Tài liệu Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp sài đồng – long biên – hà nội

  • Số trang: 89 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 500 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHAN THỊ NGỌC NGA TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRẺ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI Chuyên ngành: Xã Hội Học Mã số: 60 31 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG NGUYÊN ANH HÀ NỘI, 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Các số liệu và kết quả nghiên cứu công bố trong luận văn này là công trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả. Cá nhân tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả của luận văn. Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2017 Tác giả LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sỹ “Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại Khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên – Hà Nội” được hoàn thành, tôi chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, truyền đạt của các thầy cô giáo trong và ngoài Khoa Xã hội học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tham gia giảng dạy, cung cấp các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu và sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện cho học viên của các cán bộ Khoa xã hội học, Ban Đào tạo Học viện Khoa học xã hội trong suốt quá trình đào tạo tại đây để tôi có thể tiến hành thực hiện đề tài này. Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan cùng các anh chị em đồng nghiệp, lãnh đạo cán bộ UBND quận Long Biên, trạm y tế phường Sài Đồng, phường Thạch Bàn – quận Long biên đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Nguyên Anh - người thầy tận tụy đã gợi mở, định hướng, chỉ bảo tôi hoàn thành nghiên cứu này. Mặc dù tôi đã cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn. Trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2017 Tác giả MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU ............................. 17 1.1. Thao tác hóa khái niệm ............................................................................ 17 1.2. Các lý thuyết liên quan ............................................................................. 21 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ Ở KHU CÔNG NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI ................................................................................................................. 28 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu ................................... 28 2.2. Thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng - Long Biên - Hà Nội .......................................................... 31 CHƢƠNG 3. MỘT SỐ RÀO CẢN VÀ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ KHU CÔNG NGHIỆP SÀI ĐỒNG – LONG BIÊN – HÀ NỘI ....................................... 39 3.1. Rào cản từ yếu tố cá nhân ........................................................................ 39 3.2. Những rào cản từ phía cộng đồng, xã hội ................................................ 53 KẾT LUẬN .................................................................................................... 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT AAV ActionAid Việt Nam BHYT Bảo hiểm y tế BHXH Bảo hiểm xã hội CHXHCN Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa CSSK Chăm sóc sức khỏe DTTS Dân tộc thiểu số KCN Khu công nghiệp TCTK Tổng cục Thống kê THCS Trung học cơ sở UNDP Chương trình liên hiệp quốc về phát triển UNFPA Quỹ hoạt động dân số Liên Hợp quốc DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 2.1: Loại hình công việc chính của lao động trẻ tại KCN theo giới tính (đơn vị %) ........................................................................................................ 