Tài liệu Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh bắc kạn

  • Số trang: 122 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 328 |
  • Lượt tải: 4
TrangMinh

Đã đăng 31 tài liệu

Mô tả:

§¹i häc th¸i nguyªn TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ------------------------------- NguyÔn §×nh V¨n Thùc tr¹ng vµ mét sè gi¶i ph¸p ph¸t triÓn kinh tÕ trang tr¹i ë tØnh B¾c K¹n Chuyªn ngµnh: Kinh tÕ n«ng nghiÖp M· sè: 60 - 31 - 10 LuËn v¨n th¹c sÜ kinh tÕ Người hướng dẫn khoa học: T.S §ç Quang Quý Th¸i Nguyªn - 2008 ii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được chỉ rõ nguồn gốc. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Đình Văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii LỜI CẢM ƠN! Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân. Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, các cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong qúa trình học tập và nghiên cứu. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Đỗ Quang Quý là thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường đại học Kinh tế và QTKD, Ban chủ nhiệm Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế và QTKD Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội được tiếp cận và khẳng định bước đầu trong công việc nghiên cứu khoa học của mình. Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các giáo sư, tiến sỹ và cán bộ Khoa Sau đại học Trường Đại học Kinh tế và QTKD những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã để lại những tài liệu nghiên cứu có giá trị, liên quan đến lĩnh vực mà luận văn của tôi đề cập và sử dụng làm tiền đề nghiên cứu luận văn này. Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo, các chuyên gia của Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Kạn, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Kạn, Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn và các đồng nghiệp, lãnh đạo chính quyền các địa phuơng và các chủ trang trại đã giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình làm luận văn. Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia định đã giúp tôi lúc khó khăn, vất vả để hoàn thành luận văn. Tôi xin cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp gần xa đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này. Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008 Nguyễn Đình Văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iv DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT Chữ viết tắt STT Nguyên nghĩa 1 TBCN Tư bản chủ nghĩa 2 PGS-TS Phó Giáo sư - Tiến sỹ 3 TT Trang trại 4 KTTT Kinh tế trang trại 5 CNH Công nghiệp hoá 6 HĐH Hiện đại hoá 7 CSDL Cơ sở dữ liệu 8 SPSS Statiscal Package for Social Sciences 9 GTSX Giá trị sản xuất 10 SXKD Sản xuất kinh doanh 11 UBND Uỷ ban nhân dân 12 KH &CN Khoa học và công nghệ 13 PTNT Phát triển nông thôn 14 HTX Hợp tác xã 15 DĐĐT Dồn điền đổi thửa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn v MỤC LỤC Trang Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................1 2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................. . ..2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................... ......3 4. Ý nghĩa khoa học của luận văn và đóng góp của luận văn.............. . ........4 5. Bố cục của luận văn......................................................................... . ........4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................ 5 1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu............................................................. .. 5 1.1.1. Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại........................... ..................... .5 1.1.2. Kinh nghiệm trên thế giới và Việt nam về phát triển KTTT. ....... 23 1.1.3. Lịch sử hình thành và tồn tại trang trại ở Việt Nam và Bắc Kạn . 26 1.1.4. Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở nước ta từ khi đổi mới theo nền kinh tế thị trường ...................................................... 31 1.1.5. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn ............ 37 1.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................... .......38 1.2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết .................................38 1.2.2. Phuơng pháp nghiên cứu .......................................................... 38 1.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu .............................................................42 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẮC KẠN.. .... ................................. 43 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .......................................................... 43 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên..... ................................................................43 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001-2007 .............................................................................. 54 1.1.3. Phân tích SWOT về chiến lược phát triển của Bắc Kạn ............. 68 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vi 2.2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại Bắc Kạn những năm gần đây ...... 70 2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại thời gian qua ................... 70 2.3. Phân tích, đánh giá........................................................................... ... 73 2.3.1. Đặc điểm và phương hướng sản xuất của các trang trại tỉnh Bắc Kạn....73 2.3.2. Tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh của các trang trại. ............ 74 2.3.3. Vấn đề trong phát triển của các trang trại hiện có... .................... 85 2.3.4. Nguyên nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế trang trại ở Bắc Kạn .... 86 Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẮC KẠN THỜI GIAN TỚI. .............. 89 3.1. Quan điểm phát triển kinh tế trang trại.............................................. .. 89 3.1.1. Quan điểm phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá ở Việt nam.................................... ..................89 3.1.2. Quan điểm riêng đối với tỉnh Bắc Kạn..... ...................................94 3.2. Những định hướng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn........... ...96 3.2.1. Căn cứ để định hướng........ ........................................................96 3.2.2. Phương hướng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn.. .......... 96 3.3. Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại............................................. .. .....99 3.3.1. Mục tiêu tổng quát.......... ...........................................................99 3.3.2. Mục tiêu cụ thể................. .........................................................99 3.4. Giải pháp thực hiện......................................................................... ...100 3.4.1. Giải pháp chung cho toàn bộ các trang trại.. .............................100 3.4.2. Giải pháp cho nhóm trang trại......... .........................................109 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................111 Kết luận ...........................................................................................111 Kiến nghị.............................................................................................. .112 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................113 PHỤ LỤC ..............................................................................................116 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp được hình thành tương đối sớm trên thế giới, tuỳ từng thời kỳ mà có những hình thức, tên gọi khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là sản xuất hàng hoá tự chủ với quy mô lớn. Phát triển kinh tế trang trại là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Ngày nay, trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, trang trại đã hình thành và trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của sự phát triển. Tuy nhiên, trang trại gia đình chỉ phát triển từ đầu thập niên 1990 sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Luật đất đai ra đời năm 1993, giao quyền sử dụng đất sản xuất ổn định và lâu dài cho hộ gia đình nông dân. Từ khi có chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của các hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ chuyên môn cao đóng góp ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội. Mới hình thành và phát triển nhưng kinh tế trang trại đã khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, vốn trong dân cư để đầu tư phát triển sản xuất, cải thiện bộ mặt nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế trang trại đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết kịp thời liên quan đến nhận thức, cơ chế chính sách của Nhà nước: về đất đai, lao động, vốn đầu tư, tư cách pháp nhân, quyền lợi và nghĩa vụ của chủ trang trại trước pháp luật.v.v... nhằm củng cố và phát triển loại hình này một cách tích cực, ổn định và bền vững. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các cấp độ khác nhau về kinh tế trang trại ở khắp các vùng, miền trong cả nước. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu ra và đều mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của kinh tế trang trại để tìm ra hướng đi, đề xuất những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc để phát huy vai trò của kinh tế trang trại trong nền nông nghiệp của nước ta hiện nay. Tuy vậy, vì sản xuất nông nghiệp được diễn ra trên không gian rộng lớn, mỗi vùng, thậm chí mỗi tiểu vùng cũng có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, nên các trang trại ở mỗi vùng cũng có những đặc điểm khác nhau. Bắc Kạn là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Bắc bộ, có tiềm năng thế mạnh về đất đai đồi rừng, nhưng kinh tế trang trại Bắc Kạn còn rất nhỏ bé cả về số lượng và chất lượng, chưa có đóng góp nhiều cho kinh tế của tỉnh mà loại hình này có nhiều cơ hội phát triển. Để xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, cần được quan tâm giúp đỡ bằng những chính sách hợp lý, góp phần khai thác một cách có hiệu quả và bền vững tiềm năng về đất đai ở Bắc Kạn. Việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về kinh tế trang trại trong tỉnh, từ đó đề ra một số giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh có một ý nghĩa rất quan trọng. Xuất phát từ thực tế địa phương, với kinh nghiệm công tác trong ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của tác giả thời gian qua, đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bắc Kạn” đã được chọn để nghiên cứu. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bắc Kạn, từ đó tìm giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển, góp phần xây dựng một nền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 sản xuất nông nghiệp sản xuất hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao, hiệu quả và bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thời gian tới. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại. - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại nhằm phát hiện ra các yếu tố trở ngại và những tiềm năng để phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn. - Phân tích hoạt động kinh tế trong trang trại ở tỉnh Bắc Kạn, từ đó tìm ra được những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của trang trại. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thời gian tới. 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu - Hoạt động kinh tế của các trang trại cũng như ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. - Đối tượng khảo sát: 100% số lượng trang trại hiện có tại thời điểm điều tra ở tỉnh Bắc Kạn. 3.2. Phạm vi nghiên cứu 3.3.1. Nội dung - Số lượng, cơ cấu, loại hình, phương hướng sản xuất của các trang trại ở tỉnh Bắc Kạn. - Tình hình sử dụng đất đai, lao động, vốn, thu nhập, bố trí sản xuất, bố trí cây trồng của các trang trại. - Phân tích một số chỉ tiêu đánh gía kết quả, hiệu quả kinh tế của các trang trại. 3.3.2. Phạm vi về không gian: Toàn bộ tỉnh Bắc Kạn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 3.3.3. Phạm vi thời gian - Số liệu lịch sử: 7 năm từ 2001-2007. - Số liệu hiện trạng năm 2006 (tiến hành điều tra năm 2007). 4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN - Tổng hợp và phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bắc Kạn. - Tìm ra và đánh giá tác động của những yếu tố nội hàm và ngoại hàm ảnh hưởng đến kết qủa sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế các trang trại ở vùng nghiên cứu. - Đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng và mục tiêu để phát triển kinh tế trang trại thời gian tới. - Khuyến nghị những giải pháp chủ yếu để tiếp tục thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển. 5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại thời gian tới Nội dung cụ thể các chƣơng nhƣ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1.1. Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại 1.1.1.1. Sự hình thành và phát triển trang trại a) Quan niệm về trang trại Lịch sử phát triển của nền nông nghiệp thế giới luôn tồn tại hai hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tập trung và sản xuất phân tán [26]. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tập trung trên quy mô diện tích đất đủ lớn mang tính độc lập đã có từ rất lâu đời. Ngay từ thời đế quốc La mã đã tồn tại hình thức sản xuất tập trung trên diện tích lớn, lực lượng của yếu là tù binh và nô lệ. Thời phong kiến ở một số nước châu Âu có hình thức lãnh địa phong kiến và các trang viên. Ở Trung quốc thời nhà Hán đã có các hoàng trang, điền trang, đồn điền. Ở Việt nam hình thức sản xuất tập trung đã có từ thời phong kiến phương Bắc đô hộ. Về mặt sở hữu thì trang trại hội tụ đủ mọi hình thức sở hữu. Để biểu đạt loại hình kinh tế này, các nước đều có ngôn từ dùng để chỉ các hình thức tổ chức sản xuất tập trung (Farm, Farm stedd, Farm house (Anh); Ferme (Pháp); Fepma (Nga)…) khi chuyển sang tiếng Việt dịch là trang trại hay nông trại [25]; [19]. - Theo quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và Ngân hàng thế giới (WB): “Nông trại (Farm) của các nước châu Á gió mùa dùng để chỉ một khu đất canh tác nông nghiệp”. - Theo PGS -TS Lê Trọng: “Trang trại là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một số nhóm nhà kinh doanh” [17]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 Qua đó “Trang trại” là thuật ngữ dùng để mô tả, chỉ và gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích đủ lớn, với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường. b) Phân loại trang trại * Phân loại theo nguồn gốc hình thành: Có 3 con đường chính hình thành trang trại - Trang trại được hình thành từ khu đất từ thời phong kiến: Đây là các trang trại hình thành từ các khu đất thuộc sở hữu tư nhân của tầng lớp quý tộc, địa chủ. - Trang trại phát triển từ kinh tế hộ gia đình: Quá trình sản xuất đã diễn ra sự phân hoá giữa các hộ. Các hộ sản xuất thuận lợi sẽ phát triển cao hơn về quy mô và kết quả sản xuất mà hình thành các trang trại [22]. - Trang trại hình thành theo kiểu xí nghiệp TBCN: Các nhà tư bản đầu tư vốn vào sản xuất nông lâm nghiệp, họ bỏ tiền mua máy móc thiết bị, thuê đất đai và thuê lao động kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa hình thành các trang trại. Hiện nay trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Trang trại theo kiểu xí nghiệp tư bản còn tồn tại nhưng giới hạn trong một số ngành có giá trị cao như chăn nuôi gia súc, đại gia súc theo huớng xuất khẩu. * Phân loại trang trại theo hình thức quản lý: - Trang trại gia đình: Là loại trang trại độc lập tự sản xuất kinh doanh. Mỗi gia đình có tư cách pháp nhân do một người trong gia đình làm chủ điều hành. - Trang trại liên doanh: Do vài trang trại hợp nhất để tăng nguồn lực tạo sức cạnh tranh và sự ưu đãi của nhà nước (ở Mỹ số lượng trang trại này chiếm 10% số lượng và 16% diện tích). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 - Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Trang trại loại này được tổ chức theo nguyên tắc công ty cổ phần (ở Mỹ trang trại loại này chiếm 2,7% và 13,7% diện tích đất đai [7]. - Trang trại uỷ thác: Trang trại mà người chủ uỷ quyền cho người nhà, bạn bè quản lý điều hành sản xuất (Đài loan thường có loại trang trại này) [15]. * Phân loại trang trại theo phương hướng sản xuất: - Trang trại kinh doanh tổng hợp: Trang trại này thường kết hợp sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp ngành nghề và dịch vụ. - Trang trại chuyên môn hoá: Phương hướng sản xuất chỉ phát triển một ngành hoặc một sản phẩm như sản xuất ngũ cốc, chăn nuôi gia súc. * Phân loại theo nguồn thu nhập: - Nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp: Xu thế trang trại loại này đang giảm dần (năm 1985 Nhật Bản có 15% số trang trại thuộc loại này). - Trang trại có thu nhập thêm từ bên ngoài trang trại, loại này thường kinh doanh tổng hợp và xu thế ngày càng tăng. * Các phương thức điều hành sản xuất: - Chủ trang trại vừa điều hành vừa trực tiếp tham gia sản xuất: Loại trang trại này chủ hộ thường là nông dân, hiện nay hình thức này là phổ biến. - Chủ trang trại và gia đình không ở trang trại nhưng vẫn điều hành sản xuất: Hình thức này không nhiều nhưng đang có xu hướng phát triển ở các nước công nghiệp phát triển. - Chủ trang trại nhỏ có ít ruộng đất, không điều hành sản xuất mà uỷ quyền cho người thân quản lý trang trại của mình theo từng vụ hay nhiều năm. * Phân loại theo tiến trình hình thành và phát triển: Sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp đi từ bậc thấp lên bậc cao, từ nền sản xuất tự túc, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá mà hình thành các trang trại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 - Hộ nông dân nhỏ: Quy mô sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, sản xuất bằng công cụ thô sơ, mục đích đảm bảo thức ăn cho cuộc sống gia đình. - Trang trại truyền thống: Đất đai được khai khẩn thêm về diện tích, bắt đầu có sự tích tụ đất đai, lao động chủ yếu là lao động của gia đình. Sản phẩm sản xuất ra phần lớn dùng để tiêu dùng. - Trang trại sản xuất trồng trọt hoặc chăn nuôi nhỏ: Quy mô diện tích được tích tụ lớn hơn, sản xuất được phân định ra với vài loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu, sản xuất phần lớn là thủ công, một phần máy móc. - Trang trại sản xuất đa dạng hoá: Sản xuất thâm canh có tưới nước, lao động kết hợp thủ công và máy móc, sản phẩm đa dạng hoá nhằm đảm bảo thu nhập bền vững, chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hóa. - Trang trại chuyên môn hoá: Sử dụng lao động gia đình và thuê ngoài, sản xuất thâm canh đạt hiệu quả cao chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá. - Trang trại tự động hoá: Đang phát triển ở các nước phát triển trên thế giới trong ngành chăn nuôi, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu. 1.1.1.2. Khái niệm về kinh tế trang trại Hệ thống lại lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế Việt nam và thế giới đã đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như sau: - Theo một số học giả phương Tây: “Hình thức kinh tế trang trại ở các nước này dùng để chỉ một lĩnh vực tổ chức sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá lớn ở nông nghiệp nông thôn để phân biệt với hình thức tiểu nông tự túc, tự cấp”. - Theo PGS - TS Lê Trọng: “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông lâm ngư trại…) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội. Bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang trại tổ chức, trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ” [17]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 - Theo ông Trần Tác, Phó Vụ trưởng - Vụ Kinh tế Trung ương Đảng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn. Có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa các thành tựu khoa học, công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá, tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao”. - Theo Phó Giáo sư Đào Công Tiên - trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: “Kinh tế trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế hộ và về cơ bản giữ bản chất kinh tế hộ. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại là quá trình nâng cao năng lực sản xuất dựa trên cơ sở tích tụ tập trung vốn và các yếu tố sản xuất khác, nhờ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao”. Tóm lại: Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về Kinh tế trang trại của Chính phủ, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản. Mặt khác, theo quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23.6.2000 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn có hai nhóm đối tượng có thể tham gia đầu tư sản xuất theo mô hình trang trại, đó là hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị (gọi chung là hộ gia đình) và cá nhân. Từ đó, hình thành nên hai loại hình kinh doanh là trang trại gia đình và trang trại cá nhân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 Trong phạm vi luận văn này tác giả có giới hạn việc nghiên cứu, chỉ tập trung vào loại hình trang trại gia đình trong hệ thống các loại hình trang trại đang hoạt động trong cơ chế thị trường ở nước ta. Để làm được điều đó, một trong những việc quan trọng đầu tiên phải làm là “nhận dạng” một cách đầy đủ, rõ ràng về loại hình kinh doanh mới này để từ đó có những biện pháp quản lý phát triển phù hợp. 1.1.1.3. Tính tất yếu khách quan của kinh tế trang trại Quan điểm của các nhà kinh điển về tính tất yếu tồn tại kinh tế hộ gia đình nông dân và kinh tế trang trại. * Tính tất yếu khách quan của tồn tại và phát triển kinh tế hộ nông dân Không phải bây giờ các nhà kinh tế mới bàn đến vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với sự phát triển nông nghiệp mà ngay từ cuối thế kỷ XIX Mác, Ăng-ghen đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân. Lúc đầu nghiên cứu con đường công nghiệp hoá đặc thù của nước Anh, Mác đã tiên đoán với quá trình tách người nông dân khỏi ruộng đất một cách ồ ạt thì giai cấp nông dân bị thủ tiêu và nông nghiệp sẽ được tổ chức lại thành nền đại sản xuất như trong công nghiệp. Nghĩa là trong nông nghiệp sẽ hình thành các “Đại điền trang” Tư bản chủ nghĩa sử dụng lao động làm thuê. Quá trình đó sẽ tách người nông dân ra khỏi tư liệu sản xuất, mà trước hết là ruộng đất. Sau này kinh nghiệm lịch sử của những nước công nghiệp phát triển đã làm chuyển biến nhận thức của Mác và ông phải công nhận là những tiên đoán khái quát ban đầu của mình trước kia về thực tiễn đã không được, không thiết lập ngay cả ở nước Anh siêu công nghiệp. Bất chấp xu hướng ban đầu theo kiểu “dọn sạch mặt đất”. Ở nước Anh công nghiệp phát triển, song nông trại gia đình trên thực tế không sử dụng lao động làm thuê vẫn ngày càng phát triển và càng tỏ rõ sức sống cũng như hiệu quả của nó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 Chính vì thế khi viết quyển III của bộ Tư bản chủ nghĩa, Mác đã kết luận: “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không có lao động làm thuê”. Ở những nước còn giữ hình thức chia đất thành khoảnh nhỏ giá lúa mì rẻ hơn ở những nước có phương thức sản xuất Tư bản” [2]. Mác đã khẳng định do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nên “hệ thống Tư bản chủ nghĩa mâu thuẫn với nghề nông hợp lý hay là nghề nông hợp lý không phù hợp (trái ngược) với hệ thống Tư bản chủ nghĩa (mặc dù hệ thống này có hỗ trợ cho sự phát triển kỹ thuật của nông nghiệp) và đòi hỏi phải có hoặc là bàn tay của người tiểu nông sống bằng lao động của mình, hoặc là sự kiểm soát của những người sản xuất có liên kết với nhau” [24]. Sau Mác, Ăng-ghen, C. Cauxlay là người kế tục và có những cấu hiến lớn trong việc truyền bá và phát triển Chủ nghĩa Mác. Trong đó cống hiến xuất sắc của C. Cauxlay là những công trình nghiên cứu của ông về vấn đề nông nghiệp. Theo C. Cauxlay nông nghiệp phát triển không cùng một kiểu với công nghiệp mà theo những đặc thù của nó. C. Cauxlay cho rằng sự khác nhau quan trọng nhất giữa công nghiệp và nông nghiệp là ở chỗ, trong nông nghiệp sản xuất thường gắn liền với kinh tế gia đình, lao động trong nông nghiệp khác với lao động trong công nghiệp. Sản xuất lớn trong nông nghiệp không phải luôn luôn có ưu thế tuyệt đối so với sản xuất nhỏ trong mọi điều kiện. Ông đã rất đúng khi cho rằng một doanh nghiệp lớn của nông dân nếu đem so sánh với một doanh nghiệp nhỏ của nông dân khác trong cùng một khu vực, cùng một loại cây trồng thì rõ ràng một doanh nghiệp lớn “ưu việt hơn, nếu không phải về mặt kỹ thuật, thì ít ra cũng về mặt kinh tế”. Cauxlay đã đi sâu vào nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến sức cạnh tranh đủ mạnh của sản xuất nhỏ để chống lại ưu thế của sản xuất lớn trong nông nghiệp. Đó là “sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 chuyên cần hơn và sự chăm chỉ cần mẫn hơn của người lao động khi anh làm cho chính bản thân anh ta (đây là điểm khác căn bản với lao động làm thuê) thấp hơn cả nhu cầu của chính bản thân công nhân nông nghiệp nữa”. A.V. Trai-a-nốp nhà nông học nổi tiếng của thế giới trong nhiều năm nghiên cứu phong trào hợp tác xã ở nhiều nước: Italia, Bỉ, Anh, Đức và cả ở Mỹ la-tinh) để tìm cách vận dụng vào nước Nga Xô-viết đã khẳng định “Hợp tác xã nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế nông dân, sau đó phục vụ cho nó, và vì thế mà thiếu kinh tế hộ nông dân thì hợp tác xã sẽ không có ý nghĩa gì cả? Ông còn cho rằng: HTX chỉ xã hội hoá một phần sản xuất và quá trình này có thể thực hiện không phá vỡ kinh tế hộ nông dân, nghĩa là các hộ nông dân chỉ hợp tác với nhau phần sản phẩm sản xuất mà làm ăn tập thể có ưu thế hơn làm ăn của từng hộ riêng lẻ. V.I. Lê-nin đã kế thừa và phát triển về kinh tế hộ nông dân của C. Mác, Ăng-ghen và tiếp thu những hạt nhân hợp lý của C. Cauxlay và A.V. Trai-a-nốp. Lê-nin cho rằng nhân vật chính trong sản xuất nông nghiệp phải là “một chủ trại tự do trên mảnh đất tự do”, nghĩa là mảnh đất đã dọn sạch khỏi những tàn tích trung cổ. Đó là kiểu Mỹ” [13]. * Quá trình chuyển từ kinh tế hộ nông dân thành kinh tế trang trại Các trang trại gia đình được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông, sau khi phá vỡ cái vỏ bọc tự túc, tự cấp vươn lên sản xuất hàng hoá. Về bản chất kinh tế trang trại là kinh tế sản xuất hàng hoá khác với nền kinh tế tự cấp tự túc, Mác đã phân biệt người chủ trang trại với người tiểu nông: “Người chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra, còn người t iểu nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt”. Trong quá trình phát triển kinh tế hộ sẽ vận động theo quy luật là mở rộng sản xuất hàng hoá, tất yếu sẽ diễn ra quá trình phân hoá giữa các hộ gia đình. Các hộ sản xuất thành công sẽ trở lên giàu có, những hộ sản xuất không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 thành công hoặc rủi ro trong kinh doanh sẽ trở lên nghèo. Quá trình này thường xuyên lặp đi lặp lại sẽ tạo nên sự ngăn cách ngày càng sâu về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư [20]. Trong nền kinh tế thị trường các hộ nông dân chịu sự chi phối của các quy luật của nền kinh tế thị trường. Những hộ nông dân làm ăn có lãi sẽ mở rộng quy mô sản xuất, mua thêm đất đai, máy móc, tư liệu sản xuất nên quy mô càng lớn hơn và thành các hộ giàu trong nông thôn [20]. Ngoài ra dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nên lao động thủ công dần dần được thay thế bằng lao động cơ giới, hộ nông dân thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ chuyển thành hộ sản xuất hàng hoá. Sự điều tiết của nền kinh tế thị trường, sự tác động của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của lực lượng sản xuất làm quá trình phân hoá diễn ra ngày càng nhanh hơn, các hộ giàu sẽ phát triển thành kinh tế trang trại. Quá trình biến đổi từ hộ nông dân thành kinh tế trang trại là quá trình tự phát hợp quy luật phát triển của xã hội. * Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế hộ và kinh tế trang trại Ở Việt Nam, từ năm 1986 đến nay nhờ đường lối đổi mới của Đảng và chính sách khuyến khích của Nhà nước, hộ nông dân được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra động lực mới khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn và kinh nghiệm sản xuất, quản lý của hàng chục triệu hộ nông dân. Nhờ đó kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta đã có một bước chuyển biến tương đối toàn diện, mô hình trang trại ra đời và phát triển khá phổ biến ở tất cả các vùng của đất nước. Từ kinh nghiệm của các nước và thực tế phát triển của mô hình trang trại trong thời gian qua cho thấy, ở nước ta hiện nay và trong tương lai loại hình phổ biến và chủ yếu nhất vẫn là trang trại gia đình của hộ nông dân. Về vấn đề này, Nghị quyết 06 NQ/TƯ ngày 10.11.1998 của Bộ Chính trị Trung ương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “ở nông thôn hiện nay đang phát triển mô hình trang trại nông nghiệp, phổ biến là các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả...”