Tài liệu Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học di truyền học (sinh học 12)

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 66 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ HỒNG HOA TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12) LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC Thái Nguyên – 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ HỒNG HOA TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12) Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Sinh học Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN NHƯ ẤT Thái Nguyên – 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Như Ất đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên trong tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy Sinh học, Khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; tập thể cán bộ, giảng viên khoa Sau đại học, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường. Xin chân thành cảm ơn BGH, Tổ Hoá – Sinh trường THPT Phú Lương và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực nghiệm đề tài. Cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Hoa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Xin đọc là Chữ viết tắt CNH Công nghiệp hoá CNSH Công nghệ sinh học CNTB Công nghệ tế bào GD Giáo dục GDHN Giáo dục hướng nghiệp GV Giáo viên HĐH Hiện đại hoá HS Học sinh SGK Sách giáo khoa SH Sinh học THPT Trung học phổ thông TN Thực nghiệm TNSP Thực nghiệm sư phạm XHCN Xã hội chủ nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU …………………………………………………………………. 1 Chương 1. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ GDHN THÔNG QUA BỘ MÔN SINH HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1. Một số khái niệm cơ bản …………………………………………….. 5 1.2. Tổng quan về giáo dục hướng nghiệp ……………………………….. 10 1.3. Điều tra về tình hình giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT……….. 19 Chương 2. TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12) Ở TRƯỜNG THPT 2.1. Những vấn đề chung về giáo dục hướng nghiệp …………………….. 24 2.2. Một số vấn đề lí luận về cách tiếp cận tích hợp trong GDHN …….... 29 2.3. Phương pháp tích hợp GDHN trong dạy học di truyền học (SH 12) … 31 2.4. Một số ví dụ tích hợp GDHN trong dạy học di truyền học (SH 12) .… 46 Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm …………………………... 50 3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm ……………………. 50 3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm ……………………………………….. 54 3.4. Bàn luận kết quả thực nghiệm ……………………………………….. 62 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ………………………………………………. 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………….. 65 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI * Xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc. Bƣớc vào thế kỉ XXI, sự nghiệp CNH – HĐH ở nƣớc ta đƣợc đẩy mạnh theo hƣớng phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành nƣớc công nghiệp hiện đại. Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo là phải đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc. Tuy nhiên hiện nay chúng ta đang thiếu hụt lao động trầm trọng ở rất nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực, nhiều trình độ khác nhau, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Thực trạng này đã tồn tại khá lâu và giờ đây đang trở thành lực cản chính cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt nguồn nhân lực, chẳng hạn: lao động không qua đào tạo; sự cách biệt giữa chất lƣợng nguồn nhân lực cung ứng so với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp… Nhƣng nguyên nhân cơ bản là chúng ta chƣa tiến hành tốt đƣợc khâu tổ chức hoạt động chuẩn bị cho thanh niên nói chung và cho HS phổ thông nói riêng tham gia đào tạo các nghề theo nhu cầu nguồn nhân lực. Trong phạm vi giáo dục phổ thông đó chính là hoạt động GDHN trong đó có GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản nhƣ với môn Sinh học chẳng hạn. Tuy nhiên vấn đề tích hợp GDHN thông qua môn Sinh học nhƣ thế nào là hợp lý cho đến nay vẫn còn chƣa đƣợc nghiên cứu đáng kể. * Xuất phát từ yêu cầu giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng phổ thông GDHN là một nhiệm vụ quan trọng trong nhà trƣờng phổ thông, thực hiện chức năng tạo cơ sở cho phân luồng HS sau khi tốt nghiệp. Nghị quyết số 40/2000/QH 10 ngày 09-12-2000 của Quốc hội về đổi mới chƣơng trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giáo dục, SGK phổ thông nhằm phát triển chất lƣợng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH – HĐH đất nƣớc, phù hợp thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. * Xuất phát từ đặc điểm bộ môn Sinh học Sinh học là môn học mà nội dung kiến thức có liên quan tới hàng loạt nghề trong nhiều lĩnh vực nhƣ: Nông, lâm, ngƣ nghiệp; công nghiệp; y, dƣợc học; bảo vệ môi trƣờng… Thông qua các bài học, GV có điều kiện giúp HS làm quen với công việc của những ngƣời làm các nghề có liên quan đến các đối tƣợng sống nhƣ: nghề trồng cây lƣơng thực, cây công nghiệp; nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản; bác sỹ; bác sỹ thú y; dƣợc sỹ; quản lí và bảo vệ môi trƣờng; kĩ sƣ công nghệ sinh học; kĩ sƣ chế biến lƣơng thực, thực phẩm; chế biến thức ăn chăn nuôi; chế biến phân bón, thuốc trừ sâu… * Xuất phát từ quan điểm xây dựng và phát triển chƣơng trình môn học Trong quan điểm xây dựng và phát triển chƣơng trình môn học, Bộ GD & ĐT đã khẳng định chƣơng trình phải quán triệt đƣợc quan điểm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hƣớng nghiệp để giúp học sinh thích ứng với những ngành nghề liên quan đến sinh học và tìm hiểu những ứng dụng các kiến thức sinh học trong sản xuất và đời sống. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12)”. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu các biện pháp tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12) nhằm đảm bảo quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hƣớng nghiệp trong môn học, nâng cao tính hứng thú về Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 hƣớng nghiệp của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục nói chung và nâng cao chất lƣợng dạy học môn Sinh học ở trƣờng phổ thông nói riêng. 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU * Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp trong quá trình dạy học Di truyền học (Sinh học 12) ở trƣờng THPT. * Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Sinh học ở trƣờng THPT. 4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12) trên cơ sở quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hƣớng nghiệp thì sẽ hình thành nhận thức đúng và tạo ra hứng thú về hƣớng nghiệp cho HS, qua đó góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học bộ môn ở trƣờng THPT. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU * Khảo sát thực trạng giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng phổ thông. * Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12). * Đề xuất các biện pháp tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12). * Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất. 6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU * Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết Nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan đến đề tài để tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng cơ sở lí luận của tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 * Phƣơng pháp điều tra thực trạng Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu tình hình giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học ở trƣờng THPT. * Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm Thực nghiệm sƣ phạm ở trƣờng THPT nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài. * Phƣơng pháp thống kê toán học Các số liệu thu đƣợc trong thực nghiệm sƣ phạm đƣợc xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số đặc trƣng mang tính khách quan. 7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về giáo dục hƣớng nghiệp và giáo dục hƣớng nghiệp thông qua bộ môn Sinh học ở trƣờng phổ thông. Chƣơng 2: Tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12) ở trƣờngTHPT. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Xây dựng cơ sở lí thuyết và thực tiễn của hoạt động tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12). - Đề xuất một số giải pháp tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP VÀ GDHN THÔNG QUA BỘ MÔN SINH HỌC Ở TRƢỜNG THPT 1.1. Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Nghề nghiệp Theo từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động của xã hội” [20]. Theo E.A.Klimov: “Nghề nghiệp là lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có), nó tạo cho con ngƣời khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phƣơng tiện cần thiết cho tồn tại và phát triển” [16]. Nhƣ vậy có thể coi nghề nghiệp là một công việc mà để có đƣợc thì đòi hỏi con ngƣời phải trải qua một quá trình đƣợc đào tạo nhất định, đƣợc trang bị những kiến thức chuyên môn, kĩ năng, kĩ xảo đặc thù. Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp mà con ngƣời có thể tạo ra những sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu bản thân và phục vụ xã hội. Ví dụ nghề bác sỹ, nghề dạy học… 1.1.2. Hƣớng nghiệp Có nhiều lĩnh vực khoa học đề cập đến công tác hƣớng nghiệp. Để hiểu đƣợc bản chất của khái niệm này chúng ta cần xem xét các định nghĩa khác nhau về hƣớng nghiệp. Theo từ điển tiếng Việt: “Hƣớng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ƣu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ lựa chọn hợp lí ngành nghề [20, tr.458]. Theo từ điển giáo dục học: “Hƣớng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn cân nhắc nghề nghiệp với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 nguyện vọng, năng lực, sở trƣờng của mỗi ngƣời. Với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội” [13, tr.209]. Xét ở bình diện khoa học lao động: Hƣớng nghiệp là hình thức giám định lao động có tính chất chẩn đoán. Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề của từng ngƣời cụ thể dựa trên cơ sở xác định sự tƣơng ứng giữa những đặc điểm tâm – sinh lí của họ với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với ngƣời lao động [8]. Xét trên bình diện xã hội: Toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp, công trƣờng, nông trƣờng, các cơ quan quản lí kinh tế và quản lí nhà nƣớc, các cơ quan của những đoàn thể chính trị và xã hội đều cần đến những ngƣời có năng lực và những phẩm chất nhân cách phù hợp. Để chọn đƣợc ngƣời theo đúng những tiêu chuẩn đã định thì những cơ quan, tổ chức nói trên phải có nhiệm vụ giới thiệu cho thế hệ trẻ hiểu đƣợc nội dung, tính chất, đặc điểm, yêu cầu công việc của mình. Xét trên bình diện nhà trƣờng phổ thông: “Hƣớng nghiệp là sự tác động của một hệ thống những biện pháp tác động của nhà trƣờng, gia đình và xã hội, trong đó nhà trƣờng đóng vai trò chủ đạo nhằm hƣớng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân” [14]. Công tác hƣớng nghiệp của trƣờng phổ thông chỉ là một bộ phận của công tác hƣớng nghiệp của toàn xã hội. Công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng học phải thống nhất với công tác hƣớng nghiệp của xã hội. Bởi vậy công tác hƣớng nghiệp không thể có hiệu quả nếu chỉ nhà trƣờng tiến hành một cách biệt lập. Tháng 10/1980, tại Hội nghị lần thứ 9 những ngƣời đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp của các nƣớc XHCN họp tại La Habana thủ đô Cuba đã thống nhất về khái niệm hƣớng nghiệp nhƣ sau: “Hƣớng nghiệp là hệ thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng thích hợp với những năng lực, sở trƣờng và điều kiện tâm sinh lí cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lí và sử dụng có hiệu quả nhất lực lƣợng dự trữ có sẵn của đất nƣớc” [16]. 1.1.3. Giáo dục kĩ thuật tổng hợp Theo từ điển giáo dục học thì: “Giáo dục kĩ thuật tổng hợp là bộ phận nội dung giáo dục toàn diện trong trƣờng phổ thông có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức có liên quan đến các ứng dụng khoa học kĩ thuật trong các ngành sản xuất chủ yếu trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, bƣu chính viễn thông… rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo và phong cách lao động công nghiệp, bồi dƣỡng năng lực tƣ duy khoa học – công nghệ tiên tiến, giới thiệu các phƣơng pháp tổ chức, quản lí nền kinh tế hiện đại theo cơ chế thị trƣờng có định hƣớng XHCN” [13]. Theo nhà nghiên cứu giáo dục học ngƣời Nga M. N Xcatkin: “ Nguyên lí kĩ thuật tổng hợp trong nội