Tài liệu Thực trạng và triển vọng hợp tác việt trung trong khuôn khổ sáng kiến “một vành đai, một con đường”

  • Số trang: 162 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
thanhphoquetoi

Tham gia: 05/11/2015

Mô tả:

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................... 3 MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 5 1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 5 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................. 6 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 10 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 11 5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 11 6. Đóng góp của đề tài .......................................................................................... 12 7. Kết cấu của luận văn......................................................................................... 12 Chƣơng 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỢP TÁC VIỆT - TRUNG TRONG KHUÔN KHỔ SÁNG KIẾN "VÀNH ĐAI, CON ĐƢỜNG" ............................. 13 1.1. Khái quát sự ra đời và phát triển của sáng kiến "Vành đai, con đường" của Trung Quốc ............................................................................................................... 13 1.1.1. "Vành đai, con đường" - sáng kiến, chiến lược mang tính toàn cầu của Trung Quốc ............................................................................................................... 13 1.1.2. Những kết quả bước đầu và hạn chế trong triển khai sáng kiến "Vành đai, con đường" giai đoạn 2013-2019 ........................................................... 18 1.2. Các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến sự hình thành hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ sáng kiến "Vành đai, con đường" ................................................. 22 1.2.1. Nhân tố ngoại sinh...................................................................................... 22 1.2.2. Nhân tố nội sinh.......................................................................................... 25 Tiểu kết chương 1 .................................................................................................... 29 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HỢP TÁC VIỆT - TRUNG TRONG KHUÔN KHỔ SÁNG KIẾN "VÀNH ĐAI, CON ĐƢỜNG" .............................................................. 30 2.1. Kết nối chính sách .............................................................................................. 30 2.2. Kết nối thương mại ............................................................................................ 35 2.3. Kết nối CSHT và đầu tư..................................................................................... 40 2.4. Kết nối tài chính-tiền tệ ..................................................................................... 50 2.5. Kết nối người dân .............................................................................................. 55 2.6. Hợp tác trên biển ................................................................................................ 60 Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 65 1 Chƣơng 3. ĐÁNH GIÁ HỢP TÁC VIỆT - TRUNG TRONG KHUÔN KHỔ SÁNG KIẾN "VÀNH ĐAI, CON ĐƢỜNG" ....................................................... 66 3.1. Thành tựu ........................................................................................................... 66 3.1.1. Về kết nối chính sách .................................................................................. 66 3.1.2. Về kết nối thương mại ................................................................................. 68 3.1.3. Về kết nối CSHT và đầu tư ......................................................................... 70 3.1.4. Về kết nối tài chính-tiền tệ .......................................................................... 73 3.1.5. Về kết nối người dân ................................................................................... 74 3.1.6. Về hợp tác trên biển.................................................................................... 75 3.2. Hạn chế ................................................................................................................ 78 3.3. Dự báo và khuyến nghị ...................................................................................... 83 3.3.1. Dự báo ........................................................................................................ 83 3.3.2. Khuyến nghị ................................................................................................ 87 Tiểu kết chương 3 .................................................................................................. 100 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 103 PHỤ LỤC ............................................................................................................... 135 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT Ý NGHĨA CHỮ VIẾT TẮT CSHT Cơ sở hạ tầng KCN Khu công nghiệp KHCN Khoa học công nghệ XHCN Xã hội chủ nghĩa TIẾNG ANH Ý NGHĨA CHỮ VIẾT TẮT ABC Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc ACFTA Khu mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á AIIB Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN+3 Cơ chế hợp tác giữa ASEAN với ba quốc gia Đông Bắc Á BFA Diễn đàn Châu Á-Bác Ngao BOC Ngân hàng Trung Quốc BOT Đầu tư xây dựng-kinh doanh-chuyển giao B&R Vành đai, con đường BRI Sáng kiến “Vành đai, con đường” BRICS Nhóm các nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi CABIS Hội nghị thượng đỉnh thương mại và đầu tư Trung Quốc-ASEAN CAEXPO Hội chợ Trung Quốc-ASEAN CBEZ Khu hợp tác kinh tế qua biên giới CCB Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc CDB Ngân hàng Phát triển Trung Quốc