. Đảng và Nhà nước cũng đã có những chủ trương, chính sách và bước đầu cũng đã tạo dựng được những cơ sở pháp lý cần thiết tạo điều kiện để các trang trại gia đình hình thành và phát triển. Tuy nhiên, khung pháp luật về loại hình này còn ở mức độ rất ban đầu, cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp lý, còn có nhiều vấn đề lý luận đặt ra, cần được nghiên cứu, lý giải để tạo cơ sở lý luận vững chắc cho các quyết tâm chính trị và pháp lý. 1.1.1.4. Đặc trưng của kinh tế trang trại Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02.02.2000 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, cũng như thực trạng hình thành và phát triển của trang trại gia đình thời gian vừa qua, có thể thấy trang trại gia đình ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau [16]: Thứ nhất: Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. - Trang trại gia đình là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông, lâm, thủy sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại gia đình là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. - Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế có một cơ cấu thống nhất, đó là dựa trên cơ sở hộ gia đình bao gồm chủ hộ và các thành viên khác trong gia đình. Chủ trang trại (thường là chủ hộ) là người đại diện cho trang trại gia đình trong các quan hệ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của trang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 trại. Chủ trang trại là người có kiến thức, có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường và trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh tại trang trại. Đây là những tố chất rất cần thiết cho một nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường và về cơ bản chúng không có ở người chủ hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp. - Tài sản và vốn sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng (đối với đất đai) chung của các thành viên trong hộ gia đình. Bằng công sức, tài sản và vốn chung các thành viên của hộ gia đình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp dưới hình thức trang trại gia đình. Đồng thời chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh bằng những tài sản chung đó. - Xuất phát từ bản chất kinh tế của trang trại, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình luôn gắn liền với một vị trí diện tích đất đai nhất định. Thực tế cho thấy, đây vừa là địa điểm sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là trụ sở giao dịch của trang trại gia đình trong các quan hệ nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, để thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường, không ít trang trại gia đình đã mở thêm các địa điểm giao dịch gần các trung tâm thương mại lớn nhằm tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của mình. - Theo pháp luật hiện nay, trang trại gia đình bước đầu cũng đã được quy định cho một số quyền và nghĩa vụ trong sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực như: đất đai, thuế, đầu tư, tín dụng, lao động, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo hộ, v.v... Trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ này, trang trại gia đình hoàn toàn tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm,... - Hiện nay, theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3.2.2000 về đăng ký kinh doanh, trang trại gia đình đang phải đăng ký kinh doanh dưới danh nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 hộ kinh doanh cá thể. Vấn đề đăng ký kinh doanh cho trang trại gia đình hiện vẫn chưa được đề cập đến trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, đây là một việc làm hết sức cần thiết để thể hiện sự chính thức thừa nhận và bảo hộ của Nhà nước đối với trang trại gia đình, đây còn là cơ sở để một hộ là trang trại gia đình được hưởng các chính sách ưu tiên và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã xác định đây là một trong những vấn đề bất cập, cần phải được giải quyết kịp thời. Thứ hai: Mục đích chủ yếu của trang trại gia đình là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của trang trại gia đình. Mục tiêu của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thủy sản để bán, khác hẳn với kinh tế hộ tự cấp tực túc là chính. Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức sản xuất nông lâm ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá rõ rệt. Vì vậy, đặc trưng cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá. Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy tiêu chí giá trị nông sản hàng hoá và tỷ suất hàng hoá bán ra trong năm luôn luôn được sử dụng làm thước đo chủ yếu của trang trại. Ở Việt Nam, thực tiễn sản xuất của các trang trại gia đình trong những năm vừa qua cho thấy, trang trại nào cũng lấy sản xuất hàng hoá là hướng chính và tỷ suất hàng hoá của các trang trại trại phổ biến từ 70 80% đối với những trang trại đã đi vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Theo một kết quả điều tra năm 2001 cho thấy: ở nước ta trong năm 2000, giá trị hàng hoá của các trang trại trong cả nước đạt 4.965,9 tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81,7 triệu đồng, tỷ suất hàng hoá là 92,6%. Đặc trưng sản xuất hàng hoá cho phép phân biệt rõ ràng ranh giới giữa trang trại gia đình với kinh tế hộ nông dân, sản xuất tự cấp tự túc và với hộ phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17 Thứ ba: Trong trang trại gia đình, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá. Trong nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung với quy mô nào đó. Do đó, ở các trang trại gia đình sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất,... được tập trung tới quy mô đủ lớn. Đặc điểm này được quy định bởi chính đặc điểm về mục đích sản xuất của trang trại. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Tổng cục thống kê, sự tập trung các yếu tố sản xuất của trang trại gia đình được biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu, đó là: Quy mô diện tích ruộng đất của trang trại (nếu là trang trại chăn nuôi thì là số lượng gia súc, gia cầm,...) và quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại. Thực tế cho thấy, các trang trại gia đình có quy mô lớn hơn rất nhiều so với kinh tế hộ gia đình nông dân. Theo số liệu điều tra năm 1999 của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội cho thấy: bình quân một trang trại gia đình có số vốn là 291,43 triệu đồng, trong đó 91,03% là vốn tự có, quy mô đất đai bình quân của một trang trại gia đình là 6,338 ha, trong khi đó bình quân đất đai sản xuất nông nghiệp của một hộ gia đình chỉ là 0,68 ha. Thứ tư: Lao động trong các trang trại gia đình chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ, ngoài ra có thuê mướn lao động. Lực lượng lao động trong trang trại chủ yếu là chủ trang trại và các thành viên trong gia đình, đây là những người có quan hệ huyết thống, gần gũi như: Cha mẹ, vợ chồng, anh em. Lao động được tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, quản lý điều hành linh hoạt, dễ dàng, hiệu quả lao động cao. Ngoài ra, để phục vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18 cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, trang trại gia đình còn phải thuê mướn lao động bên ngoài nhất là vào thời vụ gieo trồng, thu hoạch. Quy mô thuê muớn lao động trong trang trại tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất kinh doanh của trang trại. Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại gia đình, đó là : thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, bình quân 1 trang trại sử dụng 6 lao động (quy ra thường xuyên), lao động trong gia đình chiếm 45%; hầu hết trang trại đều có sử dụng lao động thuê ngoài, số lượng lao động thuê ngoài trong các trang trại chiếm khoảng 55% tổng số lao động trong các trang trại, trong đó chủ yếu là lao động thời vụ (khoảng 70%). Trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản do tính chất sản xuất khá ổn định nên sử dụng lao động thời vụ ít hơn (từ 10 - 20%). Thứ năm: Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại gia đình ngày càng mang tính khoa học, chuyên nghiệp. Trong kinh tế hộ gia đình nông dân do tính chất sản xuất đơn giản và quy mô sản xuất nhỏ với mục đích tự cung tự cấp là chính do vậy việc điều hành sản xuất của chủ hộ vẫn còn mang nặng tính gia trưởng, người chủ hộ chỉ cần có kinh nghiệm sản xuất và cần cù lao động theo kinh nghiệm cha truyền con nối. Nhưng đối với trang trại gia đình, với mục đích chính là sản xuất hàng hoá và bị các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh chi phối ngày càng nhiều thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn phù hợp nữa. Sản xuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất thâm canh, kế hoạch tài chính, hạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh... Do vậy việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại đòi hỏi phải dựa trên cơ sở những kiến thức khoa học và ngày càng mang tính chuyên nghiệp, đi vào chiều sâu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 19 Như vậy, mặc dù cũng dựa trên cơ sở hộ gia đình, nhưng trang trại gia đình có sự khác biệt rất lớn so với hộ gia đình thể hiện ở mục đích, quy mô và trình độ sản xuất. Trang trại gia đình đã và đang ngày càng thể hiện rõ tính chất của một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở nước ta. Từ những đặc điểm nêu trên, theo chúng tôi, dưới góc độ pháp lý khái niệm về trang trại gia đình với tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập trong nền kinh tế thị trường có thể hiểu như sau: “Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, dựa trên cơ sở hộ gia đình, có mục đích chủ yếu là kinh doanh nông sản hàng hoá, trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ, tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh”. Khái niệm này vừa thể hiện được bản chất về mặt kinh tế của trang trại nhưng đồng thời cũng thể hiện được những đặc trưng của loại hình trang trại gia đình, là cở sở để phân biệt trang trại gia đình với các loại hình kinh doanh khác đang tồn tại trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay. 1.1.1.5. Tiêu chí nhận dạng Một hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản được xác định là trang trại theo qui định tại Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê; Thông tư số 74/2003/TT - BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/ TTLT/BNNTCTK) phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại sau đây: 1. Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm: - Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 20 2. Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế: a. Đối với trang trại trồng trọt: (1) Trang trại trồng cây hàng năm: - Từ 2 ha trở lên đối với phía Bắc và Duyên hải miền Trung; (2) Trang trại trồng cây lâu năm: - Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; (3) Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước. b. Đối với trang trại chăn nuôi: (1) Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,v.v... - Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên; - Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên. (2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v... - Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn từ 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; - Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên. (3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v... có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi). c. Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: - Diện tích nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên). d. Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp: Là những trang trại có từ hai hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản khác nhau trở lên và mỗi hoạt động đều đạt về qui mô hoặc mức giá trị hàng hoá và dịch vụ như quy định cho trang trại. Việc công nhận và cấp giấy chứng nhận trang trại gia đình là việc làm cần thiết tạo điều kiện cho loại hình KTTT phát triển. Tuy nhiên để làm được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 21 điều đó, một trong những việc quan trọng đầu tiên phải làm là xác định một cách đầy đủ về phạm vi và số lượng của loại hình KTTT để từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp. 1.1.1.6. Vai trò của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn * Theo “ủy ban Quốc gia về Trang trại nhỏ” (NCFS) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cũng đã công bố một bản báo cáo có tính bước ngoặt vào năm 1998 với nhan đề “Thời gian hành động”. Trong đó USDA thừa nhận “Những giá trị công cộng” của trang trại gia đình bao gồm [8]: - Tính đa dạng: Các trang trại nhỏ chứa đựng tính đa dạng của quan hệ sở hữu, của hệ thống canh tác, của cảnh quan môi trường, của sự đa dạng sinh học, của văn hoá và các giá trị truyền thống. Sự phát triển của các trang trại nhỏ góp phần làm tăng tính đa dạng sinh học, làm tăng sự hấp dẫn của phong cảnh nông thôn và làm mở rộng không gian sống. - Những lợi ích về môi trường: Trang trại gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những lợi ích môi trường cho xã hội. Việc đầu tư vào các trang trại này sẽ cung cấp cho chính phủ một sự chia sẻ trong cương vị quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia. - Trao quyền hợp pháp và chịu trách nhiệm cộng đồng: Các trang trại nhỏ đã mang lại cho người nông dân một ý nghĩa lớn hơn đối với trách nhiệm cá nhân và cảm giác được kiểm soát cuộc sống của chính mình, đặc điểm này không dễ có được đối với công nhân trong các nhà máy. Những chủ trang trại hoạt động dựa vào những doanh nghiệp và các cơ sở cung cấp dịch vụ tại địa phương để đáp ứng các nhu cầu của mình. Điều này có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra cơ hội để mang lại lợi ích lớn hơn đối với cộng đồng và hạnh phúc của bản thân những người trong trang trại. Ngược lại, những chủ trang trại nhỏ ở địa phương sẽ tự cảm thấy phải có trách nhiệm cao hơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 22 trong việc kiểm soát bất cứ hoạt động tiêu cực nào mà nó có thể gây ra tác hại đối với cộng đồng. - Bổn phận của gia đình: Trang trại gia đình có bổn phận nuôi dưỡng những đứa trẻ lớn lên và thu nhận những giá trị truyền thống. Những kỹ năng canh tác đã trải qua từ thế hệ này đến thế hệ khác dưới cấu trúc sở hữu gia đình. Khi những đứa trẻ không tiếp tục làm nông, những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm canh tác có thể sẽ bị mất. Một hình mẫu tương tự ở các nước đang phát triển, trong những cộng đồng canh tác truyền thống, trang trại gia đình là trung tâm để duy trì cộng đồng và để tăng cường khả năng chịu đựng của nền sản xuất nông nghiệp. Trong các trang trại gia đình, hoạt động sản xuất, động viên lao động, hình thức tiêu thụ, kiến thức về sinh thái và những mối quan tâm chung trong việc duy trì sự tồn tại lâu dài của trang trại được xem như là một thứ tài nguyên, nó đóng góp cho sự ổn định và phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế cũng như với mỗi đơn vị kinh tế cơ sở là gia đình. * Theo đánh giá của Chính phủ Việt nam tại Nghị quyết số 03/2000/NQCP ngày 02/02/2000 về Kinh tế trang trại: Những năm gần đây, kinh tế trang trại đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động của các hộ nông nghiệp và nông thôn. Sự phát triển của kinh tế trang trại là động lực mới cho phát triển kinh tế hộ nông dân, bên cạnh đó đã tạo ra các vùng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hàng hoá tập trung, làm tăng khối lượng và giá trị hàng hoá, tạo tiền đề cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và thực phẩm phát triển, mở rộng các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn. Nói cách khác: sự phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 23 1.1.2. Kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại trên thế giới Theo các nhà nghiên cứu, kinh tế trang trại được hình thành từ rất sớm, từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở châu Âu, nghĩa là kinh tế trang trại ra đời gắn liền với quá trình công nghiệp hóa. Kinh tế trang trại được xem là xuất hiện sớm nhất ở Pháp. Sau cuộc đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789, ở Pháp xuất hiện những chủ trại (ferrmier) trong nông nghiệp. Từ đó kinh tế trang trại phát triển và lan rộng khắp thế giới. Có thể nói, đến nay trang trại gia đình trở thành mô hình phổ biến nhất của nông nghiệp thế giới, nó chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai canh tác và số lượng nông sản làm ra. Ví dụ hiện nay ở Mỹ với 2,2 triệu trang trại đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới. ở Malayxia năm 1992 các trang trại đã xuất ra 40 nước trên 6 triệu tấn [11]. Quá trình phát triển kinh tế trang trại gia dình có sự biến đổi về số lượng cũng như quy mô. Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy trong thời kỳ đầu CNH do lao động nông nghiệp còn đông, khả năng phân công lao động xã hội còn hạn chế thì số lượng trang trại gia đình tăng lên. Đến thời kỳ công nghiệp hoá phát triển, khả năng thu hút lao động của công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng thì số lượng trang trại nông nghiệp bắt đầu giảm đi. Cuối thế kỷ XX số lượng ở các trang trại gia đình ở các nước đang phát triển ở châu Á tăng 2,5% mỗi năm, trong khi dó ở các nước công nghiệp phát triển châu Âu giảm 2,35% mỗi năm. - Quy mô trang trại gia đình lại biến động theo chiều hướng ngược lại với số lượng trang trại của mỗi quốc gia. Tuỳ điều kiện các nước mà quy mô trang trại có thể rất khác nhau. Trang trại của các nước châu Á có diện tích nhỏ, quy mô trang trại chỉ trên dưới một ha như Nhật bản (1,2 ha). Trang trại của các nước châu Âu lớn hơn, quy mô bình quân trang trại hàng chục ha như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 24 Pháp (29,2 ha); Đan mạch 31,7 ha. Ở một số nước quy mô trang trại gia đình lên tới hàng trăm ha như ở Mỹ trang trại bình quân 180 ha [4]. Biểu 1.1: Diện tích bình quân 1 TT ở một số nƣớc trên thế giới 1990 Nƣớc Mỹ Anh Đan mạch Pháp Ấn Độ Hà Lan Diện tích (ha) 180 64 31,7 29,2 20 16,4 Nƣớc Bỉ Pakistan Thái Lan Italia Inđônêxia Nhật Bản Diện tích (ha) 14 3,86 4,5 2 1,77 1,2 Nhìn chung các trang trại gia đình trên thế giới có những đặc trưng chung là có trang bị kỹ thuật hiện đại, ứng dụng ngày càng nhiều khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học... các trang trại gia đình chủ yếu sử dụng lao động của hộ gia đình và một số ít lao động thuê ngoài (chủ yếu theo thời vụ). - Việc cơ giới hoá, hiện đại hoá nông nghiệp trong các trang trại không chỉ diễn ra ở các nước phát triển mà ngay cả đối với các trang trại tại các nước đang phát triển: “Năm 1985, cơ cấu động lực nông nghiệp của các trang trại ở các nước công nghiệp phát triển có 7% sức người, 10% sức súc vật và 82% sức máy, cơ điện còn các trang trại của các nước đang phát triển có 25 đến 30% sức người, 50% sức súc vật và 20% sức máy…”. Ngoài ra, các trang trại còn ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực sinh học, tin học: “Ở Mỹ, đến nay đã có 20% trang trại gia đình sử dụng máy tính phục vụ việc lập trình sản xuất kinh doanh trên đồng ruộng và trong trang trại. Ở Đức 50% các trang trại quy mô 50 ha trở lên đã sử dụng máy vi tính vào quá trình điều hành sản xuất…”[5]. - Lao động sử dụng trong trang trại ở Tây Âu và Mỹ đang có xu hướng giảm dần. Hiện nay ở Mỹ chỉ có từ 1 - 2 lao động/ trang trại; Nhật bản khoảng 3 lao động/ trang trại (1990); Đài loan mỗi trang trại chỉ có 1,3 lao động [7]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 25 Biểu 1.2: Lao động sử dụng trong 1 TT ở một số nƣớc trên thế giới 1990 Đơn vị tính: Người Tên nƣớc Lao động/ Tr.Trại (người) Thái Lan Hàn Quốc Pháp Đức 3,7 2,1 2,1 1,2 Số lao động của một trang trại của các nước trên thế giới là từ 2 đến 4 lao động/ trang trại. Số lượng lao động trong các trang trại không phụ thuộc vào quy mô sản xuất của trang trại mà phụ thuộc vào trình độ công nghệ sản xuất. Thực tiễn phát triển nông nghiệp của các nước trên Thế giới đã khẳng định điều kiện cần và đủ cho việc phát triển kinh tế trang trại gia đình là sự hình thành nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước. Ngoài ra trang trại gia đình muốn hoạt động có hiệu quả cần phải có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của Nhà nước thông qua các chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô như: Chính sách thuế, chính sách tài chính, tín dụng, chính sách bảo trợ nông nghiệp, bảo hộ lao động... Kinh tế trang trại là những đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh, nhưng các trang trại gia đình có thể tham gia kinh tế hợp tác với nội dung và hình thức khác nhau. Các hợp tác xã để bảo đảm đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất với chi phí thấp, lợi nhuận cao để bảo vệ lợi ích lâu dài của trang trại. * Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển kinh tế trang trại của thế giới - Trang trại có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá của các nước. Kinh tế trang trại gắn liền quá trình công nghiệp hoá của các nước từ thấp đến cao, chính công nghiệp hoá đặt ra yêu cầu khách quan để phát triển trang trại, cơ chế thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển. Trong qúa trình công nghiệp hoá kinh tế trang trại đều giữ vị trí xung kích cung cấp nông sản hàng hoá cho xuất khẩu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 26 - Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau, nhưng phổ biến nhất là trang trại gia đình, có nguồn gốc từ hộ gia đình vì thế nó phát huy thế mạnh vốn có của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp. - Thực tế phát triển trang trại tại nhiều quốc gia trên thế giới lại cho phép đi đến kết luận: chính các trang trại gia đình quy mô nhỏ mới thực sự là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, lâu dài. - Trong các giai đoạn ban đầu kinh tế trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp bằng cách đa dạng hoá sản phẩm, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường sẽ từng bước đi vào chuyên môn hoá. - Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai. ở các nước châu Á như Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan diện tích các trang trại nhỏ nhưng hiệu quả sản xuất lại rất lớn. 1.1.3. Lịch sử hình thành và tồn tại trang trại ở Việt nam và Bắc Kạn Nhìn lại lịch sử ta thấy trang trại ở nước ta đã hình thành từ thời nhà Trần, thời đó gọi là điền trang - nhưng điền trang lúc này chủ yếu là trang trại của quý tộc phong kiến [9], [10]. Trong sách “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam” có ghi: “Năm 1266, triều đình nhà Trần cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi… triệu tập dân nghèo khổ không có đất làm nô tỳ đi khai hoang miền ven biển, đắp đê ngăn mặn, khai phá đất bồi sông Hồng lập thành điền trang rộng lớn” [20]. Khác với thái ấp thời nhà Lý và điền trang thời nhà Lý, điền trang thời nhà Trần thuộc sở hữu của quý tộc. Nô tỳ bị bóc lột như nông nô. Tức là như những người nông dân bị phụ thuộc vào ruộng đất - điền trang rộng lớn của bọn địa chủ quý tộc. Họ bị bóc lột bằng địa tô và lao dịch, có thể bị bán theo ruộng đất dưới chế độ phong kiến. Đến thời nhà hậu Lê, nhà nước phong kiến chủ trương mở rộng khai hoang lập đồn điền (đồn điền cũng đồng nghĩa với trang trại). Lượng lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 27 khai hoang lập đồn điền chủ yếu là phạm nhân, tù binh và một số binh lính đóng đồn ở các địa phương. Đến năm 1481, cả nước có 43 sở đồn điền để cấp cho họ hàng nhà vua và quan lại từ tứ phẩm trở lên (gọi là cấp lộc điền). Lực lượng sản xuất trong các đồn điền - trang trại - vừa áp dụng chế độ nô tỳ, vừa chủ yếu là bóc lột trực tiếp bởi phong kiến và phụ thuộc trực tiếp bởi nhà nước vì luật pháp cấm nông dân bỏ làng ra đi để bắt nông dân không ruộng phải cày ruộng, nộp thuế, lao dịch và binh dịch. Đến đời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1855 triều đình đã ban hành 25 quyết định về khai hoang với hình thức chủ yếu là chiêu mộ dân phiêu tán để khai hoang lập ấp trại hoặc xã. Đồng thời, nhà nước dùng binh lính và tù nhân bị lưu đày để khai hoang, hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân khai phá đất hoang để lập đồn điền - trang trại - phát canh - thu tô. Đặc biệt thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, họ đã thực hiện chính sách khai thác thuộc địa làm giàu cho chính quốc. Họ thấy ngành nông nghiệp là ngành đấu tư ít vốn mà dễ dàng thu được lợi nhuận cao vì vừa có thể bóc lột được độ phì nhiêu của đất vừa bóc lột được sức lao động làm thuê đến cùng tận. Năm 1888, Toàn quyền Đông dương ra các Nghị định cho địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền, Nghị định còn cho phép địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền rộng lớn mà họ gọi là đất vô chủ. Chỉ sau 2 năm, năm 1890, số đồn điền trại ấp khắp ba miền Bắc - Trung - Nam được họ thành lập đã lên tới 108 cái, với diện tích 10.898 ha, quy mô bình quân 100 ha/ 1 đồn điền. Đến giữa những năm 20, tổng diện tích mà họ chiếm đoạt dưới nhiều thủ đoạn đã lên đến 270.000 ha (trong đó ở Nam kỳ 308.000; ở Trung kỳ 26.000 và ở Bắc kỳ 136.000 ha). Tổng số trang trại (đồn điền) đã lên tới 2.350 cái chuyên trồng cao su, chè, hồ tiêu, dừa, lúa, mía, bông… quy mô vừa, lớn, nhở khác nhau. Có cái ở Bắc kỳ lên đến 8.515ha. Nhưng bình quân chung ước chừng 200 ha/cái [11], [36]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 28 Kết quả lợi nhuận siêu gạch họ vơ vét ngày càng nhiều, họ càng thi nhau phát triển trang trại cả về số lượng và quy mô diện tích đất đai kinh doanh. Tính đến năm 1930, thực dân Pháp đã chiếm đọat 1,2 triệu ha, bằng 1/7 trong tổng diện tích đất canh tác của nước ta lúc bấy giờ để lập trên dưới 4.000 đồn điền - trang trại với quy mô bình quân chừng 300 ha/cái. Phương thức kinh doanh của các chủ đồn điền - trang trại như sau: - Từ đầu đến giữa những năm 1920 là phát canh thu tô theo lối phong kiến. - Từ sau những năm 1920 đến trước cách mạng tháng Tám 1945 họ cưỡng mộ công nhân vào làm các đồn điền - trang trại và bóc lột người lao động hết sức tàn nhẫn, vô nhân đạo, thậm chí họ còn dùng xác chết của công nhân ở các đồn điền để bón cho cây cao su… - Từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975. + Ở miền Nam: các loại đồn điền tư bản, thực dân ở những vùng địch tạm chiến vẫn tồn tại và phát triển. + Ở miền Bắc: Nhà nước tiến hành tịch thu các đồn điền của thực dân Pháp và địa chủ phản động đem chia cho nông dân không ruộng và chuyển một số thành cơ sở sản xuất nông nghiệp của nhà nước. Đến năm 1957, nhà nước đã chính thức thành lập các nông, lâm trường quốc doanh. Từ những năm 1958 đến năm 1960 các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, quy mô thôn đã được thành lập, rồi lên bậc cao, quy mô liên thôn, đến quy mô xã có tính phổ biến trên toàn miền Bắc. Các hình thức đó đã có tác dụng lớn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như xây dựng hệ thống thủy lợi, cải tạo đồng ruộng… nên sau năm 1975 cũng được áp dụng ở miền Nam đã được quốc hữu hóa như ở miền Bắc trước đây. - Từ 1975 đến 1986: Như trên đã nói, sau khi giải phóng miền nam những đồn điền - trang trại kiểu Tư bản chủ nghĩa đã được Nhà nước tịch thu và chuyển thành những nông trường quốc doanh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 29 Nói chung, thời kì hòa bình, khôi phục và phát triển nền kinh tế cả nước theo hướng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và vẫn áp dụng mô hình cũ - xây dựng nền kinh tế nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch, tập trung. Chỉ có 2 hình thức kinh tế chủ yếu (trong thành phần kinh tế Xã hội chủ nghĩa) là nông trường quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp đã bộc lộ nhiều khuyết tật cần được đổi mới. - Từ 1986 đến nay: Đảng và Chính phủ đã công nhận sự tồn tại tất yếu, vai trò của kinh tế trang trại và đã ban hành một số chính sách hỗ trợ phát triển. + Nghị quyết 10 (tháng 4 năm 1987) của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp khẳng định: Hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, khuyến khích phát triển. + Luật đất đai năm 1993 khẳng định ruộng đất là của Nhà nước, Nhà nước giao cho hộ nông dân và các tổ chức kinh tế sử dụng ổn định, lâu dài. + Nghị định 02/CP (1994) quy định giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức và cá nhân, hộ gia đình thời hạn 50 năm. + Nghị định 03/CP (1994) quy định giao khoán kinh doanh rừng và đất rừng lâu dài cho các cá nhân, hộ gia đình. + Nghị định 64/CP (1999) quy định giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và các cá nhân ổn định lâu dài, thời hạn 20 năm. + Nghị quyết số: 03/2000/NQ-CP ngày 02 /02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại; + Thông tư số: 82/2000/TT-BTC ngày 14/8/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại; + Thông tư số: 23/2000/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2000 của Bộ Lao động thương binh và xã hội hướng dẫn áp dụng một số chế độ đối với người lao động làm việc trong các trang trại [1]; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 30 + Các Thông tư Liên tịch số: 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 và 62/TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 của liên Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thống kê và hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại [12]; Các chính sách trên đã đi vào cuộc sống làm chuyển biến nền nông nghiệp nước ta. Trong quá trình phát triển này, một loại hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp ra đời: Một số hộ nông dân, cá nhân đã tích luỹ kinh nghiệm sản xuất, tích tụ đất đai, đầu tư thâm canh chuyển sang sản xuất hàng hoá hình thành nên các trang trại đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế nước ta. * Tóm lược lịch sử hình thành kinh tế trang trại ở Bắc Kạn - Thời kỳ phong kiến, pháp thuộc Bắc Kạn là một tỉnh có chế độ “Thổ ty” của người Tày là tộc người đa số ở địa phương. Việc một số quan lại được vua chúa ban thưởng nhiều đất đai trong thời kỳ phong kiến là một thực tế, tuy nhiên với đặc điểm của nền kinh tế tự cấp tự túc nên có thể nói trang trại chưa hình thành vào thời gian này. - Thời kỳ thuộc pháp: Thực dân pháp thực hiện việc khai thác thuộc địa rất mạnh ở Bắc Kạn, tuy nhiên chỉ đơn thuần là khai thác khoáng sản. Việc lập đồn điền trồng cây hàng hoá tập trung tại địa phương là không có, họ chỉ du nhập một số giống cây để trồng thử nghiệm ở địa phương. - Trong thời kỳ kháng chiến chống pháp và xây dựng CNXH ở miền Bắc: Các hợp tác xã nông nghiệp ra đời cũng là việc các hộ gia đình có nhiều ruộng đất đã hiến hoặc góp hoa lợi vào hợp tác. Cùng với nó là việc vận động định canh định cư đưa người Dao và Mông “hạ sơn” và vào hợp tác xã để cùng có ruộng. - Thời kỳ đổi mới kinh tế: Vấn đề đổ vỡ của các hợp tác xã nông nghiệp cũng dẫn tới việc tự phát đòi lại ruộng đất ông cha. Rất nhiều hộ gia đình kinh tế mới và định canh định cư vì không còn ruộng nước canh tác đã tiến hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 31 lập trại tại các vùng đầu nguồn sông, suối để làm kinh tế nông lâm kết hợp. Chính sách hỗ trợ trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc theo chương trình 327 đã được chính quyền địa phương triển khai và nhân dân tích cực tham gia. Bên cạnh đó, Nhà nước còn thực hiện chính sách hỗ trợ dãn dân thực hiện chương trình 327 cho hàng nghìn hộ trên địa bàn tỉnh. Trong bối cảnh như vậy đã hình thành nên một loại hình kinh tế mới, đó là các trang trại tách biệt ra khỏi các khu dân cư làng bản lâu đời. Đại đa số các trang trại này là của những gia đình nông dân bị sức ép do mất đất canh tác sau thời kỳ đòi lại “ruộng đất ông cha” ở Bắc Kạn cuối những năm 1980, còn lại một số ít là của công nhân viên chức, bộ đội phục viên và tiểu thương có điều kiện về kinh tế. 1.1.4. Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở nƣớc ta từ khi đổi mới theo nền kinh tế thị trƣờng * Giai đoạn 1989-1999: Để “đổi mới” về kinh tế, ở Đại hội VI (12/1986) Đảng đã chỉ ra, trong thời kỳ quá độ ở nước ta là “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần” và tiếp đến (4/1989) trong nông nghiệp có Nghị Quyết VI năm 1989, Đảng chỉ ra rằng “gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh doanh tự chủ” đồng thời, luật doanh nghiệp tư nhân cũng được công bố ngày 3/1/1991. Đó chính là những cơ sở để hệ thống trang trại phát triển với tốc độ và quy mô càng cao lớn hơn. Trên thực tế từ năm 1989 đến 1999, từ Nam Bộ đến các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên hoặc tới các tỉnh miền núi phía Bắc đã hình thành từng loại trang trại. Các loại trang trại này chuyên môn hóa sản xuất lúa, mía, cà phê, cao su, cây ăn quả, chè,… và chăn nuôi các loại lợn, gia cầm, trâu bò. Hoặc chuyên môn hóa lúa kết hợp hợp lý các ngành với quy mô từ nhỏ, vừa, lớn đến cực lớn. quy mô diện tích đất kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 32 doanh phổ biến là trên dưới 5 ha đến 10 - 20 - 30, thậm chí đến hàng trăm ha (như ngư trại khai hoang lấn biển nuôi trồng thủy sản nông thôn của ông Nguyễn Văn Khanh ở huyện An Hải - Hải Phòng có diện tích kinh doanh từ 246 - 300 ha). Có trang trại rộng hàng nghìn hoặc hơn 200 ha đất canh tác hay làm trại trồng rừng cũng có hơn 200 ha. Các chủ trang trại hầu hết đã sử dụng lực lượng cơ khí, nhất là máy kéo và lao động làm thuê. Giá trị tổng sản phẩm của các trang trại loại nhỏ phổ biến là trên dưới 100 đến 200 triệu, loại vừa 200 triệu đến 1 tỷ, loại lớn 1 tỷ đến 5 tỷ, loại cực lớn là trên 5 tỷ. Nhìn chung, các trang trại đã xuất hiện và phát triển ở nhiều nơi kể cả vùng đồng bằng sông Hồng là nơi đất hẹp người đông. Nhưng phát triển nhanh nhất là ở các tỉnh huyện trung du, miền núi và nhiều tỉnh của Nam Bộ hoặc ở vùng đất mới khai hoang, lấn biển. Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, năm 1989 tổng số có 5.125 trang trại, đến năm 1992 đã tăng lên đến 13.246 trang trại, nhiều hơn gấp 2,53 lần. Đến ngày 1/7/1999 cả nước có 90.167 trang trại, tăng gấp 6,8 lần so với năm 1989. Diện tích đất trong kinh doanh nông nghiệp trong cùng thời gian từ năm 1989 đến năm 1992 đã tăng từ 22.946 ha lên 58.282 ha, gấp 2,54 lần, đến năm 1999 tăng lên 396.282 ha, gấp 6,81 lần so với năm 1992 và gấp 17,29 lần so với năm 1989. Vốn đầu tư của các trang trại cả nước, nếu tính từ khi mới thành lập ở năm 1989 của 5.125 trang trại có chừng 513.677 triệu đồng thì đến năm 1999 của 90.167 trang trại đã đầu từ đến 18.030.000 triệu đồng nhiều hơn gấp 35,1 lần. Điều đó phản ánh trình độ đầu tư thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các trang trại trong 10 năm qua đã dần dần tăng lên. Tổng giá trị sản phẩm bình quân của các trang trại trong những năm 1997-1999 được chừng 9.575 tỷ đồng/năm chiếm 7,89% giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp. Đặc biệt là tỷ suất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 33 nông sản hàng hoá của các trang trại ở năm 1992 chiếm 78,6% thì năm 1999 đã tăng lên đến 86,74% [17]. Như vậy, trong 10 năm (1989-1999) kinh tế trang trại đã phát triển với tốc độ ở những năm sau tăng nhanh hơn những năm trước. Thêm vào đó cần lưu ý là ở những vùng có bình quân diện tích ruộng đất nông nghiệp cao và có truyền thống sản xuất hàng hoá như đồng bằng sông Cửu Long và những vùng trung du miền núi (có nhiều đất trống đồi trọc) hoặc ở các vùng khai hoang lấn biển (như Cồn Ngạn, H. Giao Thuỷ, T. Nam Định) thì tốc độ và quy mô phát triển trang trại rất nhanh. * Giai đoạn 2000-2006: Sau khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về kinh tế trang trại, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản [21]. - Số lượng trang trại (1) tăng nhanh, loại hình sản xuất đa dạng đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Biểu 1.3: Số lƣợng trang trại phân theo vùng ở Việt nam 2000 - 2006 Đơn vị tính: Trang trại Danh mục 2000 2001 2002 2003 Cả nƣớc Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 57.069 61.017 61.787 1646 1834 2793 3201 282 135 4084 3013 3122 2904 3589 6035 9586 12705 31967 31190 1939 3210 163 3216 2943 6223 12126 31967 2004 2005 2006 86.141 110.832 114.362 113.730 5.031 4.859 367 4.842 6.509 6.650 14.938 42.945 8.131 4.984 400 5.882 6.936 9.450 18.921 56.128 9.637 5.473 395 6.706 7.138 9.623 18.808 56.582 13.863 4704 522 6.756 7.808 8.785 16.867 54.425 Nguồn: Tổng cục Thống kê (1) Theo tiêu chí trang trại được qui định trong Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 34 Kinh tế trang trại phát triển nhanh về số lượng ở tất cả các vùng trong cả nước, đến thời điểm 01/7/2006, cả nước có 113.730 trang trại, so với năm 2001 tăng 52.713 trang trại (-86,4%), so với năm 2004 tăng 2.898 trang trại (-2,5%). Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là những vùng có nhiều đất đai, mặt nước thuận lợi để mở rộng qui mô trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản là những vùng tập trung số lượng trang trại nhiều nhất. Ba vùng này có 80.077 trang trại, chiếm 70,4%. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 54.425 trang trại chiếm gần 50% số trang trại cả nước. Loại hình sản xuất của trang trại ngày càng đa dạng và có sự chuyển dịch về cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng các trang trại trồng cây hàng năm và cây lâu năm và tăng tỷ trọng các loại trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất kinh doanh tổng hợp. Tỷ trọng trang trại trồng cây hàng năm giảm từ 35,6% (năm 2001), xuống còn 28,7% (năm 2006); trang trại trồng cây lâu năm từ 27,2% giảm xuống còn 20,2%; trang trại chăn nuôi từ 2,9% tăng lên 14,7%; trang trại nuôi trồng thuỷ sản từ 27,9% tăng lên 30,1% trong thời gian tương ứng. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 54.425 trang trại; trong đó 24.425 trang trại trồng cây hàng năm, chiếm 44,9% số lượng trang trại của vùng, 25.147 trang trại nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 46,2%. Đông Nam Bộ có 16.867 trang trại chiếm 14,8% của cả nước; trong đó 9537 trang trại trồng cây lâu năm, chiếm 56,5% số lượng trang trại của vùng, 3.839 trang trại chăn nuôi, chiếm 22,8%. Tây Nguyên có 8.785 trang trại, chiếm 7,7% của cả nước; trong đó 7.046 trang trại trồng cây lâu năm, chiếm 80,2% số lượng trang trại của vùng. Đồng bằng sông Hồng có 13.863 trang trại chiếm 12,2% của cả nước, trong đó 7.562 trang trại chăn nuôi, chiếm 54,5% của vùng. - Trang trại sử dụng ngày càng nhiều ruộng đất, dấu hiệu tích tụ ruộng đất - điều kiện tiên quyết cho nền sản xuất lớn nông nghiệp. Tại thời điểm 01/7/2006, diện tích đất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 35 các trang trại đang sử dụng là 663,5 nghìn ha, tăng 290,3 nghìn ha so năm 2001 (bình quân 1 trang trại sử dụng 5,8 ha). Trong cơ cấu đất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trang trại đang sử dụng năm 2006, đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 286,4 nghìn ha (43,2%); đất trồng cây lâu năm 148 nghìn ha (22,3%); đất lâm nghiệp 94,7 nghìn ha (14,3%) và đất nuôi trồng thuỷ sản 134,4 nghìn ha (20,2%). Diện tích đất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bình quân 1 trang trại cao nhất là ở vùng Tây Bắc 9,82 ha, Đông Bắc 8,87 ha, Bắc Trung Bộ 7 ha, chủ yếu là do các vùng này có nhiều trang trại lâm nghiệp (tiêu chí qui định từ 10 ha trở lên). Đặc điểm đất đai của các trang trại là đất sản xuất liền bờ, liền khoảnh, qui mô lớn nên rất thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, bảo vệ, vận chuyển sản phẩm và nhất là cơ giới hoá, thủy lợi hoá, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật. - Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Tại thời điểm 01/7/2006, các trang trại đã sử dụng 395,9 nghìn lao động làm việc thường xuyên, gấp 1,7 lần so năm 2001; trong đó lao động của hộ chủ trang trại là 291,6 nghìn người, chiếm 73,6% tổng số lao động, còn lại là lao động thuê mướn. Do tính chất thời vụ của sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nên ngoài lao động thuê mướn thường xuyên, các trang trại còn thuê mướn lao động thời vụ. Những trang trại trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản sử dụng nhiều lao động thường xuyên nhất. Thu nhập bình quân 1 lao động làm việc thường xuyên của trang trại là 17,5 triệu đồng/năm cao gấp trên 2 lần so lao động khu vực nông thôn. Tuy nhiên, lao động làm việc trong trang trại chủ yếu vẫn là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chỉ có khả năng đảm nhiệm những công việc giản đơn như làm đất, trồng cây, chăn dắt gia súc, gia cầm, chế biến thức ăn,… có rất ít lao động đảm nhiệm các khâu yêu cầu trình độ kỹ thuật như điều khiển máy móc, chọn giống cây, con, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, mua vật tư, bán sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 36 phẩm,... Điều đó đang đặt ra yêu cầu cấp bách đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. - Qui mô vốn sản xuất, kinh doanh của trang trại tăng nhanh do các chủ trang trại tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất, thâm canh cây trồng vật nuôi. Tại thời điểm 01/7/2006, tổng vốn sản xuất, kinh doanh của các trang trại là 29320,1 tỷ đồng, bình quân một trang trại 257,8 triệu đồng, tăng 122,7 triệu đồng so năm 2001 (-90,8%). Vốn sản xuất, kinh doanh bình quân 1 trang trại cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 575,5 triệu đồng (tăng 341,6 triệu đồng so năm 2001) do chủ yếu trang trại trồng cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, tiếp đến là Tây Nguyên 279,6 triệu đồng (-100,7 triệu đồng); Đồng bằng sông Cửu Long 206,6 triệu đồng (-135,2 triệu đồng); Đồng bằng sông Hồng 200,9 triệu đồng (-94,3 triệu đồng); Tây Bắc 200 triệu đồng (-90,5 triệu đồng); Đông Bắc 192,1 triệu đồng (-107,2 triệu đồng); thấp nhất là Duyên hải Nam Trung Bộ 144,4 triệu đồng do chủ yếu trang trại trồng cây hàng năm cần ít vốn hơn. Những tỉnh có vốn sản xuất, kinh doanh bình quân 1 trang trại từ 500 triệu đồng trở lên là: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu. - Kinh tế trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng lớn, gắn với thị trường. Tổng thu sản xuất, kinh doanh của các trang trại năm 2006 đạt 19.826 tỷ đồng, gấp 3,6 lần năm 2001, bình quân 174,9 triệu đồng 1 trang trại, gấp 1,9 lần so năm 2001. Tổng thu sản xuất, kinh doanh bình quân 1 trang trại cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 221 triệu đồng; Đồng bằng sông Hồng 193 triệu đồng; Đồng bằng sông Cửu Long 181 triệu đồng; Tây Nguyên 148,6 triệu đồng; Đông Bắc 139 triệu đồng; Duyên hải Nam Trung Bộ 112 triệu đồng; Tây Bắc 100 triệu đồng và thấp nhất là Bắc Trung Bộ 105 triệu đồng. Giá trị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bán ra năm 2006 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 37 là 18031 tỷ đồng, gấp 3,6 lần so năm 2001, bình quân 1 trang trại 159 triệu đồng gấp 1,9 lần, tỷ suất hàng hoá là 95,2%. Các vùng có tỷ suất hàng hoá cao là: Đông Nam Bộ 98,2%, Duyên hải Nam Trung Bộ 98,1%, Tây Nguyên 96,2%, Đồng bằng sông Hồng 95,6%, thấp nhất là Tây Bắc 89,8%. Thu nhập trước thuế của các trang trại năm 2006 đạt 6.979 tỷ đồng gấp 3,5 lần so năm 2001, tỷ lệ thu nhập trước thuế so tổng thu là 35,2% (giảm 0,2% so năm 2001). Thu nhập trước thuế bình quân 1 trang trại 61,4 triệu đồng gấp 1,9 lần so năm 2001. Mức chênh lệch giữa các vùng, các địa phương về thu nhập bình quân 1 trang trại còn lớn: cao nhất là Đông Nam Bộ 85,2 triệu đồng gấp hơn 2 lần vùng thấp nhất là Duyên hải Nam Trung Bộ 38,3 triệu đồng, Đồng bằng sông Cửu Long 64 triệu đồng, Đông Bắc 52,3 triệu đồng, Đồng bằng sông Hồng 47,6 triệu đồng. Tỷ lệ thu nhập trước thuế so tổng thu sản xuất, kinh doanh của trang trại cũng có sự chênh lệch lớn giữa các vùng do chịu ảnh hưởng của loại hình sản xuất và hiệu quả của sản xuất, kinh doanh: cao nhất là Tây Bắc 47,1%, Tây Nguyên 43,4%, Đông Nam Bộ 38,6%, thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng 24,6%. 1.1.5. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn - Kinh tế trang trại gắn liền quá trình công nghiệp hoá của các nước từ thấp đến cao, chính công nghiệp hoá đặt ra yêu cầu khách quan để phát triển trang trại, cơ chế thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển. - Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau, nhưng phổ biến nhất là trang trại gia đình. Chính các trang trại gia đình quy mô nhỏ mới thực sự là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, lâu dài. - Điều kiện cần và đủ cho việc phát triển kinh tế trang trại gia đình là sự hình thành nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 38 - Trang trại gia đình muốn hoạt động có hiệu quả cần phải có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà nước thông qua các chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô như: Chính sách thuế, chính sách tài chính, tín dụng, chính sách bảo trợ nông nghiệp, bảo hộ lao động... - Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai. - Số lượng lao động trong các trang trại không phụ thuộc vào quy mô sản xuất của trang trại mà phụ thuộc vào trình độ công nghệ sản xuất. - Các trang trại gia đình chủ yếu sử dụng lao động của hộ gia đình và một số ít lao động thuê ngoài (chủ yếu theo thời vụ). - Trang trại ngày nay được trang bị kỹ thuật hiện đại, ứng dụng ngày càng nhiều khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học ... 1.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết - Trong những năm qua, kinh tế trang trại của tỉnh Bắc Kạn đã phát triển thế nào? - Yếu tố nào ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế trang trại của tỉnh Bắc Kạn? - Hiệu quả kinh tế của các trang trại tỉnh Bắc Kạn thế nào? - Giải pháp nào thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bắc Kạn? 1.2.2. Phuơng pháp nghiên cứu 1.2.2.1. Cơ sở phương pháp luận đề tài * Phương pháp tiếp cận duy vật: Nghiên cứu trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Đây được coi là phương pháp chung, định hướng cho cả quá trình nghiên cứu luận văn này. * Phương pháp tiếp cận dựa trên quan điểm kinh tế: Tiếp cận kinh tế trang trại theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội kết hợp phát triển bền vững. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 39 - Tiếp cận kinh tế trang trại theo hướng kinh tế thị trường: Mối quan hệ giữa chủ trang trại với thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường đầu ra; xem xét, xác định thế mạnh là gì? Lợi thế so sánh cụ thể? So sánh về mức độ gắn bó với thị trường, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu để từ đó có hướng khắc phục; định hướng đầu tư để phát triển kinh tế trang trại như thế nào, chọn hướng sản xuất kinh doanh dịch vụ nào cho phù hợp với yêu cầu của thị trường; vấn đề liên kết liên doanh, cạnh tranh trong sản xuất trang trại… - Tiếp cận kinh tế trang trại theo hướng kinh tế hộ: Đây là phương pháp tiếp cận cơ bản và xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu kinh tế trang trại. Kinh tế trang trại chủ yếu được hình thành từ nền tảng kinh tế hộ. Do vậy tiếp cận để nghiên cứu, phân tích nó phải vận dụng các lý thuyết liên quan đến kinh tế hộ. * Phương pháp tiếp cận hệ thống. Tiếp cận hệ thống có nghĩa là khi tiếp cận một đối tượng nghiên cứu cụ thể phải xem xét, đặt nó trong một hệ thống mối quan hệ nhất định. - Tiếp cận hệ thống dọc: Tiếp cận theo hệ thống dọc ở đây chủ yếu là theo quản lý xã hội gồm: Trung ương - tỉnh - huyện - xã - làng, bản, thôn, xóm - hộ gia đình...; theo hệ thống chính sách có: hệ thống các chủ trương, chính sách vĩ mô của nhà nước có liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông dân, trang trại; hệ thống các chính sách, quy định của các bộ ngành Trung ương để triển khai các chủ trương chính sách vĩ mô nêu trên; hệ thống các chủ trương, quy định của địa phương có liên quan... - Tiếp cận hệ thống ngang: Chủ yếu là hệ thống các trang trại có cùng một ngành nghề sản xuất; hệ thống các trang trại có trong cùng một thời điểm, một giới hạn địa lý nhất định như một xã, một huyện, hay trong toàn tỉnh... Trang trại là một bộ phận gắn bó hữu cơ trong hệ sinh thái miền núi, gắn với môi trường, nguồn nước... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 40 1.2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu khoa học - Thu thập tài liệu thứ cấp: Những số liệu, thông tin liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quá trình nghiên cứu đã được công bố chính thức của cơ quan thống kê các cấp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu; thông tin trên internet, các báo cáo chuyên đề, các tài liệu, xuất bản phẩm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. - Thu thập các dữ liệu trực tiếp thông qua điều tra, khảo sát: Điều tra trực tiếp qua phỏng vấn các chủ trang trại để lấy thông tin theo nội dung phiếu điều tra đã được chuẩn bị. Tác giả là người trực tiếp thực hiện công việc này, bởi số trang trại ở Bắc Kạn không lớn và hơn nữa là thông tin được đầy đủ và tin cậy hơn. Bao gồm các công việc sau đây: + Xây dựng mục tiêu, lĩnh vực điều tra và đối tượng điều tra, từ đó lập phiếu điều tra để tiến hành điều tra; + Tiến hành điều tra tổng thể các trang trại hiện có trong tỉnh tại thời điểm điều tra; + Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) thông tin sơ cấp bằng hệ thống bảng tính Excel phục vụ cho việc phân tích, đánh giá. - Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn - RRA (Rapid Rural Appraisal): Dựa trên các thông tin được thu thập từ trước, quan sát trực tiếp và phỏng vấn khi cần thiết các đối tượng khác ngoài chủ trang trại với câu hỏi không được chuẩn bị trước. Phương pháp này chủ yếu để kiểm chứng lại thông tin điều tra chủ trang trại. - Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn bán cấu trúc để lấy thông tin từ một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ chuyên gia đại diện các ngành, địa phương trong lĩnh vực nghiên cứu. Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá chung về vấn đề đang nghiên cứu, giúp cho quá trình phân tích được chính xác hơn, không mang tính chủ quan của người làm luận văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 41 - Phương pháp thống kê, mô tả: Lập danh sách và sắp xếp theo trình tự riêng biệt các yếu tố kinh tế, xã hội môi trường; đặc tính giống nhau, tiêu biểu, chung, phổ biến của các trang trại tỉnh Bắc Kạn; cập nhật, hệ thống hoá những thông tin, vấn đề phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài. Phương pháp thống kê, mô tả được sử dụng chủ yếu trong phần phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng. - Phương pháp phân tích, đánh giá theo cách so sánh chuỗi: Trên cơ sở chuỗi số liệu có được, tiến hành phân tích, rút ra các quy luật phát triển của vấn đề nghiên cứu và trực tiếp đưa ra các phán đoán định tính dựa trên các số liệu đã có: tăng hay giảm; mức và tốc độ tăng, giảm diễn ra như thế nào, so sánh với khả năng của địa phương là thấp hay cao... - Phương pháp phân tích, đánh giá thông qua so sánh chéo: So sánh chéo với các địa phương khác để xác định một cách khách quan mục tiêu, kết quả của vấn đề nghiên cứu. - Phương pháp phân tổ thống kê đối tượng nghiên cứu: Phân tổ các trang trại thành những nhóm loại hình sản xuất kinh doanh trên cơ sở tiêu chí trang trại hiện hành và diễn tả bằng các biểu thống kê. Việc phân tổ theo tiêu chí như vậy sẽ đảm bảo tính thống nhất từ quá trình nghiên cứu đến công tác quản lý nhà nước về kinh tế trang trại. - Phương pháp phân tích, tính toán những chỉ số thống kê, những đại lượng trung bình và hệ số tương đối... tính hiệu quả, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của trang trại (vốn, đất đai, lao động), so sánh kết quả các loại hình trang trại, dự báo xu hướng phát triển của trang trại. - Kiểm định thống kê bằng phương pháp so sánh cặp đôi sử dụng phần mềm SPSS (Statiscal Package for Social Sciences). - Phương pháp phân tích SWOT (Strength Weakness Opportunity Threat) để phát hiện vấn đề cơ bản phát triển kinh tế trang trại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 42 1.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu 1.2.3.1. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất - Giá trị sản xuất: GO (Gross output) là giá trị bằng tiền của các sản phẩm được bán ra ở trang trại, bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất, thường là một năm. Được tính bằng sản lượng của từng loại sản phẩm nhân với đơn giá một đơn vị sản phẩm. Cách tính: GO = ∑PiQi Trong đó: GO: Giá trị sản xuất Pi: Giá của sản phẩm hàng hoá thứ i Qi: Lượng sản phẩm hàng hoá i - Chi phí trung gian: (IC: Intermediate cost) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón, chi phí dịch vụ và lao động thuê. Cách tính: IC = ∑Cij Trong đó: IC: là chi phí trung gian Cij: là chi phí nguyên vật liệu thứ i cho sản phẩm j - Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất sáng tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh (ở đây tính là năm). Cách tính: VA = GO - IC 1.2.3.2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất - Hiệu quả sử dụng lao động: Giá trị gia tăng (VA)/ lao động; - Hiệu quả sử dụng vốn: Giá trị gia tăng (VA)/ vốn; - Hiệu quả sử dụng đất: Giá trị gia tăng (VA)/ ha đất trang trại; - Tỷ suất hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 43 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẮC KẠN 2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ ngày 01/01/1997, đến nay tỉnh có 8 đơn vị hành chính, gồm 7 huyện và 1 thị xã tỉnh lỵ với 122 xã, phường, thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên 4.857,21 km2, dân số trung bình năm 2006 trên 30 vạn người, với 7 dân tộc anh em gồm Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông, Hoa, Sán Chay, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80%. 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Bắc Kạn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ, ở vị trí trung tâm các tỉnh thuộc Việt Bắc cũ, có toạ độ địa lý 21o 48’ đến 22o44’ độ vĩ Bắc, 105o26’ đến 106o15’ độ kinh Đông. Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng. Thị xã tỉnh lỵ Bắc Kạn cách thủ đô Hà Nội 170 km về phía Bắc. Quốc lộ 3 qua tỉnh dài 123,5 km là tuyến giao thông quan trọng để giao lưu kinh tế, xã hội của Bắc Kạn với Hà Nội và các tỉnh khác trong vùng. Vị trí địa lý của Bắc Kạn ở vào thế khó khăn so với nhiều tỉnh khác trong vùng, xa trung tâm phát triển kinh tế của vùng, lại không có cửa khẩu biên giới nên việc giao lưu kinh tế, thu hút nguồn lực để đầu tư. 2.1.1.2. Đặc điểm địa hình Bắc Kạn là tỉnh miền núi là nơi hội tụ của một hệ thống nếp núi có dạng hình cánh cung như: cánh cung Sông Gâm; cánh cung Ngân Sơn - Yến Lạc nên có địa hình tương đối phức tạp, đa dạng, độ chia cắt mạnh gồm nhiều dạng địa hình như: thung lũng, núi cao, núi trung bình và núi đá vôi... núi đá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 44 xen lẫn núi đất dễ gây sạt lở. - Phía Tây của tỉnh có độ cao thấp dần từ Đông Bắc xuống Đông Nam, có nhiều đỉnh cao trên 1000 m, địa hình chia cắt mạnh, độ dốc bình quân 2630o, nhiều dãy núi đá đồ sộ nằm ở phía Bắc huyện Chợ Đồn và phía Nam huyện Ba Bể xen kẽ núi đất tạo thành những thung lũng hẹp. - Phía Đông địa hình hiểm trở nằm trong phần cuối của cánh cung Ngân Sơn - Yến Lạc, có dãy núi đá vôi Kim Hỉ là khối đá đồ sộ, dân cư thưa thớt. - Phía Tây Bắc là hồ Ba Bể có diện tích tự nhiên khoảng 500 ha, độ sâu khoảng 20 - 30 m, thiên nhiên đã tạo ra nơi đây một phong cảnh đẹp, một khu du lịch lý tưởng. - Phía Nam của tỉnh là vùng đồi núi thấp như vùng chuyển tiếp từ trung du lên miền núi, độ cao bình quân từ 300 - 400 m so với mặt nước biển, đây là phần cuối cùng của cánh cung Sông Gâm, Ngân Sơn - Yến Lạc. Tuy độ cao không lớn, độ dốc bình quân 26o nhưng địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nên các thung lũng nhiều hơn và rộng hơn điển hình là các thung lũng ven sông Cầu. 2.1.1.3. Điều kiện thời tiết - khí hậu, thuỷ văn Thời tiết - khí hậu: Bắc Kạn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc Việt Nam, một năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ bình quân năm khoảng 22,50C, tháng 2 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 15,70C, tháng nóng nhất là tháng 6 có nhiệt độ khoảng 280C. Do địa hình phức tạp nên đã hình thành các vùng tiểu khí hậu khác nhau, nhìn chung khí hậu của Bắc Kạn tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng. Bắc Kạn chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam về mùa hè và gió mùa Đông Bắc về mùa Đông. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1400-1900 mm, cao nhất vào tháng 7 và thấp nhất vào tháng 2, mùa mưa từ tháng 2 đến tháng 9 chiểm khoảng 75-80% tổng lượng mưa trong năm. Độ ẩm không khí Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 45 trung bình 82-85%. 2.1.1.4. Tài nguyên đất Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn năm 2006 là 486.842 ha, trong đó đất nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) là 372.186 ha chiếm 76%, đất phi nông nghiệp là 18.816 ha chiếm 4,0% và đất chưa sử dụng là 95.839 ha chiếm 20%. Nhìn chung đất đai trong tỉnh Bắc Kạn tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dầy, có hàm lượng mùn cao, thích hợp cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên ở một số nơi như Ngân Sơn, Bạch Thông do lớp thảm thực vật bị mất trong nhiều năm nên đất bị sói mòn, thoái hoá làm cho tầng đất mỏng, nghèo dinh dưỡng, khô cằn. Những loại đất chính của tỉnh Bắc Kạn như sau: - Đất phù sa sông: có diện tích khoảng 761 ha được phân bố ở ven sông Cầu, sông Năng, sông Bắc Kạn và tại các huyện Chợ Mới, Na Rì, Ba Bể, thị xã Bắc Kạn. Loại đất này giàu hàm lượng các chất dinh dưỡng, rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp thâm canh. - Đất phù sa ngòi suối: loại đất này có 10.067 ha phân bố dọc theo các triền suối thuộc lưu vực sông Năng, sông Cầu và sông Bắc Kạn. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn và tỷ lệ mùn trung bình, hàm lượng lân dễ tiêu khá. Tuy nhiên loại đất này chua, tỷ lệ các nguyên tố vi lượng nghèo và sắt nhôm di động cao. - Đất dốc tụ trồng lúa nước: với diện tích 2.249 ha, phân bố xen kẽ với các loại đất khác và có mặt ở hầu khắp các huyện. Loại đất này có địa hình phức tạp do nằm xen kẽ và các lòng máng lớn nhỏ tạo thành. Đất lẫn nhiều sỏi đá và thành phần dinh dưỡng nghèo, đất chua, thiếu lân. - Đất Ferelit biến đổi: có diện tích khoảng 2.242 ha phân bố rải rác ở các huyện thị nhưng tập trung ở huyện Bạch Thông. Đặc điểm do thường xuyên bị ngập nước nên đất chua nhưng hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bì nh. Tầng đất dày khoảng 50 cm và loại đất này khả năng giữ nước kém. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 46 - Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: với diện tích trên 400 ha phân bố ở huyện Chợ Mới, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn. Đất có tầng đất dày trên 1 m và nằm trên dườn đồi có độ dốc nhỏ dưới 120. Đất chua, nghèo lân và lượng nhôm di động cao. - Đất Feralit phát triển trên đá phiến thạch sét: loại đất này có diện tích lớn bằng 82.152 ha, phân bố ở tất cả các huyện thị trong tỉnh. Loại đất này có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày tuy nhiên cũng hay bị sụt lở. Hàm lượng dinh dưỡng phụ thuộc vào tình hình rừng ở phía trên. - Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá granit: với 48.977 ha loại đất này phân bố ở Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn. Thành phần cơ giới trung bình và tầng đất từ trung bình đến dày. Hàm lượng mùn cao, đất có phản ứng trung tính. - Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất: loại đất này có diện tích lớn nhất (162.255 ha), phân bố ở Ngân Sơn, Chợ Đồn, Ba Bể, Chợ Mới. Tầng đất dày và kết cấu đất tơi xốp nên rất dễ bị sụt lở, rửa trôi. Đạm và mùn có hàm lượng khá giàu nhưng lân dễ tiêu lịa nghèo, đất chua. - Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi: có diện tích 59.728 ha, phân bố ở hầu khắp các huyện song nhiều nhất là Na Rì, Ba Bể, Bạch Thông. Tầng đất mỏng nhưng cấu tượng của đất tốt. Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong loại đất này như Ca và Mg rất lớn. - Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên sa thạch: với diện tích 14.632 ha, loại đất này phân bố chủ yếu ở Na Rì, Ba Bể, Ngân Sơn. Tầng đất trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn và chất hữu cơ nghèo. Đất chua, rất chua và dễ bị xói mòn, bị bạc màu. - Đất Feralit mùn trên núi cao trên 700 m: loại đất này có diện tích 64.200 ha, phân bố ở các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông và Na Rì. Tầng đất mỏng nhưng hàm lượng mùn khá cao do chất hữu cơ phân giải. Loại đất này rất thích nghi với một số loại cây trồng ôn đới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 47 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất của Bắc Kạn cụ thể như sau: Biểu 2.4: Tình hình sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn 2001-2006 Đơn vị tính: ha Năm Năm Năm 2001 2005 2006 485.721 486.842 486.842 332.232 371.767 372.186 1. Đất sản xuất nông nghiệp 30.024 37.798 37.710 2. Đất lâm nghiệp 301.718 333.058 333.564 486 861 877 4. Đất nông nghiệp khác 4 50 35 II. Đất phi nông nghiệp 15.622 18.582 18.816 1. Đất ở 2.124 2.345 2.346 2. Đất chuyên dùng 7.901 10.684 10.821 4 4 105 166 172 5.492 5.382 5.470 1 3 137.867 96.493 95.839 5.334 3.345 3.423 2. Đất đồi núi chưa sử dụng 122.480 88.516 87.837 3. Núi đá không có rừng cây 10.053 4.632 4.579 Loại đất Tổng diện tích tự nhiên I. Đất nông nghiệp 3. Đất nuôi trồng thuỷ sản 3. Đất tôn giáo, tín ngưỡng 3. Đất nghĩa trang, nghĩa địa 4. Đất sông, suối, mặt nước chuyên dụng 5. Đất phi nông nghiệp khác III. Đất chƣa sử dụng 1. Đất bằng chưa sử dụng Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn - Đất nông nghiệp: đây là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội chiếm 76%, trong đó đất sản xuất nông nghiệp rất hạn chế chỉ có 37.710 ha chiếm 4,0% diện tích tự nhiên. Hiện tại hệ số sử dụng đất khoảng 1,91 lần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 48 và so với các tỉnh khác trong vùng tương đối thấp. + Đất trồng cây hàng năm có 32.142 ha chiếm 6,7% trong đó trồng lúa là 18.736 ha . Đất trồng cây hàng năm còn lại có 13.965 ha chủ yếu gieo trồng các loại rau, màu, đậu tương (2.558 ha), ngô (14.637 ha), lạc, bông, vùng v.v. Đất trồng cây lâu năm có 5.567 ha chiếm 1,2% diện tích tự nhiên. Năng suất cây trồng hàng năm và lâu năm ở Bắc Kạn không cao, bình quân mới chỉ bằng 60 đến 70% so với năng suất có thể đạt được. Nguyên nhân cơ bản là nông dân chưa thâm canh mà chủ yếu là quảng canh với nguồn giống chưa bảo đảm. + Đất lâm nghiệp có 420.990,5 ha, chiếm 86,4% diện tích tự nhiên, trong đó rừng tự nhiên là chủ yếu khoảng 224.151,4 ha (chiếm đến 53,2% đất lâm nghiệp) nhưng chủ yếu là rừng nghèo, rừng mới phục hồi; rừng trồng 39.352,5 ha chiếm hơn 9,34% đất lâm nghiệp. - Đất phi nông nghiệp: trong 5 năm vừa qua diện tích đất phi nông nghiệp tăng chậm, năm 2000 có 15.622 ha (chiếm 3,22% diện tích tự nhiên) đến năm 2005 tăng lên 18.582 ha (chiếm 3,82% diện tích tự nhiên) và năm 2007 là 18.816 ha (chiếm 3,9% diện tích tự nhiên). - Đất chưa sử dụng: diện tích đất chưa sử dụng giảm xuống trong 5 năm vừa qua khoảng 42 nghìn ha xấp xỉ 8,6% và hiện nay còn 95.839 ha, chiếm khoảng 19,68%. Đất chưa sử dụng độ dốc thấp có diện tích rất hạn chế (ước tính dưới 15%) mà chủ yếu là đất chưa sử dụng có độ dốc lớn với diện tích chiếm trên 85% hiện nay, chủ yếu dùng vào phát triển lâm nghiệp (rừng phòng hộ). Từ kết quả trên cho thấy tiềm năng đất của tỉnh còn khá lớn, riêng đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp là trên 80 ngàn ha. Hiện nay, hệ số sử dụng đất còn thấp, có thể nâng hệ số sử dụng đất lên. năng suất cây trồng, vật nuôi cũng còn tiềm ẩn khá, nếu áp dụng đưa giống mới vào sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 49 xuất, chế độ canh tác hợp lý thì sẽ đưa được năng suất lên ít nhất là 1,3 - 1,4 lần so với năng suất hiện nay. 2.1.1.5. Tài nguyên nước Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn, với tổng chiều dài là 313 km, lưu lượng lớn 105,3 m3/s và có nước quanh năm. Các con sông Năng chảy qua huyện Ba Bể là phụ lưu của Sông Gâm, Sông Phó Đáy bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn là phụ lưu của Sông Lô; Sông Bắc Giang bắt nguồn từ huyện Na Rì, Sông Ngân Sơn bắt nguồn từ huyện Ngân Sơn là phụ lưu của sông Kỳ Cùng; suối Nà Vài bắt nguồn từ huyện Ngân Sơn là phụ lưu của Sông Bằng Giang chảy về tỉnh Cao Bằng và sông Cầu bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn chảy về tỉnh Thái Nguyên. Ngoài các con sông chính, trong tỉnh còn có các hệ thống suối lớn, nhỏ khá nhiều, song đa phần nhỏ và ngắn, độ dốc lớn nên nhiều thác ghềnh. Mùa khô các con suối thường cạn nước, nhưng mùa mưa nước lại dồn về rất nhanh nên thường gây nên lũ quét ở miền núi. Nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn tương đối phong phú nhất là nước mặt (khoảng 3,7 tỷ m3, hàng năm tiếp nhận 2-2,5 tỷ m3 nước mưa. Hiện nay việc khai thác tài nguyên nước mới chỉ dừng lại ở mức tự nhiên là chính, chưa có giải pháp khai thác tổng hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường. Trong tương lai cần đẩy mạnh trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để hạn chế dòng chảy chống lũ lụt, xói mòn, rửa trôi, xây dựng các phai, đập, hồ chứa nước cho sinh hoạt và sản xuất nhằm khai thác hợp lý, khoa học và có hiệu quả nguồn tài nguyên nước của tỉnh. 2.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản Do đặc điểm lãnh thổ tỉnh Bắc Kạn nằm trong hai kiểu kiến trúc địa chất có chế độ địa động khác nhau đã tạo cho Bắc Kạn có tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, phong phú rất đặc trưng. Trong các khoáng sản đa dạng và phong phú của Bắc Kạn thì vàng, chì, kẽm, quặng sắt là khoáng sản có tiềm năng lớn nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 50 Tóm lại, tài nguyên khoáng sản tại Bắc Kạn tương đối phong phú, đa dạng và giầu tiềm năng, trong đó quặng chì-kẽm, quặng vàng, quặng sắt và khoáng sản làm vật liệu xây dựng là có trữ lượng công nghiệp. Song để khai thác và sử dụng có hiệu quả góp phần làm giầu cho tỉnh đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về điều tra khảo sát, kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật... 2.1.1.7. Tài nguyên rừng Đến năm 2006 Bắc Kạn có 333.564,37 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng là 263.503,9 ha, rừng tự nhiên 224.151,4 ha, rừng trồng là 39.352,5 ha và đất chưa có rừng là 157.484,6 ha. Độ che phủ của rừng chiếm 55%. Cơ cấu rừng so với tổng diện tích đất lâm nghiệp như sau: rừng sản xuất 276.557,3 ha, chiếm 65,69%; rừng phòng hộ 118.449,2 ha, chiếm 28,14%; rừng đặc dụng 25.984 ha, chiếm 6,17%. Sản lượng gỗ khai thác hàng năm trên 63.000 m3. Nếu như năm 1997 diện tích rừng tự nhiên của Bắc Kạn chiếm tới 95% thì đến năm 2005 diện tích rừng tự nhiên còn 85%. Trong diện tích rừng tự nhiên, rừng giàu và trung bình chỉ chiếm có khoảng 9%, diện tích rừng phục hồi và rừng nghèo chiếm khoảng 50% và rừng tre nứa hỗn giao khoảng 20%. Rừng của Bắc Kạn có vị trí quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và đời sống nhân dân. Diện tích rừng sản xuất của Bắc Kạn chiếm khoảng 65 - 66%, Bắc Kạn có vị trí địa lý nằm ở vùng giao lưu giữa 2 khu hệ động, thực vật của vùng núi Tây Bắc và Đông Bắc. Tuy núi không cao nhưng rất đa dạng về địa hình, địa chất và dạng sinh cảnh. Rừng Bắc Kạn có hệ động thực vật phong phú với nhiều nguồn gien quý hiếm, hiện có khoảng 34 bộ, 110 họ và 336 loài chim, thú, bò sát, lưỡng cư đang sinh sống, trong đó có 64 loài đã đưa vào sách đỏ Việt nam, đặc biệt có 10 loài đặc hữu của Việt nam. Về thực vật có 148 họ, 537 chi và 826 loài đang sinh sống và phát triển, trong đó có 52 loài được xếp vào sách đỏ Việt nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 51 Tóm lại, rừng Bắc Kạn là một tài nguyên quý, phong phú và đa dạng, ngoài khả năng cung cấp gỗ và các loại lâm sản, đây còn là một trong những trung tâm bảo tồn gien động, thực vật quý hiếm của các tỉnh vùng Đông Bắc Việt nam. 2.1.1.8. Tài nguyên du lịch Bắc Kạn là tỉnh giàu tiềm năng du lịch bởi sự phong phú của tài nguyên, khoáng sản và nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc miền núi Đông Bắc Việt Nam. - Hồ Ba Bể là danh thắng thiên nhiên được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1996, hiện nay đang lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hội xuân Ba Bể được tổ chức vào tháng giêng âm lịch hàng năm. - Căn cứ địa cách mạng - ATK Chợ Đồn: Đây là một trong những khu căn cứ mà Bác Hồ và các cán bộ cấp cao của Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. - Ngoài ra phải kể đến những danh thắng nổi tiếng như: động Puông, động Nà Poỏng, động Ba Cửa, hang Sơn Dương, khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ. 2.1.1.9. Về dân số và lao động Năm 2007 dân số toàn tỉnh ước khoảng 305,8 nghìn người với 7 dân tộc anh em đang sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 60,4%, dân tộc Kinh chiếm 19,3%, dân tộc Dao chiếm 9,5% và dân tộc Nùng chiếm 7,4%; mật độ dân số bình quân 62,8 người/km2, dân số nông thôn chiếm 85% và dân số thành thị 15%. Số người trong độ tuổi lao động là: 200.460 người (chiếm 65,5% tổng dân số). Số lao động tham gia hoạt động kinh tế thời điểm năm 2007 khoảng 169 nghìn người chiếm 85% so với số dân trong độ tuổi lao động, chủ yếu là lao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 52 động phổ thông chưa được qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật nghề nghiệp. Lao động ở khu vực nông thôn chủ yếu là làm ruộng gắn với chăn nuôi, làm vườn và dịch vụ ở tại hộ gia đình. Đến năm 2007, khu vực công nghiệp - xây dựng mới thu hút được khoảng 6,3%, khu vực dịch vụ mới thu hút được khoảng 15,4%; còn lại khu vực nông, lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm 78,3% trong tổng số lao động. Trình độ nguồn nhân lực của Bắc Kạn vào loại thấp so với mức bình quân chung của cả nước, lao động qua đào tạo mới chỉ có gần 17% (mức bình quân chung của cả nước là 28%), trong đó qua đào tạo nghề là 9,5%, lao động có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm 1,25%, trình độ trung cấp 5,2%, công nhân kỹ thuật chỉ có 1,2%. * Dự báo phát triển dân số Phát triển dân số được dự báo với phương án mức sinh trung bình, dựa theo khuôn khổ dự báo phát triển dân số của cả nước đến năm 2010 và 2020 theo xu thế giảm dần tỷ lệ tăng dân số tự nhiên phù hợp với quy luật phát triển kinh tế xã hội và căn cứ vào thành tựu đạt được về dân số trong những thập kỷ vừa qua. Kết quả dự báo cho thấy trong giai đoạn từ năm 2006 2020 dân số Bắc Kạn bước vào thời kỳ dân số “vàng”( 2) với cơ cấu dân số trong tuổi lao động (nam 15 - 60, nữ từ 15 - 55 tuổi) chiếm tới 62,10% vào năm 2010 và 62,5% vào năm 2020. Thời kỳ thời kỳ dân số vàng sẽ tạo ra cho Bắc Kạn một thách thức lớn về tạo công ăn việc làm cho dân số trong độ tuổi lao động, tuy nhiên đây là một cơ hội tốt cho tỉnh về nguồn lao động mà nếu phát huy tốt sẽ là một yếu tố phát triển cực kỳ quý báu đối với Bắc Kạn trong thời kỳ quy hoạch mới. 2 Dân số “vàng” chỉ thời kỳ cơ cấu lao động trong tổng dân số đạt mức cao từ 55% trở lên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 53 Biểu 2.5: Dân số và dự báo phát triển dân số tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 Đơn vị tính: 1.000 người Chỉ tiêu 2005 2010 2015 2020 Tổng dân số Trong đó: - Thành thị % so tổng số - Dân số trong tuổi lao động % so tổng số 300,2 317,1 334,1 352,0 46,2 15,39 185,0 61,62 63,3 19,96 196,6 62,1 63,3 27,2 207,1 62,2 133,5 37,93 218,2 62,5 Nhịp độ tăng bình quân 2006 - 2011- 2016 2010 2015 2020 1,10 1,05 1,05 6,5 7,5 8,0 1,22 1,05 1,05 Nguồn: Quy hoạch tổng quan kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn 2006-2020. 2.1.1.10. Nguồn lực tài chính và khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển - Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước của tỉnh Bắc Kạn trong những năm vừa qua tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1997-2007 đạt 22,15%/ năm. Năm 1997 thu ngân sách nhà nước toàn tỉnh mới chỉ đạt 16.761 triệu đồng thì đến năm 2007 thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đã đạt 123.316 triệu đồng. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách bình quân đạt 8%. Tính chung nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển trên địa bàn (bao gồm nguồn vốn ngân sách trung ương bổ sung cho ngân sách địa phương) đều tăng dần qua các năm, bình quân giai đoạn 20012005 ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển tăng 31,64%/ năm, năm 2005 nguồn vốn ĐTPT thuộc ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ 71,41% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. - Các nguồn lực ngoài ngân sách: Các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước như nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá lớn song vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội do chưa khơi dậy và thu hút được tiềm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 54 năng to lớn của các nguồn vốn này đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh. Theo kết quả chính thức tổng điều tra vốn đầu tư toàn xã hội năm 2005 của Tổng cục Thống kê, nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước năm 2004 chiếm tỷ trọng gần 30% trong cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Trong 2 năm 2006 và 2007 nguồn vốn các doanh nghiệp trong và ngoài nước đăng ký đầu tư vào địa bàn đã đạt trên 2000 tỷ đồng. Trong những năm tới tỉnh Bắc Kạn cần có chính sách hợp lý nhằm khơi dậy được tiềm năng to lớn từ nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước thu hút vào các hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. - Đối với nguồn vốn ODA: Đây là một trong những nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của Bắc Kạn. Trong những năm gần đây nguồn ODA dành cho Bắc Kạn tăng nhanh đặc biệt là trong năm 2006 và 2007 nguồn vốn ODA dành cho lĩnh vực giao thông và thuỷ lợi của Bắc Kạn tăng vọt so các năm trước. Như vậy, tiềm năng về điều kiện tự nhiên, và con người của tỉnh Bắc Kạn khá đa dạng, phong phú. Trong đó tiềm năng về khoáng sản và tài nguyên rừng là một thế mạnh lớn. Bên cạnh đó nguồn lao động tuy không lớn song cũng là một tiềm năng để phát triển. Ngoài ra Bắc Kạn còn có nguồn tài nguyên về lịch sử, văn hoá xã hội khá đặc trưng cho vùng và có khả năng thu hút được sự chú ý, quan tâm của du khách trong và ngoài nước. Vì vậy có thể khẳng định tiềm năng của Bắc Kạn có thể tạo được tốc độ tăng trưởng cao nếu phát huy hết khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có của tỉnh. 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001-2007 2.1.2.1. Đánh giá chung * Về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Kạn tăng cao trong giai đoạn 2001-2005: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,85%/năm. Trong 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 55 năm 2006 và năm 2007 tốc độ tăng trưởng GDP không đều do nền kinh tế gặp nhiều bất lợi của ngoại cảnh. Năm 2006 tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 9,66% song đến năm 2007 tốc độ tăng trưởng đạt 12,55% với tổng GDP tính theo giá hiện hành đạt trên 1.500 tỷ đồng, tăng đột biến so với năm 2006, cao hơn rất nhiều so với mức bình quân chung của giai đoạn trước. Biểu 2.6: Tốc độ tăng trƣởng kinh tế Bắc Kạn, vùng TDMN Bắc Bộ và cả nƣớc thời kỳ 2001-2005 Đơn vị tính: % Chỉ tiêu tăng trƣởng kinh tế Giai đoạn 2001 - 2005 Bắc Kạn Vùng TDMN Bắc Bộ Cả nƣớc 11,85 10,2 7,50 - Công nghiệp - xây dựng 27,87 17,0 10,2 - Nông lâm thuỷ sản 5,89 5,9 3,8 - Dịch vụ 16,13 10,9 7,00 Trong đó: * Về cơ cấu kinh tế: - Giai đoạn 2001-2005: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp giảm xuống còn 41,96% (giảm 16,28% so với năm 2000); tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ đều tăng: công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 21,83% trong cơ cấu kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng 36,21% (tăng 10,24% so với năm 2000). - Giai đoạn 2006-2007: Trong 2 năm 2006 và năm 2007 nền kinh tế có nhiều biến động lớn, sự giảm sút trong sản xuất công nghiệp và sự tăng trưởng đột biến trong năm 2007 của ngành nông nghiệp làm cơ cấu kinh tế của tỉnh thay đổi. Tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp lên đến 45%, ngành công nghiệp-xây dựng giảm còn 18,56% và ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng 36,44% vào năm 2007. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 56 Biểu 2.7: Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001-2007 Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 GDP theo giá hiện 561.026 652.225 718.996 901.840 1.060.400 1.235.458 1.514.334 hành (tỷ đồng) - Nông lâm nghiệp 300.433 340.387 365.564 411.813 444.929 501.370 681.495 - Công nghiệp 106.879 129.602 150.893 179.223 Xây dựng 231.518 258.030 281.083 - Dịch vụ 383.953 476.058 551.756 Cơ cấu kinh tế (%) 153.714 182.236 202.539 310.804 100 100 100 100 100 100 100 - Nông lâm nghiệp 53,55 52,19 50,84 45,66 41,96 40,58 45,00 - Công nghiệp Xây dựng 19,05 19,87 20,99 19,87 21,83 20,89 18,56 - Dịch vụ 27,40 27,94 28,17 34,46 36,21 38,53 36,44 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong 10 năm qua đạt cao song chưa bền vững, còn chịu ảnh hưởng lớn của các tác động ngoại sinh, tiềm lực kinh tế còn khá nhỏ bé (GDP giá hiện hành năm 2007 bằng 0,15% GDP cả nước). * Đầu tư xã hội và thu nhập bình quân đầu người: - Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng dần qua các năm, giai đoạn 1997 2005 tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 27%/năm từ 122 tỷ đồng năm 1997 lên trên 830 tỷ đồng năm 2005. Trong 2 năm 2006 - 2007 cùng với các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư, hợp tác phát triển với các tỉnh bạn, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng lên nhanh chóng, tính riêng trong năm 2007 tổng mức vốn đầu tư đăng ký thực hiện trên địa bàn ước đạt trên 2.000 tỷ đồng. Tuy nhiên đến nay khối lượng vốn đầu tư đã đăng ký được giải ngân không cao. - Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Bắc Kạn từ năm 1997 đến nay được tăng lên đáng kể, năm 1997 GDP bình quân đầu người của tỉnh Bắc Kạn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 57 mới chỉ là 1,35 triệu đồng/ người/ năm, đến năm 2007 GDP bình quân đầu người đã đạt đến con số 4,95 triệu đồng/ người/ năm, (khoảng 310 USD). Tuy chỉ tiêu này còn thấp so với cả nước (năm 2007 cả nước đạt 830 USD/người/năm) song kết quả thực hiện trong 10 năm qua cũng là một thành tựu đáng khích lệ. * Về hoạt động xuất nhập khẩu: Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong những năm qua không lớn, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu không ổn định qua các năm, kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất trong 10 năm qua mới chỉ đạt 6,357 triệu USD trong đó xuất khẩu đạt 6,3 triệu USD (mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là quặng và tinh quặng khoáng sản), giá trị nhập khẩu thấp so tổng kim ngạch XNK hàng năm. * Về thu ngân sách địa phương: Thu ngân sách trong những năm vừa qua tốc độ đạt cao song mới đạt hơn 6% so với GDP. Năm 2007 thu ngân sách đạt 123,316 tỷ đồng gấp 4,2 lần so với năm 2001. Bình quân 5 năm 2001-2005 tốc độ tăng trưởng thu ngân sách bình quân đạt 22,52%/ năm, tính chung cả giai đoạn 2001-2007 đạt 22,25%/ năm. Biểu 2.8: Thu ngân sách địa phƣơng qua các năm 2001 - 2007 Bình quân giai Chỉ tiêu Năm Năm Năm Năm 2001 2005 2006 2007 đoạn (%) 2001- 2001- 2005 2007 Thu ngân sách nhà nước (tỷ 29,036 70,411 107,821 123,316 22,52 25,25 đồng) Tóm lại, tăng trưởng kinh tế Bắc Kạn trong những năm qua tuy đã đạt được tốc độ cao song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Tốc độ cao hơn cả nước song quy mô còn nhỏ bé, thu nhập bình quân đầu người thấp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 58 hơn nhiều so với mức bình quân chung cuả cả nước, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao (trên 30%), kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Sản xuất kinh doanh vẫn còn nhỏ lẻ chưa tạo được tiềm lực kinh tế to lớn. 2.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực a) Ngành công nghiệp - xây dựng Sản xuất công nghiệp Bắc Kạn có bước tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng GTSX ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2005 đạt 28,86%/ năm. Vào năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp tăng 3,55 lần so với năm 2000 và năm 2006 đạt 185,9 tỷ đồng tăng 12,67% so với năm 2005, năm 2007 ước thực hiện đạt 189,031 tỷ đồng, tăng 1,7% so năm 2006. Đến nay, Bắc Kạn đã hình thành hầu hết các ngành công nghiệp tuy còn rất nhỏ bé, trong đó rõ rệt nhất là nhóm ngành chủ yếu gồm: Công nghiệp khai thác chiếm 54,58%, công nghiệp chế biến chiếm 41,08% và công nghiệp phân phối điện nước chiếm 4,34% trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu như: Quặng sắt khai thác năm 2006 đạt 207 nghìn tấn, quặng chì-kẽm 25 nghìn tấn, giấy đế 2.155 tấn, xi măng 22,8 nghìn tấn, Clanhke đạt 18,4 nghìn tấn, gỗ xẻ xây dựng 7 nghìn m3, lắp ráp ô tô 200 chiếc... Các ngành công nghiệp như khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản đang được các nhà đầu tư quan tâm, đã có một số dự án được triển khai thực hiện. Một số cơ sở công nghiệp trọng điểm có quy mô nhỏ và vừa đã được đầu tư xây dựng như : Liên doanh may công nghiệp công suất 2,2 triệu sản phẩm/ năm ; nhà máy lắp ráp và đóng mới ô-tô tải nhỏ công suất giai đoạn I là 500 xe/ năm; nhà máy sản xuất giấy đế Trung Hoà - Chợ Đồn công suất 2.55 tấn/ năm. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng nhanh từ 11% năm 2000 lên 21% năm 2005. Đến năm 2005 toàn tỉnh có tới 1.423 cơ sở sản xuất công nghiệp gấp 1,6 lần năm 2000, thu hút 6533 lao động gấp 1,8 lần năm 2000, hầu hết các sản phẩm công nghiệp trong 5 năm 2001 - 2005 đều tăng khá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 59 Công nghiệp Bắc Kạn năm 2006 và 2007 tăng trưởng chậm lại so với thời kỳ 2001 - 2005 là do một số doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn chưa tìm được đầu ra như công nghiệp xi măng, lắp ráp ô-tô nên sản xuất cầm chừng, một số dự án đưa vào sản xuất chậm... Biểu 2.9: Giá trị tổng sản lƣợng công nghiệp trên địa bàn tỉnh 2001-2007 Đơn vị tính: tỷ đồng (giá cố định 1994) Tăng trƣởng BQ Chỉ tiêu 2001 2005 2006 2007 2001-2005 % Tổng giá trị sản xuất 46,4 164,9 185,9 189,031 28,86 - Công nghiệp khai thác 10,7 71,3 72,4 73,2 46,2 - Công nghiệp chế biến 33 83,3 101,3 103 20,3 - CN phân phối điện nước 2,7 9,9 12,1 12,83 30,1 Nguồn: Số liệu thống kê tỉnh Bắc Kạn Giá trị sản xuất ngành xây dựng trong những năm vừa qua tăng trưởng đều đặn cùng các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành xây dựng trong 10 năm qua bình quân đạt 26,47%/ năm. Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2007 tính theo giá so sánh 1994 gấp 5,47 lần so với năm 2000. Tóm lại, qua nghiên cứu các số liệu về tình hình phát triển sản xuất của ngành công nghiệp và xây dựng cho thấy tính phát triển bền vững của công nghiệp Bắc Kạn không ổn định, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai thác và sơ chế khoáng sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành vì vậy không tạo được tích luỹ và mở rộng sản xuất. Công nghệ sản xuất của ngành là công nghệ trung bình thấp, chưa tạo được giá trị tăng thêm cao, chủ yếu là sử dụng lao động phổ thông trong dây chuyền sản xuất vì vậy giá trị sản xuất có thể cao song mức độ đóng góp của ngành đối với tăng trưởng kinh tế còn hạn chế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 60 b) Ngành nông - lâm - thuỷ sản Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 5,91%, năm 2006 GTSX của ngành tăng trưởng chậm lại do gặp nhiều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng GTSX toàn ngành chỉ đạt 4,6%. Năm 2007 sản xuất nông nghiệp được phục hồi do đó tốc độ tăng GTSX cao hơn những năm trước, ước đạt trên 13%. Nông nghiệp và nông thôn Bắc Kạn những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực, sản lượng lương thực tăng nhanh và cơ bản đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ. Cơ cấu kinh tế trồng trọt, chăn nuôi và khai thác, dịch vụ nông lâm thuỷ sản đang từng bước chuyển đổi theo hướng tích cực và sản xuất thêm nhiều hàng hoá, tạo thêm việc làm cho nhân dân. Biểu 2.10: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thời kỳ 2001-2007 Tăng Chỉ tiêu ĐVT 2001 2005 2006 2007 trƣởng 2001-2005 (%) Tổng G TSX (Giá Tỷ đồng 328,274 509,320 532,741 626,096 5,91 Nông nghiệp Tỷ đồng 280,859 409,197 423,374 501,173 7,81 Lâm nghiệp Tỷ đồng 99,031 Thuỷ sản Tỷ đồng 2,384 CĐ 94) 96,509 104,937 119,503 3,614 4,430 5,420 -0,51 8,67 Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Kạn Tốc độ tăng trưởng GDP của toàn ngành nông nghiệp giai đoạn 20012005 đạt bình quân 5,89%/năm, là mức khá cao so với các tỉnh trong vùng núi phía Bắc. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm từ 58,24% năm 2000 xuống còn 41,96% vào năm 2005. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 61 * Ngành nông nghiệp - Trồng trọt: Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 87.545 tấn năm 2000 lên 148.544 tấn (2007). Diện tích trồng lúa đạt khoảng 21.233 ha sản lượng đạt 92.939 tấn và ngô là trên 16.133 ha và sản lượng đạt 55.605 tấn (2007). Bước đầu đã hình thành được vùng sản xuất chuyên canh trồng cây công nghiệp ngắn ngày như đậu tương khoảng 2.126 ha (2007), thuốc lá khoảng 600 ha (2007), lạc trên 500 ha và mía 232 ha, phân bố trên hầu hết các huyện, thị xã trong tỉnh. Riêng cây chè có trên 100 ha (2006) và ước khoảng gần 300 ha (2007), chất lượng cao tại các huyện Chợ Mới, Ba Bể và vùng chè tuyết shan, phân bố tại một số xã của các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, Ba Bể và Bạch Thông. Bắc Kạn thực hiện khá tốt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho nông nghiệp và nông thôn đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sử dụng giống lai vào sản xuất với tỷ lệ diện tích trồng giống mới là lúa: 30%, ngô: 90%, thuốc lá: 100%, tỷ lệ giống lợn mới: 40%. Năng năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi không ngừng tăng lên, năng suất lúa đạt 43,77 tạ/ha (2007); ngô đạt 34,47 tạ/ha (2007). Bắc Kạn còn phải kể đến diện tích trồng cây ăn quả đạt khoảng 4.000 ha trong đó cam quýt cho thu hoạch trên 800 ha, vải 400 ha, nhãn 240 ha, mận, mơ 1.300 ha. Tổng sản lượng quả các loại của Bắc Kạn khá lớn đến gần 5.000 tấn, trong đó cam quýt trên 1000 tấn, mơ mận trên 2000 tấn và còn lại là vải nhãn v.v... - Chăn nuôi: Mặc dù dịch bệnh có ảnh hưởng đến sự phát triển của gia súc nhưng so với tốc độ hàng năm vẫn phát triển khá về cả đàn lợn, đàn bò. Bên cạnh đó gia súc, gia cầm trong tỉnh cũng phát triển khá với chất lượng rất tốt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 62 Biểu 2.11: Thống kê gia súc gia cầm tỉnh Bắc Kạn 2001 - 2007 Đơn vị tính: 1000 con TT 1 2 3 4 Hạng mục Trâu Bò Lợn Gia cầm 2001 87,0 32,5 157,2 1.527,5 Thời gian 2005 2006 84,0 83,86 40,0 40,19 175,2 144,2 1.513,0 1.128,87 2007 93,82 88,18 175 1335,1 - Về dịch vụ nông nghiệp: dịch vụ nông nghiệp đã có bước tiến bộ (chiếm gần 5%), tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển nông nghiệp. Thực hiện tốt chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển đối với các mặt hàng chính sách. Hiện tại đã đưa tỷ lệ lúa giống mới đạt khoảng 30% và ngô lai đạt trên 70%. * Ngành lâm nghiệp Toàn tỉnh có 263.503 ha rừng, độ che phủ đạt 55,18% năm 2007 trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 224 nghìn ha và rừng trồng xấp xỉ 40 nghìn ha. Tình hình phân chia 3 loại rừng của tỉnh như sau: rừng đặc dụng là 25.582 ha gồm vườn quốc gia Ba Bể, 2 khu bảo tồn thiên nhiên là Kim Hỷ và Nam Xuân Lạc; rừng phòng hộ là 94.127,7 ha thuộc đầu nguồn của hệ thống sông suối như sông Cầu, sông.v.v... Rừng sản xuất là 268.339 ha phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh. Tuy nhiên theo quy hoạch lâm nghiệp, tỉnh Bắc Kạn còn 124 nghìn ha là đất chưa có rừng. Diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng trồng kém chất lượng có thể xem xét cải tạo trồng rừng nguyên liệu khoảng 158 nghìn ha. Đối với rừng sản xuất có thể trồng rừng nguyên liệu gắn với chế biến lâm sản. Đối với diện tích rừng đặc dụng kết hợp bảo tồn nguyên trạng phục vụ nghiên cứu khoa học gắn với phát triển du lịch sinh thái. Đối với rừng phòng hộ: bảo đảm yêu cầu phòng hộ kết hợp với phát triển lâm sản ngoài gỗ để có nguồn thu từ rừng gắn với phát triển du lịch sinh thái. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 63 Giá trị kinh tế lâm nghiệp: tốc độ tăng trưởng GTSX của ngành lâm nghiệp ổn định trong những năm vừa qua. Tổng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp giai đoạn 1997-2000 tăng trưởng bình quân 10,07% tuy nhiên trong giai đoạn 2001-2005 tổng GTSX của ngành không tăng và giữ mức 96 đến 99 tỷ đồng (giá so sánh 1994). Năm 2006 giá trị sản xuất của ngành tăng thêm hơn 8 tỷ đồng (giá 1994) so với năm 2005. * Ngành thuỷ sản Tổng giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2005 đạt 3,614 tỷ đồng (giá 1994), tăng 1,5 tỷ đồng so với năm 1997. Tính đến năm 2006, diện tích nuôi trồng mặt nước đang khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đạt 789 ha. Bắc Kạn còn 967 ha đất có khả năng chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản. Cơ cấu giống gồm cá trắm, cá mè trắng, cá trôi, cá chép, cá rô phi và cá trê lai, cá quả, cá chim trắng. Cá chim trắng chiếm tỷ lệ tới 36%, tiếp theo là cá trôi với tỷ lệ 29%, cá chép có tỷ lệ 22% và cá mè tỷ lệ 10%. Kết luận về ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản: Ngành nông nghiệp Bắc Kạn có bước tăng trưởng khá ổn định, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế. Trong đó lĩnh vực nông nghiệp khá ổn định và liên tục tăng trưởng, ngành lâm nghiệp còn khá yếu và chưa được quy hoạch đầu tư đúng với tiềm năng. Thuỷ sản Bắc Kạn không có được các điều kiện phát triển thuận lợi song cũng đã phát huy hết tiềm năng và đóng góp và tăng trưởng chung. Tuy nhiên nông nghiệp của tỉnh vẫn phát triển nhỏ lẻ, phân tán và không được đầu tư và quy hoạch tốt do vậy các kết quả đạt được mang tính tự phát và chịu nhiều tác động của các điều kiện bên ngoài. c) Thương mại và dịch vụ Khu vực dịch vụ của tỉnh Bắc Kạn đã có những bước tiến khá vững chắc. Năm 1997, khi bắt đầu tái lập tỉnh, GDP do khu vực dịch vụ tạo ra là 103 tỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 64 đồng theo giá hiện hành, chiếm 28,8% tổng GDP trên địa bàn thì đến năm 2007 khu vực dịch vụ đóng góp 551,746 tỷ đồng chiếm 36,44% GDP. Nếu xét về mặt quy mô của khu vực dịch vụ thì giá trị tăng gấp 5,35 lần năm 1997 và nếu so với năm 2000 gấp 4,32 lần. Đây là những kết quả khả quan để Bắc Kạn có thể phát triển các ngành dịch vụ trong những năm tới. Năm 2007 ngành du lịch Bắc Kạn đón được 100.305 lượt khách, gấp 4,17 lần so với năm 2000 trong đó khách nội địa tăng từ 21.588 lượt khách năm 2000 lên 94.342 lượt khách năm 2007. Doanh thu du lịch năm 2007 đạt 21,1 tỷ đồng gấp 5,56 lần năm 2000. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với t iềm năng và lợi thế thì sự phát triển của ngành du lịch của tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng. Dịch vụ của tỉnh Bắc Kạn phát triển còn mang tính tự phát là chủ yếu, chưa hình thành nên những ngành dịch vụ chủ chốt có tính chất quyết định cho sự phát triển của tỉnh như: dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ thương mại.. mà còn tập trung vào các ngành dịch vụ có chất lượng và trình độ phục vụ thấp, sử dụng nhiều lao động chưa qua đào tạo như: thương nghiệp (chủ yếu là bán buôn, bán lẻ, vận tải thô sơ). Hệ thống mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại chưa phát triển đồng bộ, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh mới có 63 chợ trong đó chủ yếu vẫn là các chợ phiên, cả tỉnh có 01 siêu thị tại trung tâm thị xã mới đi vào hoạt động kinh doanh trong năm 2007. 2.1.2.3. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật * Mạng lưới đường bộ Mạng lưới đường bộ gồm hệ thống quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường đô thị, đường xã và đường thôn xóm với tổng chiều dài 1.166 km. Do địa hình vùng núi phức tạp nên hệ thống đường giao thông của tỉnh rất nhiều cầu cống với trên 1.000 km đường bộ đã có tới 195 cây cầu và 1.673 cống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 65 Quốc lộ 3 chạy suốt theo chiều dài của tỉnh và các được tỉnh lộ đều bắt đầu từ trục quốc lộ 3. Trong thời kỳ 2001 - 2006 đã đầu tư nâng cấp, xây dựng mới trên 500 km đường huyện, trên 1.000 km đường liên xã, liên thôn đạt tỷ lệ 100% xã có đường ô-tô đến trung tâm xã. Đường liên xã tổng chiều dài trên 1.000 km, đạt tiêu chuẩn giao thông nông thôn (GTNT) loại A, B, mặt đường là đất cấp phối tự nhiên. Ngoài r a hệ thống đường GTNT thôn xóm có chiều dài khoảng 4.000 km đạt tiêu chuẩn GTNT loại B, không tính vào mạng lưới giao thông đường bộ. Về chất lượng nhìn chung tuy có được cải thiện song vẫn thấp so với nhu cầu, còn nhiều tuyến chưa được nâng cấp trải nhựa, đặc biệt là những tuyến nằm ở miền núi và các tuyến đường huyện xã. * Hiện trạng hệ thống điện Bắc Kạn là tỉnh có hệ thống lưới điện trên đà phát triển gắn với hệ thống lưới điện toàn quốc. Nếu như năm 1997 còn gần 100 xã chưa có lưới điện quốc gia, thì đến năm 2006 đã đạt 100% số phường, xã có lưới điện quốc gia, năm 2007 tỷ lệ số hộ được sử dụng điện đạt 83,1% tăng 24% so với năm 2000. Lưới điện hạ thế của tỉnh phát triển rộng khắp trên các địa bàn các xã. Tuy nhiên số lượng trạm biến áp của các xã ít, chỉ có 1 đến 2 trạm biến áp. Bán kính cấp điện đến các hộ lớn có chiều dài từ trạm biến áp đến các hộ dân từ 4 đến 5 km, sử dụng dây dẫn nhỏ không đảm bảo kỹ thuật nên tổn thất điện áp lớn đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. * Về kết cấu hạ tầng thuỷ lợi Tính đến nay được sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp và PTNT và từ các nguồn vốn khác, tỉnh đã chỉ đạo xây dựng, nâng cấp 2.019 công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh. Trong 5 năm xây dựng và nâng cấp 319 công trình, đưa diện tích tưới chủ động lên 5.868 lúa 2 vụ, tăng 3.800 ha so với năm 2000. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 66 Chương trình kiên cố hoá kệnh mương qua 4 năm đã giải quyết nước tưới cho những cánh đồng có diện tích nhỏ, phân tán. Nâng diện tích tưới chủ động hiện nay lên 10.000 ha lúa vụ xuân và lúa vụ mùa, ngoài ra còn phục vụ tưới mía, thuốc lá và các cây hoa màu khác. 2.1.2.4. Thực trang các lĩnh vực văn hoá - xã hội * Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Bắc Kạn đã được công nhận hoàn thành xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 2005 tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo là 79,2% tăng 23,2% so với năm 2000; tỷ lệ học sinh tiểu học đi học đúng tuổi là 89,3%. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ở các bậc học được nâng lên, toàn ngành năm 2005 đã có 40 thạc sỹ, 92,7% giáo viên mầm non, 98% giáo viên tiểu học; 95,9% giáo viên THCS, 97% giáo viên THPT đạt chuẩn. Đã thành lập trường dạy nghề, trường trung học Sư phạm đã được nâng cấp thành trường cao đẳng Sư phạm. Chất lượng giáo dục tiếp tục chuyển biến trên nhiều mặt. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao, số học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học ngày càng tăng. * Về y tế, dân số, gia đình và trẻ em Hệ thống mạng lưới y tế, nhất là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và từng bước chuyên sâu. 100% xã, phường, thị trấn đều có trạm y tế, 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động. Công tác y tế dự phòng: nhiều dịch bệnh nguy hiểm đã được khống chế và đẩy lùi, tỷ lệ mắc và chết do các bệnh truyền nhiễm đã giảm rõ rệt, nhất là các bệnh được phòng ngừa bằng vắc xin tiêm chủng. Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình: Mô hình gia đình có từ 1 đến 2 con được chấp nhận rộng rãi, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 67 là 1,16%; tuy nhiên chất lượng dân số ở Bắc Kạn ở mức độ thấp, trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiếm tới 34% (2005). * Về văn hoá, thông tin, thể dục thể thao Tính đến nay toàn tỉnh có 100% số làng bản có quy ước, hương ước được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nhiều lễ hội, sinh hoạt văn hoá dân gian truyền thống được khôi phục và phát triển. Năm 2007 toàn tỉnh có 39.916/ 60.505 hộ được công nhận là gia đình văn hóa, đạt 61,01%; Số làng văn hóa được công nhận năm 2007 là 133 làng, đạt 48,8%. Trang bị, cấp hòm sách cho các xã đặc biệt khó khăn đạt 103/122 xã, phường, thị trấn. Tỷ lệ hộ được nghe đài đạt 80% năm 2005, tăng gấp 2 lần so với năm 2000; tổng số sách, báo xuất bản 1,05 triệu bản, tăng 0,35 triệu bản so với năm 2000. Hoạt động sự nghiệp thể dục - thể thao của tỉnh đã có bước phát triển cả về phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao. Tỷ lệ số người thường xuyên tập luyện thể dục thể thao tăng từ 6,58% năm 2001 lên 17,4% năm 2005 và đến năm 2007 là 20,5% dân số thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. * Đời sống nhân dân và công tác xoá đói giảm nghèo Đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, từng bước được nâng lên ổn định. Bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 3,5 nghìn lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị xuống dưới 4,5% và thời gian sử dụng lao động ở khu vực nông thôn tăng lên 80%. Trong những năm qua công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều kết quả bằng các chương trình phát triển kinh tế xã hội, chương trình 134,135, 186, chương trình giảm nghèo… tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 50,87% năm 2005 xuống còn 34,43% năm 2007 và dự kiến đến 2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 20%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 68 Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với số vốn lên tới hàng ngàn tỷ đồng đã xây dựng được nhiều công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy, cấp nước từ bơm điện, bơm tay, bể chứa tại một số thị trấn, các xã vùng cao, nâng tỷ lệ dân số được dùng nước sạch từ 23% năm 2000 lên 55% vào năm 2005. Tỷ lệ các hộ có hố xí và xử dụng hố xí hợp vệ sinh còn thấp nhất là ở vùng nông thôn. 2.1.3. Phân tích SWOT về chiến lƣợc phát triển của Bắc Kạn Qua một số cuộc hội thảo về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh gần đây mà tác giả được tham gia; bằng phương pháp tổng hợp và phân tích, sau đây là những nhận định tổng quát làm căn cứ để xác định định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng trong giai đoạn tiếp theo. * Những tiềm năng và lợi thế - Bắc Kạn là tỉnh có tài nguyên rừng khá phong phú, đất lâm nghiệp tương đối lớn vì vậy tài nguyên đất rừng và rừng là lợi thế lớn nhất mà tỉnh Bắc Kạn có được cho phát triển kinh tế của tỉnh. - Tiềm năng du lịch sinh thái gắn với du lịch văn hoá - lịch sử của Bắc Kạn là rất lớn: Vườn quốc gia Ba Bể; thêm vào đó Bắc Kạn còn có nhiều di tích lịch sử cấp tỉnh, cấp quốc gia đã được xếp hạng. - Nhân dân vùng chiến khu xưa, có tinh thần cách mạng, trung thành tuyệt đối chủ trương, đường lối của Đàng. * Những hạn chế và khó khăn: - Do địa hình chủ yếu là đồi núi có độ dốc cao lại bị chia cắt mạnh bởi các lũng sâu; thời tiết khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt đợt rét đậm, rét hại diễn ra trên diện rộng và kéo dài. - Kinh tế tự nhiên sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ sản xuất thấp. - Dân cư nông thôn ở phân tán, trình độ dân trí thấp bị đè nặng bởi phong tục tập quán lạc hậu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 69 * Điểm mạnh - Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn qua của Bắc Kạn cao hơn so với bình quân vùng Đông Bắc và cả nước. - Đảm bảo an ninh lương thực cho mọi người dân ở các địa bàn trong tỉnh. - Hệ thống kết cấu hạ tầng được phát triển nhanh. - Đời sống kinh tế, văn hoá - xã hội của nhân dân được cải thiện. - An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn địa phương được bảo đảm. * Điểm yếu - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa hình thành ngành kinh tế mũi nhọn; nguồn lực cho đầu tư phát triển rất hạn chế. - Nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu khả năng cạnh tranh thấp: giá thành sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm thấp. - Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém, hoặc chưa được đầu tư đồng bộ - Tỷ lệ đói nghèo còn cao, khoảng cách giàu nghèo gia tăng. - An ninh, xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn. * Những cơ hội phát triển - Sự tăng cường hỗ trợ của Chính phủ, của các địa phương, doanh nghiệp trong nước, các nguồn tài trợ của quốc tế giúp Bắc Kạn phát triển thu hẹp khoảng cách với các tỉnh khác trong giai đoạn tới. - Hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội tiếp cận về thị trường cho các sản phẩm đặc trưng của tỉnh như rau quả sạch, sản phẩm nông nghiệp sạch, lâm sản, - Các nguồn tài chính đầu tư cho phát triển đồng bộ và có hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh đã được ghi vào kế hoạch. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 70 - Các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đều hướng vào mục tiêu giảm nghèo một cách bền vững. - Cơ hội tiếp cận việc làm cho mọi người dân và các hoạt động phát triển bền vững khác sẽ giảm thiểu các nguy cơ bất ổn về xã hội. * Những thách thức chủ yếu - Phát triển công nghiệp thành ngành mũi nhọn trong điều kiện hạn chế. - Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có tính cạnh tranh cao, có hiệu quả và bền vững. - Xã hội hoá đầu tư, phân cấp quản lý khai thác, duy tu sửa chữa phát huy hiệu quả của hệ thống kết cấu hạ tầng hiện có. - Tư tưởng kinh tế bao cấp, trông chờ ỷ lại còn nặng trong lĩnh vực quản lý nhà nước và đại bộ phận dân cư. - Phát huy vai trò dân chủ thực sự trong mọi hoạt động kinh tế và xã hội. Tóm lại: Như vậy một trong những vấn đề cơ bản nhất của Bắc Kạn để phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới là phải xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có tính cạnh tranh cao, có hiệu quả và bền vững trong điều kiện kinh tế hộ hiện nay giữ vai trò độc tôn. Để giải bài toán này, có một con đường là phát triển kinh tế trang trại từ kinh tế hộ để vừa phát huy được tiềm năng về đất đai đồi rừng vừa hạn chế được mặt trái của kinh tế hộ là sự phân tán, manh mún. 2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI BẮC KẠN THỜI GIAN QUA 2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại thời gian qua Do là tỉnh mới được tái lập từ năm 1997, vì vậy số liệu thống kê về kinh tế trang trại ở Bắc Kạn những năm trước đây không có đầy đủ và thống nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 71 Biểu 2.12: Số lƣợng các trang trại của Bắc Kạn, vùng Đông Bắc và cả nƣớc 2000 - 2006 Đơn vị tính: Trang trại Danh mục Cả nƣớc Vùng Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Bắc Kạn Tuyên Quang Lào Cai Yên Bái Thái Nguyên Lạng Sơn Quảng Ninh Bắc Giang Phú Thọ 2000 57.069 2.793 172 18 1 77 6 695 320 5 568 752 179 2001 61.017 3.201 181 12 12 68 201 839 379 77 863 377 192 2002 61.787 3.210 181 13 12 68 188 857 379 77 857 386 192 2003 2004 2005 2006 86.141 110.832 114.362 113.730 4.859 4.984 5.473 4.704 223 162 173 154 14 58 54 55 14 21 24 21 84 83 99 77 193 122 129 213 877 928 1030 319 429 661 662 588 158 127 126 27 1277 1219 1323 1379 1140 1146 1364 1401 450 457 489 470 Nguồn: Tổng cục Thống kê Là một tỉnh có tiềm năng về đất đai đồi rừng, một hộ lâm nghiệp có bình quân 4 ha đất rừng và hộ nông nghiệp có gần 0,6 ha đất nông nghiệp. Tuy nhiên số lượng trang trại của tỉnh rất ít. Năm 2001 tỉnh có 12 trang trại và đến năm 2006 mới có 21 trang trại đạt tiêu chí. Như vậy Bắc Kạn là tỉnh có số lượng trang trại ít nhất trong vùng Đông Bắc Bắc bộ. Số lượng trang trại tăng không đều: Năm 2005 đã tăng lên đến 24 trang trại, tuy nhiên đến 2006 lại giảm xuống 21 trang trại, điều này có thể rút ra nhận xét là kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại chưa ổn định. Danh sách các trang trại thường xuyên có sự biến động về chủ thể trong khi số lượng trang trại là không đổi. Phân tích sau đây giúp chúng ta thấy được điều này: (Do điều tra thống kê về trang trại chỉ 2 năm mới tiến hành 1 lần, bởi vậy chúng tôi chỉ có điều kiện phân tích số liệu giữa 2 kỳ gần đây nhất). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 72 Biểu 2.13: Tình hình biến động trong các trang trại giữa 2 kỳ điều tra Chỉ tiêu Đơn vị Năm Năm tính 2004 2006 I. Số lƣợng trang trại Tăng/ giảm (+/-) Cái 21 21 0 II. Lao động của trang trại Ngƣời 157 79 -78 - Lao động của chủ hộ trang trại Người 51 60 +9 - Lao động thuê ngoài thường xuyên Người 11 19 +8 - Lao động thuê ngoài thời vụ Người 95 36 -59 Ha 200,06 196,622 -3,438 1. Tổng số đất nông nghiệp Ha 63,93 57,009 -6,921 Chia ra: - Đất trồng cây hàng năm Ha 19,43 17,61 -1,82 - Đất trồng cây lâu năm Ha 34,5 39,399 +4,899 - Đất trồng cỏ Ha 10 Ha 114,15 136,832 +22,682 Ha 2,25 2,781 +0,531 Ha 19,73 III. Đất đang sử dụng của trang trại (1+2+3+4) 2. Đất lâm nghiệp 3. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 4. Đất khác -10 -19,73 IV. Số lƣợng gia súc, gia cầm và chăn nuôi khác 1. Trâu Con 42 87 +45 2. Bò Con 227 259 +32 3. Lợn (không kể lợn sữa) Con 129 328 +199 4. Gia cầm Con 2.917 2.783 -134 5. Dê Con 116 147 +31 Tổ 35 96 +61 6. Ong V. Tổng số vốn sản xuất của trang trại 1.000đ 1.598.000 2.726.500 +1.128.500 VI. Thu nhập của trang trại 1.000đ 702.000 1.156.624 +454.624 1.000đ 1.036.000 1.736.763 +700.763 VII. Giá trị sản lƣợng hàng hoá và dịch vụ Nguồn: Cục Thống kê Bắc Kạn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 73 Số liệu ở biểu trên có thể cho ta rút ra một số nhận xét sau: - Số lượng lao động trong các trang trại giảm, tuy nhiên lại tăng lao động của chủ hộ trang trại; - Đất lâm nghiệp và cây ăn quả tăng cho thấy xu thế phát triển trang trại theo hướng lâm nghiệp và cây ăn quả; - Quy mô sản xuất của các trang trại có xu hướng tăng qua số liệu về tổng vốn sản xuất, thu nhập và giá trị sản lượng hàng hoá. 2.3. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ 2.3.1. Phân tích đặc điểm và phƣơng hƣớng sản xuất của các trang trại * Đặc trưng chủ yếu của trang trại Bắc Kạn là trang trại kinh doanh tổng hợp gắn với kinh tế đồi rừng: Cây công nghiệp dài ngày (chè Shan, quế, hồi), cây ăn quả (quýt, cam, mơ, hồng không hạt), cây lâm nghiệp (trúc, mỡ). Chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò). Số liệu điều tra năm 2006. Tổng số có 21 trang trại thuộc địa bàn 6 huyện, thị trong tỉnh (trừ huyện Pác Nặm và thị xã Bắc Kạn). Với 6 loại hình kinh doanh chính: Biểu 2.14: Số lƣợng các trang trại phân theo loại hình sản xuất 2006 Đơn vị tính: Trang trại Số T T Số lƣợng Tỷ lệ (T.Tr) (%) Loại hình trang trại Tổng số 1 2 3 4 5 6 Trang trại tổng hợp Trang trại cây ăn quả Trang trại chăn nuôi Trang trại lâm nghiệp Trang trại cây hàng năm Trang trại cây lâu năm < 2 ha 2 ha ≤ < 4 ha SL % SL 4 ha ≤ < 10 ha % SL % ≥ 10 ha SL % 21 100 3 14,29 4 19,05 9 42,86 5 23,81 10 3 3 2 2 1 47,62 14,29 14,29 9,52 9,52 4,76 1 4,76 14,29 9,52 9,52 4,76 4,76 4 19,05 3 2 9,52 2 2 1 1 1 2 1 4,76 1 4,76 4,76 9,52 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 74 - Trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm đa số với 10 trang trại, chiếm tỷ lệ 47,62%; - Trang trại cây ăn quả 3 trang trại, chiếm tỷ lệ 14,29%; - Trang trại chăn nuôi 3 trang trại, chiếm tỷ lệ 14,29%; - Trang trại lâm nghiệp 2 trang trại, chiếm tỷ lệ 9,52%; - Trang trại cây hàng năm 2 trang trại, chiếm tỷ lệ 9,52%; - Trang trại cây lâu năm 1 trang trại, chiếm tỷ lệ 4,76%. * Diện tích đất sản xuất của các trang trại không lớn và toàn bộ là trang trại gia đình: - Dưới 2 ha có 3 trang trại, chủ yếu là trang trại chăn nuôi, chiếm tỷ lệ 14,29%; - Đa số là trang trại có diện tích từ 4 ha đến 10 ha, chiếm tỷ lệ 42,86%; - Trang trại có diện tích trên 10 ha có 5 trang trại, chiếm tỷ lệ 23,81%. Trang trại lớn nhất có diện tích 31 ha, tập trung chủ yếu ở trang trại lâm nghiệp, cây ăn quả và tổng hợp. 2.3.2. Phân tích, đánh giá tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh trong các trang trại tỉnh Bắc Kạn 2.3.2.1. Tình hình quản lý và sử dụng đất trong các trang trại Tổng diện tích của các trang trại năm 2006 là 196,6 ha: đất nông nghiệp 56,9 ha chiếm 29%; đất lâm nghiệp là 136,8 ha chiếm 69,61%; đất nuôi trồng thủy sản có diện tích không đáng kể 2,78 ha chiếm 1,41% tổng diện tích các trang trại. Diện tích bình quân một trang trại là 9,36 ha; đất nông nghiệp là 2,71 ha/ trang trại; đất lâm nghiệp là 6,52 ha/ trang trại. Phần đất tạm giao đấu thầu, thuê chỉ có 1 hộ với diện tích 1.400m2 trong loại hình trang trại cây lâu năm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 75 Biểu 2.15: Tình hình sử dụng đất theo các loại hình trang trại năm 2006 Đơn vị tính: ha Diện tích B Q chu ng Chỉ t iêu (ha /1 B Q p hân th eo lo ại hình tran g t rại Tổ ng Câ y ă n Chă n Lâ m Câ y h àng Câ y lâu h ợp quả nuô i ngh iệp nă m nă m T.T r) SL % SL 9.3 6 10 0 9,6 7 % SL % SL % SL % SL % SL % DT đấ t t rang t rạ i sử dụng 10 0 7,0 4 10 0 2,5 6 10 0 20,08 10 0 7,7 8 10 0 15,4 10 0 1. Đ ất n ô ng ng hiệ p 2,7 1 1.1 . Đ ất c ây h àn g nă m 0,8 4 8,9 6 0,8 3 8,6 0,3 2 Tr .đ ó: Đ ất lú a n ư ớ c 0,4 5 4,7 9 0,4 4 4,5 0,2 3 1.2 . Đ ất c ây l âu n ă m 1,8 8 20, 04 1,8 4 19, 1 4,6 7 66, 3 0,2 1 - Đ ất C C N lâ u nă m 0,3 1 - Đ ất câ y ăn q u ả 1,5 7 16, 77 1,5 6 16, 2 4,6 7 66, 3 0,2 1 2. Đ ất lâ m n ghi ệp 6,5 2 69, 61 6,8 7 71, 1 2,0 0 28, 4 1,9 0 74, 2 18, 50 92, 1 4,7 0 60, 4 10, 0 64, 9 - Tr. đ ó: Đ ất r ừ ng tr ồn g 2,3 7 25, 27 3,3 0 34, 1 0,5 0 7,1 0,1 9 7,4 5,4 0 26, 9 0,4 0 5,1 3,0 19, 5 3. Đ ất n u ôi thu ỷ s ản 0,1 3 0,8 0,0 3 1,0 0,1 2 5,1 0,3 29 2,6 8 27, 7 4,9 8 70, 8 0,6 4 24, 9 3,2 7 0,2 8 1,4 1 0,1 2 1,4 7 7,3 2,6 8 34, 4 5,1 33, 1 4,5 0,4 2 16, 5 0,8 5 4,2 2,1 3 27, 4 1,1 7,1 3,3 0,3 0 11, 8 0,4 0 2,0 0,8 3 10, 7 0,9 6 6,2 0,6 2 3,1 0,5 5 0,3 2 1,6 0,3 0 1,5 0,5 5 8,3 2,9 1,2 0,0 6 8,3 0,6 0,4 0 7,1 4,0 26, 0 3,0 19, 5 7,1 1,0 6,5 1,9 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Diện tích đất của trang trại lâm nghiệp là lớn nhất với 20,08 ha/ 1 trang trại. Diện tích trang trại chăn nuôi là nhỏ nhất với 2,56 ha/ trang trại. Trang trại cây hàng năm thường nằm ở ven đô cho nên không có lợi thế về đất đai, thường kết hợp với chăn thả cá nên có diện tích đất thuỷ sản lớn: bình quân 0,4 ha/ trang trại. 2.3.2.2. Nguồn nhân lực trong các trang trại Lao động của trang trại: Các trang trại năm 2006 đã sử dụng 79 lao động. Gồm 60 lao động của chủ hộ trang trại; 19 lao động thuê mướn thường xuyên và 36 lao động mướn thời vụ quy đổi là 45,48%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 76 Biểu 2.16: Tình hình sử dụng lao động theo các loại hình trang trại năm 2006 Đơn vị tính: ha BQ phân theo loại hình trang trại Bình quân Chỉ tiêu chung SL 1. Lao động BQ 1 trang trại 1.1. Lao động của hộ chủ BQ 1 trang trại 1.2. Lao động thuê mướn BQ 1 trang trại Tổng hợp Cây ăn Chăn Lâm quả nuôi nghiệp % SL % SL Cây HN % Cây lâu năm % SL % SL 3,8 100 3,0 100 2,0 100 6,3 100 5,0 100 3,5 100 7,0 100 2,9 76,06 2,4 80,0 3,0 47,4 5,0 100 3,5 100 4,0 57,1 0,9 23,94 0,6 20,0 1,0 50,0 3,3 52,6 SL % SL % 3,0 42,9 2. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LĐ trong T.T 2.1. Chưa qua đào tạo 3,4 89,89 2,7 90,0 1,0 50,0 6,3 100 4,5 90,0 3,5 100 6,0 85,7 2.2. Sơ cấp, CNKT 0,1 1,33 2.3. Trung cấp 0,2 6,38 0,3 10,0 0,3 16,5 1,0 14,3 0,5 10,0 2.4. Cao đẳng 2.5. Đại học 0,1 1,33 3. Lao động thuê mướn lúc thời vụ cao nhất 0,3 16,5 1,7 45,48 3,1 103,3 1,0 15,8 1,0 20,0 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Các trang trại đã thu hút một lực lượng lao động ở nông thôn, góp phần giải quyết được công ăn việc làm mang lại thu nhập cho hộ. Trang trại chăn nuôi là trang trại thuê mướn nhiều lao động nhất (3,3 lao động/ TT) và sau đó là trang trại cây lâu năm (khoảng 3 lao động/ TT). Bình quân một trang trại có gần 4 lao động, trong đó lao động thuê mướn ngoài không cao vì phụ thuộc vào tính chất thời vụ nông - lâm nghiệp. Trình độ lao động của trang trại chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tới 89,89% và thực hiện các công việc thuần tuý giản đơn do chủ trang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 77 trại điều khiển. Lao động có trình độ đại học quá thấp, chiếm tỷ lệ khiêm tốn với 1,33%. 2.3.2.3. Trình độ trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật trong các trang trại Bắc Kạn Các trang trại thường trang bị phổ biến ở một vài loại máy chủ yếu là máy kéo đa năng công suất nhỏ (loại cầm tay dưới 15 mã lực); máy vận tải nông dụng, máy bơm nuớc, máy xay xát, máy tuốt, đập có động cơ công suất nhỏ. Biểu 2.17: Tình hình trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật theo các loại hình trang trại năm 2006 Đơn vị tính: cái Tổng số Chia theo loại hình trang trại Cây Cây Cây Danh mục máy móc, thiết bị Số Tỷ lệ Tổng Chăn Lâm ăn hàng lâu lƣợng (%) hợp nuôi nghiệp quả năm năm 1. Máy kéo trung (trên 12CV 1 4,8 1 đến dưới 35CV) 2. Máy kéo nhỏ (từ 12CV trở 5 23,8 1 1 1 1 1 xuống) 3. Ô tô (tổng số) 1 4,8 1 Trong đó: Ô tô vận tải hành khách và hàng hoá 4. Máy phát điện 1 4,8 1 5. Máy tuốt có động cơ 5 23,8 3 1 1 6. Lò, máy sấy sản phẩm nông, 1 4,8 1 lâm, thuỷ sản 7. Máy chế biến lương thực (xay xát, đánh bóng, phân loại 7 33,3 2 1 2 1 1 …) 8. Máy chế biến gỗ (cưa, xẻ, 4 19,0 3 1 phay, bào…) có động cơ 9. Bình phun thuốc trừ sâu có 4 19,0 3 1 động cơ 10. Máy bơm nước dùng cho 11 52,4 4 2 1 2 1 1 sản xuất nông, lâm thuỷ sản 11. Máy chế biến thức ăn gia 6 28,6 2 3 1 súc (nghiền, trộn, phân loại …) 12. Máy chế biến thức ăn thuỷ 3 14,3 2 1 sản (nghiền, trộn, ép đùn…) Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 78 Cơ sở vật chất nhà xưởng: Hầu như là rất đơn giản dựa trên cơ sở cơ ngơi sinh hoạt và chuồng trại gia đình. Trang trại chăn nuôi gia súc lớn vẫn còn tồn tại hình thức chăn nuôi bán nhốt, chăn nuôi gia cầm chủ yếu theo hình thức thả vườn. Mức độ cơ giới hoá: 1 phần khâu làm đất với 6 trang trại chiếm tỷ lệ 28,6% trang trại có máy cày kéo (cày trụ, bánh lồng); gieo cấy hoàn toàn thủ công; khâu chăm sóc mới giải quyết được nước tưới (11 trang trại có máy bơm chiếm tỷ lệ 52,4%); phun thuốc trừ sâu có động cơ có ở 4 trang trại; hỗ trợ một phần thu hoạch lúa; chế biến mới có máy xay xát lương thực (7 trang trại) và cưa, xẻ gỗ (4 trang trại). Trong tổng số 21 trang trại mới chỉ có 1 trang trại có 1 xe ô-tô tải nhẹ. Nhìn qua biểu trên đây, chúng ta có thể thấy bức tranh tổng thể của các trang trại đang trong thời kỳ ban đầu của sản xuất hàng hoá: Đó là máy kéo nhỏ làm đất - giải quyết nước tưới lúc thiếu mưa - đỡ gánh nặng khâu thu hoạch - chế biến lương thực để bán và làm dịch vụ. 2.3.2.4. Yếu tố vốn sản xuất của trang trại Tổng vốn đầu tư của các chủ trang trại năm 2006 là 2,73 tỷ đồng đồng, chủ yếu là vốn đầu tư của chủ trang trại với 2,3 tỷ đồng chiếm 84%, trong khi đó vốn vay ngân hàng chỉ có 290 triệu đồng chiếm 18,8%. Bình quân vốn đầu tư sản xuất của một trang trại là 129,8 triệu đồng. Vốn lưu động của các trang trại tập trung vào các lĩnh vực kinh tế như sau: Nông nghiệp 55,6%; Công nghiệp - xây dựng 21,8%; còn lại là các ngành lâm nghiệp, thuỷ sản và dịch vụ khác là 21,6%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 79 Biểu 2.18: Tình hình vốn sản xuất theo các loại hình trang trại năm 2006 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Bình quân chung Tổng hợp SL % SL I. TỔNG VỐN 141, 129,8 100 SXKD 1 115, 1. Vốn chủ trang trại 109,3 84 3 2. Vốn vay 13,9 11 18,8 Tr. đó: Vay NH, tổ 10,1 8 13,2 chức TD 3. Vốn khác 6,7 5 7 II. VỐN LƢU 66,7 100 74,7 ĐỘNG) A. Phân theo nguồn vốn 1. Vốn chủ trang trại 54,9 82,3 58,1 2. Vốn vay 8,5 12,7 16,6 Tr. đó: Vay NH, tổ 5,2 7,8 11 chức TD 3. Vốn khác 3,3 5,0 B. Phân theo ngành kinh tế 1. Nông nghiệp 37,1 39,7 47,5 2. Lâm nghiệp 4,5 4,8 8,9 3. Thuỷ sản 6,1 6,5 9,4 4. Công nghiệp - xây 14,5 15,5 2,0 dựng 5. Thương nghiệp 6. Dịch vụ khác 3,8 4,1 7,0 % Chia theo loại hình trang trại Cây ăn Lâm Cây hàng Cây lâu Chăn nuôi quả nghiệp năm năm SL % SL % SL % SL % SL % 100 91 100 170,3 100 44,8 100 21 100 400 100 81,7 81 89,0 153,7 90,2 38,3 85,5 16 76,2 330 82,5 13,3 10 11,0 16,7 9,8 6,5 14,5 9,4 5 23,8 10 11,0 16,7 9,8 5,0 70 17,5 100 45,9 100 38,4 100 31,5 100 19,3 100 300 100 77,8 45,9 100 37,7 98,3 31,5 100 14,3 74,0 230 76,7 22,2 0,7 1,7 5 26,0 14,7 70 23,3 63,5 45,9 100 33,5 87,2 19,5 61,9 13,8 71,4 15,0 11,9 1,4 3,7 0,5 1,6 12,6 0,2 0,4 11,5 36,5 5,5 28,6 2,7 9,4 5,0 285, 95,0 3,3 8,7 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại 2.3.2.5. Quy mô sản xuất của các trang trại Quy mô sản xuất các trang trại còn nhỏ, sản lượng hàng hoá thấp và chủ yếu là tiêu thụ tại thị trường địa phương. Trồng trọt: Năm 2006 diện tích gieo trồng lúa 15,5 ha; ngô 6,4 ha, chè hái búp 5,4 ha, cam quýt 10,3 ha, nhãn 1,9, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 80 vải 2,3 ha. Chăn nuôi: trâu 87 con, bò 258 con, lợn 328 con, gà 2.380 con... Diện tích chăn thả cá 5,4 ha. Biểu 2.19: Quy mô sản xuất theo các loại hình trang trại năm 2006 Chia theo loại hình trang trại BQ Chỉ tiêu Đơn vị chung/ tính 1trang Tổng trại hợp Cây ăn quả Chăn Lâm nuôi nghiệp Cây Cây hàng lâu năm năm 1. Cây hàng năm - Cây lúa ha g.tr 0,74 0,83 0,2 0,5 0,8 0,8 1,92 - Cây ngô ha g.tr 0,30 0,23 0,05 0,44 0,53 0,75 0,1 - Cây chè ha 0,26 0,29 0,23 0,03 2,0 - Cam, quýt ha 0,49 0,01 3,4 - Nhãn ha 0,09 0,13 0,17 - Vải ha 0,11 0,11 0,17 - Đàn bò con 12,33 8,1 - Đàn trâu con 4,14 4,6 - Đàn lợn con 15,62 Tr. đó: Lợn nái SS con - Đàn Gà Tr. đó: Đẻ trứng 2. Cây lâu năm 0,04 0,05 0,03 0,11 0,05 0,15 0,03 36,67 7,5 1,5 50 0,33 6,67 3,5 6,5 0 13,9 2,67 43,33 18 7 1 1,76 1,4 1 4 3 0,5 1 con 113,33 162 83,33 33,33 90 65 100 con 7,62 2,9 13,67 6,67 15 - Diện tích chăn thả cá ha 0,26 0,31 0,06 0,03 0,12 Tr. đó: Thâm canh ha 0,03 0,07 - Gỗ m3 2,8 2,8 - Củi tấn 1,1 1,4 tr.đồng 9,43 14,16 3. Chăn nuôi 40 4. Thuỷ sản 0,45 0,9 0,03 5. Lâm nghiệp 6. Dịch vụ phi nông, lâm, thuỷ sản 1 1 11,5 5 2 7,23 2,35 30 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 81 - Cam, quýt bình quân 3,4 ha/ trang trại cây ăn quả. Cây ăn quả khác diện tích không đáng kể. - Đàn trâu, bò của trang trại chăn nuôi bình quân vào khoảng 40 - 45 con/ trang trại. Lợn nái sinh sản chưa đáp ứng được nhu cầu về con giống của chính các trang trại. - Chăn nuôi gia cầm chủ yếu là thả vườn, chưa chăn nuôi công nghiệp, tập trung ở loại hình trang trại kinh doanh tổng hợp. - Thuỷ sản còn quá nhỏ bé: 0,9 ha chăn thả/ trang trại trong loại hình trang trại cây lâu năm. - Lâm nghiệp cho sản phẩm còn quá khiêm tốn. - Ngành nghề, dịch vụ trong các trang trại chưa phát triển. Thu nhập đều nhất là trang trại tổng hợp với bình quân 14,16 triệu đồng/ trang trại. 2.3.2.6. Kết quả sản xuất kinh doanh trong các trang trại Giá trị sản phẩm sản xuất của 21 trang trại đã tạo ra được một số lượng sản phẩm đáng kể. Năm 2006, tổng thu của các trang trại là 2.155 triệu đồng, bình quân một trang trại 102,6 triệu đồng. Tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ bán ra của các trang trại đạt 1.737 triệu đồng. GO bình quân của trang trại cây ăn quả và trang trại lâm nghiệp đạt cao hơn so với các loại hình trang trại khác. Thu từ hoạt động phi nông, lâm, thuỷ chiếm tỷ trọng không đáng kể, bình quân 9,4 triệu đồng/ trang trại (chiếm 9,19%) tập trung chủ yếu ở loại hình kinh doanh tổng hợp. Thu nhập trước thuế bình quân 1 trang trại mới đạt có 55,1 triệu đồng. Giá trị sản phẩm và dịch vụ bình quân bán ra của 1 trang trại là 82,2 triệu đồng. Nhìn chung thu nhập bình quân của các trang trại chưa cao vì một số trang trại chưa đến điểm hoàn vốn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 82 Biểu 2.20: Giá trị sản xuất theo các loại hình trang trại năm 2006 Đơn vị tính: Triệu đồng Chia theo loại hình trang trại Tổng Chỉ tiêu số SL % Tổng hợp Cây ăn quả Chăn nuôi Lâm nghiệp SL SL SL % % % SL % Cây hàng Cây lâu năm năm SL % SL % A. Giá trị tổng sản phẩm I. Thu từ nông, 102,6 100 106,9 100 124,4 100 97,3 100 123,6 93,2 90,81 92,7 86,75 124,4 100 44,4 95,0 50,2 62,6 1. Nông nghiệp 81,7 79,65 77,3 72,30 121,5 97,71 84,8 87,15 109,0 88,20 33,2 70,9 40,2 50,1 1.1. Trồng trọt 33,6 32,78 24,0 22,45 41,7 39,8 49,6 lâm, thuỷ sản 100 90,1 92,57 123,6 100 46,8 100,0 80,2 100,0 99,3 79,83 9,7 9,97 30,3 24,50 19,5 - Cây lúa 8,8 8,59 9,4 8,81 2,8 2,23 4,8 4,97 9,6 7,73 11 23,5 27 33,7 - Cây ngô 2,8 2,71 3,0 2,78 0,24 0,19 2,2 2,22 3,2 2,63 6,8 14,6 1,2 1,5 - Cây chè 0,8 0,74 0,4 0,33 2,3 1,82 0,2 0,3 7,5 9,4 - Cam, quýt 8,7 8,50 2 2,5 - Nhãn 0,7 0,68 0,6 0,54 2 1,61 0,5 0,6 - Vải 0,8 0,78 0,5 0,46 2,3 1,88 60,4 48,56 1.2. Chăn nuôi 48,1 46,87 53,3 49,85 - Trâu 10,3 10,09 18,4 17,17 - Bò - Lợn 7,3 7,08 22,5 21,97 8,1 0,19 22,2 17,88 75,1 77,19 2,6 7,59 21,6 20,17 0,2 2,67 1,2 0,97 0,4 0,32 1,5 3,2 0,6 0,7 78,7 63,71 13,7 29,2 0,4 0,5 10,5 8,50 13,8 14,21 15 12,14 8,1 6,52 50,6 51,95 34,2 27,67 2,5 5,3 6,8 14,4 1,9 4,0 - Gà 3,0 2,91 2,9 2,75 3,8 3,08 1,2 1,28 7,2 5,85 2. Lâm nghiệp 3,7 3,60 4,4 4,11 0,1 0,08 4,4 4,55 8,0 6,49 4 5,0 2.1. Gỗ 2,1 2,05 3,1 2,87 0,5 0,51 4,0 3,26 4 5,0 2.2. Củi 0,8 0,80 1,3 1,23 0,1 0,08 1,3 1,30 3. Thuỷ sản 7,8 7,56 11,1 10,35 2,8 2,21 0,8 0,86 6,6 5,30 11,3 24,1 6 7,5 3.1. Cá 4,2 4,13 2,8 2,21 0,5 0,51 6,6 5,30 11,3 24,1 6 7,5 9,4 9,19 7,2 7,43 2,4 5,0 30 37,4 1. Công nghiệp 2,3 2,26 3,5 3,60 2,4 5,0 2. Thương nghiệp 1,4 1,39 30 37,4 3. Vận tải 5,1 5,01 4. Dịch vụ khác 0,5 0,52 3,8 3,51 II. Hoạt động phi nông, lâm, thuỷ 14,2 13,25 3,4 3,14 10,8 10,11 3,7 3,83 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 83 2.3.2.7. Hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các trang trại Biểu 2.21: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh theo các loại hình trang trại năm 2006 Chỉ tiêu Giá trị gia tăng (VA) VA/lao động VA/vốn VA/ diện tích Tỷ suất hàng hoá Loại hình trang trại TT cây TT TT TT cây hàng chăn Lâm lâu năm năm nuôi nghiệp (n=1) (n=2) (n=3) (n=2) 27.300 48.510 47.875 68.779 1000đ TT Cây ăn quả (n=3) 81.007 1000đ/lđ 40.503 8.400 6.930 13.096 15.609 19.157 Lần 0,88 1,60 0,12 0,49 1,791 0,44 1000đ/ha 12.115 3.466 3.122 24.466 4.774 9.300 % 93,94 68,62 46,13 78,94 88,32 76,28 ĐVT TT Tổng hợp (n=10) 52.931 Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp chủ trang trại Căn cứ vào số liệu phân tích ở bảng trên, chúng tôi dùng phương pháp kiểm định thống kê so sánh cặp đôi bằng phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS (Statiscal Package for Social Sciences) để kiểm định độ tin cậy, lý do là kích thước các nhóm có độ lệch lớn, nhất là đối với nhóm trang trại cây lâu năm chỉ có 1 trang trại (cụ thể xin xem phụ lục12 - 16 luận văn). Kết quả qua phân tích, đánh giá rút ra như sau: * Giá trị gia tăng của trang trại: Giá trị gia tăng của trang trại cây ăn quả là 81 triệu đồng/ trang trại, VA của nó cao hơn trang trại chăn nuôi (gấp 1,69 lần) và trang trại tổng hợp (1,53 lần). Như vậy, loại hình cây ăn quả đã phát huy tiềm năng của địa phương và đem lại hiệu quả kinh tế cao. * Hiệu quả sử dụng lao động (VA/ lao động) Trang trại cây ăn quả có giá trị gia tăng/ 1 lao động cao hơn 2 lần so với trang trại kinh doanh tổng hợp. Đây thể hiện một đặc điểm của là các ngành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 84 nghề phi nông, lâm, thủy sản ở vùng nông thôn giá trị dịch vụ thường không cao. Đồng thời cũng khẳng định thêm rằng cây ăn quả là thế mạnh và góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương. * Hiệu quả sử dụng vốn của trang trại (VA/ vốn) Trang trại lâm nghiệp có VA thu được là 1,791 đồng/ 1đồng vốn bỏ ra cao nhất so với các loại hình trang trại khác: Tổng hợp (gấp khoảng 4 lần); chăn nuôi (gấp gần 4 lần); cây ăn quả (gấp khoảng 2 lần) và cây hàng năm (gấp khoảng 1,1 lần). Sở dĩ trang trại lâm nghiệp có VA/ vốn cao là vì suất đầu tư trên một đơn vị diện tích trong các trang trại trồng rừng thường không lớn. Bên cạnh đó đất đai lâm nghiệp ở Bắc Kạn cơ bản là tốt cho nên góp phần giảm chi phí cho nhà đầu tư. * Hiệu quả sử dụng đất (VA/ diện tích) Trang trại chăn nuôi có VA thu được là 24,446 triệu đồng/ 1 ha đất trang trại, gấp 2 lần so với VA thu được từ 1 ha đất ở trang trại cây ăn quả. Tuy nhiên số liệu này cũng cho thấy các trang trại chăn nuôi ở tỉnh thường không có đồng cỏ chăn thả khép kín và chi phí chuồng trại là không lớn (hình thức chăn nuôi quảng canh). * Tỷ suất hàng hoá Trang trại cây ăn quả có tỷ suất hàng hoá lớn nhất so với các trang trại cây hàng năm, chăn nuôi, lâm nghiệp và tổng hợp. Các trang trại trồng cam, quýt hiện nay có tới 70% diện tích cho thu hoạch và sản phẩm này có giá trị hàng hoá hiện tại cao. Tỷ suất hàng hoá thấp nhất là trang trại cây hàng năm với 68,62%, cho thấy là với các loại cây lương thực ngắn ngày như lúa, ngô có giá trị hàng hoá không cao và sản phẩm chủ yếu là tiêu dùng nội bộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 85 2.3.3. Phân tích SWOT tìm vấn đề cơ bản phát triển kinh tế trang trại Qua các ý kiến các nhà chuyên môn, nhà quản lý các cấp tỉnh, huyện và xã; thông tin điều tra trực tiếp từ các chủ trang trại, chúng tôi xây dựng bảng phân tích SWOT để tìm ra vấn đề cơ bản để phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bắc Kạn như sau: Bảng 2.22: Ma trận SWOT về kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn năm 2007 Điểm mạnh (Strength): - Vốn tự có là chủ yếu; - Dịch bệnh ít xảy ra và không gây hậu quả lớn; - Chưa gây hậu quả vê môi trường; - Sản phẩm đặc thù, đảm bảo an toàn thực phẩm; - Không có khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm; - Thu nhập không cao nhưng ổn định. Điểm yếu (Weakness): - Số lượng trang trại phát triển chậm; - Quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ ở mức độ thấp; - Lao động chưa qua đào tạo là chủ yếu; - Năng suất cây trồng, vật nuôi thấp; - Sản phẩm hầu như tiêu thụ sản phẩm tại địa phương; - Thu nhập bình quân/ trang trại thấp. Cơ hội (Opportunity): - Được ưu tiên thuê đất ở những vùng quy hoạch tập trung làm KTTT; - Sự hỗ trợ về kỹ thuật của địa phương thông qua thực hiện các chương trình, dự án; - Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư tập trung và đồng bộ ở các vùng quy hoạch; - Tham gia các khoá đào tạo nâng cao kiến thức quản lý, kỹ thuật, tay nghề; - Có điều kiện tiếp cận với các nhiều nguồn tín dụng với lãi suất ưu đãi; - Hội nhập sâu tạo điểu kiên tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm. Thách thức (Threat): - Tích tụ đất đai khó khăn; - Địa vị pháp lý và đăng ký kinh doanh của chủ trang trại; - Khả năng tiếp nhận, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong sản xuất kinh doanh; - Chất lượng nông sản phẩm hàng hoá và vệ sinh an toàn thực phẩm. - Hệ thống phân phối, liên kết tiêu thụ sản phẩm; - Phòng trừ dịch bệnh nguy hiểm gắn với bảo vệ môi trường sống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 86 Tóm lại: Các trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tại thời điểm nghiên cứu về quy mô còn nhỏ. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn yếu, hiệu quả kinh tế chưa cao. Mặt khác do trình độ quản lý, trình độ lao động hầu hết là phổ thông, sản phẩm hàng hoá các trang trại không lớn và thiếu sức cạnh tranh. Thu nhập bình quân một lao động trong các trang trại còn thấp. 2.3.4. Nguyên nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế trang trại ở Bắc Kạn * Thiếu quy hoạch định hướng phát triển: Tỉnh chưa thực hiện được việc phân vùng kinh tế, quy hoạch đất đai để dành cho phát triển kinh tế trang trại. Diện tích rừng và đất rừng tuy nhiều nhưng manh mún không có diện tích tập trung nên hiện nay để có một khu đất liền khoảnh khoảng 30 - 50 ha mà không vướng vào quy hoạch khác là rất hiếm. * Quản lý đất đai bất cập, tích tụ tập trung đất khó khăn: - Hiện nay ở nông thôn Bắc Kạn phổ biến có tình trạng một hộ có tới vài chục mảnh ruộng, như vậy tương ứng là vài chục sổ đỏ. Các hộ nhận đất, nhận rừng chủ yếu căn cứ vào đất nương rẫy cũ của gia đình từ trước, mang tính tự phát là chính. Để đảm bảo tính công bằng khi phân chia đất ruộng cho các hộ phải có các loại đất khác nhau, nên đến nay tình trạng manh mún, nhỏ lẻ là khó khắc phục. - Do đặc điểm xã hội và tâm lý của người dân miền núi đó là các vấn đề về ruộng đất ông cha, bao chiếm đất đai do tập quán nương rẫy... trong khi các nhà nước chưa có quy định pháp luật điều chỉnh. * Tổ chức bên trong của các trang trại còn nhiều yếu kém: Nhiều chủ trang trại còn thiếu kinh nghiệm và kiến thức quản lý kinh tế. Việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản lý, chuyên môn kỹ thuật chưa được quan tâm đúng mức cả phía chủ trang trại lẫn cơ quan quản lý nhà nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 87 * Môi trường xã hội còn nhiều trở ngại: Đặc thù miền núi, các hộ nông dân của tỉnh Bắc Kạn chủ yếu là dân tộc thiểu số có phong tục tập quán, lối sống, tâm lý, văn hóa phong phú, có nhiều mặt tích cực song mặt hạn chế cũng rất lớn. Tới nay tập quán chăn thả rông trâu, bò vẫn là một trở ngại lớn cho sản xuất nông nghiệp. * Môi trường đầu tư kinh doanh, tư pháp chưa thuận lợi: - Cho đến hết năm 2006 mới chỉ có 2 trang trại thực hiện đăng ký kinh doanh, chính vì vậy sự trợ giúp của nhà nước đối với các trang trại rất còn hạn chế. - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh hàng năm hạn chế, nhu cầu đô thị hoá lớn nên bố trí vốn xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sinh hoạt cho nông thôn chưa được nhiều. Tốc độ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông thôn chậm. - Thị trường lao động chưa hình thành cho nên việc kiếm lao động ổn định làm tại trang trại đang là một vấn đề khó đối với các trang trại. Thị trường tiêu thụ nông sản phẩm hàng hoá còn nhỏ hẹp. - Công tác khuyến nông, khuyến lâm đã thực hiện được nhiều mô hình thử nghiệm thành công, song tính hiệu quả thấp, việc nhân rộng trong sản xuất đại trà ra các hộ nông dân không thực hiện được. Cán bộ khuyến nông khuyến lâm ở cơ sở còn quá ít, chưa sâu sát với nông dân để nắm bắt nhu cầu và trực tiếp giúp đỡ kỹ thuật sản xuất cho các hộ gia đình nông dân. * Quản lý nhà nước về kinh tế trang trại còn bị buông lỏng: - Các cơ quan quản lý không nắm được chính xác số lượng trang trại cũng như hoạt động kinh tế của các trang trại. Số liệu thống kê theo các kênh của cơ quan quản lý nhà nước cũng không có sự thống nhất: Theo thống kê của ngành Nông nghiệp và PTNT Bắc Kạn năm 2004 số liệu là 64 trang trại, trong khi đó số liệu của Cục Thống kê tỉnh cùng thời điểm chỉ có 21 trang trại đạt tiêu chí. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 88 - Quản lý về vệ sinh phòng trừ dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng nông sản hàng hoá... đang còn để ngỏ. Tóm lại: Tuy còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn trong quá trình phát triển, nhưng cũng có thể khẳng định rằng: Phát triển kinh tế theo hướng trang trại gia đình; xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu để các hộ nông dân Bắc Kạn tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh theo hướng sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 89 Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẮC KẠN THỜI GIAN TỚI 3.1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 3.1.1. Quan điểm phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá ở Việt nam 3.1.1.1. Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản Việc phát triển kinh tế trang trại nên đi theo trình tự từ đơn giản lên hiện đại, lấy việc phát triển kinh tế hộ làm tiền đề để hình thành kinh tế trang trại, tránh sử dụng các công cụ kích thích kinh tế trực tiếp để tạo ra một hệ thống các trang trại phong trào, không có tính ổn định và bền vững. Xây dựng các hộ gia đình thành các hộ kinh tế tự chủ. Nhiều địa phương miền núi vẫn còn tồn tại hai loại gia đình: Gia đình lớn và gia đình nhỏ. Các gia đình lớn, do tác động của cơ chế làm ăn mới, do những khó khăn ngày càng không thể khắc phục về lương thực, thực phẩm ngày càng phân rã nhanh hơn (đây là khuynh hướng tích cực). Nói chung, ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các gia đình nhỏ (hay là tiểu gia đình) là tế bào của xã hội. Loại hình gia đình này có khả năng thích ứng linh hoạt nhất với nền nông nghiệp tiểu nông. Việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình là rất đúng hướng và cần phải xúc tiến nhanh hơn, mạnh hơn. Tuy nhiên, mấu chốt của vấn đề giao và nhận đất rừng là chỗ phải xác định rõ ràng quyền sở hữu và quyền thừa kế của người nông dân đề người nông dân thực sự yên tâm sản xuất, đầu tư lâu dài theo kiểu canh tác trang trại trên các mảnh đất mà họ đã nhận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 90 Kinh tế trang trại là lực lượng xung kích đi đầu trong sản xuất nông sản hàng hóa, đồng thời cũng là lực lượng đi đầu trong ứng dụng tiến bộ KH&CN nông nghiệp trong thời kỳ đi lên CNH. Kinh tế trang trại không đơn nhất mà rất đa dạng về đặc điểm, tiềm năng kinh tế kỹ thuật và qui mô sản xuất. Trang trại ở vùng đồi núi khác trang trại vùng đồng bằng, và vùng ven biển. Trang trại sản xuất lương thực, cây công nghiệp, cây ăn trái, khác trang trại chăn nuôi trâu bò, lợn, gà, nuôi trồng thủy sản, và khác trang trại trồng rừng, vì vậy mỗi loại trang trại trong từng thời kỳ có những yêu cầu về KH&CN khác nhau. Kinh tế trang trại lại có qui mô nhỏ, vừa, lớn, do đó khả năng tiếp thu và ứng dụng tiến bộ KH&CN cũng khác nhau. KH&CN nông nghiệp chỉ đem lại hiệu quả kinh tế khi các trang trại lựa chọn đúng được loại hình, mức độ phù hợp với đặc điểm, yêu cầu và khả năng kinh tế kỹ thuật cụ thể của từng trang trại. Trang trại là nơi có thể đẩy mạnh ứng dụng khoa công nghệ làm tác nhân quan trọng để phát triển công nghệ sau thu hoạch: Thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến và thị trường (marketting) - nâng cao giá trị kinh tế của nông sản phẩm hàng hoá. Khi khả năng nguồn cung trong trang trại không đủ thì nó giúp tiêu thụ sản phẩm cho nông dân và cung cấp dịch vụ (vật tư, kỹ thuật v.v...) cho các hộ gia đình xung quanh địa bàn. Với hiệu quả kinh tế được trực tiếp thấy và điều kiện sản xuất trong vùng không có gì khác biệt nhiều, các hộ nông dân trong vùng sẽ học tập làm theo mô hình làm kinh tế của các trang trại này. 3.1.1.2. Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới Sản xuất nông nghiệp cần phải đáp ứng các nhu cầu ngày một tăng của xã hội trong điều kiện nguồn lực bị hạn chế. Vì vậy muốn phát triển bền vững, cách cơ bản để giải quyết vấn đề này là tăng năng suất. Do nhu cầu cấp bách, hiện nay có khuynh hướng là nhiều vùng đất vốn không thích hợp cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 91 sản xuất nông nghiệp cũng được huy động để sản xuất, điều này sẽ gây ra những tác động không tốt cho môi trường do đó nó cần được ngăn chặn. Để được bền vững trong thời hạn dài, việc phát triển kinh tế trang trại cũng phải nhằm vào việc bảo vệ tài nguyên. Nhân dân địa phương cần phải được tham gia trong việc bảo vệ và quản lý lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Họ cần phải được chia sẻ những lợi ích của các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ các khu vực mà họ sinh sống. Vì vậy, để phát triển bền vững các chủ trang trại phải gắn kết được lợi ích của mình với lợi ích cộng đồng. Việc đẩy mạnh áp dụng các kỹ thuật trong các trang trại nhằm nâng cao năng lực sản xuất, giảm tổn thất do sâu bệnh, bảo vệ tài nguyên đất và nước v.v... sẽ tạo ra hạt nhân tốt để kích thích các đối tượng khác cùng áp dụng. Vì vậy cần khuyến khích các chủ trang trại, các nông dân đầu tư vào việc sử dụng đất một cách bền vững bằng cách giao cho họ quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài và tạo điều kiện thuận lợi cho họ sở hữu về các nguồn lợi sản sinh từ đất đai. Phát triển các cách sử dụng lâu bền về công nghệ sinh học, và các trang trại sẽ đóng vai trò là cầu nối để chuyển giao công nghệ này một cách an toàn hợp lý, cho cộng đồng cư dân địa phương, đặc biệt là chuyển giao cho các hộ nông dân đang sản xuất các cây trồng, vật nuôi tương tự. Sự bền vững của nông nghiệp nông thôn còn đòi hỏi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, cần phải có các chính sách để khuyến khích chủ trang trại sử dụng các biện pháp quản lý sản xuất tổng hợp nhằm tránh tình trạng các chủ trang trại vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên lạm dụng quá mức các chất hoá học để kiểm soát sâu bệnh, diệt trừ cỏ dại hoặc sử dụng các chất kích thích tăng trưởng để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi... gây ra những tác hại lâu dài cho sức khoẻ con người và môi trường sinh thái. Việc phát triển kinh tế trang trại là bước đi tất yếu của nền sản xuất nông nghiệp nước ta trên con đường CNH, HĐH. Tuy nhiên do đặc điểm ở nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 92 thôn Việt nam nói chung và Bắc Kạn nói riêng tồn tại tính cộng đồng làng xã rất cao nên khi đẩy mạnh phát triển KTTT cần phải tính đến yếu tố này. Nghĩa là các trang trại phải dựa trên nền tảng gia đình là chủ yếu, lao động chủ yếu trong trang trại là người nhà hoặc bà con làng xóm. Trang trại phải là một hạt nhân văn hoá của làng xã về mặt cấu trúc, không nên biến trang trại thành một thực thể độc lập với cộng đồng làng xã. Mục đích của chương trình chống nghèo khó là làm cho mọi người có khả năng tốt hơn để có một cuộc sống theo lối bền vững. Sự phát triển kinh tế trang trại ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa là cần thiết vì nó có khả năng tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người dân thiếu việc làm ngày hôm nay và cho những lực lượng lao động đang lớn lên. 3.1.1.3. Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn Trên thực tế, sau nhiều lần tiến hành giao đất canh tác cho nông dân, đến nay đất nông nghiệp nước ta về cơ bản vẫn rất manh mún. Tại miền Bắc bình quân 6.637m2/ hộ, miền Nam 10.757m2/ hộ. Vì vậy, để tiến đến sản xuất hàng hoá, Nhà nước không chỉ dừng lại ở những giải pháp chung chung mà phải có những việc làm thiết thực đẩy nhanh tốc độ DĐĐT, tích tụ ruộng đất. Cần có cơ chế quản lý, khuyến khích nông dân "dồn điền, đổi thửa", phấn đấu để mỗi hộ có 1 - 2 thửa ruộng; khuyến khích việc cho thuê hoặc chuyển nhượng ruộng đất nhưng để sản xuất, nhằm đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất ở nông thôn, tạo điều kiện để hình thành các trang trại quy mô lớn, sản xuất khối lượng hàng hóa lớn. Theo các chuyên gia, tích tụ ruộng đất phải đi đôi với phát triển ngành nghề, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân. GS. Nguyễn Lân Dũng cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 93 rằng, để trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020, lao động nông nghiệp phải giảm xuống chỉ còn 23%, phải chuyển khoảng 50% lao động nông nghiệp hiện nay sang các ngành kinh tế khác, đi đôi với tích tụ đất đai để có thể cơ giới hoá các khâu canh tác và thu hoạch. Ngoài ra, chính sách đất đai phải tạo điều kiện và thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện có và khai thác nhanh đất hoang hoá đang còn chiếm một diện tích lớn. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, nâng cao trình độ công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch. Chú trọng phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cả trong và ngoài nước. Nhân rộng các mô hình liên kết kinh tế hộ nông dân, các hình thức kinh tế hợp tác và HTX, nông lâm trường, kinh tế trang trại gắn với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ đầu tư ban đầu thoả đáng cho việc chuyển lao động và dân cư đến những nơi khó khăn nhưng giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí xung yếu về an ninh, quốc phòng, tạo đà phát triển nhanh cho những vùng này để giảm sự cách biệt. Giải quyết các vướng mắc về chính sách và thể chế để tạo động lực mới thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển vững chắc. Đề cao trách nhiệm và tính năng động, sáng tạo của nhiều địa phương, ban ngành trong việc tạo thuận lợi cho nông dân, các thành phần kinh tế có nhu cầu và khả năng mạnh dạn đầu tư phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn theo đúng pháp luật. Về cầu lao động, để nông thôn thực sự phát triển bền vững theo hướng CNH HĐH, trước hết phải phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có làng nghề và kinh tế trang trại, nơi tạo ra thu nhập cao và ổn định hơn. Thực tế cho thấy các loại hình kinh tế này có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tốt hơn và có tiềm lực kinh tế để sẵn sàng đầu tư khi cần thiêt. Kinh tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 94 trang trại có khả năng làm tăng giá trị sản phẩm theo hướng xuất khẩu và hình thành các thị trường nông sản ngay tại địa phương. Như vậy kinh tế trang trại là lực lượng xung kích đi đầu trong sản xuất nông sản hàng hóa, đồng thời cũng là lực lượng đi đầu trong ứng dụng tiến bộ KH&CN nông nghiệp thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. 3.1.2. Quan điểm riêng đối với tỉnh Bắc Kạn Căn cứ vào kết qủa nghiên cứu của đề tài, đối với tỉnh Bắc Kạn chúng tôi thấy cần thêm một số quan điểm sau: * Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá gắn với việc phát triển các trang trại phù hợp với tiểu vùng sinh thái và công nghệ sinh học. Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt; phát triển ngành nghề nông thôn để chuyển một số lao động nông nghiệp sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp. Hình thành các vùng kinh tế trang trại tập trung theo quy hoạch của tỉnh dành cho các cây trồng, vật nuôi hàng hoá có lợi thế so sánh. Ưu tiên cho phát triển các trang trại mới tập trung vào vùng kinh tế trọng điểm được quy hoạch cho các cây trồng, vật nuôi hàng hoá mũi nhọn, vừa khuyến khích và có cơ chế kích thích sự phát triển nội tại của các cơ sở hiện có điều kiện, phát triển thành loại hình kinh tế trang trại. Cần quan tâm phát triển các trang trại sử dụng nhiều lao động. Hiện nay vấn đề lao động đến độ tuổi không có công ăn việc làm ổn định ở nông thôn là rất quan trọng. Rất nhiều người lao động nông nghiệp ở thị xã Bắc Kạn và các khu công nghiệp bị mất đất trong quá trình đô thị hoá. Họ đang có tiền do đền bù giải phóng mặt bằng, tuy nhiên tìm ra một công việc có thu nhập ổn đinh đối với họ là một vấn đề khó. Việc phát triển kinh tế trang trại còn giải quyết tận gốc làn sóng di dân ra đô thị trong quá trình đô thị hoá và cùng với nó là tệ nạn xã hội và sự cách biệt giàu nghèo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 95 * Khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành nghề, đa dạng hoá các loại hình kinh tế ở nông thôn miền núi, khắc phục tư tưởng và thói quen của việc điều hành nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc với sự chi phối lớn của kinh tế tự nhiên. Các nghề thủ công ở miền núi kém phát triển làm cho quá trình đô thị hoá chậm chạp, mật độ tập trung dân cư thấp, nhu cầu xã hội về tiêu thụ các sản phẩm thủ công chưa đủ cho các nghề này tách khỏi nghề nông. Theo đó, cần phải cấy nghề hình thành làng thủ công ở các vùng miền núi như các làng thủ công ở đồng bằng Bắc bộ. * Về phương diện kinh tế, kinh doanh miền núi có các thế mạnh riêng, vừa mang tính phổ biến, vừa có yếu tố đặc thù. Nói chung thì các thế mạnh của miền núi thể hiện rõ ràng nhất ở hai khả năng cụ thể: + Thâm canh đất rừng, vườn rừng + Chăn nuôi gia súc lớn (chủ yếu là đàn trâu, bò) Thực chất đây chính là mô hình kinh tế nông - lâm hay lâm - nông kết hợp có tác dụng kích thích sự phát triển của khuynh hướng sản xuất hàng hoá. * Bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học Sự tổn thất về đa dạng sinh học đang diễn ra ngày một gay gắt, chủ yếu là do sự phá huỷ môi trường sinh sống, sự khai thác quá mức, sự ô nhiễm và do việc đưa vào nuôi trồng các loài động và thực vật nhập ngoại một cách không thích hợp. Sự suy giảm về đa dạng sinh học xảy ra phần lớn là do con người, và trong đó chính cách khai thác tận diệt tự nhiên để phục vụ cho mục đích tối đa hoá lợi nhuận của các cơ sở kinh doanh nông nghiệp phải chịu một phần trách nhiệm. Để đảm bảo sự đa dạng sinh học, ngoài việc cần tiến hành các nghiên cứu dài hạn về tầm quan trọng của sự đa dạng sinh học đối với những hệ sinh thái sản xuất ra hàng hoá và cho những lợi ích về môi trường nhằm có biện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 96 pháp tích cực để bảo vệ các nguồn gien quý. Tỉnh còn cần phải khuyến khích các chủ trang trại, nông dân áp dụng các phương pháp canh tác thân thiện với tự nhiên và các loài sinh vật hoang dã nhằm duy trì và phát triển thêm sự đa dạng sinh học. Việc thực hiện cơ chế phân chia hợp lý và công bằng các lợi ích thu được do sử dụng nguồn tài nguyên sinh vật và tài nguyên gien giữa nơi tạo ra và nơi sử dụng các nguồn tài nguyên này cũng có tác dụng tốt trong vấn đề này. Nhân dân địa phương phải được chia sẻ những lợi ích về kinh tế và thương mại của những nguồn sinh học đa dạng mà họ đã có công duy trì, phát triển và tạo mới. 3.2. NHỮNG ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẮC KẠN 3.2.1. Căn cứ để định hƣớng - Căn cứ Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) Đảng Cộng sản Việt nam “Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010”; - Căn cứ Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về chủ trương phát triển kinh tế trang trại; - Căn cứ Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ IX nhiệm kỳ 2005 - 2010; - Căn cứ Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020; - Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của tác giả luận văn này. 3.2.2. Phƣơng hƣớng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn 3.2.2.1. Phương hướng chung Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bắc Kạn lần thứ IX đã định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010: “Phát triển nông - lâm ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo lương thực, tăng nông sản hàng hoá. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về đất đai, nguồn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 97 lực. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với vùng, miền. Tăng cường các biện pháp ứng dụng hoa học, công nghệ mới để nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích. Mở rộng phát triển mô hình kinh tế trang trại và trồng rừng kinh tế…”. 3.2.2.2. Định hướng cơ bản phát triển kinh tế trang trại * Đối với nông nghiệp, vừa chú trọng đầu tư thâm canh, chuyên môn hoá vừa kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm đảm bảo tính bền vững trong sản xuất kinh doanh. Về sản xuất lương thực, trọng tâm là lúa nước và ngô lai trên cơ sở thâm canh giống mới có năng suất cao. Về cây công nghiệp ngắn ngày phát triển mạnh thuốc lá, đậu tương, đỗ xanh và đỗ đen, lạc và mía v.v. trên cơ sở sử dụng giống mới vầ sản xuất theo dây chuyền công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Trồng thâm canh, tạo vành đai thực phẩm cho thị xã Bắc Kạn đối với các loại rau đậu theo hướng sạch; trồng hoa thương phẩm các loại phục vụ cho nhu cầu thị trường. Về cây ăn quả, tập trung phát triển tính tới nhu cầu thị trường các loại cây như nhãn, vải thiều, mận, cam quýt, hồng không hạt v.v... trên cơ sở chất lượng giống tốt và gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm. * Đối với chăn nuôi: Tập trung phát triển nuôi trâu bò thịt, dê, lợn nạc, gia cầm theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp. Trước mắt áp dụng mô hình chăn nuôi bán công nghiệp để phát triển đàn gia súc và gia cầm ở vùng bằng và trên vùng đồi. Tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch và đặc biệt chú trọng chất lượng con giống. Phát triển mạnh chăn nuôi trên cơ sở thúc đẩy việc chế biến thức ăn gia súc và nhu cầu thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 98 * Vừa chú trọng trồng rừng sản xuất vừa kết hợp với trồng rừng phòng hộ để bảo vệ môi trường sinh thái, bên cạnh đó phát triển mạnh sản xuất lâm sản ngoài gỗ để có nguồn thu nhập trước mắt từ rừng Tăng cường trồng rừng nguyên liệu để cung cấp nguyên liệu cho chế biến, chú trọng các loài cây mọc nhanh, loại gỗ sản phẩm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Trước mắt tập trung vào các các loại như hồi, thảo quả, sa nhân, chè đắng, song mây v.v... nhưng với cách làm thận trọng theo phương châm có kết quả mới tiếp tục triển khai trên quy mô rộng và có đầu tư lớn. Chú trọng phát triển trang trại theo hướng SXKD tổng hợp gắn với đồi rừng là thế mạnh của địa phương. Gắn phát triển trang trại với kinh doanh dịch vụ như du lịch sinh thái, tham quan học tập... gắn sản xuất với tiêu dùng trong địa phương, gắn sản xuất với môi trường nhằm gia tăng tổng năng suất đầu ra (TFP). * Phát triển mô hình nuôi trồng thuỷ sản theo phương pháp công nghiệp đối với các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như cá hồi, chình v.v... ở những nơi có đủ điều kiện nhằm mang lại hiệu quả cao * Đẩy mạnh ứng dụng khoa công nghệ ở các trang trại làm tác nhân quan trọng để phát triển công nghệ sau thu hoạch: Thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến và thị trường (marketting) - Nâng cao giá trị kinh tế của nông sản phẩm hàng hoá. * Bảo vệ môi trường sinh thái kết hợp với du lịch và dịch vụ. Phát triển ngành nghề dịch vụ, gắn với du lịch sinh thái ở những trang trại gắn với làng nghề truyền thống, gắn với địa danh về tài nguyên du lịch tự nhiên như hồ Ba Bể; các khu vực du lịch lịch sử - văn hoá, lễ hội sẽ tạo ra sức hút du khách và mang lại nguồn thu nhập ổn định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 99 3.3. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 3.3.1. Mục tiêu tổng quát - Phát triển và mở rộng mô hình kinh tế trang trại, kinh tế đồi rừng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về đất đai, nguồn lực, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng; lấy trang trại cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp làm đột phá về hiệu quả kinh tế. Tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ mới để nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích. - Định hướng đến 2020: xác định kinh tế trang trại và kinh tế đồi rừng là hình thức kinh tế chủ yếu để khai thác tốt nhất những lợi thế trong nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các loại hình trang trại với phương châm: chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững; coi trọng bảo vệ môi sinh, môi trường. 3.3.2. Mục tiêu cụ thể - Từ nay đến năm 2010 số lượng trang trại hàng năm tăng bình quân 30%. Phát triển kinh tế đồi rừng theo hướng thâm canh, mở rộng diện tích trồng cây có giá trị kinh tế cao, từng bước phát triển thành các trang trại tổng hợp. - Phấn đấu đưa diện tích đất sử dụng để phát triển kinh tế trang trại lên 500 ha năm 2010, tăng 300 ha so với năm 2006. - Doanh thu bình quân cho một trang trại tăng: 1,3-1,5 lần so với năm 2006, trong đó: trang trại cây ăn quả tăng 1,7-2,0 lần; chăn nuôi tăng 1,4-1,6 lần; lâm nghiệp và tổng hợp tăng 1,2-1,4 lần. - Đến năm 2010, 100% các trang traị có mức thu nhập hàng hoá và dịch vụ theo giá thực tế đạt trên 100 triệu đồng/ năm; - Nâng cao tỷ suất nông lâm sản hàng hoá trong tổng giá trị nông sản phẩm và dịch vụ của các trang trại bình quân đạt 80%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 100 3.4. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 3.4.1. Giải pháp chung cho toàn bộ các trang trại 3.4.1.1. Quy hoạch khoanh vùng, lựa chọn mô hình kinh tế trang trại phù hợp với từng vùng sinh thái, đặc điểm tự nhiên của tỉnh và từng huyện, thị Việc quy hoạch phân vùng phát triển kinh tế trang trại nhằm tạo điều kiện cho tất cả các vùng trên địa bàn tỉnh phát triển đồng đều trên cơ sở hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trên địa bàn. Cụ thể: - Đối với vùng núi: Với độ cao trung bình từ 500 - 750m, mật độ dân cư thưa thớt, chủ yếu là rừng tự nhiên có chức năng phòng hộ là chính. Về cơ bản mô hình trang trại ở vùng này là trang trại lâm nghiệp, trồng rừng kinh tế, cây bản địa lấy gỗ có giá trị kinh tế cao, mô hình trang trại nông - lâm kết hợp, bảo vệ nguồn gen thực vật quý hiếm theo các dự án. - Đối với vùng đồi núi thấp: với chức năng vừa phòng hộ, vừa khai thác kinh tế nên các thành phần trong mô hình kinh tế trang trại ở đây có thể kết hợp nông - lâm nghiệp, vừa khoanh nuôi bảo vệ rừng, vừa trồng cây công nghiệp (hồi, quế, thông, bạch đàn, keo...), cây ăn quả, vừa phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê, lợn). Phát triển các trang trại trồng rừng kinh tế (cây lấy gỗ), cây công nghiệp lâu năm kết hợp với chăn nuôi đại gia súc, trồng cây ngắn ngày theo phương thức lấy ngắn nuôi dài. - Đối với vùng đồng bằng: Với nhiệm vụ chiến lược là vùng kinh tế trọng điểm, đảm bảo vững chắc an toàn lương thực cho cả tỉnh, tạo sản phẩm hàng hoá đạt chất lượng cao cho thị trường. Vì vậy, phát triển mô hình trang trại nông nghiệp toàn diện như: trang trại trồng trọt (thâm canh cây lúa chất lượng cao, cây thực phẩm, trang trại lúa cá), chăn nuôi (lợn, gia cầm), nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ hoặc kết hợp các mô hình trên. - Về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở dùng chung do nhà nước đầu tư theo quy định của luật khuyến khích đầu tư trong nước. Trước mắt bao gồm các công trình chủ yếu: Đường giao thông vùng, đường điện hạ thế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 101 - Quy hoạch phát triển các trang trại chăn nuôi: cần cách xa khu vực dân cư tập trung, có biện pháp xử lý tránh ô nhiễm môi trường. 