Tài liệu Thực trạng và giải pháp về quản trị tín dụng thương mại của công ty tnhh vina taiyo spring

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 128 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG THƢƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tín dụng thƣơng mại trong doanh nghiệp 1.1.1. Tổng quan về doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. (Nguồn: Giáo trình TCDN, T.S Trần Ngọc Thơ, Năm 2005) 1.1.2. Tổng quan về tín dụng thương mại 1.1.2.1. Khái niệm tín dụng thương mại Tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng thương mại (TDTM) là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu. (Nguồn: Giáo trình TCDN, T.S Trần Ngọc Thơ, Năm 2005) 1.1.2.2. Đặc điểm của tín dụng thương mại Vốn cho vay theo tín dụng thương mại là hàng hóa hay một bộ phận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải tiền nhàn rỗi. Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu. Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thông thường có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn. TDTM phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và làm góp phần làm phát triển sản xuất kinh doanh do nó rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh. TDTM 1 được thể hiện qua hợp đồng trả chậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu Trong đó, hối phiếu là giấy đòi tiền vô điều kiện do người bán phát hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do người mua phát hành. TDTM thông thường không mất chi phí sử dụng vốn (cost of capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãi trong một khoảng thời gian nhất định, một số trường hợp bên nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm. 1.1.2.2. Phân loại tín dụng thương mại Tín dụng thương mại có thể được phân thành 2 loại: Tín dụng phải thu và Tín dụng phải trả. Tín dụng phải thu là khoản tín dụng mà doanh nghiệp cấp cho khách hàng, được phản ánh trên bảng Cân đối kế toán của doanh nghiệp là khoản “Phải thu khách hàng”. Hình thức TDTM sẽ trở thành một công cụ khuyến mại của người bán, có khả năng kích cầu gia tăng khối lượng sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sử dụng TDTM để cải thiện mối quan hệ với khách hàng. Ngoài ra, TDTM là hình thước tài trợ bằng hiện vật nên có khả năng hạn chế được sự ảnh hưởng của lạm phát. Tín dụng phải trả là khoản tín dụng khách hàng được hưởng từ doanh nghiệp, được phản ảnh trên bảng Cân đối kế toán của người mua là khoản “Phải trả người bán”. Người mua tận dụng quyền được mua chịu như là một nguồn tài trợ ngắn hạn, họ có thể được hưởng lợi từ khoản chiết khấu (nếu trả tiền sớm), hoặc chiếm dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong thời hạn cho phép để gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh trong điều kiện hạn chế về vốn. Bên cạnh đó, thủ tục để được hưởng TDTM được xem là nhẹ nhàng hơn so với trế hạn trong các khoản vay nợ, do đó nó như là nguồn tài trợ rất mềm dẻo có tính phát sinh theo hoạt động kinh doanh. Trong phạm vi nội dung của khóa luận này, người viết tập trung vào khoản TDTM phải thu, bởi vì việc áp dụng một cách hợp lý TDTM tại thời điểm kinh tế hiện nay mang lại nhiều giá trị to lớn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực hiện TDTM như một con dao hai lưỡi, đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng ẩn chứa nhiều rủi ro mà doanh nghiệp cần cân nhắc để đưa ra các quyết định sáng suốt. 