CEXIM Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc CIIE Hội chợ nhập khẩu quốc tế Trung Quốc CNY Đồng Nhân dân tệ COC Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông C/O Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa 3 CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CSG Công ty TNHH Lưới điện phương Nam Trung Quốc DOC Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông EAEU Liên minh kinh tế Á-Âu EPC Hợp đồng tổng thầu EU Liên minh Châu Âu EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài FOIP Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở FTA Hiệp định thương mại tự do GDP Tổng sản phẩm quốc nội GMS Chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng G20 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới ICBC Ngân hàng Công thương Trung Quốc IPP Dự án điện độc lập IVS Công ty cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam MLC Hợp tác Mê Công-Lan Thương MOU Bản ghi nhớ M&A Mua bán sáp nhập OBOR Một vành đai, một con đường ODA Hỗ trợ phát triển chính thức PBG Diễn đàn hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng PPP Hợp tác công tư RCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực SBV Ngân hàng Nhà nước SRF Quỹ con đường tơ lụa TCOB Hai hành lang, một vành đai VND Đồng/đơn vị tiền tệ Việt Nam VNCS Công ty cổ phần chứng khoán kiến thiết Việt Nam UNCLOS 1982 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 USD Đồng Đô la Mỹ WB Ngân hàng Thế giới WTO Tổ chức Thương mại Thế giới 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Sáng kiến “Một vành đai, một con đường” ( 一 带 一 路 /One Belt One Road/OBOR) do Trung Quốc đưa ra vào năm 2013, được Trung Quốc đổi tên thành sáng kiến “Vành đai, con đường” (The Belt and Road/B&R) vào năm 2016 khi dịch ra tiếng Anh (tên tiếng Trung vẫn là 一带一路). Theo đó, sáng kiến B&R (The Belt and Road Initiative) gọi tắt là BRI. B&R là tên gọi tắt của “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa” (The Silk Road Economic Belt) và “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” (The 21st-century Maritime Silk Road). Về bản chất, BRI là chiến lược mở cửa đối ngoại của Trung Quốc trong thời kỳ mới. BRI đã từ “đồng thuận toàn cầu” trở thành “hành động toàn cầu” với dấu mốc là Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế B&R lần thứ nhất hồi tháng 5/2017. Trung Quốc cho rằng, việc triển khai BRI đã đạt được rất nhiều thành quả trong 6 năm qua. Tính đến hết năm 2019, Trung Quốc đã ký kết 199 văn kiện hợp tác xây dựng B&R với 137 quốc gia và 30 tổ chức quốc tế [243] [249]. Tuy nhiên, dư luận quốc tế và Việt Nam cũng có ý kiến đa chiều về mục đích, ý đồ của Trung Quốc cũng như chất lượng, hiệu quả của hợp tác B&R. Trung Quốc coi Đông Nam Á (gồm Việt Nam) là phương hướng ưu tiên triển khai BRI, thể hiện qua việc Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình chọn Indonesia làm nơi công bố Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21. Quan hệ ViệtTrung đang được thúc đẩy phát triển theo phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, tạo thuận lợi cho hai nước tăng cường hợp tác về mọi mặt, bao gồm hợp tác B&R. Tháng 5/2017, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định, Việt Nam là đối tác B&R quan trọng. Đến nay, hai bên đã đạt được một số đồng thuận, thỏa thuận về hợp tác B&R, điển hình là đã ký kết Bản ghi nhớ (MOU) về thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ “Hai hành lang, Một vành đai” (Two Corridors One Circle/TCOB) và BRI (11/2017), tiến hành định hướng chính trị và tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác B&R giữa hai nước. Tuy nhiên, hợp tác B&R giữa Việt-Trung còn tồn tại nhiều vấn đề. Nghiên cứu hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI là một vấn đề mới, là một chủ đề nghiên cứu cần thiết và có ích dưới góc độ một xu hướng mới trong 5 quan hệ Việt-Trung. Điều này có lợi cho đánh giá toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn, những nhân tố tác động, thực tiễn triển khai, những điều kiện thuận lợi, các cơ hội, cũng như những khó khăn, thách thức, từ đó dự báo triển vọng hợp tác và đưa ra những kiến nghị chính sách, giải pháp thích hợp cho Việt Nam trong hợp tác B&R với Trung Quốc thời gian tới. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tại Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về BRI của Trung Quốc, nhưng chưa nghiên cứu nhiều về hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI. 2.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Thời gian qua, nghiên cứu ở Việt Nam về BRI và hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI có một số điểm đáng chú ý sau: - Cùng với việc Trung Quốc triển khai BRI đã 6 năm, việc nghiên cứu về sáng kiến, chiến lược B&R của Trung Quốc đã và đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu như sau: + Đã có một số công trình nghiên cứu (sách, luận văn...) về BRI của Trung Quốc và đề cập đến hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI, hoặc liên quan đến kết nối chiến lược TCOB-B&R giữa Việt-Trung, chẳng hạn: (i) Sách “Vành đai, Con đường - Sáng kiến của Trung Quốc và Hàm ý chính sách đối với Việt Nam” của Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) (NXB Thế giới, 2017); (ii) Sách “Sáng kiến Vành đai-Con đường: Lựa chọn nào của Đông Nam Á?” của Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành (NXB Thế giới, 2019); (iii) Luận văn Thạc sỹ Chiến lược “Một vành đai, một con đường” của Trung Quốc và tác động với Việt Nam (2017) của Hoàng Thị Cẩm Vân, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội [183]; (iv) Sách “Con đường tơ lụa trên biển cho thế kỷ 21 của Trung Quốc và đối sách của Việt Nam” do PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng làm chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017); (v) Sách “Cơ chế hợp tác biên giới