30 Bảng 2.2: Loại hình dịch vụ y tế lao động trẻ tại KCN Sài Đồng thường xuyên sử dụng, chia theo tình trạng hôn nhân (đơn vị %) .................................................... 32 Bảng 2.3: Loại hình dịch vụ y tế lao động trẻ KCN Sài Đồng ....................... 33 thường xuyên sử dụng, chia theo trình độ học vấn ( đơn vị %) ..................... 33 Bảng 2.4: Mức độ sử dụng dịch vụ y tế tại nhà máy, xí nghiệp của lao động trẻ tại KCN Sài Đồng (đơn vị %) .................................................................... 36 Bảng 2.5: Đánh giá của công nhân chất lượng dịch vụ y tế của nhà máy, xí nghiệp .............................................................................................................. 37 Bảng 3.1: Thu nhập bình quân của các lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng (đơn vị %) .............................................................................................. 40 Bảng 3.2: Loại hình dịch vụ y tế người lao động trẻ tại KCN Sài Đồng thường xuyên sử dụng, chia theo thu nhập (đơn vị: %) ................................................. 42 Bảng 3.3: Tỷ lệ lao động trẻ tại KCN Sài Đồng lên phương án điều trị khi bị bệnh, chia theo giới tính và tình trạng hôn nhân (Đơn vị %) ............................. 44 Bảng 3.4: Tỷ lệ lao động trẻ nhập cư cho biết phương án điều trị khi bị bệnh, chia theo thu nhập (Đơn vị %) .......................................................................... 45 Bảng 3.5: Đánh giá về cơ sở hạ tầng y tế dịch vụ công của người lao động trẻ KCN Sài Đồng (đơn vị %) ............................................................................... 53 Bảng 3.6: Thời gian chờ đợi khi đi khám chữa bệnh (đơn vị %) ................... 55 Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động trẻ nhập cư biết các chính sách chăm sóc sức khỏe dành cho người lao động nhập cư ở địa phương (đơn vị %) .......................... 58 Bảng 3.8: Lý do lao động trẻ KCN Sài Đồng không biết các chính sách chăm sóc sức khỏe dành cho người lao động nhập cư ở địa phương (đơn vị %) .... 59 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành y tế, đây cũng là một trong những mục tiêu chính nhằm đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe tiến tới đảm bảo công bằng xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ quan điểm cơ bản là để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe thì phải đảm bảo công bằng trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là những lao động trẻ. Đây là chủ đề thu hút được sự quan tâm của các nhà quản lý và giới nghiên cứu khoa học. Trong quá trình phát triển, xây dựng và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng, trong đó thanh niên là nhóm lao động chính, có sức khỏe, tiềm năng trí tuệ, khả năng tiếp cận và hội nhập nhanh, với nhiều cơ hội khởi nghiệp. Do vậy, có được nguồn nhân lực có kỹ năng và sức khỏe thực sự là đòi hỏi quan trọng nhất trong để phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng cũng chính với nhóm tuổi này, vấn đề chăm sóc sức khỏe và tiếp cận các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe có nhiều vấn đề cần được chú ý. Trong đề tài này, tôi quan tâm đến vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm lao động trẻ tại khu công nghiệp. Nhóm thanh niên này chủ yếu di cư từ nông thôn lên các thành phố lớn, nơi có các khu công nghiệp, khu chế xuất để sinh sống và tham gia lao động sản xuất. Vấn đề đặt ra là họ có thực sự quan tâm tới vấn đề sức khỏe của mình hay không khi đang được nhìn nhận là nguồn nhân lực trẻ khỏe? Cách họ tiếp cận với các dịch vụ y tế như thế nào? Những yếu tố và rào cản nào đang ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch khám chữa bệnh của nhóm dân cư này? Đặc biệt, với đặc điểm chủ yếu là các lao động trẻ từ nơi khác đến, sinh hoạt trong một môi trường sống mới, thì cần có 1 các các giải pháp chính sách nào để tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng một cách thuận tiện và hiệu quả? Đó cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tiếp cận dịch vụ y tế của ngƣời lao động trẻ tại Khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Vấn đề người lao động trẻ tại các khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ y tế là một vấn đề lớn được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều góc cạnh. Một số đề tài nghiên cứu, sách, tạp chí có liên quan đã được công bố như: Bài viết về “Lao động nông thôn di cư ra thành thị: Thực trạng và khuyến nghị”, tác giả Nguyễn Đình Long và Nguyễn Thị Minh Phượng (2003) [24] đã chỉ ra rằng di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp ở nước ta ngày càng có xu hướng gia tăng và có tính rộng khắp trên các vùng nông thôn trong cả nước. Đặc trưng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp ở nước ta là ngày càng trẻ hóa. Di cư tự do từ nông thôn ra thành thị góp phần mang lại sự chuyển dịch và phân phối lực lượng lao động. Tăng thu nhập phi nông sẽ có điều kiện cải thiện cuộc sống bản thân và gia đình. Tuy nhiên, việc có quá đông người nhập cư cũng gây ra những áp lực nhất định về cơ sở hạ tầng, vệ sinh môi trường, giáo dục, y tế và an ninh trật tự tại các địa bàn nơi đến. Lượng người nhập cư ngày một tăng trong khi cơ sở vật chất, áp lực môi trường và dịch vụ xã hội không đáp ứng kịp đã gây ra tình trạng quá tải tại các trường học, cơ sở y tế. Tệ nạn xã hội (trộm cắp, nghiện hút) tăng lên trong những năm gần đây cũng được cho là hệ lụy của lượng người nhập cư tăng quá nhanh. Báo cáo “Chuyển đổi thị trường và an sinh xã hội ở Việt Nam”, chủ biên Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng (2008) [15] cho thấy người dân di 2 cư không chỉ bị cô lập về mặt xã hội mà còn bị cô lập về mặt không gian bởi họ phải sống trong những nơi không có đủ nhà ở và không được tiếp cận đầy đủ với nước sạch và vệ sinh. Thực trạng này một phần là do tác động của mục đích tiết kiệm cao trong điều kiện thu nhập thấp của người di cư, nhưng phần lớn là do các chính sách hiện hành đang thành những rào cản người di cư tiếp cận với các dịch vụ xã hội. Cùng với nhận thức còn kém và thu nhập thấp của bản thân người lao động thì những rào cản chính sách là nguyên nhân chủ yếu. Việc quản lý theo hộ khẩu hoặc hợp đồng lao động khiến cho nhiều người lao động di cư không bao giờ có thể tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội vì rất khó để họ có thể có được hộ khẩu ở thành phố và công việc của họ phần lớn là công việc mùa vụ, ngắn ngày. Hơn nữa, các quy định hiện nay của hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, kể cả chế độ tự nguyện, thường quá cao so với khả năng đáp ứng của người lao động di cư. Trong báo cáo “Tận dụng cơ hội dân số „vàng‟ ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và các gợi ý chính sách” của Quỹ Dân số Liên Hợp quốc UNFPA (2010) [38] ,cho thấy, dịch chuyển lao động thông qua di cư, đặc biệt là lao động trẻ tuổi, sẽ tạo động lực phát triển kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững. Lao động di cư trong thanh niên tăng nhanh, nhưng các chính sách an sinh xã hội , việc làm và các dịch vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập, đặc biệt các chính sách về tiền lương, nâng cao kỹ năng và tay nghề. Khả năng tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội của nhóm lao động di cư - nhóm lao động dễ tổn thương nhất trước các cú sốc kinh tế - xã hội còn rất thấp. Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của các nhóm dân số rất khác nhau, trong đó người nghèo, người dân tộc thiểu số và lao động di cư ít có khả năng tiếp cận nhất. Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất (2003) và lần thứ hai (2009), gọi tắt là SAVY 1 và SAVY 2 của Bộ y tế và Tổng cục Thống kê [36], tính chung cho cả người đã kết hôn lẫn những người 3 còn chưa kết hôn, có 9,5% thanh niên ở SAVY 2 cho biết họ đã từng có quan hệ tình dục trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY 1 là 7,6%). Tỷ lệ nam thanh niên đã từng có quan hệ tình dục khi chưa lập gia đình (kể cả những người hiện đã kết hôn) là 13,6%, cao hơn hai lần tỷ lệ này ở nữ là 5,2% (Điều tương ứng ở SAVY 1 là 11,1% và 4%). Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới trong giai đoạn hiện đại hóa, tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi (20 cho nam và 19,4 cho nữ) ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi (18,2 cho nam và 18 cho nữ) ở SAVY 2. Thanh niên ngày nay tỏ ra có quan niệm cởi mở hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân, đặc biệt ở những nhóm tuổi cao hơn, ở nam giới, và ở những người sống ở đô thị. Kiến thức về mang thai ở thanh thiếu niên ở cả hai cuộc điều tra còn rất hạn chế và điều này dường như không có tiến bộ đáng kể nào giữa hai kỳ điều tra. Thanh thiếu niên chủ yếu biết được thông tin về mang thai hay kế hoạch hóa gia đình qua các nguồn thông tin đại chúng. Mức độ cho biết các thông tin này từ nhà trường, gia đình, nhân viên y tế/dân số hay các cơ sở tư vấn sức khỏe sinh sản còn rất khiêm tốn. Trong báo cáo “Thanh niên Việt Nam: Tóm tắt một số chỉ số thống kê Từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam,” Quỹ Dân số Liên Hợp quốc UNFPA (2009) [39] chỉ ra thanh niên trong độ tuổi 15-24 có xu hướng di cư ra thành thị, trong khi ở độ tuổi từ 25 trở lên lại có xu hướng di cư đến cả hai khu vực thành thị và nông thôn. Điều này cho thấy di cư của thanh niên đóng vai trò quan trọng trong phát triển khu vực đô thị trong thập kỷ vừa qua. Điều này cũng có nghĩa là chỉ khi chính sách phát triển đô thị phù hợp có tính đến các dòng di cư và sự biến động dân số thì lúc đó người di cư mới có thể tiếp cận được tới các dịch vụ xã hội và cơ hội việc làm. Quan trọng hơn, do nữ giới chiếm tỷ trọng lớn trong số thanh niên di cư nên việc cung cấp các dịch 4 vụ sức khỏe sinh sản cho nữ thanh niên di cư nhằm bảo vệ họ trước các rủi ro sức khỏe không đáng có là điều rất cần thiết. Theo “Thanh thiếu niên nhập cư ở Hà Nội: Điều kiện sống, nhận thức và hành vi của họ đối với sức khỏe sinh sản” của tác giả Bùi Thị Như Quỳnh (2007) [29], . Bài báo này tóm lược những kết quả của một nghiên cứu về nhóm vị thành niên thanh niên nhập cư tại Hà Nội , cuộc sống cũng như kiến thức, thái độ và hành vi của “nhóm xã hội” này đối với các vấn đề sức khỏe sinh sản. Cuộc sống của những người lao động nhập cư không được đảm bảo. Họ thiếu việc làm an toàn, thiếu nơi ở và gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế cũng như thông tin về nhiều mặt của đời sống, trong đó có sức khỏe sinh sản. Các dự án và chương trình sức khỏe sinh sản thoáng bỏ qua đối tượng này bởi họ không được coi là cư dân chính thức về mặt pháp lý. Hiện nay, có quá ít biện pháp được thực hiện nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động nhập cư. Đặc biệt, vị thành niên và thanh niên là nhóm đối tượng có những biểu hiện ban đầu của thời kì sinh sản nhưng lại ít hiểu biết về những thay đổi trong sức khỏe sinh sản. Cuộc khảo sát nói trên cho thấy thanh niên vị thành niên nhập cư còn thiếu hiểu biết, thậm chí có những hiểu biết lệch lạc về các vấn đề sức khỏe sinh sản. Kiến thức của họ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp phòng tránh thai, tiêm phòng và phòng chống các bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS còn rất hạn chế. Đa số đều tiếp cận tới kiến thức sức khỏe sinh sản thông qua các phương tiện truyền thông như ti vi, báo, đài, đôi khi qua bạn bè. Thiếu một thái độ tích cực có lẽ là nét quán triệt thái độ và hành vi của những người nhập cư trẻ tuổi trước những vấn đề liên quan tới sức khỏe sinh sản. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt khá rõ về giới: các nhóm nữ quan tâm nhiều hơn vấn đề này so với nhóm nam giới. Những kết quả nghiên cứu cũng gợi ý rằng việc xây dựng các chương trình trên ti vi, tư vấn qua điện thoại, sách cẩm nang có 5 thể thích hợp hơn cả trong việc quảng bá các kiến thức về sức khỏe sinh sản đối với nhóm nhập cư. Nhìn chung, những người nhập cư có thu nhập tạm đủ sống và nhiều người trong số họ có cuộc sống khá dần lên. Các cơ hội việc làm, thu nhập, khả ngừng phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội, niềm tin vào tương lai là những lĩnh vực được đánh giá là hơn trước. “Báo cáo Dân số và Phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020” của UNFPA (2009) [41] cho thấy người di cư vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế hay học hành cho con em họ. Việc đăng ký tạm trú chính thức ở nơi ở mới cũng không phải dễ dàng và điều này có thể dẫn đén những hệ lụy nhất định; người nhập cư thường khó vay được tiền ngân hàng và không có tiền gửi tiết kiệm, không được đăng ký xe máy, bị nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các chế độ an sinh xã hội cũng như các dịch vụ phúc lợi y tế, giáo dục tại địa phương cư trú. Ngoài ra, một vấn đề liên quan khác là người nhập cư đa phần là phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình thường có ít kiến thức và thực hành về sức khỏe sinh sản. Nghiên cứu “Tìm hiểu rào cản tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ di cư và các mô hình can thiệp” , Vũ Thị Hoàng Lan [22]. Nghiên cứu này xem xét phân tích rào cản văn hóa xã hội và chính sách trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của người di cư và rà soát các mô hình can thiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho phụ nữ di cư. Nghiên cứu áp dụng phương pháp tổng quan tài liệu các nghiên cứu trong vòng 20 năm (1992 – 2012) để tìm hiểu các rào cản văn hóa, xã hội, chính sách trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như phỏng vấn sâu các cán bộ thực hiện các chương trình can thiệp CSSKSS cho người di cư. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các rào cản trong tiếp cận dịch vụ SKSS bao gồm thiếu khuôn khổ pháp lý bảo vệ người di cư, bảo hiểm y tế, thái độ của chính quyền với người di cư, tình trạng cư trú lưu động, thời gian làm việc dài, thu 6 nhập thấp, chi phí khám chữa bệnh cao, thiếu hiểu biết về Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Các mô hình can thiệp hiện tại chưa giải quyết được các rào cản một cách toàn diện, tính bền vững của mô hình còn thấp.Địa bài nghiên cứu của đề tài này cũng là một địa bàn mà dân số chủ yếu là dân di cư, người lao động làm việc tại các khu công nghiệp. Bởi vậy, từ những thuận lợi của bài viết sẽ gợi mở cho tác giả luận văn có những nhận định chung nhất là đối tượng này. Trong bài viết “Một số yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở nước ta hiện nay” Nguyễn Đình Tuấn [37] chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở nước ta hiện nay bao gồm : Chi phí khám chữa bệnh cao so với mức thu nhập, Khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở khám chữa bệnh còn tương đối xa, phân bổ cơ sở khám chữa bệnh và cán bộ y tế chưa hợp lý, nhận thức của người nghèo về chăm sóc sức khỏe chưa cao. Báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia vòng 4” của Oxfam và AAV (2011) [28] chỉ ra nhữngbất lợi của người nghèo đô thị, trong đó có nhiều người di cư, khi đối mặt với đa cú sốc, điển hình là lạm phát cao trong năm 2011. Giá cả tăng đã làm giảm sức mua, giảm chất lượng cuộc sống nhất là về dinh dưỡng và sức khỏe, giảm tiếp cận dịch vụ công, làm trầm trọng thêm các khó khăn cố hữu của người nghèo. Giá cả tăng cũng làm giảm mạnh khả năng tiết kiệm và gửi tiền về quê, gây bất ổn nghề nghiệp và căng thẳng trong quan hệ lao động của người nhập cư. Báo cáo “Di cư trong nước và Phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam: Kêu gọi hành động” của UNDP (2010) [43] chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam đến sự tiếp cận các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt của người di cư . Các dịch vụ do Chính phủ cung cấp như các dịch vụ y tế (bao gồm