dung giáo dục thể hiện ở việc trình bày các quy luật khoa học và các nguyên lí kĩ thuật, công nghệ, tổ chức nền kinh tế sản xuất hiện đại; ở chỗ vũ trang cho học sinh những kĩ năng kĩ thuật tổng hợp khái quát, dễ dàng vận dụng vào những hoàn cảnh mới và ở việc phát triển tƣ duy kĩ thuật mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo. Để thực hiện nguyên lí kĩ thuật tổng hợp trong các môn học ở trƣờng phổ thông cần đƣa vào những kiến thức về các cơ sở khoa học của các phƣơng tiện kĩ thuật hiện đại và các quá trình công nghệ học; cũng nhƣ những kĩ năng kĩ thuật tổng hợp cần thiết cho ngƣời lao động thuộc mọi ngành sản xuất khác nhau nhƣ những kĩ năng đo lƣờng, tính toán, lập sơ đồ, sửa chữa, phòng thí nghiệm và các kĩ năng khác. Vũ trang cho học sinh những kĩ năng và kĩ xảo kĩ thuật tổng hợp chung nhƣ vậy sẽ giúp các em chuẩn bị vào cuộc sống, định hƣớng trẻ đi vào những hoàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 cảnh thƣờng xuyên thay đổi của nền sản xuất hiện đại và nhanh chóng nắm vững nghề nghiệp khi kết thúc quá trình học ở trƣờng” [2]. Giáo dục kĩ thuật tổng hợp là một yêu cầu có tính nguyên tắc đối với sự nghiệp giáo dục nhằm đào tạo con ngƣời lao động mới XHCN. Nó có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Do đó cần đƣợc thực hiện trong tất cả các bậc học, cấp học phổ thông tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cho phép. Hình thức tổ chức giáo dục kĩ thuật tổng hợp chủ yếu là lồng ghép và tích hợp liên môn, ngoài ra có thể tổ chức dạy nghề, tham gia lao động sản xuất, tham quan xí nghiệp, công trƣờng, nông trƣờng, trang trại…. Có nhiều cách hiểu khác nhau về quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong dạy học môn Sinh học. Một số nhà phƣơng pháp cho rằng đó là làm sáng tỏ những cơ sở sinh học của sản xuất nông nghiệp. Số khác lại hiểu giáo dục kĩ thuật tổng hợp chính là sự phân tích sâu sắc những vấn đề lí thuyết của sinh học. Số nữa lại hƣớng sự giáo dục kĩ thuật tổng hợp vào việc tăng cƣờng các bài thực hành của học sinh trong vƣờn trƣờng, ruộng thực hành, cơ sở sản xuất nông nghiệp, khu vực VAC [4]. Nhƣ vậy, nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong dạy học bộ môn Sinh học ở trƣờng phổ thông có thể hiểu là trang bị cho HS những cơ sở lí thuyết sinh học, giới thiệu cho các em những quy trình công nghệ thuộc các lĩnh vực sản xuất mà đối tƣợng lao động là những cơ thể sống, tập dƣợt một số kĩ năng thực hành ứng dụng lí thuyết và kĩ thuật vào đời sống, đặc biệt vào sản xuất nông nghiệp, làm kinh tế gia đình theo hƣớng mô hình trang trại nông, lâm, ngƣ nghiệp … Việc quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật tổng hợp không chỉ dừng lại ở sự trang bị cho HS những kiến thức lí thuyết mà còn phải rèn luyện cho các em một số kĩ năng vận dụng vào thực tiễn lao động; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 bồi dƣỡng tình cảm, thái độ đối với lao động thuộc lĩnh vực nghề nghiệp liên quan đến thế giới sống. Theo cách hiểu quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong dạy học môn Sinh học, học sinh sẽ hình thành hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ thuật tổng hợp cơ bản sau đây: - Cơ sở khoa học của các nguyên lí, biện pháp kĩ thuật sản xuất nông nghiệp, CNSH, bảo vệ môi trƣờng. - Kĩ năng thực hiện các kĩ thuật, quy trình công nghệ nhất định đảm bảo phát triển sản xuất theo hƣớng bền vững, tăng năng suất lao động. - Hình thành ý thức định hƣớng nghề nghiệp, có ý thức tham gia vào các hoạt động lao động công ích nhƣ trồng cây gây rừng, vệ sinh môi trƣờng. 