1.1.2.3. Vai trò của TDTM TDTM có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một chính sách tín dụng hợp lý có thể mang lại khả năng cạnh tranh lớn và nâng cao hiệu quả sử dụng cũng như quay vòng vốn cho doanh nghiệp, nhưng ngược lại một chính sách TDTM sai lầm có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Có thể tóm tắt qua một số vai trò của TDTM như sau: 2 Thang Long University Library - TDTM giúp tăng nguồn vốn kinh doanh TDTM tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ cơ quan trung gian nào. Các nhà sản xuất có thê tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi để sản xuất làm tăng nguồn vốn kinh doanh trong thời gian ngắn với chi phí thấp hoặc có thể bằng không tùy theo mối quan hệ giữa người cấp tín dụng và người sử dụng nguồn vốn đó - TDTM giúp tiết kiệm chi phí lƣu thông tiền tệ TDTM làm giảm chi phí đáng kể đối với những người đi vay thay vì vay tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác với mức lãi suất cao, thủ tục phức tạp, phát sinh nhiều chi phí đi kèm. Nhà sản xuất có thể mua nguyên vật liệu, hàng hóa, sản phẩm từ các nhà cung ứng với chính sách mua chịu và được hưởng chiết khấu thỏa thuận nếu trả tiền sớm. TDTM với công cụ là thương phiếu được coi là hình thức lưu thông không dùng tiền mặt giúp tiết kiệm chi phí lưu thông và giảm rủi ro trong việc chuyển tiền. Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn tín dụng làm giảm thiểu chi phí lưu thông tiền tệ còn có ảnh hưởng tích cực về mặt vĩ mô, giúp cho các Ngân hàng Trung Ương thực hiện chính sách quản lý tiền tệ dễ dàng hơn. - TDTM đẩy nhanh tốc độ lƣu chuyển hàng hàng hóa Nhờ có TDTM quá trình kinh doanh sản xuất được diễn ra liên tục giúp hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh tăng lên đáng kể. Với nền kinh tế không ổn định hiện nay, duy trì đủ vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất không phải là dễ dàng với các doanh nghiệp. Vậy nên, sử dụng TDTM đáp ứng được nhu cầu thiếu vốn trong thời vụ sản xuất cao điểm, dòng tiền có khả năng sinh lời nhiều hơn. Đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua việc mua bán chịu, giải quyết hàng tồn kho. TDTM tài trợ nguồn vốn lưu động làm tăng quy mô sản xuất qua đó các nhà sản xuất có thể liên kết với nhau để cân bằng được đầu ra - đầu vào trong quá trình sản xuất. - TDTM khuyến khích sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn lạm phát, TDTM với thủ tục đơn giản, chi phí sử dụng vốn thấp là biện pháp cải thiện vốn tối ưu cho các doanh nghiệp. Dựa vào sự tin nhiệm giữa các nhà sản xuất với nhau, họ sử dụng vốn TDTM để mua nguyên vật liệu, nhập hàng, tiêu thụ sản phẩm…thay vì đi vay tại các ngân hàng với thủ tục phức tạp, lãi suất cao. Mặt khác, nó còn khuyến khích sản xuất kinh doanh vì hoạt động đó có tính tương đối bí mật, không phản ánh trên thương phiếu. Chính vì vậy, TDTM được xem là hình thức tài trợ rất linh hoạt, tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với lâu bền giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế. 3 1.2. Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm chính sách tín dụng Chính sách tín dụng (CSTD) là đưa ra các hình thức bán hàng trả chậm trong một khoảng thời gian xác định đã được thỏa thuận mà doanh nghiệp áp dụng cho khách hàng theo phương thức thanh toán của họ. Việc đưa ra quyết định có thực hiện chính sách tín dụng hay không bao gồm các tiêu chuẩn tín dụng, thời hạn cấp tín dụng, các chiết khấu được cung cấp và phương pháp thu hồi tiền. (Nguồn: Giáo trình TCDN, T.S Nguyễn Minh Kiều, Năm 2006) 1.2.2. Mục tiêu của chính sách tín dụng Để đưa ra một CSTD mạng lại hiệu quả tuyệt đối là một điều hết sức khó khăn. Tuy nhiên, chúng ta có thể đưa ra một CSTD dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp đề ra, đặc điểm của từng ngành, từng doanh nghiệp, thị trường, xu thế tiêu dùng…sẽ có lợi cho doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp phải xem xét, ước tính sự tăng trưởng của khối lượng sản phẩm bán ra và lợi nhuận của doanh nghiệp thu về được nhằm đối diện với các điều kiện cạnh tranh. Biểu đồ 1.1 Biểu đồ doanh thu, chi phí Doanh thu Chi phí Tăng lượng tiền mặt Đầu tư Từ khoản phải thu khách hàng Thu hồi các khoản phải thu Quản lý hành chính Chi phí bổ sung (Nguồn: Giáo trình TCDN, T.S Nguyễn Minh Kiều, Năm 2006) Việc áp dụng TDTM cho khách hàng giúp tăng doanh thu và phát sinh chi phí của doanh nghiệp. Khi doanh thu tăng đồng nghĩa với độ lớn của khoản phải thu khách hàng tăng, từ đó công ty sẽ tính toán được khoản tiền nhận được trong tương lai khi khách hàng thanh toán. Lượng tiền mặt trong doanh nghiệp tăng từ việc bán hàng với số lượng lớn giúp doanh thu cao hơn. Song song, doanh nghiệp cũng phát sinh các 4 Thang Long University Library khoản chi phí để duy trì các khoản phải thu. Những vấn đề như đầu tư, quản lý hành chính, bổ sung cũng tạo nên những chi phí tiềm ẩn cho doanh nghiệp. Việc quyết định chính sách bán chịu vì thế là sự trao đổi giữa lợi ích của việc tăng doanh số bán hàng với chi phí của việc thực hiện cấp tín dụng. 1.2.3. Xây dựng các chính sách TDTM Trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay, để đưa ra quyết định có cấp TDTM cho khách hàng hay không doanh nghiệp phải cân nhắc kĩ lưỡng những yếu tố sau: 1.2.3.1. Điều khoản tín dụng Điều khoản tín dụng là những điều kiện quy định doanh nghiệp bán hàng hóa và dịch vụ bằng cách thu tiền ngay hay cho khách hàng mua chịu. Đối với mỗi ngành nghề nhất định, các điều khoản tín dụng thường được chuẩn hóa, tuy nhiên ở các ngành nghề khác nhau điều kiện tín dụng cũng khác nhau. Điều khoản tín dụng nói riêng và các chính sách nói chung có ảnh hưởng đáng kể đến doanh thu của doanh nghiệp. Nếu đối thủ cạnh tranh mở rộng chính sách tín dụng, trong khi chúng ta không phản ứng lại điều này thì nỗ lực tiếp thị sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi bán chịu là yếu tố ảnh hưởng rất lớn và có tác dụng kích thích nhu cầu. Các điều khoản tín dụng được doanh nghiệp đưa ra cho khách hàng bao gồm thời hạn tín dụng cùng tỷ lê chiết khấu đã được thỏa thuận. Thời hạn tín dụng Là độ dài thời gian mà tín dụng được mở cho một khách hàng với tỷ lệ chiết khấu nếu họ trả sớm. Sơ đồ 1.1 Mô hình mở rộng thời hạn tín dụng Tăng kỳ thu tiền bình quân Tăng khoản phải thu Tăng lợi nhuận đủ bù đắp tăng chi phí không? Mở rộng thời hạn tín dụng Tăng doanh thu Tăng chi phí vào khoản phải thu Tăng lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn:Giáo trình Quản trị TCDN – NXB Kinh Tế Quốc Dân) 5 Sơ đồ 1.2 Mô hình rút ngắn thời hạn tín dụng Giảm kỳ thu tiền bình quân Giảm khoản phải thu Tiết kiệm chi phí đủ bù đắp lợi nhuận giảm không? Rút ngắn thời hạn tín dụng Giảm doanh thu Tiết kiệm chi phí vào khoản phải thu Giảm lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn:Giáo trình Quản trị TCDN – NXB Kinh Tế Quốc Dân) Khi kéo dài thời gian tín dụng, công