Tài liệu Thuyết nhân quả phật giáo trong văn học dân gian việt nam

  • Số trang: 92 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 120 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN =========== HOÀNG THỊ HUẾ THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Mã số: 60.22.03.01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu HÀ NỘI – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---------------------------------- HOÀNG THỊ HUẾ THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học Mã số : 60 22 03 01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu Hà Nội – 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng. Những kết quả khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào. Tác giả luận văn Hoàng Thị Huế LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ gia đình, các thầy, cô giáo, các trung tâm thư viện, bạn bè đồng nghiệp cùng các ban ngành có liên quan. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới GS. TS. Nguyễn Hùng Hậu. Thầy đã rất quan tâm, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người đã luôn sát cánh giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong thời gian thực hiện luận văn. Mặc dù đã cố gắng hết sức mình nhưng vì năng lực của bản thân còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các thầy, cô và bạn đọc góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày……tháng…….năm 2014 Hoàng Thị Huế MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................... 3 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn .......................................................... 5 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................... 6 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 6 6. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................ 6 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ....................................................................... 7 8. Kết cấu của đề tài ........................................................................................ 7 NỘI DUNG....................................................................................................... 8 CHƢƠNG 1: THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO VÀ VÀI NÉT VỀ KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM ...................................... 8 1.1 Thuyết nhân quả của Phật giáo ............................................................... 8 1.1.1 Một vài nét về Phật giáo.......................................................................... 8 1.1.2. Nội dung thuyết nhân quả của Phật giáo ........................................... 13 1.2. Vài nét về kho tàng văn học dân gian Việt Nam ................................. 29 1.2.1. Khái niệm văn học dân gian ................................................................ 29 1.2.2. Đặc trưng và hình thức của văn học dân gian Việt Nam .................. 31 CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO TRONG KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM ......... 35 2.1. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong ca dao, tục ngữ .............. 35 2.1.1. Vài nét về ca dao, tục ngữ .................................................................... 35 2.1.2. Nhân quả với quá trình lao động sản xuất trong ca dao, tục ngữ ....... 38 2.1.3. Nhân quả đối với hôn nhân và gia đình trong ca dao, tục ngữ ........ 42 2.1.4. Nhân quả với việc nhận định về con người và việc đời .................... 48 2.2. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong một số truyện cổ tích .... 55 2.2.1. Khái quát về truyện cổ tích .................................................................. 55 2.2.2. Biểu hiện thuyết nhân quả Phật giáotrong một số câu truyện cổ tích........57 2.3. Ý nghĩa của những biểu hiện thuyết nhân quả Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức đối với con ngƣời Việt Nam hiện nay ............................ 