1.1.4. Giáo dục hƣớng nghiệp Giáo dục hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng phổ thông là quá trình tác động của các lực lƣợng giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng tới HS, giúp họ định hƣớng đƣợc nghề nghiệp tƣơng lai sao cho phù hợp với năng lực của bản thân đồng thời đáp ứng với yêu cầu khách quan của xã hội [15]. Trong nhà trƣờng phổ thông, GDHN vừa là hoạt động dạy của GV, vừa là hoạt động học của HS. GV là ngƣời tổ chức các hoạt động, giúp đỡ nhằm hƣớng HS chủ động tiếp cận với hệ thống các nghề nghiệp trong xã hội, tìm hiểu nhu cầu nguồn nhân lực của địa phƣơng, của cả nƣớc, thậm chí xu hƣớng của cả thế giới. Ngoài ra, GV còn phải giúp đỡ HS trong việc khám phá năng lực cá nhân, năng khiếu, sở trƣờng để từ đó các em tự hình thành và tự điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp một cách hợp lí. GDHN là một hoạt động giáo dục của nhà trƣờng phổ thông nhằm giúp HS nhận thức đúng đắn về năng lực, sở trƣờng của bản thân để các em có sự chuẩn bị tích cực cho bản thân trong chọn ngành nghề phù hợp khi học xong phổ thông. Đồng thời cũng tạo động lực định hƣớng cho HS chú ý tu dƣỡng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 phẩm chất đạo đức, trau dồi trình độ văn hoá, rèn luyện sức khoẻ để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội. 1.2. Tổng quan về giáo dục hƣớng nghiệp 1.2.1. Tình hình giáo dục hƣớng nghiệp trên thế giới Thuật ngữ “Hƣớng nghiệp” do giáo sƣ F.Parson thuộc ĐH Tổng hợp Garvared (Mỹ) đề cập lần đầu tiên vào năm 1908 ở Boston khi tổ chức hội đồng nghề nghiệp nhằm giúp đỡ việc chọn nghề cho ngƣời lao động. Vào đầu thế kỉ XX, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hƣớng nghiệp. Ở Nga, cuốn sách hƣớng nghiệp “Lựa chọn khoa và điểm qua chƣơng trình đại học tổng hợp” của tác giả B.F.Kapeev đƣợc xuất bản lần đầu tiên vào năm 1897. Trong cuốn sách này có nêu rõ ý nghĩa về lựa chọn nghề khi thi vào đại học nhằm giúp cho học sinh có những thông tin rõ ràng trƣớc chọn trƣờng, khoa thi. Năm 1927 ở Lêningrat đã tổ chức hƣớng nghiệp với mục đích giúp cho tuổi trẻ và cha mẹ các em làm quen với thế giới nghề nghiệp. Năm 1930 ở Matxcơva đã thành lập Phòng thí nghiệm Trung ƣơng về tƣ vấn nghề và lựa chọn nghề trực thuộc Trung ƣơng đoàn thanh niên Cộng sản Lênin, trong đó Phòng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiêu biểu của những cơ quan tƣ vấn nghề, đặc biệt là việc chọn nghề của tuổi trẻ trong các trƣờng phổ thông kĩ thuật. Hoạt động tƣ vấn sẽ giúp tuổi trẻ hiểu rằng muốn cho đất nƣớc ổn định và phồn vinh không chỉ cần sự đóng góp sức lực và khả năng của mình, mà hơn thế nữa giúp mỗi ngƣời lựa chọn cho mình một vị trí trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội phù hợp với đặc điểm tâm lí và năng lực về kĩ năng, kĩ xảo lao động nghề nghiệp. Nói cách khác, tính đa dạng, nhiều vẻ của thế giới nghề nghiệp và cùng với nó là sự phức tạp của những đặc điểm tâm sinh lí của con ngƣời phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 đƣợc xét tới trong hoạt động lựa chọn nghề của tuổi trẻ. Dựa trên quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin và của những nhà khoa học giáo dục khi xem xét vấn đề hƣớng nghiệp đối với sự hình thành nhân cách và ảnh hƣởng của nó tới các hoạt động sản xuất xã hội, chúng ta có thể thấy đƣợc nếu sớm thực hiện GDHN cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để giúp cho họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu xã hội [16]. Ở Pháp, năm 1928 đã thành lập Viện Quốc gia nghiên cứu về lao động và hƣớng nghiệp. Năm 1975 nƣớc Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hoá nền giáo dục. Cải cách giáo dục Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giáo dục lao động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hƣớng và quan niệm coi giáo dục lao động là hoạt động giáo dục loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học). Giáo dục Pháp chăm lo đến phát triển nhân cách toàn diện cho HS trong đó coi giáo dục lao động thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trƣờng, coi đào tạo “tiền nghề nghiệp” nhƣ là cơ sở cho việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho HS bƣớc vào cuộc sống lao động. Nhà trƣờng Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc trong việc cung cấp các kiến thức khoa học mà tăng cƣờng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hƣớng nghiệp để giúp cho HS trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. Nhà nƣớc Pháp thực hiện công tác hƣớng nghiệp không những cho HS phổ thông mà còn cả với ngƣời lớn theo một tiếp cận mới. Đó là kết hợp các hƣớng cung cấp thông tin về thế giới nghề nghiệp, về đặc điểm lao động của từng nghề, về các trƣờng đào tạo nghề giúp cho ngƣời học có nhu cầu đủ cơ sở để so