cả sức khỏe sinh sản, giáo dục, chăm 7 sóc và điều trị HIV và tiếp cận với các dịch vụ xóa đói giảm nghèo đều gắn chặt với hệ thống đăng ký hộ khẩu. Người di cư không bị cản trở về mặt luật pháp trong việc tiếp cận một số dịch vụ nhưng trên thực tế họ thường phải chịu những hạn chế này. Chẳng hạn con cái của những người không có hộ khẩu thường trú vẫn được đi học tại các trường trong huyện/địa bàn cư trú nhưng chỉ trong trường hợp trường còn chỗ sau khi con cái của người có hộ khẩu thường trú đã nhập học. Thông thường, những người dân di cư đặc biệt cần các dịch vụ xã hội lại thường là những người yếu thế về xã hội và kinh tế liên quan tới tình trạng di cư của họ. Rất nhiều người dân di cư không đăng ký hộ khẩu làm việc trong khu vực phi chính thức và sống trong các nơi ở không an toàn và không hợp vệ sinh và chính những điều đó khiến họ dễ gặp rủi ro hơn về sức khỏe. Trong bối cảnh khi mà các chi phí sinh hoạt tại thành thị ngày càng tăng, mức tăng lương lại không tương đương với mức tăng giá, nên việc thiếu các dịch vụ hỗ trợ xã hội cho người dân di cư tại thành thị sẽ là vấn đề đặc biệt quan ngại hiện nay. Trong bài viết “Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ ở TP. Hồ Chí Minh” Phạm Thanh Thôi [32]chỉ ra sự nghèo nàn trong đời sống văn hóa, giải trí và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của thanh niên nhập cư. Sau giờ làm ca là về nhà trọ ngủ bù, không có điều kiện và thời gian giao tiếp với bên ngoài. Một khi người lao động tai nạn lao động hay bệnh tật, họ phải tự chịu trách nhiệm, chủ cơ sở sản xuất hay doanh nghiệp có giúp chăng cũng chỉ mang tính động viên, hỗ trợ một phần. Các cơ sở sản xuất chưa có chính sách hay kế hoạch cụ thể hay khả thi để cải thiện vấn đề này trong chiến lược đầu tư, phát triển kinh doanh của họ. Như vậy, qua sơ lược tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng về tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe chủ yếu nhằm đến 8 các bộ phận lao động nhập cư đặc thù như phụ nữ, thanh niên, người nghèo,… về các vấn đề nghiên cứu liên quan đến sức khỏe sinh sản, phòng tránh HIV/AIDS, mức độ tiếp cận của họ đối với hệ thống an sinh xã hội, cơ sở hạ tầng tại các điểm đến. Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả có thể tiếp thu, kế thừa khi xây dựng cơ sở lý luận và quá trình thực tiễn nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình. Tuy nhiên, nhìn chung, những nghiên cứu về dịch vụ y tế của lao động nhập cư đặc biệt là của lao động trẻ tại khu công nghiệp mới được đề cập ở mức độ nhất định. Nhiều vấn đề liên quan đến tìm hiểu việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của nhóm đối tượng lao động trẻ và những rào cản mới chỉ ở bước đầu. Ngay ở các khu công nghiệp tại đô thị lớn như Hà Nội, thực trạng riếp cận các dịch vụ y tế còn rất hạn chế. Lao động đến các khu công nghiệp địa bàn này còn gặp nhiều khó khă, trở ngại trong cuộc sống và công việc. Sự khác biệt giới chưa được làmrõ trong nhiều nghiên cứu… Những khoảng trống này sẽ được xem xét, đi sâu tìm hiểu trong luận văn nghiên cứu này, góp phần làm sáng tỏ thêm được một số rào cản hiện nay đối với việc khám chữa bệnh cho người lao động tại các khu công nghiệp. Trên cơ sở đó đó, nghiên cứu sẽ đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng cho lao động trẻ khu công nghiệp hiện nay. Do vậy, đề tài nghiên cứu “Tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng- Long Biên – Hà Nội” là cần thiết. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội, nhận diện được một số rào cản hiện nay đối với việc khám chữa bệnh cho người lao động di cư tại đây, trên cơ sở đó đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường khả năng 9 tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng cho lao động trẻ khu công nghiệp hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. - Tổng quan tư liệu hiện có về tiếp cận các dịch vụ y tế, các yếu tố tác động đến việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe đối vói lao động di cư. - Xử lý, phân tích số liệu, thông tin thu thập được để tìm hiểu việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của lao động trẻ, từ đó làm rõ những rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng cho người lao động trẻ tại khu công nghiệp hiện nay. 3.3. Câu hỏi nghiên cứu Mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế của lao động trẻ ở khu công nghiệp hiện nay như thế nào? Những rào cản nào là yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ ở khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội? Liệu có sự khác biệt trong việc tiếp cận dịch vụ y tế giữa lao động nam và lao động nữ? 3.4. Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết 1: Mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm người lao động trẻ tại khu công nghiệp còn hạn chế. Giả thuyết 2: Chi phí khám chữa bệnh cao, thủ tục khám chữa bệnh rườm rà, vị thế cư trú tạm thời là những rào cản chính đối với việc tiếp cận các dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp hiện nay. Giả thuyết 3: Lao động nữ gặp nhiều rào cản trong tiếp cận các dịch vụ y tế hơn so với lao động nam. 10 4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội. 4.2. Khách thể nghiên cứu Lao động trẻ nhập cư là nam – nữ trong độ tuổi từ 18 – 30 tại khu công nghiệp Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội. 4.3. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ đề cập nghiên cứu tới một số khía cạnh cơ bản nhất của các vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế như: + Thực trạng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của nhóm lao động trẻ nhập cư (chiếm đến 95% lao động trẻ khu công nghiệp). + Một số rào cản đối với việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, liên quan đến chi phí, nhận thức, thủ tục khám chữa bệnh Phạm vi không gian: địa bàn nghiên cứu tại Khu công nghiệp Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên từ năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 (là thời điểm thực hiện khảo sát). 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Vấn đề phương pháp luận của các nghiên cứu xã hội học đã được xem xét và bàn đến từ rất nhiều cho đến nay. Đây là việc hệ thống các lý thuyết, các quan điểm, các nguyên tắc được thay đổi trong sự phụ thuộc vào đặc tính cụ thể của khoa học. Phương pháp luận chung nhất của xã hội học Mácxit là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử yêu cầu khi xem xét đánh giá bất kỳ một sự vật, hiện 11 tượng nào cũng được đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và đánh giá nó một cách khách quan để tìm ra được quy luật phát triển của xã hội. Do đó, nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp cần được đặt vào trong mỗi hoàn cảnh xã hội, điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường cụ thể. Đời sống còn người lao động ở các khu công nghiệp còn nhiều khó khăn, đặc biệt là những trường hợp thu nhập thấp, đời sống không ổn định. Yếu tố kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động nói chung đặc biệt là lao động trẻ với mức sống, tay nghề và thu nhập còn thấp. Điều đó cho thấy nguyên lý “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội” của phương pháp luận Mácxit. Tuy nhiên, cũng cần tìm hiểu sâu các yếu tố và rào cản khác ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ của lao động trẻ nhập cư ở các khu công nghiệp. Bởi theo phương pháp luận Mác-xít, nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách khách quan là phương thức tốt nhất, đúng đắn nhất đề giải quyết vấn đề nghiên cứu một cách khách quan và khoa học. 5.2. Phương pháp nghiên cứu 5.2.1. Thu thập thông tin sơ cấp Với phương pháp này, chúng tôi phân tích những tư liệu, những nghiên cứu có từ trước đây nhằm tìm hiểu về cơ sở lý luận cũng như những phân tích về vấn đề các dịch vụ y tế cho nhóm đối tượng lao động trẻ nhằm tìm hiểu được thực trạng việc sử dụng những dịch vụ y tế, từ đó đánh giá được mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của các lao động trẻ tại khu công nghiệp Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. 