ty có được lợi nhuận tăng thêm từ doanh số và thu hút được nhiều khác hàng mới. Ngược lại sẽ phát sinh chi phí từ việc sử dụng vốn để đầu tư vào khoản phải thu, rủi ro trở thành những khoản nợ khó đòi sẽ tăng lên cao hơn, chi phí thu tiền bán hàng cũng tăng lên. Khi thiết lập thời hạn tín dụng các doanh nghiệp phải cân nhắc các yếu tố sau: - Sự hư hỏng và giá trị của tài sản thế chấp: Các mặt hàng dễ hư hỏng có doanh thu tương đối nhanh và giá trị tài sản thế chấp tương đối thấp. Do đó, thời hạn tín dụng thấp hơn đối với loại hàng hóa này. Ví dụ: một người bán buôn trái cây tươi và nông sản có thời hạn tín dụng là 7 ngày. Đồ trang sức có thể bán với thời hạn 5/30 Net 120. - Nhu cầu tiêu dùng: Các sản phẩm thông thường thường có doanh thu nhanh hơn các sản phẩm mới hay có thời gian vẫn chuyển chậm thường có thời hạn tín dụng dài hơn để lôi kéo người mua. Ngoài ra, người bán có thể mở rộng thời hạn tín dụng lâu hơn vào thời điểm trái mùa (khi khách hàng có nhu cầu thấp). - Chi phí, lợi nhuận và tiêu chuẩn hóa: Hàng hóa tưởng đối rẻ tiền có xu hướng thời hạn tín dụng ngắn. Điều này cũng đúng đối với các hàng hóa tiêu chuẩn hóa và nguyên liệu. - Rủi ro tín dụng: Người mua có rủi ro tín dụng càng cao, thời hạn tín dụng càng thấp. Khả năng thanh toán của khách hàng là lớn hay nhỏ, đúng hạn hay thường quá hạn, nhanh hay chậm để đề phòng rủi ro xác suất khách hàng không trả tiền. - Quy mô tài khoản: Nếu một tài khoản nhỏ, thời gian tín dụng có thể ngắn hơn bởi vì chi phí quản lí tài khoản nhỏ là nhiều hơn, và khách hàng ít quan trọng hơn. - Cạnh tranh: Khi người bán ở trong một thị trường cạnh tranh cao, thời hạn tín dụng có thể được kéo dài để thu hút khách hàng. - Loại khách hàng: Công việc làm ăn của khách hàng có mức độ rủi ro cao hay thấp. Khách hàng có giao dịch thường xuyên và ổn định với doanh nghiệp hay không. Mức độ đóng góp doanh số và cung cấp thông tin của khách hàng có đầy đủ chi tiết 6 Thang Long University Library hay không. Một người bán hàng có thể cấp điều khoản tín dụng khác nhau cho các người mua khác nhau. Một người buôn thực phẩm có thể cung cấp cho cửa hàng tạp hóa, tiệm bánh và các nhà hàng. Mỗi nhóm có thể có các điều khoản tín dụng khác nhau. Nói chung, người bán thường có cả khách hàng bán buôn và bán lẻ, và họ cấp tín dụng khác nhau cho hai loại khách hàng này. Tỷ lệ chiết khấu Là tỷ lệ phần trăm của doanh thu hoặc giá bán được khấu trừ nếu người mua trả tiền trong thời hạn chiết khấu.Tỷ lệ chiết khấu như là công cụ khuyến khích khách hàng thanh toán nợ đúng hạn cho doanh nghiệp bằng cách khấu trừ làm giảm tổng giá trị mệnh giá của hóa đơn. Một số mô hình ra quyết định về thời hạn tín dụng: Sơ đồ 1.3 Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu Giảm kỳ thu tiền bình quân Giảm khoản phải thu Tiết kiệm chi phí đủ bù đắp lợi nhuận giảm không? Tăng tỷ lệ chiết khấu Giảm doanh thu ròng Tiết kiệm chi phí vào khoản đầu tư Giảm lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn:Giáo trình Quản trị TCDN – NXB Kinh Tế Quốc Dân) Sơ đồ 1.4 - Mô hình rút giảm tỷ lệ chiết khấu Tăng kỳ thu tiền bình quân Tăng khoản phải thu Tăng lợi nhuận đủ bù đắp tăng chi phí không? Giảm tỷ lệ chiết khấu Tăng doanh thu ròng Tăng chi phí vào khoản phải thu Tăng lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn:Giáo trình Quản trị TCDN – NXB Kinh Tế Quốc Dân) Chiết khấu trả sớm được áp dụng để tăng tốc độ thu hồi khoản phải thu, giảm đầu tư vào khoản phải thu và các chi phí liên quan. Bù lại các khoản tiết kiệm hay lợi ích này, công ty phải mất đi chi phí chiết khấu trên phần doanh thu của các hóa đơn.Việc 7 sử dụng tỷ lệ chiết khấu đem lại cho doanh nghiệp hai nguồn lợi: thu hút thêm nhiều đối tượng khách hàng mới mua hàng của công ty và kích thích khách hàng thanh toán đúng hạn, giúp làm giảm kỳ thu tiền bình quân, tiết kiệm đầu tư cho khoản phải thu, giảm chi phí vốn. Nếu đưa ra tỷ lệ chiết khấu quá cao sẽ làm gia tăng chi phí phần chiết khấu của doanh nghiệp trên doanh thu vì phải chịu bán hàng với mức giá rẻ hơn. Một số yếu tố tác động đến tỷ lệ chiết khấu của doanh nghiệp: - Một tỷ lệ chiết khấu tiền mặt tối ưu thường tùy thuộc vào tỷ lệ chi phí biến đổi của sản phẩm. Chi phí biến đổi càng thấp thì khả năng chiết khấu tiền mặt càng cao. Những công ty có tỷ lệ lợi nhuận gộp thấp thường có xu hướng giảm tỷ lệ chiết khấu tiền mặt, thậm chí không áp dụng. - Chiết khấu tiền mặt còn phụ thuộc vào chi phí cơ hội vốn của công ty. Vì vậy, chiết khấu tiền mặt sẽ thay đổi khi chi phí cơ hội vốn thay đổi. (Một đồng tiền có cơ hội sinh lời là 20% thì phải “quý” hơn đồng tiền có cơ hội sinh lời 2%) - Cần tính đến tác động của chiết khấu tiền mặt đến thời gian thanh toán đối với cả khách hàng hưởng và không hưởng chiết khấu khi quyết định thay đổi tỷ lệ chiết khấu - Mức độ chiết khẩu tiền mặt tùy thuộc vào độ co giãn của cầu về giá sản phẩm hay tốc độ thay đổi doanh thu khi áp dụng chiết khấu tiền mặt. - Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì tỷ lệ chiết khấu tiền mặt tối ưu càng cao (khuyến khích thanh toán sớm, giảm rủi ro nợ quá hạn) Xác định tỷ lệ chiết khấu (k): Tỷ lệ chiết khấu (k) dựa trên chi phí cơ hội vốn của doanh nghiệp và chi phí cơ hội vốn của khách hàng. Doanh nghiệp chỉ áp dụng chiết khấu cho những khách hàng có chi phí cơ hội vốn nhỏ hơn so với công ty. Vì vậy một tỷ lệ chiết khấu hợp lý cần thoả mãn giới hạn sau: C01 < C0(k) < C02 Chú thích: C01: Chi phí cơ hội thấp nhất của khách hàng trong một nhóm khách hàng = Số tiền lãi ngân hàng công ty bỏ qua khi quyết định trả sớm hưởng chiết khấu. C02: Chi phí cơ hội vốn của Công ty = Khoản doanh thu chênh lệch giữa tiền hàng có chiết khấu và không chiết khấu. C0(k): Tỷ lệ hưởng chiết khấu k. Sau khi tìm được giới hạn của tỷ lệ chiết khấu, doanh nghiệp cần đưa ra một tỷ lệ chiết khấu tối ưu nhất. Bằng cách thử nghiệm những tỷ lệ khác nhau k = k1, k2, k3, …dao động trong giới hạn đó. Cuối cùng, tỷ lệ chiết khấu k tối ưu là tỷ lệ thỏa mãn với phương pháp phân tích biên, tức là tỷ lệ chiết khấu mà ở đó có nhiều công ty đáp ứng được điều kiện nhất, nhưng phải đem lại lợi ích cho công ty. 8 Thang Long University Library 1.2.3.2. Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng giúp doanh nghiệp tìm hiểu đánh giá mức độ tín nhiệm, uy tín và năng lực thanh toán của khách hàng để phòng tránh được những rủi ro thanh toán có thể xảy ra. Doanh nghiệp thường thực hiện theo quy trình 3 bước như sau để đánh giá mức độ uy tín của khách hàng: - Bước 1: Thu thập thông tin của khách hàng - Bước 2: Tập hợp và phân loại các thông tin thu thập được - Bước 3: Phân tích thông tin để xác định giá trị khách hàng Bƣớc 1: Thu thập thông tin của khách hàng Doanh nghiệp nên thu thập thông tin tín dụng từ càng nhiều nguồn càng tốt nhưng nên cân nhắc thời gian và chi phí dành cho việc này. Đặc biệt, các nhà phân tích nên tính đến thu nhập kì vọng có được từ các thông