67 2.3.1. Ý nghĩa định hướng lối sống nhân đạo và tấm lòng khoan dung vị tha .......67 2.3.2. Tính nhân văn hướng thiện................................................................. 70 2.3.3. Giáo dục nhân quả với đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam ............... 72 2.3.4. Giáo dục nhân quả với các mối quan hệ của con người trong xã hội...........76 KẾT LUẬN .................................................................................................... 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời vào khoảng thế kỉ thứ VI trước công nguyên. Ngọn đuốc trí tuệ của đức Phật thắp lên cách đây hơn 25 thế kỉ qua vẫn tiếp tục soi sáng cho chúng ta ngày nay. Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, Phật giáo với tinh thần bình đẳng từ bi đã ăn sâu vào nếp sống và tư duy của người dân trở thành những giá trị tinh thần vô giá, góp phần tạo nên những nét đặc sắc của đạo đức dân tộc và văn hóa tâm linh người Việt. Hơn bao giờ hết, giáo lý của Phật giáo đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận một cách dễ dàng bởi tính thiết thực và gần gũi trong đời sống sinh hoạt thường nhật. Tư tưởng triết lý của Phật giáo đã thấm nhuần tinh thần dân tộc Việt Nam. Một trong những giáo lý rất gần gũi với người Việt Nam chính là thuyết nhân quả. Nó đã ăn sâu vào hệ tư tưởng của mọi tầng lớp, mọi người dân Việt Nam. Nó không chỉ ảnh hưởng trên lý thuyết thông qua những bài giảng, qua kinh sách mà đã được thể hiện rõ nét qua cách sống, qua ý thức thực hành một cách tự nhiên, trở thành một bản năng vốn có của con người. Khi đã hiểu được giáo lý của thuyết nhân quả thì trong mỗi hành động, mỗi việc làm bản thân chúng ta sẽ có ý thức cao hơn để tạo ra kết quả cao nhất, tránh những hậu quả không tốt về sau. Đồng thời, biết chế ngự mọi bất hạnh, ngăn ngừa những điều ác để xua tan cái nghiệp quả luân hồi cho kiếp sau, đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho toàn xã hội. Trong một xã hội, nếu ai cũng yêu thương, sống chan hòa, đối xử đúng mực với nhau, không làm điều ác, làm điều gì cũng xuất phát từ cái thiện, luôn đặt điều nhân nghĩa lên trên thì xã hội sẽ tốt đẹp biết bao. Đó chính là mục tiêu và mơ ước mà nhà Phật luôn hướng tới. Ngày nay, nước ta đang trong thời kì hội nhập với thế giới, phát triển nền kinh tế thị trường. Do vậy, thời cơ tạo ra là vô cùng to lớn nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều thách thức đặt ra cần phải chú trọng giải quyết. Ta 1 thấy rằng, xã hội trở nên mất cân đối giữa đời sống tinh thần và vật chất. Nền khoa học thì phát triển mạnh mẽ như vũ bão, trong khi đó thì đời sống đạo đức con người ngày càng trở nên suy thoái. Tôn ty trật tự, luân lý đạo đức trong gia đình cũng như ngoài xã hội không còn nét đẹp truyền thống như xưa, mà dường như còn bị xem nhẹ. Một bộ phận giới trẻ ngày nay xem chuẩn mực đạo đức như một định kiến cổ hủ phong kiến. Đó chính là những dấu hiệu rõ nhất cho thấy sự suy thoái của nền đạo đức trong thời đại mới. Trước những thực trạng ấy, vấn đề giáo dục đạo đức thông qua giáo dục con người nhận biết và tin sâu giáo lý nhân quả càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Qua đó, học thuyết nhân quả của Phật giáo có một vai trò rất lớn không chỉ với con người Việt Nam nói chung mà nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với giới trẻ nói riêng. Và để giáo lý nhân quả đi sâu và trong ý thức của mọi người thì không chỉ bằng những lý luận, giáo lý trong sách vở mà cần thấy rằng Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm, chính vì thế ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam là rất lớn, nó được ông cha ta đúc kết lại trong kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú và đa dạng. Thông qua những câu ca dao, tục