Tài liệu Tiểu luận chính sách kích cầu

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 57 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ - LUẬT 2009 BÀI TIỂU LUẬN BỘ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn Nhóm sinh viên thực hiện: P.GS TS. NGUYỄN VĂN LUÂN 1. Lê Ngọc Hạnh 2. Phan Nữ Quỳnh Mơ 3. Đoàn Quốc Huy 4. Lã Văn Thọ GVHD: GS – TS NGUYỄN VĂN LUÂN TP. Hồ Chí Minh – 12 /2009Nhóm Wall.E 12/28/2009 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM MỤC LỤC CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Lý thuyết về Khủng hoảng tài chính ..........................................................................4 1.2. Chính sách kích cầu .....................................................................................................8 CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TIỄN 2.1. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế hiện nay ..16 2.1.1. Ảnh hưởng đối với kinh tế thế giới ..........................................................................16 2.1.2. 2.2. Tác động đối với nền kinh tế Việt Nam. ..............................................................22 Chính sách kích cầu của các quốc gia .....................................................................27 2.2.1. Chính sách kích cầu của một số quốc gia có tính tham khảo đối với Việt Nam 27 2.2.2. Chính sách kích cầu của Việt Nam ..........................................................................36 2.3. Tác động của chính sách kích cầu của Việt Nam đối với nền kinh tế ..................45 2.3.1. Tác động của gói kích cầu trong ngắn hạn. .........................................................45 2.3.2. Tác động gói kích cầu trong dài hạn....................................................................46 2.3.3. Mặt trái của quá trình kích cầu .............................................................................53 CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG - BIỆN PHÁP 3.1. Đối với thị trường tài chính .......................................................................................56 3.2. Chi tiêu đầu tư của chính phủ ...................................................................................56 3.3. Đối với thị trường xuất khẩu .....................................................................................57 3.4. Đối với giải pháp an sinh xã hội ...............................................................................58 3.5. Đối với thị trường nội địa ...........................................................................................58 Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 2 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM LỜI MỞ ĐẦU Chúng ta biết đến kinh tế học là một môn nghiên cứu những lữa chọn của cá nhân và xã hội về cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên có giới hạn. Kinh tế học nghiên cứu các hiện tượng kinh tế trên hai góc độ: Một là góc độ bộ phận gia đình, hai là góc độ toàn bộ nền kinh tế . Cách tiếp cận thứ hai đã dẫn tới việc hình thành môn kinh tế vĩ mô. Như vậy có thể xác định đối tượng nghiên cứu của kinh tế vĩ mô là nền kinh tế và sự hoạt động của nền kinh tế. Nhiệm vụ của của nó là phối hợp với các môn khoa học khác của khoa học kinh tế giúp cho người học hiểu được sự hoạt động của nền kinh tế, xác định được các vấn đề của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn, hiểu được nguyên nhân và hậu quả của mỗi vấn đề, đề xuất được giải pháp cho mỗi vấn đề đó. Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mĩ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu, gây ra những hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng, nhất là khi mà chúng ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Khủng hoảng đã có những ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống xã hôi, và các nhà kinh tế học trên thế giới, chính phủ các nước nói riêng cũng như chính phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát khỏi khủng hoảng. Đối với sinh viên, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là tầng lớp trẻ củ xã hội thì cuộc khủng hoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ giữa thực tế với kiến thức được học. Là những sinh viên đang theo học khối ngành kinh tế tại Khoa kinh tế ĐHQG. TP Hồ Chí Minh, với niềm đam mê môn học kinh tế vĩ mô, và mong muốn được tìm hiểu, mong muốn được vận dụng những kiến thức đã được học để đi sâu tìm hiểu vấn đề, tất cả những điều đó đã thối thúc chúng em thực hiện đề tài: “Chính sách kích cầu của Việt Nam”. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 3 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LY LUẠ N 1.1. Lý thuyết về Khủng hoảng tài chính 1.1.1. Khái niệm về tài chính. Tài chính (finance) hiểu theo nghĩa rộng là sự luân chuyển các luồng (dòng) vốn (tiền và giống như tiền). Trên con đường luân chuyển đó hình thành vô số các quỹ (nhà nước, doanh nghiệp, trung gian tài chính và tổ chức, gia đình, cá nhân) hay nói cách khác dòng luân chuyển đó là tập hợp của vô số quỹ với các mối quan hệ chằng chịt giữa các quỹ này tạo nên một hệ thống tài chính. Vậy ta có thể định nghĩa: Tài chính là tập hợp các quỹ tiền (giống như tiền) cùng các mối quan hệ giữa chúng. Nếu nằm trong khu vực quốc gia thì hình thành hệ thống tài chính quốc gia (national finance) và trên phạm vi khu vực hay toàn cầu thì thì hình thành hệ thống tài chính quốc tế (international finance). 1.1.2. Khái niệm khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ. Nó chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung, nhu cầu về tiền mặt của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và tài chính có thể sụp đổ. Trong nền kinh tế thế giới hiện đại, sự lây lan của khủng hoảng tài chính luôn đi kèm với tình trạng nền kinh tế bị suy thoái bị kéo dài. Chính vì vậy khủng hoảng tài chính mang đặc điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong nền kinh tế từ nhiều năm qua. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 4 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM 1.1.3. Dấu hiệu và một số dạng của khủng hoảng tài chính a. Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính - Các Ngân hàng trung ương (NHTW) không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền. - Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng. - Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Theo quy luật của sự phát triển, khi lên đến điểm phát triển cực đại chịu tác động mạnh mẻ của nền kinh tế chính trị xã hội thì nền kinh tế đó sẽ chuyển sang thời kỳ đi xuống suy thoái khủng hoảng. b. Một số dạng khủng hoảng đặc thù - Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis) Rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi của các thể nhân và pháp nhân để cho vay lại nen rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại tiền. Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến tỷ lệ nợ quá cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn. - Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis) Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ, thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (VD: CHDCND Triều Tiên). - Khủng hoảng tiền tệ (Monnetary Crisis) Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn đáp ứng nhu cầu (cả thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ đề duy trì tỷ gia hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng. - Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market) Với tư cách là đỉnh cao của kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán rất nhạy cảm và phức tạp nên cũng rất dễ đổ vỡ. Khủng hoảng thị trường chứng khoán xảy ra khi giá Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 5 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM chứng khoán biến động mạnh (tuột dốc/ leo thang quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát và do hiệu ứng “ bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “ bán đổ bán tháo” hoặc thị trường bị đông cứng vì không có giao dịch tạo ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng khoán) vào/ra thị trường chứng khoán. - Khủng hoảng cán cân thanh toán/ cán cân vãng lai/cán cân vốn. Cán cân thanh toán/ cán cân vãng lai/cán cân vốn(còn được gọi là tài khoản) là cấu thành quan trọng nhất của tài khoản quốc gia. Khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân vãng lai thường xảy ra khi cán cân thương mại (nhập khẩu-xuất khẩu) bị thâm hụt và khủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn luồng ngoại tệ vào. - Khủng hoảng khả năng/tính thanh khoản (Crisis of Liquidity) Nếu các loại khủng hoảng tài chính ở trên liên quan tới cả 3 mặt số lượng, thời gian và chủng loại của tiền, thì khủng hoảng tính thanh khoản là sự mất cân đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của giống tiền và một số loại tài sản đặc thù. - Khủng hoảng ngân sách (Budget Crisis) Ngân sách nhà nước thâm hụt nặng và kéo dài trong khi các nguồn bù đắp thâm hụt (in tiền, vay nợ trong và ngoài nước) bị hạn chế hay/và không thể bị lạm dụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả tai hại hơn như vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát. 1.1.4. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Có thể kể khái quát 1 số nguyên nhân sau: - Giá hàng hóa leo thang: Khi giá hàng hóa leo thang một cách chóng mặt, đặc biệt là giá vàng và giá dầu sẽ khiến cho khủng hoảng tài chính dễ dàng xảy ra. - Các ngân hàng trên thế giới đồng loạt thua lỗ: Các ngân hàng và các định chế tài chính có thể thua lỗ hàng tỉ đôla Mỹ từ cuộc khủng hoảng tín dụng do khủng hoảng nợ phế chuẩn cho vay cầm cố. Do đó các ngân hàng sẽ thực hiện các chính sách thắt chặt việc cho vay. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 6 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM - Thị trường tín dụng bị đóng băng: Các khoản vay thế chấp đã giảm hẳn trong năm 2008, trong đó khoản vay thế chấp thương mại hoàn toàn bị biến mất trên biểu đồ. - Thị trường địa ốc sụp đổ: Thị trường nhà ở của Mỹ phát triển thành bong bóng từ năm 2001, người Mỹ đồng loạt đi vay tiền mua nhà ở cho dù năm 2004 – 2005 lãi suất các khoản vay đã được đẩy lên cao, khi tình hình kinh tế khó khăn thì giá nhà hạ xuống mạnh, từ cuối năm 2008 bong bóng nhà ở bắt đầu xẹp hơi, khiến nền kinh tế chao đảo. Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là các vấn đề liên quan đến thị trường nhà ở địa ốc, thêm vào đó, tình trạng hoản loạn trên thị trường tài chính thế giới cũng là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu giảm mạnh và thị trường tín dụng bị thu hẹp. Nói cách khác có thể thấy cuộc khủng hoản tài chính toàn cầu hiện nay là do tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP vượt quá giá trị có thể đảm bảo một sự phát triển ổn định trong tương lai. 1.1.5. Phương thức chung giải quyết một cuộc khủng hoảng tài chính. Trước hết, chúng ta phải giải toả được những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng hai chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình. Để thị trường yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt. Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ, điều tiết lượng thanh khoản đó. Khi đó, công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp hữu hiệu giúp NHTW cho vay là nghiệp vụ thị trường mở với các giao dịch mua bán lại tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành. Ngoài công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp là cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp với lãi suất phạt. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 7 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM NHTW ở tình thế rất khó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuối cùng thì việc bảo vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúc nào đó thì đồng tiền sẽ giảm giá. Giải quyết khủng hoảng thanh toán để hạn chế thiệt hại bằng cách: loại bỏ những điều không chắc chắn của nhà đầu tư về tính trong sạch của các thể chế cá nhân. Thêm vào đó, buộc các thể chế này phải xử lý những vấn đề về tài sản của mình như định giá thấp… và bán cho cơ quan cơ cấu lại nợ của Chính phủ. Điều này làm tăng tính lỏng và giảm bớt khó khăn cho người cho vay – ngân hàng. Tuy nhiên, để giải quyết khủng hoảng tài chính triệt để thì cần phải ngăn chặn nó bằng cơ chế giám sát, thanh tra và các công cụ, kỹ thuật thích hợp. 1.2. Lý thuyết về Chính sách kích cầu 1.2.1. Khái niệm Chính sách kích cầu là một loạt các biện pháp kinh tế nhằm duy trì và gia tăng tổng cầu của một nước thông qua sự can thiệp của Nhà nước. 1.2.2. Nguồn gốc và cơ sở của chính sách kích cầu Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh John Maynard Keynes (1883-1946). Trong lý thuyết của mình, Keynes rất coi trọng tổng cầu của nền kinh tế. Theo ông, nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ bản: Tổng cung, tức toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường và tổng cầu, tức toàn thể số hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự tác động của tổng cầu. Tổng cẩu phụ thuộc vào cac yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước ( xuất khẩu ròng). Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 8 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường không theo kịp so với tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư, gây ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế. Để giải quyết tình trạng này phải tăng tổng cầu. Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư. Do đó sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được gia tăng. Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách kich cầu của Chính phủ. Ông cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng việc làm và thu nhập. Sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ như chương trình đầu tư Nhà nước; Chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ; Mở rộng việc làm bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành thuộc lĩnh vực quân sự; Khuyến khích tiêu dùng cá nhân... Như vậy, có thể nói, chính sách kích cầu bắt nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả thuyết quan trọng của học thuyết Keynes. - Giả thuyết thứ nhất: Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất bị dư thừa. Biểu hiện của tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sử dụng hết công suất: thất nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và hàng hóa ế thừa. Mức giá LAS AS AD Y* Sản lượng Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 9 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Hiện tượng dư cung này khiến cho các nhà sản xuất giảm giá để hy vọng bán được hàng hóa. Điều này làm cho giá cả có khuynh hướng giảm trên tất cả các thị trường. Lúc này những người tiêu dùng không còn nhu cầu sử dụng thêm vì họ đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ nên dù có giảm giá hàng hóa cũng không khuyến khích người mua, và cầu càng ở dưới xa cung thực tế. Mức giá AD Sản lượng - Giả thuyết thứ hai: Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình. Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình và khu vực kinh tế tư nhân) thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn để dành (khuynh hướng tiết kiệm biên lớn hơn 0). Trong điều kiện bình thường, khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư (tạo nên thành phần của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp không muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhận. Như vậy, qua giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suy thoái vì tạm thời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực. Vì thế để thoát khỏi suy thoái thì cần có một lượng cầu đủ lớn. Xuất phát từ giả thuyết thứ hai, Keynes cho rằng chỉ có chính phủ mới dám chi tiêu mạnh tay khi nền kinh tế đang suy thoái. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 10 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Trên cơ sở hai giả thuyết này, Keynes đề xuất tư tưởng kích cầu theo nguyên lý sau: Dịch chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực, đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua. Giá cả AD Y* Sản lượng Ra đời trong giai đoạn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, học thuyết kinh tế của Keynes đã chiếm một vị trí quan trọng trong kinh tế học hiện đại và có ảnh hưởng sâu rộng trong chính sách kinh tề ở nhiều quốc gia trên thế giới cho đến hiện nay. 1.2.3. Mục đích của chính sách kích cầu Mục tiêu của gói kích cầu là tại thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất hiện tại của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá cao gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội do thất nghiệp tăng cao gây ra. Nếu không nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy. Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì việc làm. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 11 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM 1.2.4. Những nguyên tắc cơ bản để thực hiện chính sách kích cầu Theo lý luận của nhà kinh tế học Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu trưởng trường đại học Harvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama), một gói kích cầu có hiệu quả phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí. - Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời: Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì những biện pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế. - Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng: Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:  Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng.  Mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác động lan tỏa. Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có mức tiêu dùng cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thường tiêu dùng hàng nội địa. Do vậy, nếu kích cầu đúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tế thường gặp. - Nguyên tắc số 3 – Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn: Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cải thiện. Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:  Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu  Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong dài hạn. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 12 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM 1.2.5. Các biện pháp của Chính phủ để thực hiện chính sách kích cầu Ngày nay, chính sách kích cầu ở các quốc gia thường được thực hiện thông qua các biện pháp chủ yếu sau: a. Chính sách tài khóa Để duy trì tổng cầu, Nhà nước phải sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư của tư nhân và Nhà nước thông qua tăng chi tiêu của Chính phủ, các đơn đặt hàng của Nhà nước...Đầu tư tăng sẽ làm tăng tổng cầu, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế.Tuy nhiên, điều cần phải lưu ý là hiệu quả trong việc chi tiêu của Chính phủ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần cải thiện hệ thống thuế khóa theo hướng khuyến khích tiêu dùng của cá nhân. Để tăng thu nhập được quyền sử dụng của các tầng lớp dân cư thì phải giảm các khoản thuế thu nhập và các khoản đóng góp khác. Đồng thời phải giảm các khoản thuế gián thu nhằm giảm giá bán của hàng hóa, phù hợp với sức mua của người dân. Các biện pháp này nếu được áp dụng đúng cách sẽ góp phần làm tăng khoản tiêu dùng của cá nhân, từ đó làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc tăng chi tiêu của Chính phủ đồng thời giảm các khoản thuế tất yếu sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách. Nhưng đây là thâm hụt chủ động của Chính phủ nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế để tạo nguồn thu nhập vững chắc trong tương lai. b. Chính sách lưu thông tiền tệ, tín dụng ngân hàng Để kích thích tổng cầu, Chính phủ nên dùng chính sách tiền tệ mở rộng nhằm giảm lãi suất để kích thích đầu tư và tiêu dùng. Lãi suất hạ, nhà đầu tư sẽ có lợi và họ sẽ mở rộng đầu tư, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập gia tăng. Lãi suất thấp, người tiêu dùng cũng sẽ mở rộng tiêu dùng vì việc tiêu dùng lúc này có lợi hơn là giữ tiền ở các tài khoản tiết kiệm. Như vậy, cần phải thực hiện các giải pháp làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông như: hạ lãi suất chiết khấu, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành thêm tiền cho lưu thông để tăng thu nhập bằng tiền cho xã hội, tung thêm đồng nội tệ để mua ngoại tệ... Tất cả việc này sẽ làm lạm phát gia tăng, nhưng nó lại kích thích sản xuất tăng trưởng, công ăn việc làm gia tăng, tiêu dùng gia tăng và nền kinh tế tăng trưởng theo. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 13 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Vấn đề đật ra ở đây là xác định tỷ lệ lạm phát vừa phải, đừng để lạm phát tăng cao gây tác động xấu đến đời sống kinh tế- xã hội. c. Chính sách thương mại Cải thiện cán cân thương mại theo hướng tăng xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu. Tăng xuất khẩu có tác động tăng công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng tiêu dùng và kinh tế nội địa sẽ tăng trưởng. Đồng thời phải điều chỉnh tỉ giá hối đoái theo hướng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, bên cạnh đó cũng phải khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa. 1.2.6. Một số hạn chế của chính sách kích cầu Có thể nói chính sách kích cầu của Chính phủ là một biện pháp khá hữu hiệu để đưa nền kinh tế thoát khỏi giai đoạn trì trệ, khủng hoảng. Mặc dù vậy, chính sách kích cầu cũng có một số hạn chế nhất định như sau: Thứ nhất, chính sách kích cầu chỉ phát huy tác dụng khi sản lượng còn nằm dưới mức sản lượng tiềm năng. Nếu sản lượng của nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì sự gia tăng chi tiêu của các bộ phận trong nền kinh tế không hề làm tăng thêm sản lượng mà chỉ làm tăng giá, dẫn đến lạm phát cao gây ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế. Thứ hai, việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để kích thích kinh tế cũng có những hạn chế như: trong thực tế rất khó để tính toán việc gia tăng chi tiêu và giảm thuế với liều lượng bao nhiêu là thích hợp; đồng thời, độ trễ của chính sách tài khóa là khá lớn và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chính trị cũng như cơ cấu tổ chức của bộ máy. Thứ ba, chính sách giảm lãi suất để khuyến khích đầu tư tỏ ra không hiệu quả trong một số trường hợp, đặc biệt là trong điều kiện tự do di chuyển tư bản trên phạm vi toàn cầu như hiện nay. Một khi có nước nào đó giảm lãi suất thì tức thời sẽ xảy ra hiện tượng rút vốn đầu tư ở nước đó để di chuyển vào những nước có lãi suất cao hơn, nên làm cho đầu tư trong nước không tăng mà lại sụt giảm và ngược lại. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 14 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Thứ tư, chính sách tăng giá tạo ra lạm phát để giải quyết nạn thất nghiệp cũng không thành công. Trong một số trường hợp, giá cả tăng song song với nạn thất nghiệp cũng gia tăng (khủng hoảng kinh tế 1969- 1975 ở một loạt các nước tư bản chủ nghĩa). Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 15 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TIỄN 2.1. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế hiện nay 2.1.1. Ảnh hưởng đối với kinh tế thế giới a. Nguyên nhân và bản chất cuộc khủng hoảng Cuộc khủng hoảng gần đây bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm 2007 và đó cũng là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu trầm trọng nhất kể từ tám mươi năm qua. Được “châm ngòi” bằng hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mĩ. Số lượng các khoản vay loại này phát triển bùng nổ trong thời kỳ hình thành bong bóng trên thị trường địa ốc ở Mỹ, do người đi vay đặt nhiều hy vọng vào việc mua nhà để bán kiếm lời, còn các ngân hàng thì nhận thấy những khoản lợi nhuận quá béo bở. Tuy nhiên, điều đáng nói là rủi ro của hoạt động vay nợ này không chỉ được giới hạn giữa người đi vay và các ngân hàng. Danh mục nợ này được các ngân hàng thương mại bán lại cho các ngân hàng đầu tư, để rồi các ngân hàng đầu tư sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitization) các khoản nợ địa ốc thành các loại chứng khoán, bán cho các nhà đầu tư khăp thế giới. Khi giá nhà đất ở Mỹ đạt đỉnh và bắt đầu sụt giảm, tỷ lệ nợ xấu và vỡ nợ tăng theo, kéo theo sự sụt giảm mạnh mẽ giá trị của các loại chứng khoán MBS nói trên. Tới lúc này, tai nạn xuất hiện theo kiểu hiệu ứng domino, từ người mua nhà, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu, và gây ra những cơn “dư chấn” ở châu Á. Như vậy đây không chỉ là cuộc khủng hoảng tài chính mà là một cuộc tổng khủng hoảng, trên tất cả các phương diện tài chính, sản xuất, thương mại, dịch vụ tương đương với các cuộc Ðại suy thoái 1873 và 1929. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 16 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Về bản chất, đây là cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng của mô hình phát triển theo chủ nghĩa tự do mới và cuối cùng, đó là khủng hoảng chu kỳ của chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn cầu. Ðặc điểm của cuộc khủng hoảng lần này có những nét chung với các cuộc đại suy thoái trước đây và cũng có những nét mới. - Về đặc điểm chung, nó cũng bùng nổ từ chính trung tâm của chủ nghĩa tư bản, cũng là sản xuất thừa và là kết quả của quá trình tập trung hóa tư bản, tài chính hóa và đầu cơ… - Các đặc điểm riêng là cuộc khủng hoảng lần này diễn ra trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa với thương mại và đầu tư tài chính là trụ cột, sự xuất hiện của các nền kinh tế mới nổi và đồng thời với khủng hoảng về năng lượng, lương thực, sinh thái và biến đổi khí hậu. So với Ðại suy thoái 1929 - 1933, cuộc khủng hoảng lần này diễn ra trong bối cảnh không còn Liên Xô và phong trào cánh tả tại hầu hết các nước phương Tây đang bị suy yếu; mức độ ảnh hưởng chi phối của Mỹ về tài chính, quân sự, thương mại đối với thế giới là rất lớn bởi trật tự chính trị, kinh tế được hình thành sau Chiến tranh lạnh và thông qua quá trình toàn cầu hóa. b. Ảnh hưởng của khủng hoảng tới nền kinh tế các nước. Thứ nhất: là tâm điểm của khủng hoảng, nước Mỹ là nơi diễn ra nhiều vụ đổ vỡ nhất trong ngành tài chính - ngân hàng. Phải kể đến là sự “biến mất” của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập (investment bank) của Phố Wall. Cả 5 ngân hàng đầu tư độc lập của con phố tài chính này đều trải qua những bước ngoặt số phận trong năm 2008: Lehman Brothers phá sản, Bear Stearns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp (bank holding company). Tiếp theo là hàng loạt vụ giải thể trong lĩnh vực ngân hàng thương mại của Mỹ. Tính tới ngày 15/12 vừa qua, số ngân hàng thương mại của Mỹ phải đóng cửa đã lên tới con số 25, so với con số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong cả năm 2007. Trong số này, phải kể tới những tên tuổi lớn như Washington Mutual, Wachovia,IndyMac… Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 17 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Sự đổ vỡ của các ngân hàng ở Mỹ ảnh hưởng mạnh tới tâm lý của người dân không chỉ ở nước này mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới. Tốc độ khủng hoảng tài chính phố Wall đã nhanh chóng lan rộng toàn cầu, và nó đã thực sự tác động đến nền kinh tế các nước trên thế giới. Ba nền kinh tế lớn nhât thế giới đồng loạt suy thoái lần đầu tiên kể từ Đại chiến Thế giới thứ hai, kinh tế toàn cầu giảm tốc mạnh. Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay đã đẩy đồng loạt cả ba nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Nhật Bản và khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vào suy thoái. Đây là lần đầu tiên, Mỹ, Nhật và châu Âu cùng suy thoái từ năm 1945 tới nay. Khi khủng hoảng xảy ra, tính ổn định của nền hệ thống tài chính Mỹ bị phá vỡ, địa vị chiếm lĩnh hệ thống tài chính phố Wall bị hạ thấp. Đối mặt với khủng hoảng mang tính toàn cầu, khả năng Mỹ dẫn đầu thế giới bị giảm xuống, cần phải bắt tay “cứu trợ thế giới” với các nước Châu Âu, Nhật Bản và thị trường mới nổi như Trung Quốc. Khủng hoảng làm cho Mỹ thiếu hụt tài chính hàng tỷ đôla, và chịu hạn chế của ảnh hưởng kinh tế chính trị. Người ta bắt đầu hoài nghi về kinh tế Mỹ dựa trên nền tảng là mô hình tự do thương mại. Cuộc khủng hoảng này đã bộc lộ đầy đủ những tác hại do thị trường không chịu tiếp nhận sự quản lý và những thiếu sót của hệ thống kinh tế. Để ngăn chặn sự lây lan của cuộc khủng hoảng, chính sách kinh tế của chính phủ Mỹ là quay trở lại từ tự do thương mại sang nền kinh tế có sự can thiệp của nhà nước. Hiện nay, tần suất và mức độ can thiệp vào thị trường của chính phủ Mỹ so với cuộc đại suy thoái của những năm 30 là như nhau. Điều này cho thấy sự nghi ngờ về những tác động của chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, sự hấp dẫn của mô hình tự do thương mại đã bị giảm sút. Thứ hai: sự đổi hướng trong chính sách tiền tệ của các nước, xuất hiện những mức lãi suất thấp chưa từng có trong lịch sử. Những biến động lớn chưa từng có trong nền kinh tế buộc ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đi tới những thay đổi hiếm gặp trong chính sách tiền tệ. Tựu chung, từ chủ trương thắt chặt tiền tệ để chống khủng hoảng, thế giới đã chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ chính sách này để chống khủng hoảng và hỗ trợ tăng trưởng. Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 18 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Với chuỗi cắt giảm lãi suất 10 lần kể từ tháng 9/2007 tới 12/2008, FED đã đưa lãi suất đồng USD từ mức 5,25% về khoảng thấp chưa từng có trong lịch sử 0 – 0,25%. ECB, ngân hàng trung ương với mục tiêu số một là chống lạm phát, cũng đã phải giảm mạnh lãi suất đồng Euro về mức 2,5% sau khi khủng hoảng tấn công mạnh vào châu Âu. Nhật Bản lần đầu tiên hạ lãi suất trong 7 năm trở lại đây, đưa lãi suất đồng Yên về mức 0,3%. Trung Quốc cũng liên tục cắt giảm lãi suất đồng Nhân dân tệ. Thụy Sỹ trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Âu hiện nay có mức lãi suất dưới 1% khi mới đây đưa lãi suất đồng Franc của mình về 0,5%...Đáng chú ý, các quốc gia không chỉ tiến hành cắt giảm lãi suất riêng lẻ, mà còn thực hiện những đợt phối hợp cắt giảm lãi suất toàn cầu, mà mở đầu là đợt cắt giảm lãi suất hôm 8/10 do FED, ECB và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) dẫn đầu trong bối cảnh diễn biến khủng hoảng căng thẳng. Cùng với việc hạ lãi suất, các nước cũng liên tục bơm tiền với khối lượng lớn vào hệ thống tài chính và nền kinh tế để tăng cường tính thanh khoản cho thị trường. Thứ ba, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đang thúc đẩy việc điều chỉnh tiêu dùng Mỹ nhiều năm qua. Trung Quốc và các thị trường mới nổi cũng đang điều chỉnh phương thức tăng trưởng. Nhưng cục diện thay đổi kinh tế toàn cầu cũng cần các nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Đức mở rộng tiêu dùng cá nhân. Thứ tư là việc cải cách lại hệ thống kinh tế thế giới. Khủng hoảng đã khiến cho hệ thống tài chính phải cải tổ lại, tạo bước ngoặt cho việc cải cách trật tự tài chính quốc tế. Hiển nhiên, trong tương lai, nếu việc cải cách trật tự tài chính thế giới hiện hành bị hạn chế trong việc dàn xếp, và việc Âu Mỹ phải bảo vệ quyền lợi của mình, thì không thể tiến hành việc cải cách hệ thống tài chính thế giới. Thứ năm, khủng hoảng đã chứng minh rõ được mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa và sự thiếu tin cậy trong việc giám sát quốc tế. Điều này đã khiến cho các nước nhận thức và đánh giá lại sự toàn cầu hóa và những ảnh hưởng bên ngoài của nó, có thái độ thận trọng hơn với nền kinh tế và tự do thương mại Mỹ. Đồng thời, khủng hoảng toàn cầu khiến cho Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 19 December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM tỷ lệ thất nghiệp tăng, nên chính phủ rất băn khoăn và bảo thủ trong việc tạo cơ hội việc làm. Các vòng đàm phán Doha tiếp tục rơi vào bế tắc. Thứ sáu: khủng hoảng tài chính cũng đã tác động tới dự trữ ngoại hối của một số quốc gia. Theo số liệu công bố trên trang web chính thức của IMF, Dự trữ ngoại hối tại thời điểm cuối tháng 10/2008 của hầu hết các nước đã công bố số liệu đều sụt giảm mạnh so với tháng 9/2008. Cụ thể trong số 28 nước đã công bố số liệu thì có 27 nước Dự trữ ngoại hối sụt giảm trừ Estonia có mức Dự trữ ngoại hối tăng khoảng 600 triệu USD từ 3,6 tỷ USD vào cuối tháng 9 tới 4,2 tỷ USD vào cuối tháng 10/2008 . Đặc biệt, 3 nước trong số 5 nước có quy mô Dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới theo thứ tự là: Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc đều có mức sụt giảm mạnh mẽ không kể Trung Quốc là nước không công bố chính thức số liệu Dự trữ ngoại hối trên website của IMF và Ấn Độ do chưa công bố số liệu Dự trữ ngoại hối tháng 10/2008. Đứng đầu mức sụt giảm Dự trữ ngoại hối là Nga với mức sụt giảm là 71,5 tỷ USD từ 556 tỷ USD xuống chỉ còn 484,5 tỷ USD, sau đó tới Hàn Quốc giảm 27,4 tỷ USD từ 239, 7 tỷ USD xuống 212,3 tỷ USD; Đức giảm 18,6 tỷ USD từ 142,9 tỷ USD xuống 124,3 tỷ USD và Nhật giảm 18,2 tỷ USD từ 995,9 tỷ USD xuống 977,7 tỷ USD. Có hai nguyên nhân chính khiến Dự trữ ngoại hối của các nước giảm mạnh.  Nguyên nhân thứ nhất là việc Ngân hàng trung ương các nước bán ròng ngoại tệ trong đó chủ yếu là đồng đô la Mỹ để can thiệp thị trường nhằm giữ giá đồng nội tệ.  Nguyên nhân thứ hai là do tỷ giá của một số ngoại tệ mạnh trong rổ ngoại tệ thuộc dự trữ ngoại hối biến động khiến mức dự trữ ngoại hối quy ra đô la Mỹ sụt giảm. Đồng rup của Nga liên tục mất giá kể từ giữa tháng 6/2008 đến 12/2008 . Tại thời điểm giữa tháng 6 tỷ giá USD/RUB vào khoảng 22,9 thì ngày 31/10 tỷ giá này lên tới 27,1 khiến đồng rup mất giá hơn 18% so với USD. Tương tự đà mất giá của đồng rup, đồng won của Hàn Quốc cũng đang trong giai đoạn mất giá nghiêm trọng kể từ sau cuộc khủng Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 20
- Xem thêm -