đất liền Việt-Trung” của Tiến sỹ Nguyễn Đình Liêm và các tác giả khác (NXB Công an Nhân dân, 2018)... + Đã có một số cuộc hội thảo khoa học về BRI của Trung Quốc như: (i) Tọa đàm “Sáng kiến Vành đai và Con đường: Cơ hội mới cho hợp tác Việt-Trung” do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Trung Quốc tổ chức vào ngày 25/8/2017 [176]; (ii) Hội thảo “Sáng kiến Vành đai - Con đường và hợp tác Việt-Trung” do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Trung 6 Quốc tổ chức vào ngày 14/11/2018; (iii) Tọa đàm khoa học quốc tế “Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc: Cơ hội và thách thức” do Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và Quỹ Konrad Adenauer Đức tổ chức vào ngày 6/10/2017; (iv) Hội thảo quốc tế “BRI của Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực” do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức vào ngày 15/7/2019; (v) Hội thảo “Quan hệ kinh tế - tài chính Việt Nam-Trung Quốc: thực trạng và triển vọng phát triển” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính-Bộ Tài chính tổ chức tại Hà Giang vào tháng 3/2019... + Đã có một số bài viết và trả lời phỏng vấn trên báo chí của các nhà nghiên cứu Việt Nam (GS.TS. Đỗ Tiến Sâm và PGS.TS. Phùng Thị Huệ - Viện nghiên cứu Trung Quốc; Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á; Tiến sỹ Trần Việt Thái và Tiến sỹ Lê Hải Bình - Học viện Ngoại giao...) đề cập ít nhiều đến BRI của Trung Quốc và hợp tác B&R giữa Việt-Trung. - Các công trình nghiên cứu ở trong nước có một số đặc điểm sau: + Những nghiên cứu về BRI của Trung Quốc: Các nhà nghiên cứu đã đánh giá, phân tích về sự hình thành, những nét chính về BRI, đặc biệt là các mục tiêu, ý đồ, lĩnh vực, cơ chế, cách thức triển khai BRI của Trung Quốc, về các tác động địa kinh tế, địa - chiến lược của BRI đối với Trung Quốc và các nước đối tác, về thành quả triển khai BRI trong 6 năm qua. + Những nghiên cứu về hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI: Một số công trình nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến các tác động, ảnh hưởng từ BRI đối với Việt Nam; chỉ ra vị trí của Việt Nam trong BRI, các cơ hội, thuận lợi, triển vọng cùng các khó khăn, thách thức, nguy cơ, thực trạng; đưa ra những hàm ý, kiến nghị chính sách cho Việt Nam. Tuy nhiên, ít có các công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hợp tác B&R giữa Việt-Trung. Hiện chưa có luận án, luận văn và khóa luận nào chọn hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI làm đề tài; chưa có công trình nào nghiên cứu hợp tác B&R giữa Việt-Trung theo hướng tiếp cận sâu từ quan điểm của phía Trung Quốc. Ít có các công trình nghiên cứu trong nước đi sâu đánh giá cơ sở hình thành, làm rõ thực trạng, dự báo và đưa các các nhóm giải pháp đồng bộ, toàn diện, hiệu quả để thúc đẩy hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI. 2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Đến nay, giới nghiên cứu Trung Quốc đã nghiên cứu có hệ thống về BRI và thực tiễn triển khai BRI của Trung Quốc, đáng chú ý: (i) Sách “Tập Cận Bình bàn 7 về B&R” của Viện nghiên cứu lịch sử Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (NXB Văn hiến Trung ương Trung Quốc, 2018); (ii) Sách “BRI: Sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ mang đến cho thế giới điều gì” của Giáo sư Vương Nghĩa Nguy Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Nhân dân Trung Quốc (NXB Thế giới mới, Trung Quốc, 2017); (iii) Sách “B&R dưới góc nhìn toàn cầu” của nhà nghiên cứu Vương Linh Quế và Tiến sỹ Triệu Giang Lâm (NXB Văn hiến Khoa học xã hội Trung Quốc, 2017); (iv) Sách “B&R: Sự trỗi dậy văn minh của Trung Quốc” của Giáo sư Triệu Lỗi - Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế - Trường Đảng Trung ương - Đảng Cộng sản Trung Quốc (NXB China Citic Press, 2017); (v) Sách “Sách xanh: Báo cáo nghiên cứu Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21 (2018-2019)” của Giả Ích Dân và nhiều tác giả (NXB Văn hiến Khoa học xã hội Trung Quốc, 2019); (vi) Sách “Báo cáo thường niên phát triển mở cửa ven biên Trung Quốc 2018” của Lý Quang Huy và nhiều tác giả (NXB Khoa học Kinh tế, Trung Quốc, 2018); (vii) Sách “BRI và mở cửa, ổn định và phát triển của biên cương tây nam” của tác giả Lâm Văn Huân và Trịnh Vĩnh Niên (NXB văn hiến khoa học xã hội, Trung Quốc, 2017)... Ngoài ra, báo chí Trung Quốc cũng thường xuyên có bài viết tuyên truyền về BRI. Trong khi đó, giới nghiên cứu quốc tế ngoài Trung Quốc cũng rất quan tâm đến BRI của Trung Quốc, trong đó giới nghiên cứu phương Tây thường chú ý đến ý đồ chiến lược của Trung Quốc trong triển khai BRI. Dưới góc nhìn của lý thuyết quan hệ quốc tế, những công trình nghiên cứu, những bài viết đánh giá, nhận định như vậy rất có ích cho việc nhìn nhận rõ bản chất, ý đồ, mục tiêu chiến lược... của Trung Quốc trong triển khai BRI. Mặc dù BRI của Trung Quốc đã được nghiên cứu có hệ thống và chiều sâu, nhưng giới nghiên cứu Trung Quốc và quốc tế lại có rất ít những công trình nghiên cứu sâu sắc và được công bố về hợp tác B&R giữa Việt-Trung. Thông tin, đánh giá, nhận định về hợp tác B&R giữa Việt-Trung chỉ có thể thấy được từ các bài viết đưa tin về chuyến thăm lẫn nhau của nhà lãnh đạo, quan chức cấp cao hai nước, trong các Tuyên bố chung, các bài viết riêng lẻ phản ánh về từng nội dung cụ thể của hợp tác B&R giữa hai bên, chỉ ra một số giải pháp cho Trung Quốc triển khai BRI tại Việt Nam. Nhưng, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá, nhận định, dự báo về hợp tác B&R giữa Việt-Trung một cách có hệ thống và có chiều sâu. Trong khi đó, giới nghiên cứu phương Tây thường cảnh báo Việt Nam về các ý đồ, mục đích của Trung Quốc trong triển khai BRI. 8 2.3. Nhận xét Tình hình nghiên cứu BRI và hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI cả ở trong và ngoài nước có một số điểm đáng chú