Tài liệu Thực trạng về vốn kinh doanh và một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần bao bì và hàng xuất khẩu

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ----------o0o---------- CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI : THỰC TRẠNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ VÀ HÀNG XUẤT KHẨU Giảng Viên Hướng Dẫn Sinh Viên Lớp : Trần Vinh Quang : Đặng Hữu Hoàng : K44/11.09 0 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT BAO BÌ VÀ HÀNG XUẤT KHẨU 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. 1.1.1. Vốn kinh doanh và các đặc trưng của vốn kinh doanh. 1.1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh (VKD) là phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết đối với bất cứ loại hình doanh nghiệp (DN) nào thuộc bất cứ ngành nghề nào muốn tồn tại và phát triển.Vậy vốn kinh doanh là gì? Theo luật DN 2005 " DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh". Khái niệm trên cho thấy, hoạt động kinh doanh là hoạt động nền tảng của DN, và nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Mỗi DN đều có những đặc thù riêng song trong quá trình SXKD đều phải có đặc điểm chung là bắt đầu bằng các yếu tố đầu vào và kết thúc là các yếu tố đầu ra. Đầu vào là các yếu tố như: nguyên vật liệu, hàng hoá và dịch vụ mà DN sử dụng, kết hợp với nhau để tạo ra đầu ra. Đầu ra chính là các sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ có ích, sử dụng cho quá trình SXKD hoặc tiêu dùng. Để tạo ra đầu ra thì DN phải có một lượng tiền tệ đảm bảo cho các yếu tố đầu vào này, lượng tiền tệ này gọi là VKD của DN. 1 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính "VKD của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản sử dụng vào SXKD nhằm mục đích sinh lời" Như vậy, vốn có tính chất quyết định trong hoạt động SXKD. Điều này đòi hỏi các DN phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn giúp cho DN ngày càng lớn mạnh.Việc nhận thức đầy đủ hơn về vốn sẽ giúp DN hiểu rõ được tầm quan trọng và giá trị đồng vốn để sử dụng có hiệu quả hơn. 1.1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh. Để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả DN cần phải nắm được những đặc trưng của vốn như : Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Nghĩa là vốn đó được thể hiện bằng giá trị những tài sản có thực cho dù đó là tài sản hữu hình ( nhà xưởng, máy móc thiết bị, sản phẩm...) hay vô hình ( nhãn hiệu, bằng phát minh sáng chế...). Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời.Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào SXKD, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là giá trị tiền phải lớn hơn khi xuất phát. Thứ ba: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng trong hoạt động kinh doanh. Đặc trưng này đòi hỏi DN cần lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thứ tư: Vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Mỗi đồng 2 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Bởi ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó có sự chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả. Thứ năm: Vốn phải có giá trị về mặt thời gian.Nghĩa là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng tiền.Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau. Thứ sáu: Vốn là một thứ hàng hoá đặc biệt, chỉ bán quyền sử dụng. Trong nền kinh tế thị trường nhu cầu vay vốn của các DN rất cao. Do đó xuất hiện những tổ chức cá nhân tiến hành cho DN vay vốn, nhưng DN chỉ được quyền sử dụng vốn trong khoảng thơi gian nhất định và phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn trong một khoảng thời gian đó. Như vậy, khác với hàng hoá thông thường, vốn khi bán ra sẽ không bị mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Thứ bảy: Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của cả tài sản vô hình. Đặc trưng này giúp DN có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó có thể đưa ra các biện pháp phát huy tổng hợp của VKD. 1. 1.2. Nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của DN thì DN cần nắm rõ nguồn hình thành VKD từ đó có phương án huy động, biện pháp quản lý, sử dụng thích hợp để đem lại hiệu quả cao. Tuỳ từng tiêu thức nhất định mà nguồn vốn kinh doanh (NVKD) được chia thành các loại khác nhau: 1.1.2.1 Căn cứ vào nguồn hình thành vốn sản xuất kinh doanh : 3 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính - Vốn chủ sở hữu (VCSH): Là vốn thuộc sở hữu của DN, DN có đầy đủ các quyền chi phối, chiếm hữu và định đoạt. Bao gồm: vốn do ngân sách cấp, lợi nhuận để lại, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khấu hao... - Nợ phải trả (NPT): Bao gồm vốn chiếm dụng và các khoản nợ vay. Vốn chiếm dụng bao gồm: NPT người cung cấp, thuế và các khoản phải nộp ngân sách, nợ phải trả công nhân viên...Đây là nguồn vốn mà DN được sử dụng hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định mà không bắt buộc phải trả lãi tiền vay.Vì vậy DN nên chủ động sử dụng nguồn vốn này để phục vụ cho quá trình SXKD của DN, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo kỷ luật thanh toán. Các khoản nợ vay bao gồm: Vay vốn từ ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu... nguồn vốn vay có vai trò quan trọng trong việc bổ sung vốn cho DN đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn. 1.1.2.