5.2.2 .Phương pháp khảo sát định lượng Bảng hỏi được xây dựng thông qua những câu hỏi nhằm thu thập thông tin về nhận thức của người lao động trẻ về vấn đề tiếp cận dịch vụ y tế; cách thức chữa bệnh khi sức khỏe cần được chăm sóc; những hiểu biết về các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; việc sử dụng và mức độ sử dụng dịch vụ y tế cơ sở nhằm tìm 12 hiểu và đánh giá những khác biệt giữa nhận thức và hành vi tiếp cận dịch vụ y tế trên địa bàn thành phố. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được sử dụng, với đơn vị chọn mẫu là người lao động trẻ, trong độ tuổi 18 – 30 tuổi nhằm thu thập được những thông tin chính xác và khách quan về nhận thức cũng như hành vi tiếp cận các dịch vụ y tế. Do hạn chế cả về thời gian, kinh phí, nhân lực nên mẫu khảo sát định lượng bao gồm 200 lao động trẻ (100 nam và 100 nữ) hiện sinh sống tại các nhà trọ trong khu công nghiệp và làm việc tại khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội và đã từng ít nhất một lần sử dụng các dịch vụ y tế trong khoảng phạm vi thời gian từ năm 2014 đến thời điểm nghiên cứu. Mẫu khảo sát sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên tại các nhà trọ xung quanh khu công nghiệp Sài Đồng, nơi có nhiều các lao động trẻ tập trung sinh sống. 5.2.3. Phương pháp nghiên cứu định tính Phương pháp phân tích tài liệu: Được thực hiện chủ yếu thông qua việc sử dụng các tài liệu, sách tham khảo, báo cáo, bài viết tạp chí liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu… Qua đó cho phép nhà nghiên cứu thu thập và cập nhật được các thông tin thứ cấp, hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu đồng thời chỉ ra những khoảng trống và hướng đi trong nghiên cứu của mình. Phương pháp phỏng vấn sâu Kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân được áp dụng để thu thập những thông tin chi tiết, định tính mà khảo sát định lượng khó thu thập được. Phương pháp này giúp tác giả hiểu biết sâu sắc hơn về nhận thức, mức độ nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế của lao động trẻ khu công nghiệp. Tìm hiểu các nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng, rào cản tiếp cận dịch vụ y tế của người lao động trẻ nhập cư. Đồng thời giúp kiểm chứng lại tính xác thực của thông tin định lượng thu được qua khảo sát mẫu. 13 Mẫu nghiên cứu định tính bao gồm: + Đối với người lao động trẻ: Lựa chọn những khu nhà trọ xung quanh khu công nghiệp, nơi có đông các lao động trẻ nhập cư thuê trọ và làm việc tại khu công nghiệp Sài Đồng. Phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng lao động trẻ bao gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu. Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm khai thác những thông tin sâu hơn của đề tài nghiên cứu. Hơn nữa, tác giả cũng bổ sung thêm cho phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm khai thác sâu hơn khía cạnh quan tâm nhưng chưa được đề ra trong bảng hỏi chính. Những thông tin phỏng vấn sâu sẽ giải thích thêm những yếu tố chưa rõ nét trong bảng hỏi. + Đối với cán bộ y tế: 02 cán bộ y tế phường Thạch Bàn và phường Sài Đồng, quận Long Biên Long Biên – Hà Nội (nơi có nhiều công nhân cư trú tại khu công nghiệp Sài Đồng). + Đối với cán bộ phường: phỏng vấn sâu 2 cán bộ phường Sài Đồng và phường Thạch Bàn (nơi tập trung nhiều nhất lượng lao động trẻ làm việc tại KCN Sài Đồng cư trú). + Đối với chủ nhà trọ: phỏng vấn sâu 2 chủ nhà trọ tại phường Sài Đồng và Thạch Bàn. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng các phần mềm xử lý chuyên dụng như SPSS, Excel để nhập, mã hóa, làm sạch và chuẩn bị số liệu cho phân tích. Quá trình này được thực hiện ngay sau khi kết thúc khảo sát thực địa. 14
- Xem thêm -