3.4.1.2. Giải pháp về đất đai - Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thuê đất, cấp quyền sử dụng đất cho các dự án chế biến, dịch vụ và mở rộng diện tích cho các trang trại. Thực hiện đầy đủ các chính sách khuyến khích của các ngành về lĩnh vực nông nghiệp. - Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ trang trại, hộ gia đình được giao đất phát triển theo quy hoạch. Triển khai cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại đối với số trang trại đạt tiêu chuẩn hiện có nhằm tạo điều kiện cho các chủ trang trại yên tâm đầu tư và vay vốn sản xuất. - Hộ gia đình, cá nhân phi nông nghiệp hoặc ở các địa phương khác, các doanh nghiệp có nguyện vọng và khả năng lập nghiệp đầu tư vốn phát triển trang trại được UBND xã sở tại cho thuê đất sản xuất. - Miễn tiền thuế sử dụng đất cho các trang trại đối với các xã vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn và giảm 50% cho các xã vùng đồng bằng trong 5 năm đối với diện tích đất vượt hạn điền. - Miễn tiền thuê đất 7 năm đối với các xã vùng núi, và 3 năm đối với các xã vùng đồng bằng, vùng khai hoang phục hoá… - Khuyến khích các hộ dân chuyển nhượng, dồn điền, đổi thửa tạo điều kiện tích tụ ruộng đất, chuyển đổi từ đất khác sang trang trại chuyên canh hoặc kết hợp. Khi hết thời hạn giao đất theo NĐ64/CP (năm 2014), tiến hành giao lại ruộng đất có điều chỉnh theo hướng tập trung, quy mô diện tíc h lớn, tạo điều kiện để các hộ dân an tâm đầu tư phát triển kinh tế trang trại. - Xây dựng đề án giao đất, cho thuê diện tích đất, mặt nước cho hộ gia đình, tổ chức, cá nhân để phát triển kinh tế trang trại. - Đẩy nhanh tiến độ giao đất cho các hộ dân vùng đồi núi để phát triển kinh tế lâm nghiệp, trong giao đất phải căn cứ vào quỹ đất trống đồi núi trọc ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 102 địa phương, nhu cầu và khả năng đầu tư trồng rừng, tránh tình trạng đất giao không sản xuất hoặc sử dụng không hết diện tích, giữ đất trong khi các hộ có nhu cầu không có đất trồng rừng. Đồng thời, ưu tiên các hộ ở địa phương đó, hộ có ý chí vươn lên làm giàu; mặt khác cần khuyến khích những người có vốn ở nơi khác để đầu tư phát triển kinh tế trang trại theo hợp đồng sử dụng đất. Hộ gia đình sản xuất nông nghiệp có nhu cầu và khả năng sử dụng đất vượt hạn điền của địa phương được UBND xã xét thuê đất phát triển kinh tế trang trại. 3.4.1.3. Giải pháp về đầu tư và vốn - Các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn đối với phát triển kinh tế trang trại như: thành lập quỹ cho vay kinh tế trang trại từ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, quy định lãi suất và thời hạn cho vay hợp lý, cần phát triển hình thức cho vay tín chấp, mức vốn vay nhiều hơn so với quy định hiện nay của ngân hàng. Thực hiện Quyết định số 423/QĐ/NHNN ngày 22/9/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quy định chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại. Triển khai thực hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao đất, thuê, nhận, khoán rừng và đất lâm nghiệp. - Phối hợp với các chương trình, dự án khuyến nông, nguồn vốn giải quyết việc làm để cho vay phát triển kinh tế trang trại. Các tổ chức chính trị xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ…) bố trí một phần kinh phí từ các nguồn vốn cho vay để phát triển theo mô hình trang trại. - Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, thuỷ lợi… ở các vùng quy hoạch kinh tế trang trại, chế biến sản phẩm nông nghiệp, để khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân phát triển trang trại sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. - Lập dự án giới thiệu tiềm năng và cơ hội hợp tác đầu tư, nhất là đầu tư công nghệ chế biến thức ăn gia súc, chế biến nông sản. Tăng cường đầu tư xây dụng các mô hình kinh tế trang trại và nhân diện rộng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 103 - Các trang trại được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai khi thuê đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng, trồng cây lâu năm và khi thuê diện tích các vùng nước tự nhiên chưa có đầu tư cải tạo vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản. - Chính sách của tỉnh: hỗ trợ 01 triệu đồng/trang trại mới thành lập; các chính sách khác áp dụng theo quy định chính sách hàng năm của tỉnh. 3.4.1.4. Giải pháp về khoa học kỹ thuật và công nghệ - Việc đầu tiên là cần chú trọng công tác thông tin KH&CN cho các chủ trang trại. Hiện nay ngành nông nghiệp chỉ hoạt động khuyến nông chung cho nông dân cả nghèo lẫn giàu. Đã đến lúc cần tập trung công tác khuyến nông riêng đối với các hộ nông dân - trang trại sản xuất hàng hóa là lực lượng xung kích, đi đầu trong ứng dụng tiến bộ KH&CN, tổ chức các câu lạc bộ khuyến nông cho các chủ trang trại theo ngành sản xuất, như các trang trại sản xuất lúa hàng hóa, sản xuất chè, cây ăn quả, nuôi gà, vịt, nuôi lợn, nuôi trâu bò, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng với qui mô vừa và lớn, khối lượng hàng hóa nhiều ở từng địa phương, đi vào từng chuyên đề thiết thực. - Cần chú trọng và tiếp tục đầu tư thoả đáng cho công tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, khuyến công để chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho trang trại, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có phẩm chất tốt, sản phẩm chất lượng cao vào sản xuất; áp dụng công nghệ mới trong công nghiệp chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp; rút kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình thành công ra nhiều trang trại khác. - Phổ biến cho các trang trại biết có thể bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái từng vùng và phù hợp với quy hoạch các vùng chuyên canh ở địa phương, đặc biệt đối với các loại cây trồng dài ngày để giúp các trang trại lựa chọn phương hướng sản xuất phù hợp. - Khuyến khích các hình thức liên kết và hợp tác trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ nông nghiệp, trong đó coi trọng sự liên kết giữa các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 104 trung tâm, viện nghiên cứu ở trong và ngoài huyện với các trang trại hạt nhân trên từng vùng để nghiên cứu tạo ra những giống vật nuôi cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng và chịu được điều kiện khí hậu ở địa phương cũng như chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho các trang trại. - Trên cơ sở quy hoạch về phát triển giống cây trồng, vật nuôi đến năm 2010 của tỉnh, khuyến khích và hỗ trợ các trang trại sản xuất giống cây trồng, vật nuôi tại địa phương để cung cấp giống tại chổ. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, để sản xuất kinh doanh có lợi, các trang trại nước ta phải lựa chọn và ứng dụng KH&CN thích hợp, hỗn hợp và tổng hợp. KH&CN thích hợp là sử dụng các loại vật tư kỹ thuật, động lực, công cụ và công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật của sản xuất, của từng trang trại, và yêu cầu chất lượng sản phẩm của thị trường tiêu thụ. KH&CN hỗn hợp là sử dụng đan xen giữa các cấp độ công nghệ khác nhau (cổ truyền kết hợp với hiện đại, thủ công kết hợp với cơ khí v.v...) trong các công đoạn sản xuất chế biến các loại nông sản, nhằm sử dụng hợp lý nhất các yếu tố kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. KH&CN tổng hợp là sử dụng đồng bộ các công nghệ sinh học, hóa học, cơ điện trong chu trình sản xuất, chế biến nông sản của các trang trại, huy động sức mạnh tổng hợp của KH&CN, tạo ra hợp lực đem lại hiệu quả kinh tế cao. 3.4.1.5. Giải pháp về lao động và nguồn nhân lực Nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật của chủ trang trại, hộ gia đình, cá nhân cụ thể: - Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng về quản lý, quy trình và cách thức làm giàu từ kinh tế trang trại không chỉ cho các chủ trại mà còn cho cả những người có nguyện vọng và có khả năng trở thành chủ trại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 105 - Về nội dung đào tạo bồi dưỡng cần hướng vào những vấn đề của kinh tế trang trại, xu hướng phát triển trang trại; các chủ trương, đường lối, chính sách về phát triển kinh tế trang trại; đặc biệt là các kiến thức về tổ chức và quản trị kinh doanh trong các trang trại như xác định phương hướng kinh doanh, tổ chức sử dụng các yếu tố sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. - Tổ chức các lớp chuyển giao kỹ thuật và công nghệ mới cho các chủ trại, hỗ trợ họ trong việc triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. - Đào tạo bằng nhiều hình thức như lớp tại địa phương, tham quan, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật… với sự tổ chức hỗ trợ của các cơ quan như Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ, Hội Nông dân… - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các trang trại bằng cách hướng vào tổ chức tốt việc đào tạo nghề phù hợp cho một bộ phận lao động làm thuê, nhất là bộ phận lao động kỹ thuật. 3.4.1.6. Giải pháp về thị trường tiêu thụ - Tổ chức dự báo thị trường, mở rộng hình thức thông tin kinh tế. - Khuyến khích thành lập hợp tác xã, tổ hợp dịch vụ chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm. - Mở rộng và phát triển hệ thống tiêu thụ sản phẩm, trong đó chú trọng khâu bảo quản nhằm hạn chế tổn thất sau thu hoạch. - Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thu hút các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện đầu tư để phát triển dịch vụ đầu vào, đầu ra cho nông sản. - Nhà nước cùng các tổ chức kinh tế có các biện pháp thu mua, chế biến, dự trữ, điều hoà cung cầu để giữ giá ổn định một số mặt hàng thiết yếu nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cuả nhà kinh doanh và người tiêu dùng. - Các cơ sở chế biến nông, lâm sản có ý nghĩa quyết định tới chất lượng hàng hoá nông sản. Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp theo chiều dọc phải là quá trình từ sản xuất, gắn với chế biến và tiêu thụ hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 106 - Cần khuyến khích, hỗ trợ cho sự ra đời của các cơ sở chế biến nông sản như cơ sở chế biến thức ăn gia súc, gia cầm. Chế biến hoa quả mơ, chuối, nhãn, vải... 3.4.1.7. Môi trường kinh doanh và tư pháp Tiến hành cấp đăng ký kinh doanh cho các trang trại có đủ điều kiện. Đăng ký kinh doanh cho trang trại gia đình là một việc làm hợp lý và hết sức cần thiết. Hiện tại mới có 2 trong tổng số 21 trang trại của Bắc Kạn mới đã đăng ký kinh doanh (vào khoảng 9,5%). Thông qua đó, giúp cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình đối với loại hình trang trại gia đình. Mặt khác, để đảm bảo quyền tự do kinh doanh và tinh thần cải cách thủ tục hành chính hiện nay, không cần thiết phải đặt ra thủ tục cấp giấy chứng nhận cho trang trại gia đình. Việc thỏa mãn các tiêu chí của trang trại gia đình sẽ được các hộ gia đình chứng minh thông qua các giấy tờ cần thiết trong hồ sơ đăng ký kinh doanh (ví dụ như giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, báo cáo tóm tắt tình hình sản xuất kinh doanh,...). Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là cơ sở pháp lý duy nhất chứng minh tư cách pháp lý của trang trại gia đình. Hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường; khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng SX hàng hóa. Xây dựng HTX mô hình mới là một giải pháp quan trọng giúp cho kinh tế hộ nông dân phát triển sản xuất hàng hoá ổn định vững chắc. Xây dựng HTX kiểu mới vừa là giải pháp vừa là xu thế và mục tiêu của phát triển kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại. Phân vùng kinh tế và phân bổ lại lao động dân cư. Trong điều kiện đặc điểm điều kiện tự nhiên không đồng nhất, cần có những tiêu chuẩn phân vùng nhỏ cho các huyện thị. Tuy không tạo thành vùng chuyên canh lớn thì cũng tạo ra một lượng sản phẩm đủ lớn cho kinh tế hàng hoá phát triển, thúc đẩy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 107 phân bố lại lao động dân cư hiện nay cư trú rất phân tán, nhất là vùng cao, vùng sâu,vùng xa. Tổ chức công tác truyền thông giúp cho các hộ vượt qua tâm lý an phận, tâm lý tự ti, phong tục tập quán sản xuất tự túc, tự cấp, sản xuất manh mún nhỏ lẻ để tăng cường nghị lực vượt qua khó khăn trước mắt, tích cực nỗ lực trong sản xuất kinh doanh. Tuyên truyền chủ trương chính sách của Trung ương cũng như địa phương về phát triển kinh tế trang trại trong giai đoạn tới. Phổ biến quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng kinh tế trang trại trong tỉnh cho tất cả các đối tượng có nhu cầu làm trang trại để thu hút đầu tư. Thông tin, phổ biến kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các trang trại điển hình tạo ra động lực trong đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Bằng các phương thức cụ thể: Tổ chức hội thảo Phát sóng trên đài truyền hình, trên báo địa phương Phát tờ rơi, tờ bướm 3.4.1.8. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế trang trại - Thực hiện quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại, nhằm định hướng phát triển và đảm bảo công bằng trong sản xuất kinh doanh, khuyết khích mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực của loại hình kinh tế trang trại, khắc phục tình trạng phát triển mang tính tự phát tích tụ ruộng đất tràn lan. - Xác định các loại hình trang trại và hình thức kinh doanh để có sự quản lý thống nhất và phù hợp với từng loại hình trang trại, nhất là loại hình trang trại có thuê mướn nhiều lao động mà chủ trại không trực tiếp tham gia sản xuất trong trang trại. - Thực hiện quản lý nhà nước đối với đầu ra, chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo lợi ích chung của Nhà nước, quyền lợi của người tiêu dùng và môi trường sinh thái. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 108 - Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra đối với kinh tế trang trại, đảm bảo các chủ trang trại thực hiện đầy đủ qui trình kỹ thuật canh tác bảo vệ và làm giàu đất, bảo vệ môi trường; thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo pháp luật. Đồng thời, bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ trang trại về tài sản và các lợi ích khác. - Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm dịch giống, thực hiện quy trình sản xuất, du nhập giống chất lượng cao và sạch bệnh. Đa dạng hoá các loại giống cây trồng, vật nuôi. Đưa các đối tượng nuôi, trồng đã thử nghiệm có hiệu quả vào sản xuất để đa dạng hoá các đối tượng nuôi, trồng. 3.4.1.9. Hình thành, phát triển quan hệ hợp tác giữa các trang trại - Hình thành và phát triển quan hệ hợp tác giữa các trang trại nhằm trao đổi kinh nghiệm, trình độ quản lý, trao đổi sản phẩm, dịch vụ để nâng cao hiệu quả kinh tế. - Khuyến khích thành lập các câu lạc bộ, tổ hợp tác theo từng loại hình trang trại để liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh, tạo sức cạnh tranh và sự ổn định trong tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, hạn chế tình trạng ép giá của các tư thương và rủi ro trong sản xuất kinh doanh. - Xây dựng mối quan hệ giữa các tổ hợp tác, chủ trang trại với các hộ dân để các chủ trang trại, tổ hợp tác là đầu mối thu mua, tiêu thụ sản phẩm nông sản. Tóm lại: Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tới có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Chính vì vậy, chương trình này cần được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở một cách đồng bộ, tạo sự đột phá quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 109 3.4.2. Giải pháp cho nhóm trang trại 3.4.2.1. Trang trại trồng trọt Nên tập trung vùng ven đô, vùng có lợi thế so sánh cao; đồng thời chuyển diện tích trồng lúa năng suất thấp, không chủ động được nước tưới sang nuôi trồng thủy sản hoặc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Về cây công nghiệp ngắn ngày, phát triển mạnh thuốc lá, đậu tương, đỗ xanh, đỗ đen, lạc và mía v.v. trên cơ sở sử dụng giống mới và sản xuất theo dây truyền công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Trồng thâm canh, tạo vành đai thực phẩm cho thị xã đối với các loại rau, đậu theo hướng sạch; trồng hoa thương phẩm các loại phục vụ cho nhu cầu thị trường. Về cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày tập trung phát triển tính tới nhu cầu thị trường các loại cây như hồng không hạt, cam, quýt, chè, v.v trên cơ sở giống mới và gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phát triển để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến: hình thành 1000 ha cam, quýt nguyên liệu tại Thị xã Bắc Kạn; Bạch Thông; Chợ Đồn; Chè Shan tuyết và chè chất lượng cao; Vùng trồng đỗ tương, thuốc lá, khoai môn 700 ha tại Bạch Thông, Ba Bể, thị xã Bắc Kạn, Chợ Mới; 500 ha Hồng không hạt tại Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn; 3.4.2.2. Trang trại chăn nuôi Một là về giống, vật nuôi, tiếp tục sử dụng con giống tốt trong nước, khuyến khích các chủ trang trại, doanh nghiệp nhập nguồn gien, giống có năng suất chất lượng cao: Chương trình cải tạo chất lượng đàn bò địa phương bằng giống bò lai Sind; chương trình móng cái hoá đàn lợn nái, nuôi lợn hướng lạc, lợn siêu lạc; phát triển đa dạng đàn gia cầm trong chăn nuôi có khả năng tăng trọng nhanh như các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sắc-sô, ngan Pháp; Hai là về thức ăn chăn nuôi, người chăn nuôi và nhà máy chế biến phải ký hợp đồng, bảo đảm cung cấp ổn định và chất lượng thức ăn tốt. Ba là công nghệ chuồng trại, người chăn nuôi phải nghiên cứu các mẫu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 110 chuồng trại, áp dụng các loại máng ăn, uống, phù hợp với từng vật nuôi. 3.4.2.3. Trang trại lâm nghiệp Đối với diện tích rừng nghèo kiệt, khuyến khích các tổ chức, cá nhân cải tạo và trồng lại rừng để nâng cao giá trị sử dụng rừng và đất rừng. Đối với diện tích đất trống, thu hút đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng tạo vùng nguyên liệu tập trung, theo hướng đầu tư thâm canh gắn với công nghiệp chế biến, kết hợp sản xuất lâm - nông - ngư nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Loài cây chính cho trồng rừng sản xuất: Keo, thông, mỡ, trúc... để tạo vùng nguyên liệu cho sản xuất ván MDF, ván ghép thanh, sản xuất giấy. Diện tích trồng rừng nguyên liệu khoảng 40 nghìn ha tập trung ở các huyện Chợ Mới, Chợ Đồn, Ba Bể để sản xuất các mặt hàng đồ mộc gia dụng, vật liệu xây dựng và đồ gỗ mỹ nghệ. Đầu tư trồng 10 nghìn ha trúc sào ở thị xã Bắc Kạn, Ba Bể, Pác Nặm để có thể sản xuất 4-5 triệu trúc đoạn/ năm. Đầu tư trồng rừng theo cơ chế sạch (CDM) trên diện tích đất trống, đồi núi trọc ở các huyện Pắc Nậm, Ngân Sơn, Ba Bể, Na Rì, Chợ Đồn, Chợ Mới, Bạch Thông. 3.3.2.4. Trang trại thuỷ sản Phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở các hồ chứa, hồ tự nhiên và nuôi cá lồng trên các sông, suối. Trong nuôi thủy sản sử dụng giống mới như rô phi đơn tính, cá tra, cá basa, tôm càng xanh, Nghiên cứu giúp các địa phương, các chủ trang trại, các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản xây dựng phương án đổi đất dồn ao để tạo điều kiện cho việc hình thành các trang trại thủy sản sản xuất tập trung với quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư nuôi thâm canh công nghiệp. Có chính sách thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản để hình thành nên các cơ sở sản xuất thủy sản tập trung. Đây chính là những mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, để cho các chủ trang trại, các hộ gia đình tham quan học tập; đồng thời cũng là cơ sở dịch vụ đầu vào con giống, thức ăn,.v.v... và tiêu thụ sản phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 111 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN 1. Kinh tế trang trại ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nó cho phép khai thác, sử dụng triệt để tiềm năng về đất đai, đặc biệt ở những vùng đồi núi như Bắc Kạn hiện nay mang lại khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn cho xã hội. 2. Tuy mới hình thành và phát triển ở nước ta nói chung và Bắc Kạn nói riêng, kinh tế trang trại đã khẳng định là một hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ, phù hợp và có hiệu quả trong nông nghiệp. Nó đã và đang góp phần tạo ra quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. 3. Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của một vùng ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế trang trại. Chính sự kết hợp giữa sự đa dạng với sự lựa chọn loại hình đem lại giá trị kinh tế cao trong kinh doanh trang trại ở Bắc Kạn hiện nay đã thể hiện sự năng động của các trang trại. Tuy nhiên số lượng, quy mô cũng như trình độ sản xuất kinh doanh của các trang trại của Bắc Kạn còn hạn chế và đang trong giai đoạn phát triển ban đầu bởi nền kinh tế địa phương còn mang nặng tính tự nhiên, thị trường nhỏ hẹp. 4. Thực trạng kinh tế trang trại ở Bắc Kạn cho thấy, các nguồn lực của các trang trại huy động còn thấp, kết quả sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế mang lại cũng chưa cao. Tuy nhiên, qua thực tế cũng có thể kết luận rằng: nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doạnh của các trang trại ở đây không phải do quy mô đất đai của trang trại mà do sự lựa chọn loại hình kinh doanh phát huy lợi thế so sánh của địa phương; trình độ quản lý của chủ trang trại đã mang lại nhiều trang trại có quy mô đất đai nhỏ nhưng có tỷ suất nông sản hàng hoá lớn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 112 5. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy loại hình kinh doanh có hiệu quả nhất ở Bắc Kạn cũng chính là khai thác và sử dụng nguồn lực là lợi thế so sánh của địa phương. Cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc kết hợp với lâm nghiệp hiện tại vẫn hướng đi mang lại hiệu quả tốt nhất cho các chủ trang trại. Tuy nhiên điều kiện tự nhiên không đồng nhất, quản lý đất đai manh mún là một trở ngại để phát triển sản xuất với quy mô lớn. 6. Cũng như các loại hình kinh tế mới hình thành khác, kinh tế trang trại cần một môi trường chính sách, thể chế cần thiết cho sự tồn tại và phát triển ổn định, bền vững. Vai trò của công tác truyền thông, nâng cao năng lực của chủ trang trại, hỗ trợ thị trường v.v... trong phát triển kinh tế trang trại là những vấn đề mà các cấp chính quyền cần phải quan tâm. KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Ở nước ta, vị trí chính thức của trang trại gia đình đã có hơn 8 năm hình thành và phát triển. Đã đến lúc cần phải nhìn lại để thấy rõ mặt mạnh, mặt còn hạn chế của chính sách pháp luật về trang trại gia đình. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển trang trại gia đình, Nhà nước cần ban hành một luật hoặc pháp lệnh về trang trại gia đình tạo khung pháp lý cho hoạt động của loại hình này, trong đó xác định rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các điều kiện để được xác định là trang trại gia đình, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của trang trại. Với một tư cách pháp lý độc lập, một địa vị pháp lý bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để trang trại gia đình tự tin, chủ động bước vào “sân chơi” lớn - nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Lao động thương binh và xã hội (2000), Thông tư hướng dẫn áp dụng một số chế độ làm việc trong các trang trại, Hà Nội. 2. Các Mác - Tư bản, Quyển 3 tập 1, NXB Sự thật Hà nội 1960. 3. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2007), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2006, NXB Thống kê, Hà Nội. 4. Nguyễn Điền, Nông nghiệp nước Mỹ - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Thống kê, Hà Nội, 1998. 5. Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng (1993), Kinh tế Trang trại gia đình trên thế giới và châu Á, NXB Thống kê. 6. Trần Đức, Kinh tế trang trại vùng đồi núi, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998. 7. Nguyễn Đình Hà, Nguyễn Khánh Quắc (1999), Kinh tế nông nghiệp gia đình nông trại, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 8. Đào Hữu Hoà (2005), Vai trò của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững, Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đà Nẵng. 9. Hoàng Văn Hoa, Hoàng Thị Quý, Phạm Huy Vinh (1999), Quá trình phát triển kinh nghiệm trang trại ở Việt nam và một số nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm; Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam, Trường đại học KTQD, Hà Nội. 10. Trần Văn Hưng, Hoàng Văn Chính (2000), Kinh tế trang trại gia đình nông lâm nghiệp, Hà Nội. 11. Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và châu Á, NXB thống kê 1993 12. Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT - Tổng cục Thống kê (2003), Thông tư liên tịch hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 114 13. Mác - Ăng ghen toàn tập, bản tiếng Nga - tập 25 phần II, Matxcơva 1961. 14. Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn (2004), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ khi có Nghị quyết 03/NQ-CP, Bắc Kạn. 15. Lê Duy Phong (2001), Kinh tế trang trại sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ; Kinh tế trang trại sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 03/NQ-CP, Trường ĐHKT thành phố HCM, Vũng Tàu. 16. Lê Trường Sơn (2004), Trang trại gia đình - một loại hình doanh nghiệp mới trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, (Số 3, 2004). 17. Lê Trọng (2000), Phát triển và quản lý trang trại trong kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp Hà Nội. 18. Trần Tác (2001), “Một số giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại ở Việt nam”, Kinh tế trang trại sau một năm thực hiện Nghị quyết 03/NQ-CP, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu. 19. Nguyễn Thị Thắc (1999), Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh tế trang trại tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội. 20. Đoàn Quang Thiệu (2001), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hệ thống nông lâm kết hợp ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Hà Nội. 21. Tổng cục Thống kê (2007), Báo cáo sơ bộ kết quả cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2006, Hà Nội. 22. Nguyễn Văn Tuấn (2000), Quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp, Hà nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 115 23. Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2006), Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, Bắc Kạn. 24. V.I. Lê-nin toàn tập - tập 17, NXB tiến bộ Matxcơva 1978. 25. Viện Kinh tế (1995), Kinh tế hộ trong nông thôn Việt nam, NXB khoa học xã hội, Hà Nội. 26. Ngô Bằng Việt (2001), Đánh gía hiệu quả kinh tế của một số mô hình trang trại điển hình ở huyện miền núi Đoan Hùng, Phú Thọ, Luận văn cử nhân kinh tế, Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 116 PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -