Tài liệu Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn việt nam - chương trình ngữ văn 12 - tập 2 luận văn ths. giáo dục học

  • Số trang: 121 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 114 |
  • Lượt tải: 2
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ HƯƠNG GIANG TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 - TẬP 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2014 i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ HƯƠNG GIANG TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 - TẬP 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN) Mã số: 60 14 01 11 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Khánh Thành HÀ NỘI – 2014 ii LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu của bản thân là sự tận tình giảng dạy, hướng dẫn của các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại Học Quốc gia Hà Nội. Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Trần Khánh Thành, người đã đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn. Tác giả xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Giáo dục - Đại Học Quốc gia Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bản thân được học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các thầy cô giáo Trung tâm GDTX Thanh Trì và các thầy cô giáo trường THPT Ngô Thì Nhậm đã động viên, cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểm chứng kết quả nghiên cứu để hoàn thành luận văn này. Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này còn có những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và đồng nghiệp. Hà Nội, tháng 11 năm 2014 Tác giả Lê Thị Hương Giang i DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT KNS : Kĩ năng sống THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở GDTX : Giáo dục thường xuyên WHO : Tổ chức Y tế thế giới UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc UNESCO : Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp Quốc ĐHSP : Đại học sư phạm SGK : Sách giáo khoa HS : Học sinh GV : Giáo viên PPDH : Phương pháp dạy học KTĐG : Kiểm tra, đánh giá KTDH : Kĩ thuật dạy học ii MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn ................................................................................................ i Danh mục viết tắt ......................................................................................... ii Mục lục ........................................................................................................ iii Danh mục các bảng ...................................................................................... v MỞ ĐẦU.. ................................................................................................ 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 12 1.1. Kỹ năng sống.... .....................................................................................12 1.1.1. Nội hàm khái niệm ............................................................................12 1.1.2. Phân loại kĩ năng sống.... ................................................................ 14 1.1.3. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh .............16 1.1.4. Các kĩ năng sống tích hợp giáo dục cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 ........................... 18 1.2. Vấn đề giảng dạy theo hướng tích hợp…...............................................21 1.2.1. Khái niệm tích hợp ............................................................................21 1.2.2. Quan điểm dạy học tích hợp ...............................................................21 1.2.3. Ý nghĩa của dạy học tích hợp .............................................................24 1.2.4. Tích hợp dạy học trong môn Ngữ văn….............................................24 1.3. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 ...................................................... 27 1.3.1.Cơ sở tâm lí, nhận thức của học sinh và nhu cầu giáo dục kĩ năng sống 27 1.3.2. Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học hiện nay ..............30 1.3.3. Khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở cấp THPT nói chung và truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 Tập 2 nói riêng......................................................................................................... 32 1.3.4. Truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 và những nội dung có thể tích hợp… ................................................................ 36 iii Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 TẬP 2 .......................................................................................................... 42 2.1. Thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 .................... 42 2.1.1. Thực trạng kĩ năng sống và nhu cầu được giáo dục kĩ năng sống của học sinh….............................................................................................. 42 2.1.2. Khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 ....... 43 2.1.3. Phân tích kết quả khảo sát…...............................................................47 2.1.4. Nguyên nhân của những mặt tồn tại, hạn chế… ................................ 49 2.2. Biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 .................... 52 2.2.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp ..................................................52 2.2.2. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực… ..........................................54 2.2.3. Xây dựng mục tiêu… .........................................................................72 2.2.4. Các bước thực hiện một bài dạy tích hợp giáo dục KNS .....................76 2.2.5. Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong kiểm tra, đánh giá ……… .......79 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM… ..............................................82 3.1. Mục đích thực nghiệm…… ................................................................ 82 3.2. Tổ chức thực nghiệm… .........................................................................82 3.2.1. Đối tượng thực nghiệm .......................................................................82 3.2.2. Giáo viên dạy thực nghiệm… .............................................................82 3.2.3. Thời gian thực nghiệm… ................................................................ 83 3.2.4. Chọn mẫu và nội dung thực nghiệm… ...............................................83 3.2.5. Thiết kế bài dạy thực nghiệm… ..........................................................84 3.2.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm ............................................................102 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ... ..........................................................106 1. Kết luận.... ................................................................................................106 2. Khuyến nghị... ..........................................................................................107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................109 PHỤ LỤC................................................................................................ 113 iv DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1. Phiếu khảo sát học sinh........................................................... 44 Bảng 2.2. Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2.... .................................................................................................... 45 Bảng 2.3. Cơ sở vận dụng các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 .............................................................. ……………….45 Bảng 2.4. Mức độ sử dụng các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2……....................................................................………46 Bảng 2.5. Quan điểm của giáo viên về mục đích tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2…… .............................................................. ……46 Bảng 3.1. Ý kiến của giáo viên sau khi dự giờ dạy thực nghiệm............... 102 Bảng 3.2. Kết quả điều tra hứng thú học tập của học sinh qua dạy học thực nghiệm tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa…...........................................103 Bảng 3.3. Kết quả bài kiểm tra của học sinh ở Trung tâm GDTX Thanh Trì………… ......................................................................................103 Bảng 3.4. Kết quả bài kiểm tra của học sinh ở trường THPT Ngô Thì Nhậm………… ............................................................................................104 Bảng 3.5. Bảng tổng hợp, thống kê kết quả bài kiểm tra của học sinh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng……….............................................104 v MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Những biến đổi về nhiều mặt của xã hội hiện nay đã có tác động mạnh mẽ đến đời sống con người. Nhiều vấn đề nảy sinh mà trước đây con người chưa từng gặp phải hoặc chưa từng đối đầu thì nay đòi hỏi phải có cách ứng phó để tránh gặp rủi ro không cần thiết. Thực tiễn này khiến các nhà giáo dục và những người tâm huyết đến sự nghiệp giáo dục đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ. Giáo dục kĩ năng sống cho người học đã trở thành trách nhiệm của mỗi quốc gia. Điều này đã được thể hiện trong báo cáo Giám sát toàn cầu Giáo dục cho mọi người năm 2009, trong đó tại mục tiêu 3 có nêu: "Đảm bảo đáp ứng tất cả mọi nhu cầu học tập của thanh thiếu niên và người lớn thông qua tiếp cận bình đẳng với các chương trình học tập và kĩ năng sống phù hợp " và tại mục tiêu 6 có ghi "Cải thiện tất cả mọi khía cạnh của chất lượng giáo dục và đảm bảo chất lượng tốt nhất sao cho mọi đối tượng đều đạt được kết quả học tập được công nhận được và đo lường được, nhất là khả năng đọc viết, làm tính và kĩ năng sống cơ bản". Những mục tiêu này cho thấy mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp đồng thời kĩ năng sống được coi như một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Ở nước ta, mục tiêu của giáo dục phổ thông là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Luật giáo dục năm 2005 - Điều 2). Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng được đổi mới theo hướng “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ 1 động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật giáo dục năm 2005 - Điều 5). Giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống, đó là: Học để biết, Học để làm, Học để chung sống, Học để tự khẳng định mình. Nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục có tiềm năng trong nhà trường phổ thông. Đặc biệt, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông, giai đoạn 2008 - 2013 do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo. Có thể nói việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở các đô thị và thành phố lớn. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kĩ năng sống cần thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức…Chính vì thế mà nhiều học sinh đã giải quyết vấn đề gặp phải một cách tiêu cực. Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường ở các nước cho thấy, nó thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa giáo viên và học sinh, đem lại hứng thú học tập cho học sinh do các em cảm thấy được tham gia vào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học và trong trường. Việc giáo dục kĩ năng sống, giúp học sinh rèn luyện hành vi, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và tổ quốc, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa gia đình, bạn bè và xã hội, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa, lành mạnh 2 Các môn học đều hàm ẩn nội dung giáo dục kĩ năng sống với những mức độ khác nhau. Xét về chức năng bộ môn trong hệ thống các môn học trong nhà trường, Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác. Môn Ngữ văn còn giúp học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người. Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội của con người. Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, trau dồi tình cảm, rèn luyện những rung động tinh tế để con người sống tốt hơn, lành hơn. Bên cạnh đó, môn Ngữ văn dẫn dắt chúng ta nhận ra cái đẹp tự nhiên hiển hiện rõ ràng hoặc ẩn giấu của cuộc sống.Vì vậy, có thể triển khai giáo dục kĩ năng sống vào các nội dung của môn Ngữ văn mà không cần phải đưa thêm thông tin, kiến thức làm nặng thêm nội dung môn học. Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn lớp 12 - tập 2, chúng tôi nhận thấy các tác phẩm truyện ngắn hiện đại Việt Nam chiếm vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, khi được tuyển chọn đưa vào Sách giáo khoa đều là những tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật, có tác dụng bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Nhưng nhìn vào thực tế giảng dạy có thể nhận thấy, chúng ta chưa khai thác hết tiềm năng của truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 - tập 2 với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh để qua mỗi bài học các em có được những kinh nghiệm sống cần thiết làm hành trang quý giá bước vào đời. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên và với mong muốn tìm ra một số biện pháp nhằm giáo dục cho học sinh những giá trị và kĩ năng sống qua mỗi tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 - tập 2, chúng tôi lựa chọn đề tài: Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 3 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ "Kĩ năng sống" đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc), trước tiên là chương trình "Giáo dục những giá trị sống" với 12 giá trị cơ bản của giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này với mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa đến một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các chương trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội. Dự án do UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học) tiến hành tại một số nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu KNS nêu trên. Các tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới), UNICEF, UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên. Từ xuất phát điểm này, một số nhà nghiên cứu như J.H.Fichter (nhà xã hội học người Mỹ), P.Tugarinov (Liên Xô) hay Dramalier (Bungari) bắt đầu đề cập đến vấn đề giá trị sống như những chuẩn mực trong giá trị đạo đức con người. Từ đây, một số tài liệu nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS cho thanh thiếu niên ra đời như: Tài liệu tập huấn về KNS của UNICEF (2004), Những hoạt động giá trị sống cho thiếu niên (8 đến 14 tuổi) của Diane Tiuman (NXB thành phố Hồ Chí Minh - 2000), Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn, G.Bandzeladze (1985)… Như vậy, KNS đã được giới nghiên cứu xã hội học trên thế giới quan tâm cách đây gần ba thập kỉ và giáo dục KNS được thể nghiệm như là một hệ quả tất yếu của quá trình nghiên cứu. Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học, 4 đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…) để thích ứng với những thay đổi chóng mặt của xã hội. Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm. Chương trình hành động DaKar về Giáo dục cho mọi người (Senegal - 2000) đã đặt ra trách nhiệm của mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục KNS phù hợp và KNS được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục. Tại nhiều nước trên thế giới, thanh thiếu niên đã được học kĩ năng về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người với người. Ví dụ, học sinh tiểu học ở Nhật Bản được học cách đối phó, thích ứng với các tai nạn như động đất, sóng thần, thiên tai, cháy, đuối nước, giao thông. Tại Mỹ, việc dạy KNS trở thành một phần tất yếu trong hầu hết các môn học, Ngữ văn cũng không phải là ngoại lệ. Trong mỗi giờ học Văn, chương trình tích cực đưa Văn về với cuộc sống, gần gũi và thực tế. Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học và Trung học. Việc giáo dục KNS cho học sinh ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức: - KNS là môn học riêng biệt - KNS được tích hợp vào một số môn học chính - KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa KNS thành một môn học riêng biệt. Ví dụ như: Malawi, Cămpuchia…Còn đa số các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn xã hội như: Giáo dục sức khỏe, giáo dục 5 giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường….Một số nước đã sử dụng cách tiếp cận "Whole School Approach " trong đó hình thức xây dựng "Trường học thân thiện " nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNS trong nhà trường. Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kĩ năng ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội. Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong giáo dục chính quy ở một số nước, những kĩ năng như đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ sở. Trong khi đó, giáo dục chính quy ở một số nước các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc. Cho đến nay, chưa có quốc gia nào tìm ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS. 1.2 . Các nghiên cứu trong nước Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từ những năm 1995-1996, thông qua dự án "Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường" do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện.Từ đó đến nay, nhiều cơ quan tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với các vấn đề xã hội như: Phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích học đường, bảo vệ môi trường… Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng. 6 Cùng với việc triển khai các chương trình nêu trên, vấn đề KNS và giáo dục KNS cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về vấn đề trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học sinh THPT). Một số chương trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Văn Nhân (2003); Kĩ năng thanh niên tình nguyện của Trần Văn Thời (1998). Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả đã đóng góp đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS, cách tiếp cận KNS, các con đường giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường. Hiện nay vấn đề giáo dục KNS đang được cả xã hội quan tâm. Mới chỉ trong khoảng một thập niên trở lại đây, đã có rất nhiều các trung tâm giáo dục KNS ra đời như Tâm Việt, TGM Corporation, Trung tâm KNS trực thuộc trung ương hội khoa học tâm lí - Giáo dục Việt Nam…. thu hút đông đảo giới trẻ cũng như các bậc phụ huynh song tác dụng của các khóa học này có được bền lâu hay không còn phụ thuộc nhiều vào sự tự rèn luyện của bản thân người học. Ngoài ra, rất nhiều Website, các diễn đàn về KNS trên internet cũng được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của giới trẻ. Đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục KNS cho học sinh, một số chương trình nghiên cứu đã ra đời như Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh THCS (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh, NXB ĐHQG Hà Nội - 2010). Trên cơ sở đặc điểm phát triển tâm lí học sinh THCS, các tác giả cuốn sách đã xác định những giá trị sống và kĩ năng sống cần thiết cho lứa tuổi này. Từ đó, chỉ ra vai trò của mỗi kĩ năng và đề xuất một số hoạt động giúp học sinh hình thành 7 những kĩ năng sống cho bản thân mình. Cuốn sách cũng đưa ra một số trò chơi có tác dụng giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh. Tác giả Bùi Ngọc Diệp với cuốn Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT (NXB Giáo dục, 2010) đã nêu những vấn đề chung về KNS và các KNS cần giáo dục cho học sinh THPT, hướng dẫn tổ chức những hoạt động, kèm theo một số câu chuyện giáo dục KNS cho học sinh. Với cuốn sách Hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh THPT của Trương Thị Hoa Bích Dung (NXB ĐHQG Hà Nội, 2013) đã tập trung tìm hiểu KNS, mục tiêu của việc giáo dục KNS cho học sinh, phương pháp xây dựng bài giảng KNS. Ngoài ra Phạm Công Khanh, Nguyễn Thị Kim Liên với giáo trình Phương pháp giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống (NXB ĐHSP, 2012) lại xây dựng các mô hình giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống qua hoạt động sinh hoạt câu lạc bộ của học sinh. Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể kể đến: Lê Kim Anh (2011), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Tích hợp rèn kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở. Trường Đại Học Giáo Dục Đại học Quốc Gia Hà Nội. Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay (Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp), Trường Đại Học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Và luận án tiến sĩ Giáo dục học của Phan Thanh Vân, Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, trường Đại học Thái Nguyên. Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Đặc biệt giáo dục KNS cho học sinh đã được chú trọng. Để giúp các nhà trường, giáo viên thực hiện giáo dục KNS cho học sinh có kết quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo Viện khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức biên soạn nhiều bộ tài liệu về giáo dục KNS cho học sinh qua một số môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Trong dạy 8 học Ngữ văn có cuốn Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS (NXB Giáo dục Việt Nam - 2010) và Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT (NXB Giáo dục Việt Nam - 2010). Hai cuốn sách đã đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh, từ đó xây dựng những định hướng trong việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn và các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có thể rèn KNS cho học sinh. Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đề cập đến giáo dục KNS cho học sinh THCS, THPT một cách khái quát, chung chung. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã tổ chức một số hội thảo về vấn đề giáo dục KNS cho học sinh trong đó có chuyên đề dạy Văn gắn với thực tiễn cuộc sống, với việc dạy làm người.Tại đây, các giáo viên đã thảo luận sôi nổi về vai trò và sứ mệnh của văn chương trong việc bồi dưỡng nhân cách tâm hồn con người mà chưa đưa ra những phương pháp cụ thể để tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương. Dạy học truyện ngắn nói chung và truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 - tập 2 nói riêng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Có thể điểm qua những công trình nghiên cứu như Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể của tác giả Trần Thanh Đạm (NXB Giáo dục - 1978), Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại của tác giả Nguyễn Văn Long (NXB Giáo dục Việt Nam, 2009), Thi Pháp của truyện (Nguyễn Thái Hòa, NXB Giáo dục Việt Nam ,1987)… Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng đề cập, bàn luận về phương pháp dạy học truyện ngắn trong đó có truyện ngắn Việt Nam chương trình Ngữ văn 12 - tập 2. Như vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn này không phải là mới. Tuy nhiên những công trình trước đó mới chủ yếu nghiên cứu về dạy học theo đặc trưng thể loại, thi pháp 9 truyện ngắn,…mà chưa đề cập đến các vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2. Đề tài nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn nhất định, đó là đề xuất các biện pháp cụ thể tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học truyện ngắn Việt Nam chương trình Ngữ văn 12 - tập 2 nhằm đưa môn Ngữ văn gắn liền với cuộc sống và mang tính giáo dục cao hơn. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Phân tích thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học Ngữ văn nói chung và qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 nói riêng, từ đó đưa ra những biện pháp mang tính khả thi trong việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học phổ thông qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2. Đề tài góp phần phát huy tính hữu dụng và thiết thực qua dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 - tập 2, hình thành và phát triển những kĩ năng sống cần thiết cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông.Từ đó, góp phần giáo dục nhân cách học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống, tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông. - Khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 ở một số trường cấp THPT. - Tìm hiểu sâu sắc đặc trưng, vị trí của truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 - tập 2. - Đề xuất các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2. - Bước đầu thực nghiệm vào những bài dạy cụ thể. 10 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Quá trình dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học truyện ngắn Việt Nam chương trình Ngữ văn 12 - tập 2. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong việc tìm ra các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong truyện ngắn Việt Nam chương trình Ngữ văn 12 - tập 2. Các nghiên cứu được triển khai tại thành phố Hà Nội, trường THPT Ngô Thì Nhậm và Trung tâm GDTX Thanh Trì. Luận văn tập trung nghiên cứu các kĩ năng sống cơ bản để tích hợp giáo dục cho học sinh qua dạy học truyện ngắn chương trình Ngữ văn 12 - tập 2 như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng nhận thức,… 5. Phương pháp nghiên cứu - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, phân tích, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, khảo sát, điều tra, phân tích, tổng hợp, đánh giá, thống kê, phỏng vấn… - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thống kê, so sánh, đối chiếu, xử lí số liệu…. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, luận văn dự kiến triển khai theo ba chương: Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Chương 2. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống và biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2 Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 11 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1. Kĩ năng sống 1.1.1. Nội hàm khái niệm kĩ năng sống 1.1.1.1. Kĩ năng sống Theo Từ điển Tiếng Việt, kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [42, tr.667] Như vậy, có thể hiểu kĩ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kĩ xảo đã có để hành động phù hợp với mục tiêu và những điều kiện thực tế đã cho. Ta biết rằng, giữa nhận thức và hành động không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau. Vì vậy dù được trang bị một hệ thống tri thức đầy đủ nhưng nếu ta chưa có kĩ năng để vận dụng linh hoạt vốn kiến thức đã có thì không đảm bảo được ta sẽ làm việc hiệu quả, giao tiếp phù hợp hay đi đến thành công hay không. Chính vì vậy, kĩ năng là nhịp cầu giúp con người biến tri thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Có nhiều quan niệm hay cách hiểu khác nhau về kĩ năng sống - Theo WHO, từ góc độ sức khỏe xem kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần có để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh. Rộng hơn, kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hành ngày. - Theo UNICEF, kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng. - Theo UNESCO có quan niệm coi kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả…Học làm người (learning 12 to be) gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin...Học để sống với người khác (learning to live togerther) gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc nhóm, thể hiện sự cảm thông. Học để làm (learning to do) gồm các kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm… - Kĩ năng sống là kĩ năng điều chỉnh và lựa chọn hành vi đúng đắn, giúp người ta có khả năng điều chỉnh nhu cầu của bản thân một cách hợp lí và ứng phó trước những thách thức trong cuộc sống hàng ngày của mình (WHO: 1993). Kĩ năng sống còn có ý nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó (UNICEF, Thái Lan - 1995). Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Kĩ năng sống là năng lực tâm lí - xã hội của mỗi cá nhân, năng lực này có được là do quá trình học tập và lĩnh hội, được thể hiện thông qua truyền thống, văn hóa, gia đình, cộng đồng và niềm tin dân gian. Quá trình lĩnh hội năng lực tâm lí diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục cũng như thông qua nhiều kênh khác nhau…Bản chất của kĩ năng sống là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Với cách phân tích nêu trên, tác giả luận văn sử dụng khái niệm kĩ năng sống trong nghiên cứu với nội hàm: “khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” UNESCO (2003). 13
- Xem thêm -