Tài liệu Tiểu luận cấu trúc nợ công và tính bền vững ở nhật bản

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 858 |
  • Lượt tải: 8
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP-HCM TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG ĐỀ TÀI:CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN GVHD: TS Nguyễn Hồng Thắng Sinh viên thực hiện: Lớp : HP 14C1TCMA50305 TCDN- CHCQ K23- NHÓM 02 Niên khóa 2013- 2015 Trang1 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng SVTH: LỚP HP 14C1TCMA50605 –CHCQ K23- NHÓM 2 STT 1 2 3 4 HỌ VÀ TÊN Nguyễn Thị Nhân Ái Võ Ngọc Châu Nguyễn Tuyết Hạnh Phạm Thị Kim Huệ ĐIỆN THOẠI 0903 668 317 0907 400 408 0984473 441 0988932201 MAIL 5 6 7 8 9 Trần Thị Xuân Lan Nguyễn Trọng Nguyễn Trần Thị Huỳnh Như Đỗ Như Tiến Nguyễn Thị Huyền Trang 0909898390 0906 690 502 0126711384 01649667374 01265870366 n nhan_ai_1312@yahoo.com vongocchau88@gmail.com tuyet.hanh866@gmail.com ptkhue197@gmail.com tranthixuan_lan@yahoo.com.v trongnguyenii@gmail.com huynhnhu.8591@gmail.com donhutien1012@gmail.com huyentrangred22@gmail.com 2 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng MỤC LỤC Giới thiệu..........................................................................................................................1 1. Quan niệm về nợ công...............................................................................................1 2. Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công.................................................2 3. Đánh giá tính bền vững của Nợ công Nhật Bản......................................................3 3.1. Thực trạng nợ công của Nhật Bản.............................................................................................................3 3.1.1 Thực Trạng nợ công của Nhật Bản......................................................................................3 3.1.2 Nguyên nhân chính gia tăng nợ công Nhật Bản...............................................................7 3.2. Đánh giá cấu trúc nợ công..........................................................................................................................9 3.3 Phương pháp xử lý Nợ Công của Nhật Bản.............................................................................................12 3.4 Rủi ro nợ công của Nhật Bản...................................................................................................................14 4. Kết luận....................................................................................................................18 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................20 3 CẤU TRÚC NỢ CÔNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG Ở NHẬT BẢN Giới thiệu Cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra vào năm 2008 đã ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Tại khu vực đồng tiền chung Châu Âu, để cứu vãn nền kinh tế, các quốc gia đều phải tăng chi tiêu công, biến các khoản nợ tư nhân thành nợ công. Tuy nhiên, việc làm này không giúp giải quyết được bài toán về kinh tế mà còn gây ra hệ quả là sau thời điểm này, nợ công của khu vực Châu Âu đều có xu hướng tăng vọt, điển hình là Hy Lạp và Italia đều ở mức trên 100% so với GDP. Đi kèm theo đó là lợi tức trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 01/2010, lên 9,73% vào tháng 07/2010 cũng chính là dấu hiệu khởi đầu cho cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tại Châu Âu. Khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp, sau đó Ailen trở thành nước thứ hai và tiếp tục lan ra các quốc gia khác trong khu vực đồng Euro. Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng nợ công là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai-len và Síp đã phải xin cứu trợ quốc tế để tránh vỡ nợ. Có thể nhìn thấy vấn đề nợ công đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Một quốc gia đang được giới phân tích dự đoán có khả năng trở thành “Hy Lạp thứ hai” hay không, chính là Nhật Bản. Tỷ lệ nợ công của Nhật Bản hiện nay là khoảng 245% so với GDP, với con số này, liệu rằng Nhật Bản có xảy ra khủng hoảng nợ công hay không? Bài phân tích này sẽ tập trung phân tích vào tính bền vững nợ công Nhật Bản và đưa ra những khác biệt giữa nợ công Nhật Bản và Hy Lạp. 1. Quan niệm về nợ công Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nợ chính phủ, nợ công hoặc nợ quốc gia là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách, vì thế, nợ chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Nợ chính phủ thường được phân thành : Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước). Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì chính phủ vì có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. So với trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ, trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêm vào đó còn có thể xảy ra rủi ro về tỷ giá hối đoái. Ngoài việc vay bằng cách phát hành trái phiếu nói trên, chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế, chẳng hạn Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)... Hình thức vay này thường được chính phủ của các nước có độ tín cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao. 2. Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công Việc đánh giá tính bền vững Nợ công (Debt Sustainability Analysis - DSA) được dựa trên trên phương pháp luận do IMF (2011) xây dựng 1, cụ thể phương pháp này nhằm vào các mục tiêu sau:  Đánh giá hiện trạng nợ công bao gồm việc xem xét quy mô hiện tại, cơ cấu kì hạn, cơ cấu lãi suất cố định hay thả nổi,cơ cấu tiền tệ và chủ nợ;  Xác định tính dễ tổn thương của cơ cấu nợ hiện tại hoặc rủi ro chính sách để từ đó khuyến nghị những điều chỉnh thích hợp;  Dự báo nợ công tương lai và đưa ra các khuyến nghị chính sách để tránh sự đổ vỡ hoặc ổn định nợ công. Nợ công của một quốc gia được coi là bền vững nếu như các nghĩa vụ nợ (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ mà không cần sử dụng đến các biện pháp tài trợ ngoại lệ 1 International Monetary Fund (2011), “Some Tools for Public Sector Debt Analysis”, Chapter 9 in Public Sector Debt Statistics:Guide for Compilers and Users. Trang2 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng (ví dụ như xin miễn giảm), hoặc không cần phải thực hiện những điều chỉnh lớn đối với cán cân thu nhập và chi tiêu của mình. Đây chính là khả năng thanh toán nợ công và rủi ro vỡ nợ. Ngoài ra, còn có thể phân tích thêm những tác động tích cực ( tiêu cực của nợ công đến nền kinh tế). Do giới hạn về dữ liệu, trong khuôn khổ bài phân tích này, chúng tôi chỉ đánh giá tính bền vững nợ công Nhật Bản một cách cơ bản và không phân tích tác động của Nợ công lên nền kinh tế. 3. Đánh giá tính bền vững của Nợ công Nhật Bản 3.1. Thực trạng nợ công của Nhật Bản 3.1.1 Thực Trạng nợ công của Nhật Bản Hình 3.1 Nợ công Nhật Bản qua các năm ( số tuyệt đối) Đơn vị tính: Tỷ Yên NỢ CÔNG NHẬT BẢN QUA CÁC NĂM 1,200,000.00 900,000.00 600,000.00 300,000.00 - Trang3 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Hình 3.2 Nợ công Nhật Bản qua các năm ( so với GDP) Đơn vị tính: % NỢ CÔNG NHẬT BẢN SO VỚI GDP 250.00 200.00 150.00 100.00 50.00 - Trang4 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Nhìn vào hai biểu đồ trên ta thấy: mặc dù là nền kinh tế phát triển thứ ba trên thế giới nhưng tỷ lệ nợ công của Nhật Bản đang đứng đầu thế giới. Nợ công của Nhật Bản tăng trung bình 3% mỗi năm và từ sau năm 1996, tỷ lệ nợ công của Nhật Bản đã vượt qua 100% so với GDP. Thời điểm đó, Chính phủ Nhật cố gắng gia tăng chi tiêu công, kích thích tiêu dùng nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ sau khi nền kinh tế “bong bóng” bị vỡ do cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997). Tuy nhiên, những nỗ lực đó không đưa lại những kết quả như mong muốn và Nhật Bản phải đối mặt với một giai đoạn giảm phát triền miên, chi phí phúc lợi xã hội không ngừng gia tăng làm xói mòn nguồn thu từ thuế vốn ngày càng thiếu hụt do liên tục bị cắt giảm dẫn tới hậu quả tất yếu là tỷ lệ nợ công ngày càng cao. Thâm hụt ngân sách hàng năm của Nhật Bản là gần 10% GDP, cao hơn so với bất kỳ quốc gia nào thuộc khu vực đồng Euro. Điều này cộng với tình trạng kinh tế trì trệ tạo nên tỷ lệ nợ/GDP tăng 10% hàng năm. Hiện nay nợ công của Nhật Bản chỉ thấp hơn Hy Lạp (Hình 3.3) Trang5 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Hình 3.3 Tỷ lệ Nợ Chính phủ ròng trên GDP của một số quốc gia ĐVT: % Nguồn: IMF, WEO Database (2012) Mặt khác, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và những nỗ lực khôi phục kinh tế sau thảm họa động đất và sóng thần đã tiếp tục làm gia tăng số nợ công của Nhật Bản. Năm 2011, tổng số nợ công của Chính phủ đã gấp đôi GDP. Số nợ công ngày càng gia tăng trong những năm tiếp theo khi Chính phủ Nhật Bản tiếp tục chi các khoản đầu tư lớn để tái thiết những khu vực bị tàn phá bởi thảm họa động đất, sóng thần tháng 3/2011. Tháng 1/2013, Thủ tướng Thủ tướng Nhật- Shinzo Abe đã tung ra chính sách kích thích kinh tế Abenomics - chính sách gồm 3 mũi nhọn (nới lỏng tiền tệ, nới lỏng tài khóa và cải cách kinh tế) nhằm đưa Nhật thoát khỏi thời kỳ giảm phát kéo dài. Như vậy, với những chính sách thúc đẩy kinh tế trong suốt gần hai thập kỷ vừa qua, đã đẩy Tỷ lệ nợ công ròng (sau khi đã trừ đi những khoản như quỹ lương hưu…) của Nhật Bản đã tăng gấp 10 lần và lên tới tỷ lệ 245% GDP. Việc gia tăng khối nợ công khổng lồ đã khiến Chính Phủ Nhật Bản lên kế hoạch tăng thuế ( kế hoạch được lên từ năm 2012). Trang6 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng 3.1.2 Nguyên nhân chính gia tăng nợ công Nhật Bản Tình trạng nợ công hiện nay của Nhật Bản là hậu quả tất yếu của những giải pháp mà Chính phủ đã tiến hành trong quá khứ trong nỗ lực đưa nền kinh tế ra khỏi giai đoạn suy thoái triền miền. Có thể nêu những nguyên nhân chính sau: Thứ nhất, chi tiêu công kích thích tăng trưởng kinh tế: Giải pháp truyền thống mà Chính phủ Nhật Bản thường sử dụng để khắc phục tình trạng khủng hoảng chu kỳ trong hai thập kỷ vừa qua là việc dựa vào ngân sách bổ sung hoặc các chương trình kích thích kinh tế trọn gói nhằm kích cầu trong nước thông qua việc mở rộng các công trình công cộng. Nhật Bản là quốc gia có những gói kích cầu lớn nhất cả về tổng giá trị cũng như tỷ lệ trên GDP. Gần đây nhất, chỉ trong hai tháng 10 và 11/2012, Chính phủ Nhật đã tung ra hai gói kích thích kinh tế trị giá 5,3 và 10 tỷ USD để ngăn ngừa nền kinh tế đang có dấu hiệu suy thoái. Đáng chú ý, Tháng 1/2013, với chính sách kích thích kinh tế Abenomics - chính sách gồm 3 mũi nhọn (nới lỏng tiền tệ, nới lỏng tài khóa và cải cách kinh tế) nhằm đưa Nhật thoát khỏi thời kỳ giảm phát kéo dài. Chính phủ Nhật Bản đã thông qua một gói kích cầu mới trị giá 227 tỷ USD (tương đương 40% GDP) với mục đích tái thiết nền kinh tế lớn thứ ba thế giới trong đó tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng phục vụ việc hồi phục cũng như đề phòng thảm họa, các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng tái sinh và các nỗ lực cải thiện lĩnh vực y tế. Những gói kích thích kinh tế lớn do Chính phủ Nhật Bản tung ra trong hai thập kỷ vừa qua đã thổi phồng số nợ công của Nhật Bản. Đến giữa tháng 5/2014 Chính phủ của Thủ tướng Abe , đã kích hoạt khoản ngân sách khổng lồ 92.610 tỷ Yen (906,2 tỷ USD), tập trung vào các công trình công cộng sẽ tạo đòn bẩy giúp phục hồi nền kinh tế. Thứ hai, chi phí an sinh và phúc lợi xã hội: Nhật Bản hiện là nước có tuổi thọ cao nhất thế giới (83 tuổi) với gần 25% trong tổng số 127 triệu dân ở độ tuổi trên 65 và dự báo đến năm 2060, người già có thể chiếm tới 40% dân số. Tỷ lệ dân