướng ra ngoài hay vào trong, vị trí tả hữu của Châu Xương, Quan Bình. Sau khi vị gia chủ mất hay vì một lý do khác, bức tranh thờ Quan Công được mang gửi lại trong chùa, miếu gần nhà, thậm chí là những ngôi miễu nhỏ trong xóm, ấp ven đường để hương khói tiếp tục. Quan Công không chỉ là vị thần thuộc phạm vi gia đình mà còn là vị thần mang tính chất tính ngưỡng cộng đồng của người Việt. Trong một số ngôi đình của người Việt , người ta còn thỉnh ông vào thờ cùng phối hưởng với thần Thành hoàng và các thần thánh khác của người Việt với bài vị khắc là “ Quan Thánh Đế Quân” hay tượng cốt, thậm chí có thể là một ngôi miếu nhỏ trong khuôn viên đình. Ở đình Bình Hòa- một ngôi đình cổ của Bến Tre có ngôi miếu thờ Quan Công khá lớn trong khuôn viên. Hàng năm, Ban Quí tế đình tổ chức cúng vía Quan Công ở miếu vào ngày 13/5 âm lịch. Một số ngôi chùa cổ ở Nam bộ cũng thờ Quan Công trong chánh điện với tư cách là Già Lam Bồ Tát độ trì tam bảo. Chẳng hạn ở Sắc Tứ Quan Am cổ tự- ngôi chùa cổ ở Thành phố Cà Mau trong chánh điện có tượng thờ Quan Công ngồi trên ngai một mình với một kiểu hơi khác với qui ước truyền thống: Râu 3 chòm, mặt áo giáp trụ xanh dương, khuôn mặt hiền từ, phúc hậu. Càng đặc biệt hơn, ở chùa An Phước (huyện Châu Thành- tỉnh Bến Tre) có ngôi miếu thờ Quan Công, bộ tượng Quan Công ở đây được thể hiện như sau: Quan Công ngồi trên ngai đầu đội mão đỏ, râu một chòm ngắn, mặc áo giáp trụ màu xanh lá cây, khuôn mặt hiền từ, nhân hậu, bên phải là tượng Quan Bình mặc áo thụng đỏ có đốm vàng(kiểu áo người Việt), khuôn mặt trắng và tròn, tay cầm ấn Hiệp Thiên, bên trái là tượng Châu Xương tay cầm Thanh Long đao. Qua điều này đã chứng minh được: Người Việt ở đây đã tiếp thu tín ngưỡng thờ Quan Công của người Hoa vào trong những thiết chế làng xã của mình là đình và chùa. Họ thờ cúng một cách trang trọng, thể hiện sự khâm phục, ngưỡng mộ một nhân cách lớn lao của Quan Công và tin tưởng sự phù hộ độ trì của ông đối với người Việt ở vùng đất mới. Bộ tượng Quan Công ở chùa An Phước có sự thể hiện mang tính “ cách điệu” và “ Việt hóa” cho phù hợp với thẩm mỹ, nhân sinh quan, đặc trưng của con người Nam bộ: Nhân hậu, hiền lành, mộc mạc, gần gũi,….Cũng có thể vì lý do Phật giáo ở Nam bộ phần lớn thuộc dòng thiền Lâm Tế từ Trung Quốc truyền sang, cho nên có Già Lam Bồ Tát được thờ trong các ngôi chùa cổ này. Điều này hoàn toàn khác hẳn với cách bài trí tượng thờ trong ngôi chùa miền Bắc và tạo nên đặc điểm của chùa Việt ở Nam bộ. Riêng đối với cộng đồng ngư dân xã Bình Thắng (huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre) có ngôi miếu thờ Quan Công khá lớn. Dân gian gọi là chùa Thanh Minh. Ngôi miếu này trước kia được người Hoa thành lập, khoảng đầu thế kỷ XX. Sau này, ngôi miếu được ngư dân người Việt tiếp thu và thờ cúng. Miếu có cấu trúc giống hệt như một ngôi đình người Việt gồm: Võ ca, võ qui, chánh điện. Hằng năm, ngư dân địa phương tổ chức lệ cúng vào 11 và 12/5 âm lịch với các nghi thức: Cúng Tiền vãng, cúng Chánh tế, Xây chầu đại bội,…và có cả hát bội biểu diễn. Đối với cộng đồng ngư dân Phước Hải (Bà Rịa-Vũng Tàu), trong Dinh Ông Nam Hải có bàn thờ Quan Thánh với tượng: Quan Công, Châu Xương, Quan Bình và Mã Đầu Tướng quân cùng ngựa Xích Thố. Theo Đinh Văn Hạnh và Phan An cho biết thêm: “Ở Phước Hải, ngoài lễ nghinh ông, ngày 21 tháng 6 hằng năm, ngư dân tổ chức lễ cầu ngư và cúng vía Quan Thánh là lễ lớn thứ hai”[14]. Ơ lễ hội cúng biển của cộng đồng ngư dân Mỹ Long (huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh), được tổ chức vào các ngày 10, 11 và 12 âm lịch hàng năm, có nghi thức “ Nghinh ngũ phương” : Một số thanh niên có đạo đức tốt, dáng dấp cao ráo, khôi ngô, biết vũ công sẽ hóa trang vào vai Quan Công, Quan Bình, Châu Xương dẫn đầu đám rước thỉnh Ong Nam Hải từ miễu Bà Chúa Xứ đi khắp nơi trong thôn xóm để trù tà ma, tai nạn, tống đi mọi xui xẻo trong tiếng hò reo của ngư dân nơi đây. Đây là biểu hiện của sự “chồng xếp” và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa lớp văn hóa Việt và văn hóa Hoa trong quá trình cộng cư, trong đó văn hóa Việt là chủ thể chính, ở cộng đồng ngư dân Bình Thắng, Phước Hải và Mỹ Long. Mặt khác, sự có mặt của tín ngưỡng thờ Quan Công bên cạnh các loại hình tín ngưỡng khác như: Ong Nam Hải, Bà Chúa Xứ, Thổ Địa, Bà Thủy Long, Bà Ngũ Hành,…tạo nên tính đa dạng trong đời sống tinh thần của các cộng đồng ngư dân này. Hình thức thờ cúng trong các ngôi miếu Hoa thể hiện mối quan hệ, giao lưu văn hoá Hoa-Việt khá rõ nét. Có nhiều vị thần của người Việt đã được đặt thờ trang trọng trong các ngôi miếu Hoa như Chúa Xứ Thánh mẫu, như Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh… Nhiều hội quán như Minh Hương hội quán, Phước An hội quán (Tp.HCM); Minh Nghĩa hội quán, Thất Phủ Hoà An Hậu Minh Hương hội (Tây Ninh ), Vĩnh Triều Minh hội quán (Bạc Liêu); Phước Minh cung (Trà Vinh)… là kết quả của mối quan hệ Hoa-Việt nhiều thế kỷ, được thể hiện trong tổ chức hội quán, trong thành phần hội viên và cả trong hôn nhân giữa hai dân tộc tại nhiều vùng ở Nam bộ.
- Xem thêm -