ý sau: - Các công trình nghiên cứu này đã đem lại một cái nhìn toàn diện về BRI, cho thấy Trung Quốc đang đẩy mạnh triển khai một chiến lược mang tính toàn cầu, với tham vọng to lớn cả về kinh tế và chiến lược, nhất là khi Trung Quốc đang đẩy mạnh triển khai ngoại giao nước lớn đặc sắc Trung Quốc thời đại mới, hướng tới thực hiện “giấc mơ Trung Quốc”, nhưng đang đối mặt với những thách thức to lớn từ chủ nghĩa đơn phương và chủ nghĩa bảo hộ, từ chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP) của Mỹ. Các công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ ý đồ chiến lược, các mục tiêu, nội dung, cơ chế, phương thức, thành quả, hạn chế, nguy cơ, thách thức... trong triển khai BRI của Trung Quốc, những tác động, ảnh hưởng đến quốc tế, khu vực và Việt Nam. - Những công trình nghiên cứu này đã ít nhiều đề cập đến hợp tác B&R giữa Việt-Trung. Đáng chú ý: Theo báo chí Trung Quốc, các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam như GS.TS. Đỗ Tiến Sâm và PGS.TS. Phùng Thị Huệ, cùng với Tiến sỹ Lê Hải Bình, Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam đã bày tỏ ủng hộ BRI, cho rằng hợp tác B&R giữa Việt-Trung có tiềm năng trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại và đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT), nông nghiệp, bảo vệ môi trường, y tế, xây dựng các Khu hợp tác kinh tế qua biên giới (CBEZ)... Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu này khuyến nghị hợp tác B&R phải có nguyên tắc, coi trọng xây dựng lòng tin trước, phải bảo đảm thực sự đạt được “cùng có lợi, cùng thắng”, chia sẻ thành quả thực tế, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực [201] [205] [228] [229] [240] [248]. Trong khi đó, tại Hội thảo quốc tế “BRI của Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực” ngày 15/7/2019 ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, một số nhà nghiên cứu Việt Nam trong đó có PGS.TSKH. Võ Đại Lược đã nhấn mạnh đến các nguy cơ, thách thức của Việt Nam khi tham gia BRI trên các phương diện như: bẫy nợ, cơ chế giải quyết tranh chấp bị Trung Quốc chi phối, tiêu chuẩn kỹ thuật do Trung Quốc áp đặt, sử dụng lao động Trung Quốc trong các dự án, ý đồ chính trị, quân sự của Trung Quốc trong hợp tác B&R, độ minh bạch kém... Đồng quan điểm này, Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành và Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp cho rằng, Việt Nam đã tham 9 gia hợp tác B&R một cách rất thận trọng, vì phải mất 2 năm đàm phán, hai bên mới ký được MOU về hợp tác B&R. Quan điểm của Việt Nam về BRI được đưa ra dựa trên những cân nhắc chiến lược, an ninh nhiều hơn nhu cầu kinh tế. Việt Nam lo ngại lệ thuộc quá mức vào Trung Quốc, từ đó tác động tiêu cực đến chủ quyền và quyền lợi biển của Việt Nam. Việt Nam còn lo ngại hợp tác B&R có thể nảy sinh các vấn đề tiêu cực như về lao động, môi trường, độ minh bạch, bẫy nợ, công nghệ lạc hậu. Ngoài ra, về lâu dài, việc Trung Quốc thúc đẩy xây dựng mạng lưới giao thông vận tải kết nối với các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia và Myanmar sẽ làm giảm vị thế kinh tế của Việt Nam [154, tr. 271-273] [81] [225]. Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc như Tiến sỹ Hoàng Nhật Hàm và Thạc sỹ Nghê Xuân Lệ, Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Hoa kiều, Trung Quốc cho rằng, do tác động từ sự thay đổi của quan hệ Việt-Trung và tình hình khu vực, quốc tế theo thời gian, thái độ tổng thể của Việt Nam đối với BRI đã chuyển từ “liên tục né tránh” đến “thận trọng hoan nghênh” (năm 2015) rồi “hợp tác rõ ràng” (năm 2017) [2] [225]. Còn Tiến sỹ Dương Đan Chí, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng, hiện nay, thái độ chính thức của Việt Nam đối với hợp tác B&R đã chuyển sang tích cực, vai trò của Việt Nam trong BRI thời gian tới sẽ ngày càng nổi bật. Việt Nam muốn tận dụng cơ hội từ sự phát triển của Trung Quốc để đẩy nhanh phát triển kinh tế [308]. Tuy nhiên, hợp tác B&R giữa Việt-Trung chưa được nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào ở cả Việt Nam và nước ngoài; chỉ xuất hiện rải rác, lẻ tẻ trong sách, báo của Việt Nam, Trung Quốc và các nước. Để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, có hệ thống hơn về cơ sở hình thành, thực trạng, những cơ hội, thuận lợi, khó khăn, thách thức, dự báo triển vọng và đưa ra các khuyến nghị chính sách đầy đủ hơn cho hợp tác B&R giữa Việt-Trung, đòi hỏi phải tiếp tục sử dụng các lý thuyết quan hệ quốc tế cũng như các lý luận khoa học khác để khái quát thực tiễn triển khai hợp tác B&R giữa Việt-Trung thời gian qua. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu: Đánh giá toàn diện, có hệ thống và thực chất hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI, làm rõ những thành tựu, hạn chế trong hợp tác xây dựng B&R giữa hai nước; dự báo về những triển vọng hợp tác; đưa ra những kiến nghị chính sách đối với Việt Nam trong quá trình hợp tác B&R với Trung Quốc. 10 Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu làm rõ cơ sở hình thành hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI; - Nghiên cứu mục tiêu hợp tác của Việt Nam và Trung Quốc; - Nghiên cứu làm rõ thực trạng triển khai hợp tác trên các phương diện, dự báo chính xác triển vọng hợp tác B&R giữa Việt-Trung thời gian tới; - Nêu lên những kiến nghị chính sách đối với Việt Nam trong hợp tác B&R với phía Trung Quốc thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI. - Phạm vi nghiên cứu: Hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI từ năm 2013 - 2019. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Về phương pháp luận: Sử dụng tổng hợp các lý thuyết quan hệ quốc tế để luận giải các nội dung của luận văn. Trong đó, sử dụng các luận điểm chính của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa kiến tạo để làm rõ những lợi ích, cơ hội, điều kiện thuận lợi của hợp tác cùng có lợi, cùng thắng giữa Việt-Trung trong khuôn khổ BRI. Sử dụng các luận điểm của chủ nghĩa hiện thực để tập trung làm rõ mục đích, ý đồ của Trung Quốc trong triển khai BRI tại Việt Nam, nhất là khả năng gia tăng lệ thuộc của kinh tế Việt Nam vào kinh tế Trung Quốc, những tác động, ảnh hưởng tiêu cực nếu như thúc đẩy hợp tác B&R một cách xuôi chiều, không chú ý đến an ninh quốc gia, đặc biệt là liên quan đến các địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh và vấn đề Biển Đông. Chủ nghĩa Mác-xít mới cũng sử dụng để làm rõ mối quan hệ giữa “trung tâm” và “ngoại vi”, thể hiện rõ qua quan hệ giữa nước lớn Trung Quốc với nước nhỏ Việt Nam, khả năng Trung Quốc thông qua hợp tác B&R với Việt Nam để tăng cường kiểm soát Việt Nam, nhất là về kinh tế. Sử dụng lý thuyết trò chơi để phân tích các tính toán, lựa chọn chiến lược và chính sách cụ thể của Trung Quốc và Việt Nam với đối phương. Đồng thời, luận văn còn coi trọng vận dụng tốt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, dựa trên các quan điểm như khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, thực tiễn và phát triển. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội trong đó có phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp hệ 11 thống, phương pháp định tính và định lượng, phương pháp so sánh, phân tích tư liệu, phân tích theo bốn cấp độ (quốc tế, khu vực, trong nước và cá nhân), phân tích lợi ích, phân tích tác động, phân tích xung đột quốc tế, phân tích quyền lực, phân tích chính sách, dự báo… Ngoài ra, luận văn còn vận dụng phương pháp Truy nguyên (Process Tracing), tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở hình thành hợp tác B&R giữa Việt-Trung, làm rõ mục đích, ý đồ của Trung Quốc trong triển khai BRI ở Việt Nam. Theo đó, tác giả sử dụng các tài liệu sách báo tiếng Trung được Trung Quốc coi là chính thống, do Nhà nước Trung Quốc công bố hoặc cho phép công bố. 6. Đóng góp của đề tài - Ý nghĩa khoa học của đề tài: Nghiên cứu hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ BRI từ các giác độ khác nhau, nhằm đảo bảo tính khách quan của công trình nghiên cứu; tập trung vào nghiên cứu, làm rõ cơ sở hình thành, thực trạng triển khai hợp tác B&R trên các lĩnh vực, dự báo triển vọng hợp tác B&R giữa Việt-Trung, đồng thời đưa ra kiến nghị giải pháp cho Việt Nam. - Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Luận văn mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc gợi mở, đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam trong hoạch định và thực thi chính sách thúc đẩy hợp tác thực sự cùng có lợi, cùng thắng, có hiệu quả với Trung Quốc trong khuôn khổ BRI, thực hiện tối đa hóa lợi ích, nhưng vẫn bảo đảm vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở hình thành hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai, con đường”. Chương 2: Thực trạng hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai, con đường”. Chương 3: Đánh giá hợp tác Việt-Trung trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai, con đường”. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỢP TÁC VIỆT - TRUNG TRONG KHUÔN KHỔ SÁNG KIẾN “VÀNH ĐAI, CON ĐƢỜNG” 1.1. Khái quát sự ra đời và phát triển của sáng kiến “Vành đai, con đƣờng” của Trung Quốc 1.1.1. “Vành đai, con đường” - sáng kiến, chiến lược mang tính toàn cầu của Trung Quốc - BRI vừa là sáng kiến, vừa là chiến lược mang tính toàn cầu của Trung Quốc: Sáng kiến “Một vành đai, một con đường” (“一带一路”) ban đầu được Trung Quốc dịch ra tiếng Anh là “One Belt One Road” (OBOR). Nhưng, do lo ngại bị quốc tế hiểu nhầm OBOR chỉ có một vành đai và một con đường, nên đến năm 2016 sáng kiến này đã được Trung Quốc dịch thành “The Belt and Road Initiative” (BRI, hay B&R Initiative), tức sáng kiến “Vành đai, con đường”. Nhưng, trong tiếng Trung, Trung Quốc vẫn nhất quán gọi sáng kiến này là “一带一路”; tại Việt Nam, các cơ quan Nhà nước cũng chưa sử dụng thống nhất tên gọi sáng kiến này. BRI là sáng kiến do Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra từ năm 2013. Xây dựng B&R là một nội dung quan trọng của Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới [155] [156] [280]. Trong đó: Xây dựng “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa” là một đại chiến lược thực hiện cục diện cân bằng mở cửa của Trung Quốc, có các hàm ý hoàn toàn mới, mở rộng kết nối giữa Trung Quốc với bên ngoài. Còn xây dựng “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” chú trọng đi sâu mở cửa duyên hải, xây dựng vành đai phát triển hợp tác trên biển. Trên cơ sở đó, Trung Quốc tìm cách thúc đẩy hình thành một cục diện mới “mở cửa, hợp tác, an ninh và cùng có lợi” [313, tr. 1-2]. B&R thực chất là chiến lược mở cửa đối ngoại mới của Trung Quốc, thậm chí ngày càng thể hiện rõ là một chiến lược mang tính toàn cầu của Trung Quốc, thể hiện chiến lược nước lớn và ngoại giao nước lớn của Trung Quốc, hướng tới thực hiện “Giấc mơ Trung Quốc”. Trong nhiều tài liệu, sách báo của Trung Quốc, B&R đã được ghi rõ là “chiến lược”. Nhưng, Trung Quốc luôn gọi B&R là “sáng kiến” khi thúc đẩy hợp tác với các nước [149] [314]. Trung Quốc muốn khẳng định, những sáng kiến, phương án của Trung Quốc như BRI là để thúc đẩy mở cửa, hợp tác, phát triển và hòa bình, chứ không phải bành trướng, tranh bá hoặc thực dân; 13 không phải là Trung Quốc đưa ra “chiến lược”, rồi yêu cầu các đối tác thực hiện “chiến lược” của Trung Quốc. Trung Quốc đưa ra quan niệm phát triển hợp tác mới, mô hình toàn cầu hóa mới, khác với “trò chơi tổng bằng không”. Đây là cơ hội để Trung Quốc dẫn dắt sự phát triển của thế giới, khẳng định vai trò lãnh đạo toàn cầu trong thời đại mới. - Trung Quốc thúc đẩy hợp tác B&R theo nguyên tắc “cùng bàn, cùng xây, cùng hưởng”, tinh thần “cùng có lợi, cùng thắng”, hướng tới chất lượng cao: Trung Quốc khẳng định họ giương cao ngọn cờ “phát triển hòa bình”, đẩy mạnh phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với các nước đối tác B&R, xây dựng cộng đồng lợi ích, cộng đồng vận mệnh và cộng đồng trách nhiệm theo hướng “tin cậy về chính trị, hòa nhập về kinh tế, dung nạp về văn hóa”. Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh: “Mục đích của BRI là tập trung kết nối, đi sâu hợp tác thiết thực, chung tay ứng phó các rủi ro, thách thức của loài người, thực hiện cùng có lợi cùng thắng, cùng phát triển”. Trung Quốc chủ trương hợp tác B&R theo nguyên tắc “cùng bàn, cùng xây, cùng hưởng” và tinh thần “hợp tác hòa bình, mở cửa bao trùm, học hỏi lẫn nhau, cùng có lợi cùng thắng”, khởi xướng chủ nghĩa đa phương; thực hiện quan điểm “mở cửa, xanh, sạch”; thực hiện mục tiêu “tiêu chuẩn cao, cải thiện dân sinh, bền vững” [298]. Trung Quốc chủ trương xây dựng B&R chất lượng cao, xây dựng B&R thành “con đường hòa bình, con đường phồn vinh, con đường mở cửa, con đường xanh, con đường sáng tạo, con đường văn minh” đem lại lợi ích cho nhân dân các nước thuộc BRI [280]. - Trọng điểm hợp tác B&R là tập trung thúc đẩy kết nối “Ngũ thông” [211] kết nối trên 05 lĩnh vực chính: Về kết nối chính sách: Trung Quốc muốn tăng cường hợp tác liên chính phủ, xây dựng cơ chế trao đổi chính sách vĩ mô liên chính phủ nhiều cấp độ, tăng cường hội nhập lợi ích, thúc đẩy lòng tin chính trị, đạt được đồng thuận mới. Thúc đẩy các nước đối tác kết nối chặt chẽ về chiến lược và đối sách phát triển kinh tế, cùng xây dựng quy hoạch và biện pháp thúc đẩy hợp tác khu vực, bàn bạc giải quyết các vấn đề hợp tác, cung cấp hỗ trợ chính sách cho thực hiện các dự án lớn. Về kết nối CSHT: Trung Quốc coi đây là lĩnh vực ưu tiên của xây dựng B&R, chủ trương tăng cường kết nối với các nước về quy hoạch xây dựng CSHT, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, xây dựng các tuyến đường quốc tế quan trọng, từng bước hình thành mạng lưới CSHT kết nối các tiểu vùng của Châu Á và giữa Á-Âu14 Phi. Tăng cường xây dựng, vận hành, quản lý xanh đối với CSHT. Thúc đẩy cơ chế phối hợp thống nhất về vận tải, kết nối thông quan và vận tải đa phương thức, xây dựng quy tắc vận tải mới. Đẩy mạnh kết nối cảng biển và hàng không; tăng cường kết nối CSHT năng lượng, kết nối hạ tầng thông tin. Về kết nối thương mại và đầu tư: Trung Quốc coi hợp tác thương mại và đầu tư là nội dung trọng điểm của xây dựng B&R; thúc đẩy phát triển chất lượng cao kết nối thương mại, tự do hóa, tiện lợi hóa thương mại và đầu tư; hợp tác bảo vệ hệ thống thương mại tự do toàn cầu và nền kinh tế thế giới mở; phản đối chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa đơn phương; thúc đẩy ký kết các thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại, hiệp định thương mại tự do (FTA), thỏa thuận khung hợp tác, hiệp định hợp tác và tương trợ, MOU, Cương yếu Quy hoạch trung và dài hạn... lần lượt với các nước đối tác, không ngừng tăng cường đầu tư ngành nghề, trao đổi thương mại và hợp tác kinh tế, tăng cường hợp tác hải quan, thuế và kiểm toán, loại bỏ những trở ngại đầu tư và thương mại, thực hiện kết nối, hợp tác với các nước đối tác về nhân lực, vật lực, tài lực, hàng hóa. Trung Quốc coi trọng phát huy vai trò của Hội chợ nhập khẩu quốc tế Trung Quốc (CIIE), mở rộng quy mô thương mại và đầu tư song phương, đa phương; tăng cường xây dựng khu hợp tác năng lực sản xuất, thúc đẩy phát triển các khu hợp tác kinh tế thương mại ngoài nước, thúc đẩy xây dựng các CBEZ. Về kết nối tài chính-tiền tệ: Trung Quốc chủ trương phát triển chất lượng cao về kết nối tài chính, xây dựng và kiện toàn hệ thống tài chính đa dạng “lâu dài, ổn định, bền vững và có thể kiểm soát rủi ro”. Bảo đảm kênh cung cấp vốn đa dạng, hiệu quả cho các dự án B&R thông qua tiến hành hợp tác thường xuyên với các tổ chức phát triển đa phương của một số tổ chức quốc tế và một số tổ chức ngân hàng, tài chính của các nước đối tác B&R. Chẳng hạn, sử dụng Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc-ASEAN để hỗ trợ xây dựng Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21; sử dụng Quỹ con đường tơ lụa (SRF), Ngân hàng phát triển mới (NDB) của Nhóm các nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới (BRICS) và Ngân hàng đầu tư CSHT Châu Á (AIIB)... Thời gian tới, Trung Quốc chủ trương tiếp tục phát huy vai trò của các khoản vay đặc biệt B&R (của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc-CDB, Ngân hàng Xuất nhập Khẩu-CEXIM, Trung Quốc), SRF và các quỹ đầu tư đặc biệt, phát triển trái phiếu chủ đề Con đường tơ lụa, tận dụng tốt các trung tâm hợp tác tài chính phát triển đa phương để xây dựng B&R; xây dựng hệ thống tài chính ổn định, bền vững, sáng tạo mô hình đầu tư và tài chính mới, mở rộng hợp tác vốn chính phủ và 15 xã hội, xây dựng hệ thống tài chính và thị trường vốn đa dạng, phát triển tài chính bao trùm, hoàn thiện mạng lưới dịch vụ tài chính; khuyến khích triển khai hợp tác thị trường bên thứ ba, thực hiện nhiều bên cùng có lợi [280] [298]. Mở rộng phạm vi và quy mô giao dịch hoán đổi và thanh toán bằng đồng bản tệ. Về kết nối người dân: Trung Quốc tuyên bố muốn kết nối chặt chẽ giữa “giấc mơ Trung Quốc” với “giấc mơ” của nhân dân các nước đối tác, xây dựng cơ sở xã hội tốt đẹp cho hợp tác B&R, thúc đẩy toàn diện giao lưu, hợp tác giữa các nền văn minh, xây dựng cục diện giao lưu nhân văn mới. Đi sâu triển khai hợp tác nhân văn trên các lĩnh vực như giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, du lịch, y tế, khảo cổ; tăng cường giao lưu nghị viện, chính đảng và giao lưu nhân dân, xây dựng và phát huy tốt vai trò của các kênh đối thoại, hợp tác đa phương B&R. Đi sâu hợp tác sáng tạo, cùng tìm kiếm công nghệ mới, định chế mới, mô hình mới, động lực tăng trưởng và con đường phát triển mới. Thúc đẩy xây dựng con đường tơ lụa xanh, tăng cường hợp tác quốc tế ứng phó biến