ngữ hay những câu chuyện thần thoại, cổ tích cha ông ta luôn thể hiện những tư tưởng nhân quả rất sâu sắc, đó là tư tưởng “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào gặt quả ấy”, hay “gieo gió gặt bão”, “ác giả ác báo”… Những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao tục ngữ chính là những ví dụ sinh động nhất, dễ hiểu nhất đưa các thế hệ người Việt hiểu rõ hơn về thuyết nhân quả của Phật giáo, từ đó hình thành nên những giá trị đạo đức tốt đẹp cho bản thân mình, làm giàu thêm truyền thống văn hóa của dân tộc. Do vậy, không chỉ học giáo lý thuyết nhân quả của Phật giáo mà chúng ta hãy kết hợp với những tác phẩm, những câu ca dao, tục ngữ, những câu chuyện cổ tích trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Có như vậy giáo lý của thuyết nhân quả mới lan rộng và thấm sâu vào mỗi người dân Việt. Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt nói chung, trong đó thuyết nhân quả là thuyết chủ yếu bao trùm 2 ảnh hưởng đến con người Việt Nam.Vì vậy thuyết nhân quả của Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm trong lối sống, tư duy, cách ứng xử của người Việt Nam. Hiện nay, thuyết nhân quả của Phật giáo có ý nghĩa nhất định trong việc răn đe con người trước hành vi tội lỗi và cái ác. Do đó việc nghiên cứu thuyết nhân quả trong kho tàng văn học dân gian là một điểm độc đáo của tư tưởng Phật giáo ở Việt Nam. Qua đó ta thấy văn hóa, tín ngưỡng Việt Nam hòa trộn nên việc bóc tách thể hiện trong văn học dân gian không chỉ là vấn đề khoa học lý thú mà còn có ý nghĩa giáo dục con người trong thực tiễn. Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM” làm đề tài luận văn của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Khi nghiên cứu về những triết lý của Phật giáo, đã có nhiều cuốn sách và công trình khoa học nghiên cứu các khía cạnh thuyết nhân quả của Phật giáo cũng như ý nghĩa thực tiễn của nó đối với cuộc sống mỗi người Việt Nam. Trong cuốn sách Phật học Phổ thông của hòa thượng Thích Thiện Hoa đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thuyết nhân quả. Ở đây, ông đã trình bày rõ ràng các đặc tính của nhân và quả, nhân quả trong thực tế: chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu, không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật cũng không thoát khỏi luật nhân quả. Tức là, nhân quả có trong cả những vật vô tri, vô giác, có trong cả động vật, thực vật và tất cả chúng sinh, không một sự vật nào là không có nhân quả. Đặc biệt, qua đây chúng ta còn thấy được những lợi ích đạt được nếu như hiểu được và áp dụng luật nhân quả: nó tránh cho ta những mê tín dị đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền “vạn vật do một vị thần sinh ra và uy quyền thưởng phạt muôn loài”, nó đem lại cho ta lòng tin tưởng vào chính bản thân cá nhân mình khi họ biết rằng cuộc đời mình là do nghiệp nhân quả của mình tạo nên, là người tự xây dựng đời mình thì phải tin tưởng vào mình để sống tốt hơn và khi họ đã hiểu rõ được luật 3 nhân quả thì không còn thấy chán nản hay trách móc bất kì ai nữa mà tự tìm ra lối thoát cho mình. Hay trong đề tài “Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo và tổ ấm Việt Nam” trích trong Đạo Phật và dòng sử Việt của Thích Đức Nhuận chúng ta cũng thấy rõ hơn được người Việt Nam xưa và nay vẫn luôn có một lối sống lạc quan, yêu đời thanh nhàn trong tư tưởng, nội tâm trước những sóng gió cuộc đời. Đó chính là họ nhận thức được quy luật nhân quả vẫn luôn thường nhật trong mọi mặt của đời sống con người. Qua đó chúng ta thấy được tác giả đã khẳng định con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện tính đại đoàn kết dân tộc ngay từ thời kì dựng nước và giữ nước. Những con người Việt Nam thời đó họ đã nhìn về các tấm gương anh hùng thời đại trước để tiếp nối cho sự nghiệp xây dựng ngày mai của đất nước. Và một trong những cuốn sách thể hiện rõ nét, sâu sắc và đầy đủ nhất mà chúng ta không thể không nhắc đến đó chính là cuốn “Luận về nhân quả” của tác giả Thích Chân Quang. Đây không phải là quyển sách đọc một lần, bởi càng đọc chúng ta càng thấm thía sâu sắc hơn khi nhìn lại cuộc đời mình, càng đọc chúng ta càng thấy cần tạo cho mình một lối sống an vui và hạnh phúc chân thật, càng đọc chúng ta càng thấy đường “giải thoát” của đạo Phật không phải là khó đi. Ở đây tác giả Thích Chân Quang đã chỉ cho chúng ta thấy rõ ràng cuộc sống của mình có hạnh phúc hay đau khổ đều do nghiệp ở chính mình tạo nên, chúng ta sẽ thấy nhân đâu quả đó, do vậy chúng ta sẽ hướng tâm mình đến chân - thiện - mỹ. Không những thế còn cho chúng ta thấy lợi ích thiết thực bằng cách vượt qua tất cả đau khổ, phiền não thường xảy ra trong cuộc đời. Và đọc Luận về nhân quả mỗi người chúng ta sẽ không làm những điều ác, luôn luôn tăng trưởng những điều lành, nhờ thế cuộc đời của họ sẽ đạt được an vui và hạnh phúc. Và điều quan trọng là con người sẽ thoát ly được thế giới thần linh, không còn cảm thấy sợ hãi, lo ngại về thế giới quỷ thần trong chốn tinh thần của họ. 4 Bên cạnh đó chúng ta còn phải kể đến cuốn sách Phật học tinh hoa của Thu Giang - Nguyễn Duy Cần đã nói về lịch sử đạo Phật theo một sự tiến triển bao quát, có hệ thống được trình bày khúc triết, rõ ràng. Trong đó còn nói về thuyết nhân quả, theo vòng biến thiên vô cùng vô tận với sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa nội tâm và ngoại cảnh, giữa vật chất và tinh thần theo mối liên quan tương hỗ, tác dụng qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Ngoài ra bàn về thuyết nhân quả còn có nhiều công trình khoa học nghiên cứu khác như: Thuyết nhân quả qua lăng kính duy thức của Thích Nguyên Chủng, hay Tư tưởng Phật giáo trong ca dao Việt Nam của Mang Viên Long và Luật nhân quả của Tâm Bình, Ảnh hưởng Phật giáo trong đời sống người Việt của Thích Nguyên Tạng… Như vậy có thể thấy rằng những nghiên cứu về tư tưởng thuyết nhân quả của các tác giả trên là những công trình khoa học có giá trị to lớn về nhiều mặt. Nó khẳng định được rằng triết lý về thuyết nhân quả đã có sức hút và sự quan tâm lớn của rất nhiều độc giả. Tuy vậy các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới chỉ bàn đến nội dung thuyết nhân quả của Phật giáo mà chưa chỉ ra những ảnh hưởng của nó trong văn học dân gian Việt Nam. Chính vì thế đó cũng là một khó khăn thử thách đối với công trình nghiên cứu này. Và ở đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu muốn kế thừa, bổ sung và phát triển kết quả của những người đi trước để từ đó có cách nhìn tổng quát, đặc biệt thấy được sự vận dụng triết lý nhân quả của Phật giáo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam của cha ông ta. Trong một giới hạn nhất định, tác giả nghiên cứu mong muốn đi sâu, phân tích một cách có hệ thống trên cơ sở đó hình thành phương pháp luận đúng để mỗi người có cách hành động đúng và đó cũng chính là nhu cầu cần tìm hiểu hơn về thuyết nhân quả trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn * Mục đích: 5 Luận văn phân tích biểu hiện thuyết Nhân quả Phật giáo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam và phần nào làm rõ ý nghĩa của nó trong việc giáo dục đạo đức đối với con người Việt Nam hiện nay. * Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn cần giải quyết một số nhiệm vụ sau: - Trình bày nội dung thuyết nhân quả của Phật giáo và giới thiệu qua về kho tàng văn học dân gian Việt Nam. - Phân tích một số biểu hiện thuyết nhân quả của Phật giáo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam và ý nghĩa trong việc giáo dục đạo đức đối với con người Việt Nam hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của công trình này là những quan điểm, nguyên lý trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin như phương pháp phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử,... 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: thuyết nhân quả của Phật giáo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: khảo sát một số biểu hiện thuyết nhân quả của Phật giáo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam qua ca dao, tục ngữ, một số truyện cổ tích tiêu biểu. 6. Đóng góp mới của luận văn - Đề tài phân tích những biểu hiện của thuyết nhân quả của nhà Phật trong văn học dân gian Việt Nam hay nói cách khác phân tích văn học dân gian Việt Nam trên khía cạnh thuyết nhân quả. - Trình bày có hệ thống, nhiều khía cạnh một số vấn đề đạo đức dưới góc độ triết học. 6 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn - Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn thuyết nhân quả của Phật giáo biểu hiện trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. - Ý nghĩa thực tiễn: + Đề tài đã khẳng định những giá trị tư tưởng trong truyền thống văn hóa dân tộc dưới tác động của Phật giáo. + Định hướng giáo dục con người trong suy nghĩ, nhận thức và hành động đúng với chuẩn mực đạo đức của xã hội, hướng thiện cho con người. + Đề tài là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến Phật giáo và văn học dân gian Việt Nam. 8. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5 tiết. Chương 1: Thuyết nhân quả Phật giáo và vài nét về kho tàng văn học dân gian Việt Nam 1.1. Thuyết nhân quả của Phật giáo 1.2. Vài nét về kho tàng văn học dân gian Việt Nam Chương 2: Một số biểu hiện của thuyết nhân quả Phật giáo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam 2.1. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong ca dao, tục ngữ 2.2. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong một số truyện cổ tích 2.3. Ý nghĩa của những biểu hiện thuyết nhân quả Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức đối với con người Việt Nam hiện nay 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO VÀ VÀI NÉT VỀ KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM 1.1 Thuyết nhân quả của Phật giáo 1.1.1 Một vài nét về Phật giáo * Khái lược về Phật giáo Phật giáo là một hệ thống tư tưởng thống nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Phật giáo xuất hiện ở miền bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nê pan) vào khoảng thế kỉ VI trước công nguyên, Phật giáo đã nhanh chóng phổ biến và trở thành một quốc giáo ở Ấn Độ. Khi ấy trong xã hội tình trạng phân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt. Sự ra đời của Phật giáo thể hiện tinh thần phản kháng của những người nghèo, chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp của đạo Bàlamôn, tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ. Trải qua những thăng trầm lịch sử, Phật giáo trở thành một tôn giáo thế giới và đã đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống văn hóa tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông. Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động. Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi, bác ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á. Sự xuất hiện tư tưởng Phật giáo gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ đại. Đây là thời kì chế độ nô lệ kiểu phương Đông đã phát triển với sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền là sở hữu tối cao về ruộng đất và thần dân. Về mặt tư tưởng, đời sống tinh thần xã hội lúc này bị thống trị bởi quan 8 điểm duy tâm tôn giáo trong thánh kinh Véda và đạo Bàlamôn. Không những thế, chúng còn là cơ sở triết lý cho chế độ phân chia đẳng cấp và các đạo luật của nhà nước. Theo Đạo Bàlamôn, mỗi người thuộc một đẳng cấp nhất định: Bàlamôn, quý tộc, bình dân bao gồm những người buôn bán, thợ thủ công, nông dân và đẳng cấp nô lệ. Trong 4 đẳng cấp đó tăng lữ Bàlamôn là đẳng cấp cao quý nhất được sinh ra từ miệng của đấng tối cao là thần sáng tạo Brahma và thấp hèn nhất là tiện dân nô