số già cao đang đặt Chính Trang7 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng phủ Nhật Bản vào tình thế khó khăn trong việc bảo đảm lương hưu và chăm sóc y tế cho đội ngũ đông đảo những người nghỉ hưu. Chi phí an sinh xã hội ước tăng 800 tỷ Yen và chiếm phần lớn nhất trong ngân sách của năm tài khoán 2013- 2014. Để hỗ trợ cho hệ thống phúc lợi xã hội thì giải pháp tất yếu là Chính phủ Nhật Bản đã phải tiếp tục phát hành trái phiếu vay tiền từ người dân. Từ năm 2000, lượng phát hành trái phiếu chính phủ Nhật Bản đã vượt qua Mỹ, trở thành nước phát hành trái phiếu lớn nhất toàn cầu. Trong năm tài khóa 2013, Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch phát hành lượng công trái mới để tài trợ cho 46% ngân sách. Lượng phát hành trái phiếu tăng làm cho nợ công của Nhật Bản cũng tăng nhanh cùng với nạn giảm phát và nhu cầu tiêu thụ nội địa yếu ớt đang cản trở đà phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản. Thứ ba, nguồn thu từ thuế thấp: Để đối phó với tình trạng giảm phát trong hai thập kỷ vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã liên tiếp điều chỉnh và giảm thuế để kích thích sản xuất và tiêu dùng. Quan điểm của Chính phủ Nhật Bản là duy trì mức thuế thấp qua đó kích thích kinh tế tăng trưởng để gia tăng thu ngân sách mà không theo đuổi chính sách đánh Thuế cao để tăng thu ngân sách. Hiện mức thuế doanh thu của Nhật Bản là 5% - mức thấp nhất trong số các nước công nghiệp hóa (so với mức gần 20% của châu Âu) và nguồn thu từ thuế của Nhật Bản hiện chỉ ở mức 17% GDP - mức thấp nhất trong các thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Trong bối cảnh dân số ngày càng già hóa và chi phí an sinh xã hội tăng cao thì việc thu từ nguồn thuế thấp như hiện này rõ ràng đã góp phần làm trầm trọng hơn tình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng tỷ lệ nợ công của Nhật Bản. Thứ tư, lãi suất thấp: Trong hai thập kỷ vừa qua Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng bằng cách giảm lãi suất nhiều lần và cuối cùng thực hiện “chính sách lãi suất zero”. Đặc biệt trong giai đoạn 2001-2006, khi các chính sách tiền tệ truyền thống không đem lại hiệu quả mong muốn, BOJ lần đầu tiên đã thực thi chính sách nới lỏng định lượng với mục tiêu đưa nền kinh tế Nhật Bản quay lại đà tăng trưởng. Trang8 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Mặc dù việc hạ thấp lãi suất cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, tuy nhiên lãi suất thấp đã khiến người dân Nhật Bản chuộng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn là đầu tư vào trái phiếu hay chứng khoán. Hệ quả là ngân hàng thiếu tiền mặt và không thể cho vay đối với tư nhân, làm cho hoạt động đầu tư tư nhân của Nhật Bản trì trệ trong nhiều năm, kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế. 3.2. Đánh giá cấu trúc nợ công Mỗi quốc gia có cơ cấu nợ và các tiêu chí nợ, cũng như các rủi ro nợ khác nhau. Với Nhật Bản, dù nợ công có quy mô lên tới hơn 245% GDP, nhưng sự vượt ngưỡng này vẫn không làm khó nền kinh tế. Vậy, vì sao nợ công Nhật Bản vẫn ở ngưỡng an toàn? Đầu tiên, hãy nhìn vào cấu trúc nợ công của Nhật Bản : Hình 3.4 Cấu trúc nợ công của Nhật Bản Đơn vị tính : % Nguồn: Bộ Tài Chính Nhật Bản Trong cấu trúc nợ công Nhật Bản, Trái phiếu chính phủ chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 70%), nguồn nợ vay từ các định chế tài chính khoảng 5%, hối phiếu cho nhu cầu tài chính ngắn hạn khoảng 10% Trang9 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Cùng phân tích cấu trúc này, sẽ cho thấy sự khác biệt giữa nợ công Nhật Bản với các nước khác trên thế giới. So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ kỹ thuật, trong khi nợ công của Nhật Bản được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, nhưng nợ công của Nhật Bản vẫn được đánh giá ở ngưỡng an toàn. Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công Nhật Bản, đó là: Thứ nhất, trái phiếu chính phủ (chiếm tỷ lệ chủ yếu trong cấu trúc nợ công) ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế. Từ đầu thập niên 1990, khi ngân sách Chính phủ Nhật Bản bắt đầu thâm hụt, Nhật Bản đã bù đắp cho khoản thâm hụt này bằng cách phát hành trái phiếu để vay nợ, chủ yếu từ nguồn tiền tiết kiệm nội địa lên tới 17 nghìn tỷ USD. Theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P), triển vọng đối với trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định và Nhật Bản “không quá gần” với khủng hoảng, ít nhất là trong ngắn hạn, nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối hơn 1000 tỷ USD; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân vẫn lớn hơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ. Do ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế, nên Chính phủ Nhật Bản sẽ chỉ gặp thách thức trong vấn đề vay nợ khi các nhà đầu tư trong nước không còn mặn mà với trái phiếu Nhật Bản. Những thế mạnh này đã giúp Nhật Bản giữ được thị trường trái phiếu bình ổn. Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên. Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ. Do đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (B0J) trở thành người bảo lãnh hiệu quả cho tất cả các khoản nợ của chính phủ Nhật Bản. Trong trường hợp xảy ra bán tháo trên thị trường trái phiếu chính phủ Nhật Bản, B0J có thể can thiệp và mua toàn bộ số trái phiếu bằng cách in thêm tiền. Khả năng tiền tệ hóa số nợ của B0J là không hạn chế. Hạn chế duy nhất đó là mức độ lạm phát mà Nhật Bản muốn duy trì. Tuy nhiên, khi mà Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát thì khả năng bảo vệ thị trường trái phiếu của B0J là có thể. Trang10 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Thứ hai, phần lớn nợ công Nhật Bản nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa. Hình 3.5 Cơ cấu Người nắm giữ Trái phiếu Chính phủ Nhật Bản tại thời điểm 3/31/2014 Đơn vị tính : % Nguồn: Ngân hàng trung ương Nhật Bản Theo hình 3.5, phần lớn nợ công của Nhật Bản (khoảng 90%) nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước, nên Nhật Bản vẫn chưa phải trải qua những gì như ở Hy Lạp (năm 2010) và tránh được tác động bất lợi từ những biến động thất thường của thị trường tài chính thế giới. Bởi vậy, việc Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P) cắt giảm điểm tín nhiệm nợ công của Nhật Bản sẽ không có nhiều tác động xấu tới tình hình tài khóa của nước này, trừ khi Nhật Bản phải huy động vốn từ thị trường quốc tế. Khi đó, Nhật Bản buộc phải trả mức lãi suất cao hơn để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và lãi suất vay nợ chính phủ cao sẽ kéo theo mức lãi suất cao mà các công ty và người tiêu dùng Nhật Bản phải trả. Lúc đó, điểm tín nhiệm nợ công sẽ có tác động mạnh hơn tới Nhật Bản, thay vì hầu như không có ảnh hưởng gì trong thời điểm hiện tại. Hơn nữa, Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước. Theo số liệu cuối năm 2008 của Quỹ Tiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản trị giá khoảng 5.700 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức nợ nước ngoài là 3.200 tỷ USD. Trong vị thế là nước cho Trang11 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng vay, Nhật Bản đã giúp tăng lòng tin của nhà đầu tư và giảm các nguy cơ về tiền tệ. Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động tài chính trong nước thì họ có thể sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung. Thực tế thì Nhật Bản cũng thặng dư tài khoản vãng lai trong nhiều năm, qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ tăng lên Thứ ba, lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác. Điều này có được một phần là do chính sách tiền tệ của Nhật Bản. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) hạ lãi suất qua đêm liên ngân hàng (OCR) xuống mức 0,1% từ cuối năm 2008 để đối phó với cuộc khủng hoảng. Thậm chí cả trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu diễn ra, để kích thích nhu cầu, BOJ cũng đã giữ OCR ở mức bằng 0% hoặc gần bằng 0% trong nhiều năm. Trong 10 năm qua, OCR của Nhật Bản chưa bao giờ vượt quá mức 0,5%, một mức rất thấp so với hầu hết các nước. Thứ tư, hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh. Mặc dù tỉ lệ nợ công của Nhật Bản cao hơn 200% GDP, song chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Nhật Bản chỉ vào khoảng 3,0, do vậy khả năng trả nợ không quá khó. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản cũng ở mức rất cao. Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, dự trữ quốc gia của Nhật Bản là 1.046,873 tỉ USD (tháng 5/2011). Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế. 3.3 Phương pháp xử lý Nợ Công của Nhật Bản Có thể đánh giá tính hiệu quả của một số biện pháp mà Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành để giải quyết vấn đề nợ, cụ thể như sau: Thứ nhất, tăng thuế: Từ năm 2012, Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu lộ trình tăng một số loại thuế cơ bản như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp... Nhật Bản dự kiến thuế tiêu dùng tăng từ 5% lên 10% trong giai đoạn 2012-2016. Tuy nhiên, việc tăng thuế doanh thu sẽ dẫn đến một loạt hệ lụy kèm theo khi Chính phủ Nhật Bản đã nhiều lần hứa rằng sẽ không tăng thuế cho đến năm 2013. Bên cạnh tăng thuế, việc cắt giảm thêm 10% chi tiêu chính sách trong tài khóa năm 2012 giúp Chính phủ Nhật Bản có thêm Trang12 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng 1.200 tỷ Yen nhằm bảo đảm tài chính để trang trải các chi phí phúc lợi. Điều này sẽ tạo ra những điều chỉnh cần thiết để giúp giảm bớt nợ công. Gần đây nhất, việc tăng thuế từ 5% lên 8% vào quý II năm 2014 đã tác động mạnh đến tăng trưởng và vẫn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. (Số liệu mới nhất cho thấy tăng trưởng tiêu dùng cá nhân quý II, vốn đóng góp 60% GDP, yếu hơn dự kiến. Kinh tế ảm đạm gần đây đã khiến viễn cảnh tăng thuế trở nên mờ mịt.) Vì vậy, một số nhà kinh tế cho rằng mức thuế tiêu dùng nên tăng thành 15% theo lộ trình tăng đều 1% hàng năm trong vòng 10 năm. Biện pháp này nhằm giảm nhẹ ảnh hưởng đối với người tiêu dùng đồng thời có thể hạn chế giảm phát bằng cách tạo ra lạm phát kỳ vọng. Về nguyên tắc, người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu nếu như thuế đột nhiên tăng đến 10% nhưng khi thuế tăng từ từ và được dự báo sẽ tiếp tục tăng thì người dân vẫn chi tiêu như bình thường. Thứ hai, giảm bớt gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội: Với tỷ lệ người già cao như hiện nay Chính phủ Nhật Bản đang cân nhắc nâng độ tuổi nghỉ hưu để giảm bớt gánh nặng an sinh xã hội. Các nhà làm luật Nhật Bản dự tính sẽ nâng tuổi nghỉ hưu của người lao động nước này lên 61 tuổi vào năm 2013 và 65 tuổi vào năm 2025. Tuy nhiên, ngoài việc nâng độ tuổi nhận tiền trợ cấp, Chính phủ Nhật Bản vẫn cần xem xét cắt giảm các mức trợ cấp trong tương lai, tăng mức đóng tiền phí bảo hiểm y tế nhà nước... cũng như tiến hành cải cách toàn diện hệ thống an sinh xã hội để giảm bớt mức chi, cải thiện tình trạng nợ công. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản sẽ phải khuyến khích thực hiện các chương trình tái tuyển dụng nhân viên nghỉ hưu để có thể khắc phục vấn đề thiếu hụt nhân lực ở tuổi lao động. Thứ ba, ổn định tài chính, giảm bớt thâm hụt ngân sách: Mục tiêu bình ổn tài chính được Chính phủ Nhật Bản đưa ra nhằm ổn định tỷ trọng tăng trưởng nợ. Chiến lược “ổn định tài chính” sẽ được trợ giúp với cơ chế chia sẻ thâm hụt ngân sách giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương từ năm 2013. Kế hoạch đặt ra là cắt giảm một nửa thâm hụt ngân sách vào năm 2015 và đạt được mức thặng dư ngân sách từ năm 2019. Về dài hạn, cán cân ngân sách của cả chính quyền trung ương và địa phương của Nhật Bản Sẽ trở lại trạng thái thặng dư tài khóa năm 2020. Trang13 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Tuy nhiên, mục tiêu này có thể sẽ khó đạt được trong bối cảnh các chính sách phục hồi kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe. Theo đó, Thủ tướng Nhật muốn tăng chi tiêu Chính phủ vào công trình, cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng và đề xuất BOJ trực tiếp mua trái phiếu chính phủ để giúp tài trợ cho chi tiêu gia tăng. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra thì có nghĩa là trong tương lai Chính phủ có thể chi tiêu nhiều như họ muốn và sẽ dẫn tới sự gia tăng mạnh chi phí vay của Chính phủ. Để bù đắp việc chi phí đi vay tăng sẽ dẫn tới việc Chính phủ Nhật Bản phải phát hành trái phiếu nhiều hơn và như vậy sẽ lại tiếp tục tăng thêm gánh nặng nợ công. Như vậy, mặc dù tỷ lệ nợ công của Nhật Bản là cao nhất thế giới song cho tới thời điểm hiện nay vẫn chưa thành hiểm họa do những ưu thế của nền kinh tế Nhật Bản như tỷ lệ dữ trữ ngoại tệ và tỷ lệ tiết kiệm cao của người dân. Tuy nhiên, nếu Chính phủ Nhật Bản không nhanh chóng thực hiện những biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng hiệu quả hơn thì vấn đề nợ công sẽ trở thành trở ngại lớn trong việc khôi phục nền kinh tế Nhật Bản trong dài hạn. 3.4 Rủi ro nợ công của Nhật Bản Mặc dù có những phương pháp xử lý vấn đề Nợ công nhưng, cấu trúc nợ công của Nhật Bản cũng thể hiện rủi ro và thách thức lớn cho cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.  Thứ nhất :Nguy hiểm xảy ra khi nợ chính phủ cao hơn tiết kiệm tư nhân của quốc gia. Hình 3.6 Dự báo Tỷ lệ Tổng tiết kiệm trên GDP: 2010-2050. ĐVT: % Trang14 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Nguồn : Takeo Hoshi and Takatoshi (2013) Hình 3.7 Phân phối độ tuổi dân số: 2010-2050 ĐVT : % Nguồn : Takeo Hoshi and Takatoshi (2013) Hình 3.8 Tỷ lệ Tiết kiệm theo Nhóm tuổi tuổi Hộ gia đình Trang15 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Nguồn : Family Income and Expenditure Survey. Theo đó, trái phiếu mới không thể được bán tại mức lãi suất thấp; nói cách khác, lãi suất phải gia tăng để hấp dẫn nhu cầu nước ngoài cũng như đáp ứng yêu cầu bảo hiểm rủi ro tín dụng cao hơn của các nhà đầu tư trong điều kiện các trái phiếu được phát hành bởi một quốc gia có tỷ lệ nợ công cao. Sau cùng, điều này đồng nghĩa với việc chính phủ sẽ phải chi trả nhiều hơn cho trái phiếu. Biểu đồ Chênh lệch lãi suất CDS của JGB ( Hình 3.3.4) cho thấy xu hướng gia tăng liên tục trong những năm gần đây. Hình 3.9 Chênh lệch lãi suất CDS của JGB: 2003-2011 (Hàng tuần) Trang16 GVHD. TS. Nguyễn Hồng Thắng Nguồn : Takeo Hoshi and Takatoshi (2013) Chính phủ Nhật sẽ không còn có thể đơn giản chỉ dựa vào “xu hướng nội địa”, dựa vào khu vực tư trong việc tiếp tục mua trái phiếu. Nếu không còn dựa vào điều này, tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu vay bên ngoài, điều này ẩn chứa rủi ro vỡ nợ khá cao.  Thứ hai: Ngoài phí bảo hiểm rủi ro cao hơn và tăng chi phí, rủi ro thứ hai liên quan với mức độ cao của nợ công xuất phát từ khả năng thấp hơn tăng trưởng dài hạn. Một mức độ cao hơn của nợ công có nghĩa là một phần lớn hơn các nguồn lực của xã hội là vĩnh viễn được chi tiêu phục vụ nợ. Điều này có nghĩa rằng một ý định của chính phủ về việc duy trì một mức độ nhất định của dịch vụ công và phải tăng thuế như tăng nợ. Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc bụng" lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế trong xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ.  Rủi ro cuối cùng: niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế. Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậc tín nhiệm. Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thương của nền kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng. Trang17
- Xem thêm -