sánh, lựa chọn. Mặt khác, nhà trƣờng tổ chức các phƣơng pháp nhƣ GV quan sát, tìm hiểu nhiều mặt liên quan đến nghề nghiệp tƣơng lai của HS, còn các chuyên gia tâm lí hƣớng nghiệp, thầy thuốc trƣờng học tiến hành các kiểm tra về nhân học, tâm lí y học đối với HS. Trên cơ sở đó, nhà trƣờng hay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 nhà tƣ vấn đƣa ra những tƣ vấn tâm lí về chọn nghề, để từng HS tự quyết định sự chọn nghề lần đầu hay điều chỉnh chọn nghề, thay đổi nghề [18]. Ở Đức, hệ thống trƣờng phổ thông quán triệt nguyên tắc hƣớng nghiệp để chuẩn bị cho HS đi vào trƣờng đào tạo nghề tuỳ theo trình độ học tập của mỗi em. Ngay từ học kì I lớp 10, GV chủ nhiệm liên hệ với những cơ sở hƣớng nghiệp, những trƣờng dạy nghề của các công ti tƣ nhân và của nhà nƣớc để bố trí HS đến đó tìm hiểu về nghề nghiệp mà mình muốn học. Những HS có nhu cầu hay có năng lực học lên đại học buộc phải có học lực khá và từ lớp 11 đƣợc học trƣờng phổ thông hệ học lên đại học. Xu hƣớng hiện đại hoá ở đây là tạo điều kiện cho HS có thể học nghề ngay từ khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống kiến thức khoa học gắn với hƣớng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung học hoàn chỉnh [9]. Ở Ba Lan, trong báo cáo về chiến lƣợc hiện đại hoá “Con đƣờng tới 2010” của Uỷ ban dự báo “Ba Lan trong thế kỉ XXI” thuộc chủ tịch đoàn viện hàn lâm Ba Lan đã xác định một số trong các nguyên tắc chỉ đạo cải cách giáo dục gồm: Nguyên tắc phân nhánh rộng thay cho hƣớng phân hoá hẹp trƣớc đây vì phân hoá rộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho ngƣời lao động và đào tạo cán bộ. Nguyên tắc phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm lí, nghề nghiệp - xã hội, thể chất của học sinh đảm bảo mục tiêu con ngƣời phát triển toàn diện. Nguyên tắc giáo dục thông qua lao động và giáo dục lao động thực hiện thông qua quá trình lao động, giáo dục kĩ thuật tổng hợp tiếp nhận tri thức và kĩ năng phù hợp với các giai đoạn và hình thức học tập, công tác hƣớng học và hƣớng nghiệp [9]. Ở Australia GDHN, lập nghiệp nhằm phát triển những kĩ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chƣơng trình học tập đƣợc kế hoạch hoá. Việc giáo dục này là cơ sở để HS biết ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hƣớng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở trƣờng, tham gia có hiệu quả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 vào đời sống lao động. Những yếu tố của GDHN, lập nghiệp đƣợc thể hiện thông qua những nhiệm vụ của HS. Đó là: học về bản thân trong mối quan hệ với lao động; học về thế giới việc làm; học về làm kế hoạch và ra quyết định hƣớng nghiệp, lập nghiệp; ứng dụng những quyết định về hƣớng nghiệp, lập nghiệp và quản lí sự dịch chuyển lao động. Tại châu Á, nền giáo dục của nhiều quốc gia cũng dành nhiều sự quan tâm thích đáng đến GDHN. Nhật Bản là nƣớc sớm quan tâm, giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trƣờng THPT vừa dạy - học văn hoá phổ thông vừa dạy - học các môn học kĩ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngƣ nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… Sau khi tốt nghiệp cấp II có đến 94% HS vào cấp III, trong đó 70% theo học các loại hình trƣờng phổ thông cơ bản và 30% HS theo hƣớng học nghề [21]. Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trƣờng phổ thông, nội dung giảng dạy kĩ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chƣơng trình giáo dục. Khi hết cấp II, học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trƣờng kĩ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trƣớc rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông [21]. Còn ở Trung Quốc thì khuyến khích giáo dục suốt đời một cách tích cực. Hiện nay giáo dục dựa trên cộng đồng đang đƣợc phát triển mạnh mẽ. Trong chƣơng trình giảng dạy thƣờng có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức và kĩ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học [21]. 