lệ. Người của đẳng cấp nào thì sẽ mãi mãi thuộc đẳng cấp ấy và sẽ không thể thay đổi. Về mặt chính trị xã hội, tầng lớp Bàlamôn được kính trọng, tôn sùng. Họ chuyên nghiên cứu giảng dạy thánh kinh, lo việc tế lễ. Đẳng cấp quý tộc (vua chúa, tướng lĩnh) cai trị và thâu tóm ruộng đất. Đẳng cấp bình dân phải lao động nuôi các đẳng cấp trên, ngoài ra họ còn phải nộp thuế, đi lính. Đẳng cấp thấp nhất là nô lệ phải phục dịch ba đẳng cấp trên, chịu mọi cực khổ và hoàn toàn lệ thuộc vào các đẳng cấp trên… Sự thống trị khắc nghiêt về mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng trên đã làm nảy sinh những mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao động đòi hỏi một sự tự do, công bằng xã hội. Đây chính là những nhu cầu của hiện thực lịch sử, làm xuất hiện các trường phái tư tưởng mới ở Ấn Độ trong thời kì này. Do vậy “để chống lại những đạo luật hà khắc của đạo Bàlamôn - đạo Phật đã ra đời. Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt, nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn Độ; mặt khác, nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Véda và đạo Bàlamôn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”.[8, tr. 116] Sự ra đời Phật giáo còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni (nghĩa là giác ngộ của tộc người Thích ca). Đây là tên gọi khi thành đạo. Tên thật của Thích Ca Mâu Ni là Siddhartha (Tất đạt đa) nghĩa là “người 9 thực hiện mục đích”, họ là Gautama, vốn là con đầu của vua Tịnh Phạn. Thích Ca Mâu Ni sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ. Ngay từ nhỏ, Thái tử Tất Đạt Đa đã được sống trong nhung lụa, không tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề thấy và không hề biết rằng trong cuộc đời lại có những đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc. Năm 17 tuổi, Thái tử cưới vợ là công chúa Da giu đà la (Yasodnara) sinh một con trai là La hầu la. Từ đó, Thái tử mới được tiếp xúc với hiện thực cuộc sống ngoài chốn cung đình. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những cảnh già yếu, bệnh tật, chết chóc... đã tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm của Ngài. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả của một thái tử để đi tu hành, tìm được diệt khổ và sự giải thoát cho chúng sinh. Sau sáu năm tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn mà không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và cũng không nhận thức được chân lý, ông nghiệm ra là cả cuộc sống tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đều không giúp tìm con đường giải thoát, chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất. Do đó, ông tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý và bỏ lối tu khổ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ. Sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây bồ đề (bodhi) tại làng Uruvela, chìm đắm trong tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã tìm được với chân lý, hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường cứu vớt. Ông đã “ngộ đạo” và trở thành Thích Ca Mâu Ni năm 35 tuổi, khi ấy ông lấy hiệu là Buddha có nghĩa là người “giác ngộ” (Trung Quốc dịch là Phật). Người ta gọi ông là Sayka-muni (Trung Quốc dịch là Thích Ca Mâu Ni –nhà hiền triết xứ Sayka). Nguyên lý cơ bản của Phật Giáo được thể hiện trong giáo lý. Hệ thống giáo lý của Phật Giáo là một hệ thống đồ sộ nằm chủ yếu trong Tam tạng kinh điển, gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Kinh tạng (Sutra Pitaka) là những sách ghi lời Phật Thíc Ca giảng về đạo lí, được đệ tử Anan đa kể (đọc) lại trong lần kết nạp đầu tiên. 10 Luật tạng (Vinafapitaka) là sách ghi những giới luật do Phật chế định làm khuôn phép sinh hoạt cho tăng đoàn và các đệ tử tại gia, do Ưu bà ly kể (đọc) lại trong lần kết tập đầu tiên. Luận tạng (Abhidhammapikata) là hệ thống những luận giải của các Hộ pháp về kinh tạng và luật tạng. Giáo lý cơ bản của đạo Phật được thể hiện qua những khái niệm như: vô tạo giả, vô thường, vô ngã, tứ diệu đế.... *Khái lược về Phật giáo ở Việt Nam Phật giáo từ khi du nhập đã tồn tại và gắn liền với dân tộc Việt Nam hơn 20 thế kỉ. Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử nước nhà, Phật giáo với tinh thần bình đẳng đã ăn sâu vào nếp sống và tư duy của người dân trở thành những giá trị tinh thần vô giá, góp phần tạo nên những nét đặc sắc của đạo đức dân tộc và văn hóa tâm linh Việt Nam trong đó chúng ta không thể không nói đến thuyết Nhân quả của Phật giáo. Ngay từ buổi đầu bình minh tự chủ của dân tộc, Phật giáo đã có những mối duyên liên hệ thắm thiết đến sự tồn vong của dòng sinh mệnh Việt Nam. Phật giáo du nhập và được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, nhất là cuối thế kỉ II đến thế kỉ III Tây lịch qua hai con đường Hồ Tiêu (con đường biển) và con đường Đồng Cỏ (con đường tơ lụa). Dân tộc Việt Nam, về nhân chủng, có nguồn gốc cùng Malaisia và Indonesia cùng với các nước Đông Nam Á láng giềng, trực tiếp thu nhận tinh hoa Phật giáo vốn có chung một truyền thống sinh hoạt “nông nghiệp thảo mộc” - Một nền văn hóa nhân bản bao dung, trí tuệ và khai phóng, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát. Chính vì thế mà Phật Giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của nhà sư Ấn Độ, Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La trong khoảng các năm 168-189. Và để sau đó Phật giáo có mặt tại Việt Nam, với 11 chiều sâu và bề dày lịch sử 20 thế kỉ, đã cùng với dân tộc đấu tranh giành quyền cho một nước Việt Nam tự chủ, độc lập, đã gây dựng nên một nếp sống “dân phong quốc tục” đẹp làm vẻ vang cho nòi giống Việt - con rồng cháu tiên. Xuyên qua những đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của đạo Phật Việt, kể từ các Vương triều: Tiền và Hậu Lý Nam Đế (542-603) mở đầu nền tự chủ cho nước nhà, đến nhà Đinh (968-980) và Tiền Lê (989-1009), sang nhà Lý (1009-1225) và tiếp theo nhà Trần (1225-1400), Phật giáo lại càng được phát triển mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đồng thời mở mang trên khắp mặt sinh hoạt quốc gia, đem an vui hạnh phúc đến với toàn dân, từ bi, thương yêu tràn ngập, thì đồng thời nền văn hóa Đại Việt cũng vươn lên tuyệt đỉnh vinh quang. Có thể nói từ khi mới du nhập vào nước ta Phật giáo đã có một chỗ đứng khá vững chắc trong cuộc sống tinh thần của người dân Việt Nam. Và đặc biệt Phật giáo đã có một bước phát triển mạnh mẽ và đã trở thành quốc giáo của nước ta dưới triều đại nhà Lý. Bước sang triều đại nhà Trần sau này Phật giáo Việt Nam lại có một bước tiến mới đánh dấu một mốc son trong sự phát triển của Phật giáo Việt Nam. Nói về Phật giáo đầu đời Trần, Phật giáo không chỉ có dân tu, mà vua cũng đi tu. Nói như nhà nho Lê Quát đời Trần rằng “phân nửa thiên hạ đi tu”, người xuất gia quá đông, đại đa số dân chúng là người tu tại gia, chùa chiền đâu cũng có. Lúc bấy giờ Phật giáo bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống, văn hóa, tư tưởng, đồng hóa với hầu hết mọi hình thức tín ngưỡng, tập tục sơ khai. Cũng không biết từ bao giờ, những ngôi chùa mọc lên như một bộ phận hữu cơ, gắn bó thân thiết với cộng đồng xã hội “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Phật Giáo đã ăn sâu bám rễ vào Việt Nam. Qua sự thăng trầm của chiều dài lịch sử, đến thế kỉ XX mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật 12 giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị Miền Nam, với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.... Phật giáo tuy là một hiện tượng văn hóa nước ngoài vào nước ta, đã được nhân dân tiếp thu và vận dụng vào đời sống dân tộc một cách tự nhiên và đóng vai trò lịch sử nhất định trong cuộc sống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cho nên nghiên cứu lịch sử dân tộc không thể không