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn : Theo tiêu thức này, VKD của DN được chia làm hai nguồn: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. Nguồn vốn thường xuyên: Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định dài hạn, bao gồm: Nguồn VCSH và các khoản nợ dài hạn. Nguồn vốn này được dùng để đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết. Nguồn vốn thường xuyên được xác định như sau: Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản - Nợ ngắn hạn Hoặc = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn 4 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) bao gồm: các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, được dùng để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động SXKD để tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn, đồng thời có biện pháp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Phân loại theo cách này giúp DN xem xét, huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng và có cơ sở để lập ra các kế hoạch tài chính. Qua đó vấn đề đặt ra cho các DN là sẽ huy động bao nhiêu và từ nguồn nào đáp ứng cho nhu cầu hoạt động SXKD để tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn, đồng thời có biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả. 1.1.2.3. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn : - Bên trong DN: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân DN, gồm vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế, thu thanh lý, nhượng bán TSCĐ, quỹ khấu haoTSCĐ...Nguồn vốn bên trong có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của DN vì một mặt nó phát huy được tính chủ động trong công việc sử dụng vốn, mặt khác làm gia tăng mức độ độc lập về tài chính của DN. - Nguồn vốn bên ngoài DN: Là nguồn vốn DN huy động từ bên ngoài, bao gồm: vốn vay của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh, liên kết, vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp...Huy động vốn từ bên ngoài tạo cho DN một cơ cấu tài chính linh hoạt hơn, mặt khác có thể làm tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu nếu mức lợi nhuận đạt được cao hơn chi phí sử dụng vốn. Song, nếu DN sử dụng nguồn vốn bên ngoài kém hiệu quả thì nợ vay lại trở thành gánh nặng và nguy cơ rủi ro là rất lớn. Vì vậy, DN cần phải kết hợp hai nguồn này sao cho hợp lý, 5 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính lựa chọn hình thức huy động phù hợp để lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất. 1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình SXKD, vốn kinh doanh được chia thành hai loại: Vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ). 1.1.3.1. Vốn cố định. Muốn tiến hành SXKD, trước hết mọi DN phải có tư liệu lao động.Tư liệu lao động có nhiều loại như máy móc, thiết bị nhà xưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc...Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình SXKD của DN là các TSCĐ. Để hình thành các TSCĐ đòi hỏi DN phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là VCĐ của DN. "VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ mà đặc điểm của nó là tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD và hoàn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ hết thời gian sử dụng" VCĐ có vai trò rất quan trọng một mặt nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư kinh doanh của DN. Mặt khác VCĐ là số vốn ứng trước để mua sắm các TSCĐ nên quy mô của VCĐ nhiều hay ít nó quyết định đến quy mô TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất của DN. Song những đặc điểm kinh tế của TSCĐ lại ảnh hưởng chi phối đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển của VCĐ. Đặc điểm luân chuyển của VCĐ - VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD. Điều này do đặc điểm của 6 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ SXKD quyết định. - VCĐ dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ SXKD. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. - Sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Từ những đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi viêc quản lý VCĐ phải kết hợp vừa quản lý theo giá trị và vừa quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của DN. 1.1.3.2. Vốn lưu động của doanh nghiệp Khi thực hiện SXKD ngoài tư liệu lao động, các DN còn phải có đối tượng lao động và sức lao động. Các đối tượng lao động như nguyên vật liệu, bán thành phẩm ...chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các TSLĐ, còn về hình thái giá trị được gọi là VLĐ của DN. " VLĐ là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN thực hiện được thường xuyên, liên tục. VLĐ chuyển dịch giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần 7 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hoàn sau một chu kỳ kinh doanh." Đặc điểm của VLĐ - Trong quá trình SXKD, VLĐ dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới. - VLĐ tham gia vào một chu kỳ SXKD, luôn thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vốn sản xuất như vật tư, hàng hoá và kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm, VLĐ lại trở về hình thái ban đầu vốn tiền tệ. Sự vận động của VLĐ từ hình thái ban đầu qua các hình thái khác đến khi trở về hình thái ban đầu gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Do quá trình SXKD của DN diễn ra thường xuyên, liên tục nên sự tuần hoàn của VLĐ cũng lặp đi lặp lại có tính chu kỳ. - VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi DN tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng. Từ những đặc điểm đó công tác quản lý VLĐ được quan tâm, chú ý từ việc xác định nhu cầu VLĐ cần thiết, huy động nguồn tài trợ và sử dụng vốn phải phù hợp sát với tình hình thực tế SXKD. Đặc điểm của TSLĐ và đặc điểm luân chuyển của VLĐ đã chi phối đến công tác quản lý, sử dụng VLĐ. Muốn quản lý và sử dụng hiệu quả VLĐ cần thực hiện tốt hai biện pháp sau: + Trọng điểm của quản lý VLĐ là tăng cường luân chuyển VLĐ qua các giai đoạn của chu kỳ SXKD. + Thực hiện phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau nhằm đánh giá sự hợp lý của cơ cấu VLĐ, từ đó có biện pháp đảm bảo sự phù hợp của 8 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính cơ cấu VLĐ. Để quản lý VLĐ được tốt cần phải phân loại VLĐ. Dựa theo các tiêu thức khác nhau có thể chia VLĐ thành các loại khác nhau : Dựa theo hình thái biểu hiên của vốn :  Vốn bằng tiền và các khoản phải thu.  Vốn về hàng tồn kho. Dựa theo vai trò VLĐ đối với quá trình SXKD:  Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất.  Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất.  Vốn lưu động trong khâu lưu thông. Từ đặc điểm của VCĐ và VLĐ đòi hỏi công tác quản lý vốn của DN phải được quan tâm. Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ thì cần phải quản lý VCĐ trên cả hai mặt hình thái hiện vật và giá trị. Muốn quản lý tốt và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, DN phải quản lý trên tất cả các hình thái biểu hiện của nó. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn người ta chia ra làm hai loại: Vốn bằng tiền và vốn hiện vật: Vốn bằng tiền : Bao gồm tiền mặt, tiền tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, vốn trong thanh toán và các khoản đầu tư ngắn hạn. Ngoài ra vốn bằng tiền của DN còn bao gồm cả những giấy tờ có giá để thanh toán. Vốn bằng hiện vật : Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật như : Tài sản cố định, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành 9 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính phẩm, hàng hoá... 1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn kinh doanh. 1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. 1.2.1.1. Một số quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn là tiền đề vật chất để tiến hành hoạt động SXKD, là tiền đề xuyên suốt trong quá trình SXKD. Các DN muốn tồn tại và phát triển cần phải quan tâm đến việc quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Từ góc độ nhìn nhận khác nhau, quan điểm về hiệu quả sử dụng VKD cũng có cách hiểu khác nhau. Nhưng nói chung, việc sử dụng vốn có hiệu quả là nhằm đạt được kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với chi phí bỏ ra thấp nhất. Hiệu quả kinh tế được hiểu theo các góc độ khác nhau: Hiệu quả sử dụng VKD của DN đứng trên góc độ kinh tế: Là tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy có thể hiểu là với lượng vốn nhất định bỏ vào hoạt động SXKD sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng vốn không ngừng sinh sôi, tức là hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở hai mặt: bảo toàn vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh doanh, trong đó đặc biệt kết quả về sinh lời của đồng vốn. Bên cạnh đó, phải chú ý cả sự tối thiểu hoá lượng vốn và thời gian sử dụng vốn của DN. Kết quả sử dụng vốn phải thoả mãn được lợi ích của DN và các nhà đầu tư ở mức độ mong muốn cao nhất, đồng thời phải nâng cao được lợi ích xã hội. Trên góc độ quản trị TCDN: Ngoài mục tiêu LN, sử dụng VKD có hiệu quả còn phải đảm bảo an toàn, lành mạnh về mặt tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN trước mắt và trong tương lai. 10 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Đối với nhà đầu tư: cho rằng hiệu quả sử dụng vốn đánh giá thông qua tỷ suất sinh lời đòi hỏi mà DN có thể đáp ứng khi họ thực hiện đầu tư vào DN. Dù đứng trên quan điểm nào thì bản chất hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt của hiệu quả kinh doanh, là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, tài lực của DN để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với chi phí bỏ ra thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn của DN được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng huy động vốn, tốc độ luân chuyển vốn...Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để DN đứng vững và phát triển trên thị trường. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn DN phải đảm bảo các điều kiện sau: - Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để, tránh vốn nhàn rỗi, không sinh lời. - Phải sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý. - Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ, không để vốn bị thất thoát do quản lý không chặt chẽ. Ngoài ra DN phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục nhưng mặt hạn chế và phát huy ưu điểm của DN trong việc quản lý sử dụng vốn. 1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanhtrong điều kiện nền kinh tế thị truờng. Để tiến hành hoạt động SXKD đòi hỏi mỗi DN phải có một lượng vốn nhất định và để duy trì hoạt động hoạt động SXKD nên DN buộc phải bảo 11 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính toàn vốn. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều thành phần kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vấn đề tổ chức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng. Đây là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của DN, đồng thời giúp DN khẳng định và giữ vị trí của mình trong cạnh tranh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD luôn là vấn đề mà mỗi DN cần đặt lên hàng đầu, nó xuất phát từ các lý do sau: Thứ nhất: Xuất phát từ mục đích KD của DN Mỗi DN khi tham gia vào hoạt động SXKD đều hướng tới mục đích là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu dựa trên cơ sở nâng cao LN. Muốn vậy, đòi hỏi DN phải phối hợp tổ chức, thực hiện đồng bộ mọi hoạt động trong lĩnh vực SXKD. Trong đó vấn đề tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD có tính chất quyết định tới hiệu quả SXKD của DN. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho DN mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của DN.Khi đồng vốn được sử dụng có hiệu quả cũng đồng nghĩa với việc DN làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển được vốn, đó là cơ sở để tái sản xuất về chiều rộng và chiều sâu. Thứ hai: xuất phát từ vị trí, vai trò của VKD trong quá trình sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, sẽ không có bất cứ một hoạt động SXKD nếu không có vốn.Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm của mọi hoạt động kinh doanh, là nền tảng vật chất để biến mọi ý tưởng kinh doanh thành hiện thực. Mặt khác vốn có vai trò định hướng cho hoạt động SXKD của DN. 12 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, trình độ trang thiết bị máy móc ngày càng cao làm cho năng suất lao động cao hơn đòi hỏi phải có lượng vốn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng này. Nó không chỉ có ý nghĩa giúp DN chủ động hơn trong SXKD mà còn giúp DN chớp được thời cơ, tạo lợi thế trong kinh doanh, nâng cao khả năng huy động các nguồn tài trợ, khả năng thanh toán của DN được đảm bảo, DN có đủ tiềm lực khắc phục những khó khăn, rủi ro trong kinh doanh. Muốn vậy DN cần phải có biện pháp thích hợp để tổ chức, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD. Thứ ba : Xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng VKD trong các DN Trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu về vốn SXKD của DN đều được huy động từ hai nguồn cơ bản: cấp phát của ngân sách nhà nước và vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi của Ngân hàng. Vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu cấp bách và sự sống còn đối với DN, vai trò của TCDN trở nên mờ nhạt. Điều này làm mất đi tính chủ động của các DN. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế cùng đan xen hoạt động, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi các DN phải chủ động khai thác nguồn vốn để đáp ứng nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu SXKD. Đồng thời các DN phải tự trang trải mọi chi phí, đảm bảo kinh doanh có lãi và sử dụng vốn phải có hiệu quả. Mặt khác trên thực tế mặc dù nhiều DN thích ứng được, làm ăn có lãi nhưng vẫn còn không ít các DN còn sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả, không bảo toàn được vốn. Những đòi hỏi đó bắt buộc các DN phải tiến hành quản lý vốn chặt chẽ và hiệu quả hơn vì sự tồn tại và phát triển của mình. 13 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Thứ tư: Xuất phát từ ý nghĩa đối với xã hội. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần tăng thu nhập cho người lao động, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế. Những phân tích trên thể hiện sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD.Sự cần thiết này không chỉ riêng đối với DN mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. 1.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. 1.2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VKD. Việc đánh giá hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn là nội dung quan trọng trong hoạt hoạt động tài chính của DN. Thông qua đó mà DN có những căn cứ để đưa ra các quyết định về mặt tài chính như điều chỉnh quy mô vốn và cơ cấu đầu tư, các biện pháp khai thác và tạo lập nguồn vốn từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 1.2.3.1.