đổi khí hậu, hợp tác biển, chống sa mạc hóa... - Trung Quốc tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho triển khai BRI trong dài hạn: Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình coi xây dựng B&R là một “công trình thế kỷ” [284], đã tích cực thể chế hóa sáng kiến này. Trung Quốc đã đưa BRI vào các Nghị quyết lãnh đạo và Điều lệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Đại hội XIX hồi tháng 10/2017 [285] [286]. Qua đó, Trung Quốc khẳng định tầm quan trọng của BRI, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong triển khai BRI, tạo cơ sở cho thúc đẩy hợp tác B&R lâu dài với các nước, thúc đẩy xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới. Trung Quốc còn coi hợp tác B&R là con đường thực tiễn quan trọng của xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại. Trung Quốc khẳng định, hợp tác B&R phù hợp với mục tiêu xây dựng hệ thống quản trị toàn cầu “công bằng, bình đẳng, mở cửa, bao trùm” của cộng đồng quốc tế, là phương án Trung Quốc thúc đẩy xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại, xây dựng một thế giới “hòa bình lâu dài, an ninh phổ biến, phồn vinh chung, mở cửa bao trùm, xanh sạch đẹp” [280] [305] [314]. Báo cáo “Sáng kiến cùng xây dựng B&R: Tiến triển, đóng góp và triển vọng” do Văn phòng Tiểu ban lãnh đạo công tác thúc đẩy xây dựng B&R/Quốc vụ viện Trung Quốc công bố ngày 22/4/2019 cũng khẳng định, hợp tác B&R hướng tới xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại [297]. Hơn nữa, nội dung “thúc đẩy xây dựng 16 Cộng đồng vận mệnh nhân loại” cũng đã được đưa vào Hiến pháp Trung Quốc (3/2018), được Trung Quốc khởi xướng xây dựng tại trụ sở Liên hợp quốc ngày 8/1/2017. Trung Quốc muốn xây dựng B&R thành kênh hợp tác quốc tế mới theo hướng “sáng kiến của Trung Quốc, các nước cùng xây dựng, vận hành theo cơ chế thị trường, toàn cầu cùng hưởng, xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại”, bảo đảm cho B&R chính là con đường thực tiễn quan trọng của xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại, xây dựng B&R cung cấp cơ chế thực hiện, hỗ trợ và tạo động lực thúc đẩy cho xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại; là thực tiễn vĩ đại của xây dựng Cộng đồng vận mệnh nhân loại [244] [327], trước hết tập trung vào hợp tác với các nước láng giềng [313, tr. 2-3]. - Để đẩy mạnh triển khai BRI, Trung Quốc tích cực sáng tạo hoặc tận dụng các cơ chế hợp tác song phương và đa phương [211], đáng chú ý: + Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế B&R là cơ chế hợp tác B&R ở cấp cao nhất, tổ chức 2 năm 1 lần; là kênh quan trọng để các nước và tổ chức quốc tế đi sâu trao đổi, tăng cường lòng tin, thắt chặt quan hệ. Đến nay, Diễn đàn đã tổ chức được 2 lần (5/2017, 4/2019), là những cột mốc quan trọng của hợp tác B&R. + Trung Quốc đặc biệt coi trọng sử dụng kênh hợp tác song phương với các nước, nhất là trao đổi cấp cao để triển khai BRI, ban đầu tập trung đẩy mạnh kết nối chính sách như ký kết các MOU hoặc quy hoạch hợp tác, xây dựng một loạt hình mẫu hợp tác song phương, tiến hành định hướng chính trị và tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác B&R; thiết lập và hoàn thiện các cơ chế công tác chung song phương, nghiên cứu các phương án, lộ trình hợp tác B&R. Phát huy tốt vai trò của các cơ chế song phương như ủy ban hỗn hợp, ủy ban chỉ đạo, ủy ban quản lý... + Trung Quốc nâng cấp cơ chế hợp tác song phương lên hợp tác đa phương, chẳng hạn nâng cấp “Con đường hướng Nam” (Trung Quốc-Singapore) thành “Con đường thương mại quốc tế trên bộ trên biển mới”, thúc đẩy kết nối chặt chẽ giữa Vành đai kinh tế con đường tơ lụa và Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21 [196] [295]. Đến ngày 15/8/2019, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia Trung Quốc (NDRC) thông báo đã ban hành “Quy hoạch tổng thể Con đường trên bộ trên biển mới phía Tây”, đã nâng Con đường trên bộ trên biển mới phía Tây lên thành chiến lược quốc gia [217]. + Trung Quốc đang tận dụng triệt để các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nhất là các cơ chế hợp tác do Trung Quốc khởi xướng hay đóng vai trò chủ 17 đạo... để triển khai BRI như Diễn đàn Châu Á Bác Ngao (BFA), hợp tác Mê Công Lan Thương (MLC), hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), Hội chợ Trung Quốc-ASEAN (CABIS) và Hội nghị thượng đỉnh thương mại và đầu tư Trung Quốc-ASEAN (CAEXPO), ASEAN+1, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), BRICS, các cơ chế hợp tác giữa Trung Quốc với Châu Phi, Trung và Đông Âu, Châu Mỹ Latinh, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20)... + Trung Quốc xây dựng các cơ chế, tổ chức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế B&R: Ngày 27/6/2018, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố “Ý kiến về việc thiết lập cơ chế và cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế B&R” [294]. Theo đó, Trung Quốc đã thành lập 2 Tòa án thương mại B&R có trụ sở lần lượt đặt tại Thâm Quyến (Quảng Đông) và Tây An (Thiểm Tây), Trung Quốc, ra mắt vào ngày 29/6/2018. Qua đây, Trung Quốc muốn cung cấp dịch vụ và bảo đảm tư pháp hiệu quả hơn cho thúc đẩy xây dựng B&R [259]. 