nghiên cứu lịch sử phật giáo Việt Nam đã trở thành một bộ phận quan trọng của lịch sử dân tộc. 1.1.2. Nội dung thuyết nhân quả của Phật giáo Vũ trụ, vạn vật không phải tuần hoàn, biến dịch một cách tự nhiên, vô lý, mà tuân theo một cái luật chung đó là luật nhân quả. Luật này không phải do một đấng nào, xã hội nào đặt ra mà là một luật thiên nhiên âm thầm, lặng lẽ, nhưng đúng đắn vô cùng. Người đời vì không quan sát một cách kỹ càng, tường tận nên không thấy được luật ấy. Do đó, họ đã hành động một cách bừa bãi, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với bản thân mình và với người xung quanh. Và cũng chính vì thế mà họ đau khổ, lặn ngụp mãi trong biển mê mờ, tội lỗi. Trái lại, Đức Phật là vị hoàn toàn giác ngộ, đã phát huy hiện ra luật nhân quả đang chi phối, điều hành mọi sự vật trong vũ trụ này, nên Đức Phật đã hành động một cách sáng suốt, lỗi lạc cho chính mình và chúng sinh. Vậy chúng ta cần phải hiểu biết cái luật nhân quả mà đức Phật phát huy nó như thế nào, để rồi hành động đúng theo như lời Đức Phật đã làm, nhằm đem lại hạnh phúc chân thật, lâu bền cho mình và cho người xung quanh. Và tư tưởng nhân quả của Phật giáo ấy được hiểu như thế nào? Chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung của nó ở từng khía cạnh. a. Quan niệm của Phật giáo về nhân quả Theo triết lý Phật giáo, vũ trụ vạn vật biến hoá vô thường chính là do vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả. Cái nhân (hetu) nhờ có duyên (pratitya) trợ giúp mà trở thành quả (phala); quả mới lại nhờ duyên mới trợ giúp mà tạo thành quả mới... Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng 13 cứ sinh hoá, biến hiện không ngừng không nghỉ theo quá trình sinh, trụ, diệt hay thành, trụ, hoại, không. Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt hay trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất. Trong học thuyết nhân duyên nhằm giải thích nguyên nhân biến hoá vô thường của vạn pháp, có ba khái niệm chủ yếu là: nhân (hetu), duyên(pratitya) và quả (phala). Theo triết lý Phật giáo tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới từ cái vô cùng nhỏ đến vô cùng lớn, từ cái đơn giản đến phức tạp, đều chịu chi phối, tác động của luật nhân quả tồn tại và biến hiện. Cái gì phát động ra ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra một hay nhiều kết quả nào đó gọi là nhân. Cái gì được kết tập lại do một hay nhiều nhân gọi là quả. Duyên là điều kiện, là mối liên hệ trợ giúp cho nhân (ở trạng thái khả năng) biến thành quả (ở trạng thái hiện thực). Như thế duyên không chỉ là một cái gì đó cụ thể, xác định mà còn là điều kiện, sự tương hợp tương sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành và biến đổi. Ví dụ: hạt lúa là quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành. Hạt lúa muốn thành cây lúa đơm bông kết hạt phải nhờ có đất, nước, không khí, ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, đó là duyên, là điều kiện và môi trường cần phải có giúp cho hạt lúa biến thành cây lúa. Triết lý Phật giáo tìm thấy sự liên kết của nghiệp quả, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai, và đưa ra thuyết Thập nhị nhân duyên (Dvadasavidânas) hay theo tiếng Pàli ( Patica Samuppâda) để giải thích nguồn gốc sinh tử luân hồi và sự đau khổ của chúng sinh. Triết lý Thập nhị nhân duyên của Phật giáo đề cập đến vấn đề của vòng sinh tử luân hồi, nguồn gốc của sự đau khổ và chỉ nhằm mục đích giúp chúng sinh thoát khỏi phiền não của cuộc sống. Con người cũng do nhân duyên kết hợp tạo ra bởi hai thành phần: phần sinh lý và phần tâm lý, phần hình chất và phần tinh thần. Cái tôi sinh lý, tức thể xác, hình chất gọi là “sắc” (gồm đị, thuỷ, hoả, phong). Cái tôi tâm lý, tinh thần tức là tâm, chỉ có tên gọi mà không có hình chất, gọi là “danh”. Bốn yếu tố do nhân duyên kết hợp tạo nên phần tinh thần (danh) của con người là: 14
- Xem thêm -