1.2.2. Tình hình nghiên cứu giáo dục hƣớng nghiệp ở Việt Nam Ngƣời đề cập đến công tác GDHN ở Việt Nam trƣớc hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngƣời đã rất coi trọng công tác hƣớng nghiệp, đã vận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 dụng sáng tạo các quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm đào tạo lớp ngƣời lao động mới. Nói về hƣớng nghiệp trong bài “Học sinh và lao động” Bác viết: “Thi đỗ tiểu học rồi thì muốn lên trung học, đỗ trung học rồi thì muốn lên đại học, riêng về mỗi cá nhân của ngƣời học sinh ấy thì ý muốn ấy không có gì lạ. Nhƣng chung với nhà nƣớc thì ý muốn ấy thành vô lí vì bất kì nƣớc nào, số trƣờng trung học cũng ít hơn trƣờng tiểu học, trƣờng đại học cũng ít hơn trƣờng trung học. Thế thì những trò tiểu học, trung học không đƣợc chuyển cấp phải làm gì?” [19]. Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng cũng có ý kiến: “Giáo dục phổ thông dành cho tuổi trẻ từ tuổi thơ ấu đến 18 tuổi, tuổi thanh niên, tuổi hoàn thành giáo dục phổ thông, ở đây có sự gặp nhau hài hoà giữa ba nhân tố: giáo dục phổ thông, tuổi trẻ và triển vọng nghề nghiệp. Đó là quá trình chuẩn bị vào đời của mọi ngƣời”. “Mọi ngƣời cần nhớ rằng, giáo dục phổ thông không chỉ nhằm dạy kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội mà còn nhằm cái đích dạy các nghề có tầm quan trọng rất thiết thực hiện nay ở nƣớc ta” [11]. Trong nghiên cứu về GDHN của Việt Nam, Phạm Tất Dong là ngƣời có đóng góp rất lớn. Ông đã nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, những vấn đề về nội dung và phƣơng pháp hƣớng nghiệp cho HS, thanh niên. Với hƣớng nghiên cứu “Những vấn đề mới đặt ra trƣớc yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác hƣớng nghiệp hiện nay” [7], Phạm Tất Dong đã đề nghị thiết lập một hệ thống GDHN từ bậc tiểu học trở lên với thời lƣợng tăng dần ở các năm trên. Càng học cao thì sinh hoạt hƣớng nghiệp càng nhiều hơn chứ không chỉ là 9 buổi trong cả năm học nhƣ hiện nay. Tác giả cũng đề nghị giao nhiệm vụ GDHN cho các GV công nghệ, đổi mới chƣơng trình GDHN, kết hợp các buổi tham quan sản xuất, giao lƣu với những nhân vật tiêu biểu trong hoạt động sản xuất, đề nghị huy động cha mẹ HS, các tổ chức kinh tế - xã hội cùng tham gia GDHN cho học sinh phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 Một hƣớng khác do các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự cùng các cộng sự khác nghiên cứu là: nghiên cứu động cơ chọn nghề, hứng thú chọn nghề và khả năng thích ứng nghề của HS học nghề, xây dựng phòng truyền thống hƣớng nghiệp trong trƣờng nghề, đặc biệt nghiên cứu tâm, sinh lí, nội dung lao động của một số nghề nhằm tạo ra tài liệu hƣớng nghiệp cho trƣờng phổ thông thể hiện ở cuốn “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” tập 1 và tập 2. Tác giả Nguyễn Nhƣ Ất đã nghiên cứu “Vấn đề phƣơng pháp luận xây dựng nội dung GDHN trong trƣờng phổ thông Việt Nam” và “Vấn đề giáo dục tổng hợp ở trƣờng phổ thông: tƣ tƣởng, lịch sử và quan niệm hiện nay”. Trong đó tác giả đã xác định cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung trong đó có GDHN và vấn đề giáo dục kĩ thuật tổng hợp trƣờng phổ thông dƣới góc độ tiếp cận tƣ tƣởng, lịch sử phát triển, quan niệm hiện đại [2], [3]. Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Quang Huỳnh, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng đã đề cập đến một số vấn đề cấp thiết của GDHN tại Việt Nam, vấn đề phân luồng HS phổ thông sau trung học, sự cần thiết phải có GDHN, cơ sở tâm lí học, cơ sở sƣ phạm của GDHN, nêu bật vai trò của GDHN với chức năng định hƣớng vào việc rèn luyện năng lực thực hiện cho ngƣời lao động [1], [14], [16], [24]. Với bộ môn Sinh học, các tác giả Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành cũng đã đề cập đến giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hƣớng nghiệp là một trong những nhiệm vụ của dạy học Sinh học. Tuy nhiên các tác giả cũng mới chỉ đề cập tới nhiệm vụ chung cho cả bộ môn chứ chƣa đi sâu vào cách làm từng phần, từng chƣơng, từng bài cụ thể. Trong nghiên cứu về vấn đề tích hợp GDHN trong dạy học Sinh học, các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết và Trần Thị Mai Lan cũng đã bƣớc đầu tiến hành nghiên cứu tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Sinh học lớp 9 và Sinh học lớp 10 [17], [25]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15
- Xem thêm -