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả VKD. Để đánh giá một cách chung nhất về hiệu quả sử dụng VKD người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: * Vòng quay TS hay toàn bộ vốn: Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng TS hay toàn bộ vốn hiện có của DN. Doanh thu thuần Vòng quay toàn bộ vốn = VKD bình quân * Tỷ suất LNST trên doanh thu ( hay hệ số lãi ròng) : Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa LNST và doanh thu thuần (DTT) trong kỳ. Nó thể hiện một đồng doanh thu trong kỳ có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận 14 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu = Doanh thu trong kì * Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên VKD ( hay Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản ROAE ) : Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn kinh doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc vốn kinh doanh. Lợi nhuận trước lãi vay và thuế Tỷ suất lợi nhuận VKD = VKD bình quân * Tỷ suất lợi nhuân trước thuế trên VKD : Thể hiện mỗi đồng VKD trong kỳ có khả năng sinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước (sau thuế) sau khi đã trừ đi tiền lãi vay. Lợi nhuận trước ( sau thuế ) Tỷ suất lợi nhuận VKD = VKD bình quân sử dụng trong kì * Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu : Phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân 1.2.3.1.2. Ngoài ra các chỉ tiêu trên ta còn dùng hệ số nợ, và các hệ số về khả năng thanh toán để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN. Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Để đánh giá hiệu quả riêng của từng loại vốn ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu sau. 15 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính 1.2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ Để đánh giá hiệu quả tổ chức và sử dụng VCĐ cần xác định đúng đắn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ và TSCĐ của DN, gồm các chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích +Các chỉ tiêu tổng hợp * Hiệu suất sử dụng VCĐ: Phản ánh cứ một đồng VCĐ có thể tham gia tạo ra bao nhiêu đồng DTT trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ Hiệu suất sử dụng vốn cố định = VCĐ bình quân trong kỳ VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ VCĐ = 2 * Hàm lượng VCĐ: là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ, phản ánh số VCĐ cần thiết để tạo ra một đồng DTT trong kỳ * Hệ số huy động VCĐ : Phản ánh mức độ huy động VCĐ hiện có vào hoạt động SXKD trong kỳ của DN. Số VCĐ đang dùng trong hoạt động SXKD Hệ số huy động VCĐ = Số VCĐ hiện có của doanh nghiệp + Các chỉ tiêu phân tích: * Hệ số hao mòn TSCĐ : Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong DN so với thời điểm đầu tư ban đầu Số tiền khấu hao lũy kế của TSCĐ ở thời điểm đánh giá 16 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Hệ số HMTSCĐ = Tổng nguyên giá TSCĐ tại thời điểm đánh giá * Hệ số sử dụng TSCĐ : Phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tham gia tạo được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kì * Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp: Phản ánh mức độ trang bị giá trị TSCĐ cho một công nhân sản xuất trực tiếp cao hay thấp. Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kì Hệ số trang bị TSCĐ = Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất 1.2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VLĐ. Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong các DN có thể sử dụng các chỉ tiêu sau đây: * Tốc độ chu chuyển của VLĐ : Có thể đo bằng hai chỉ tiêu : - Vòng quay VLĐ ( số lần luân chuyển VLĐ) : Phản ánh số lần luân chuyển VLĐ hay số vòng quay của VLĐ thực hiên được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm ). M L = VL Đ = VLĐ VLĐ đầu năm + vốn VLĐ cuối năm 2 hoặc VLĐ = VqI + VqII + Vq III+ VqIV 4 17 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hoặc VL Đ = VđqI 2 + Vcq I + Vcq II + VcqII I + Vcq IV 2 4 Trong đó: VqI, VqII, VqIII, VqIV VđqI : VLĐ bình quân các quý I, II, III, IV : VLĐ còn dư đầu quý I VcqI, VcqII, VcqIII, VcqIV : VLĐ cuối quý I, II, III, IV - Kỳ luân chuyển của VLĐ : Phản ánh số ngày bình quân cần thiết để VLĐ thực hiện được một lần luân chuyển N K = L Trong đó: K : Kỳ luân chuyển của VLĐ N : Số ngày trong kỳ L : Số lần chu chuyển của VLĐ *Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ chu chuyển: Phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ so sánh với kỳ gốc. Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: + Mức tiết kiệm tuyệt đối: VTK = M1 360 X K1 - VLĐ0 = VLĐ1 - VLĐ0 + Mức tiết kiệm tương đối 18 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09 Chuyên đề tốt nghiệp VTK = Học Viện Tài Chính M1 360 X K1 - K0 Hoặc VTK = M1 L1 - M1 L0 * Hàm lượng VLĐ: Là số VLĐ cần có để tạo ra một đồng DTT trong kỳ VLĐ bình quân trong kỳ Hàm lượng VLĐ = Doanh thu thuần trong kỳ 1.3. Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VKD. 1.3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng Vốn kinh doanh Hiệu quả sử dụng VKD là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hoạt động SXKD trong các DN và chịu sự tác động tổng hợp bởi nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Trong quá trình quản lý vốn các DN cần tính đến tác động của các nhân tố này để đưa ra biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả nhất. 1.3.1.1. Các nhân tố khách quan : Nhân tố khách quan là các nhân tố bên ngoài nhưng đôi khi đóng vai trò quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn của DN. - Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cho phép các DN có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn quản lý vĩ mô nền kinh tế và tạo hành lang pháp lý để các DN hoạt động trong 19 Đặng Hữu Hoàng CQ 44/11.09
- Xem thêm -