1.1.2. Những kết quả bước đầu và hạn chế trong triển khai sáng kiến “Vành đai, con đường” giai đoạn 2013-2019 - Những kết quả bước đầu: Trong 6 năm qua (2013-2019), Trung Quốc đã tập trung nhiều nguồn lực để triển khai BRI, đạt được kết quả bước đầu. BRI đã từ ý tưởng chuyển hóa thành hành động, từ tầm nhìn chuyển hóa thành hiện thực, từ sáng kiến chuyển hóa thành “sản phẩm công toàn cầu”, từ khung hợp tác ban đầu đến “bức tranh chi tiết” hiện nay, đã bắt đầu đi theo hướng phát triển chất lượng cao [301] [307] [324]. Trung Quốc nhấn mạnh, BRI là một kênh để các bên thực hiện hợp tác cùng thắng [299], phạm vi hợp tác B&R mở rộng đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh, khu vực Caribe và Nam Thái Bình Dương… + Thành quả hợp tác B&R được thể hiện chủ yếu qua 02 lần Trung Quốc tổ chức Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế B&R: (1) Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế B&R lần thứ nhất (từ ngày 14-15/5/2017), có sự tham dự của 29 nhà lãnh đạo các nước, 03 nhà lãnh đạo các tổ chức quốc tế quan trọng, khoảng 1.500 khách các giới đến từ hơn 130 nước. Diễn đàn lần thứ nhất đạt được hơn 270 thành quả cụ thể, đã đưa BRI của Trung Quốc trở thành hành động toàn cầu; (2) Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế B&R lần thứ hai (từ ngày 25-27/4/2019) đã đưa BRI từ xây dựng 18 “khung cơ bản” sang “vẽ ra bức tranh chi tiết”. Diễn đàn lần thứ hai này có quy mô lớn hơn với sự tham dự của 38 nhà lãnh đạo các nước, Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Giám đốc Tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế, hơn 6.000 khách nước ngoài đến từ 150 quốc gia và 92 tổ chức quốc tế. Diễn đàn lần thứ hai đạt được 283 thành quả cụ thể, bao gồm các hiệp định hợp tác liên chính phủ, hợp tác trên các lĩnh vực như CSHT, thương mại, đầu tư. Trung Quốc và các nước đã ký kết trên 100 văn kiện hợp tác song phương trên các lĩnh vực giao thông, thuế, khoa học công nghệ (KHCN), văn hóa, học thuật, báo chí. Trung Quốc và một số nước, tổ chức quốc tế đã ký văn kiện hợp tác thị trường bên thứ ba [299]. Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế B&R đã trở thành một kênh để các nước đối tác và tổ chức quốc tế trao đổi, tăng cường lòng tin, thắt chặt quan hệ. Diễn đàn này được coi là có quy mô lớn, quy cách cao hơn các cơ chế hợp tác quốc tế hiện có như G20, APEC [280]. + Thành quả triển khai BRI được thể hiện trong Báo cáo “Sáng kiến cùng xây dựng B&R: Tiến triển, đóng góp và triển vọng” [297] [322]. Cụ thể: Về kết nối chính sách: (i) BRI đã được đưa vào các văn kiện quốc tế quan trọng như Tuyên bố Ufa của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) (7/2015), Thông cáo Hội nghị Thượng đỉnh G20 (9/2016), Nghị quyết Liên hợp quốc (11/2016), Nghị quyết 2344 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (3/2017), Tuyên bố đặc biệt về B&R giữa Trung Quốc - Châu Mỹ Latinh (22/1/2018), Tuyên bố hành động hợp tác xây dựng B&R giữa Trung Quốc và các nước Ả rập (10/7/2018), Tuyên bố Bắc Kinh về xây dựng Cộng đồng vận mệnh Trung Quốc-Châu Phi (4/9/2018)...; (ii) Số lượng các nước và tổ chức quốc tế ký kết văn kiện hợp tác liên Chính phủ về BRI tăng lên hàng năm. Tính đến cuối tháng 3/2019, Chính phủ Trung Quốc đã ký kết 173 văn kiện hợp tác với 125 nước và 29 tổ chức quốc tế. Các nước đối tác B&R đã từ Á-Âu mở rộng đến các khu vực như Châu Phi, Mỹ Latinh, Nam Thái Bình Dương; (iii) Hợp tác kết nối các lĩnh vực chuyên ngành B&R được thúc đẩy tích cực như thông qua Sáng kiến hợp tác quốc tế kinh tế số B&R, Kế hoạch hành động liên thông tiêu chuẩn B&R, Sáng kiến hợp tác thu thuế B&R, Tuyên bố chung về tiếp tục thúc đẩy hợp tác thiết thực quyền sở hữu trí tuệ B&R, Tuyên bố đồng Chủ tịch Diễn đàn quốc tế hợp tác pháp trị B&R, thiết lập quan hệ hợp tác năng lượng B&R, Tầm nhìn và hành động hợp tác nông nghiệp B&R, Ý tưởng hợp tác trên biển xây dựng B&R. Trung Quốc còn thành lập Tòa án quốc tế và cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế B&R. 19 Về kết nối CSHT: Việc xây dựng các hành lang và tuyến đường hợp tác kinh tế quốc tế đạt kết quả nhất định như Hành lang kinh tế “cầu đại lục Á-Âu mới”, Hành lang kinh tế Trung Quốc-Mông Cổ-Nga, Hành lang kinh tế Trung Quốc-Trung Á-Tây Á, Hành lang kinh tế Trung Quốc-bán đảo Đông Dương, Hành lang kinh tế Trung QuốcPakistan, Hành lang kinh tế Bangladesh-Trung Quốc-Ấn Độ-Myanmar. Mức độ kết nối CSHT tăng mạnh như hợp tác đường sắt (gồm đường sắt Trung-Lào), hợp tác đường ô tô (cầu đường bộ Bắc Luân II), hợp tác cảng biển như cảng Gwadar, cảng Piraeus, cảng Khalifa...; hợp tác hàng không, hợp tác xây dựng CSHT năng lượng, xây dựng hạ tầng thông tin. Về kết nối thương mại: Kết nối thương mại là nội dung quan trọng của hợp tác B&R. Hợp tác B&R đã làm cho mức độ tự do hóa, tiện lợi hóa của thương mại và đầu tư tăng lên. Quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, từ năm 2013-2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại hàng hóa giữa Trung Quốc với các nước đối tác trên 6.000 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hàng năm cao hơn tốc độ tăng trưởng thương mại đối ngoại cùng kỳ của Trung Quốc. Trong đó, năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại hàng hóa giữa Trung Quốc với các nước đối tác đạt 1.300 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ. Năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc với các nước đối tác đạt 97,76 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ, chiếm 14,1% tổng kim ngạch thương mại dịch vụ của Trung Quốc. Tiến trình đổi mới phương thức thương mại được đẩy nhanh. Các định chế mới, mô hình mới như thương mại điện tử xuyên biên giới đang tạo động lực mới thúc đẩy trao đổi thương mại. Năm 2018, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu bán lẻ thông qua kênh quản lý thương mại điện tử xuyên biên giới của Hải quan Trung Quốc đạt 20,3 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu 8,48 tỷ USD, tăng 67,0% so với cùng kỳ, nhập khẩu 11,87 tỷ USD, tăng 39,8% so với cùng kỳ. Về kết nối tài chính: Kết nối tài chính là chỗ dựa của hợp tác B&R. Các tổ chức tài chính đa phương quốc tế và các ngân hàng thương mại cố gắng tìm kiếm mô hình đầu tư tài chính, mở rộng kênh tài chính, cung cấp vốn cho BRI. Bộ Tài chính Trung Quốc và Bộ Tài chính 27 nước đã thẩm duyệt “Nguyên tắc chỉ đạo tài chính B&R” [192], định hướng các nguồn tài chính tập trung vào các lĩnh vực như kết nối CSHT, thương mại và đầu tư, hợp tác năng lực sản xuất. Ngân hàng Nhân 20
- Xem thêm -