tin bổ sung so với chi phí để có được các thông tin đó. Cách tốt nhất để thiết kế việc thu nhập thông tin là tiến hành liên tục, bắt đầu từ những nguồn rẻ nhất và ít tốn thời gian nhất. Nếu kết quả của các thông tin ban đầu này cho thấy cần phải bổ sung thêm thông tin thì các nhà phân tích mới tìm các nguồn bổ sung. Khi một công ty muốn có thông tin tín dụng về khách hàng, có một số nguồn để thu nhập. Các nguồn thông tin thường hay dùng để đánh giá khả năng chi trả bao gồm: - Báo cáo tài chính: Công ty có thể yêu cầu khách hàng cung cấp các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập ( nên sử dụng những báo cáo đã được kiểm toán), và thậm chí có thể là một bảng dự toán các ngân sách. Thông tin này có thể được sử dụng để đánh giá sức mạnh tài chính của khách hàng và khả năng trả các khoản nợ tín dụng. Nếu khách hàng không sẵn lòng cung cấp các báo cáo tài chính thì điều này có nghĩa là khách hàng có điểm yếu trong vấn đề tài chính và do đó, công ty cần kiểm tra chi tiết hơn, có thể từ chối cấp tín dụng. - Tổ chức báo cáo tín dụng: Có một vài tổ chức bán thông tin về sức mạnh tín dụng và lịch sử tín dụng của các công ty kinh doanh. Các công ty và tổ chức cho vay khác đang xem xét mở tín dụng cho một công ty có thể có thông tin về họ từ các tổ chức này. Trên cơ sở các báo cáo kinh nghiệm của các công ty tư vấn về những rủi ro mà các doanh nghiệp khác đã gặp với khách hàng, doanh nghiệp có thể rút kinh nghiệm để tránh được những rủi ro đã xảy ra ở doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán của nước ta mới ra đời và chậm phát triển của thị trường vốn nói chung cũng như thị trường tiền tệ, chưa có một tổ chức đánh giá tín nhiệm tín dụng 9 chính thức nào. Hoạt động đánh giá tín nhiệm tín dụng hầu như đều do ngân hàng thực hiện khi có nhu cầu đánh giá - Các ngân hàng: Nhiều ngân hàng giúp khách hàng của họ thu thập thông tin về mức độ tín nhiệm tín dụng của các công ty khác. Thông qua mối liên hệ với các ngân hàng khách, ngân hàng của một khách hàng có thể thu nhập thông tin chi tiết về cấu trúc trả nợ và tình hình tài chính của công ty đang được điều tra và chuyển thông tin này cho khách hàng đó. - Kinh nghiệm quá khứ của riêng công ty với khách hàng: Kinh nghiệm của một công ty với một khách hàng tín dụng có thẻ vô cùng hữu ích khi quyết định có tiếp tục mở tín hay tăng mức tín dụng cho khách hàng đó hay không. Chẳng hạn, nếu khách hàng có xu hướng trả nợ chậm hơn nhiều so với ngày đến hạn hoặc nếu phải sử dụng các phương pháp thu hồi tốn nhiều chi phí để thu nợ, nhà phân tích tín dụng có thể phải tính đến các thông tin này khi ra quyết định cấp tín dụng. Bƣớc 2: Tập hợp và phân loại các thông tin thu thập đƣợc Sau khi thu thập thông tin từ phía khách hàng, các nhà quản lý cần phải tập hợp những thông tin này và phân loại hợp lý để phục vụ cho việc phân tích chính sách tín dụng một cách thuận tiện. Tùy theo các số liệu tập hợp được và tầm quan trọng khoản “Phải thu khách hàng”, nhà quản lý sẽ xếp hạng thông tin theo các nhóm với mức độ chi tiết khác nhau. Bƣớc 3: Phân tích thông tin để xác định giá trị khách hàng Phân tích các tỷ số tài chính: Phân tích chỉ số tài chính là một phần quan trọng của phân tích cơ bản dựa trên Báo cáo tài chính (BCTC) hàng năm của doanh nghiệp. Phân tích tỷ số liên quan đến việc so sánh các con số với nhau để tạo nên các tỷ số và từ đó dựa vào các tỷ số này để đánh giá xem hoạt động của công ty đang trong tình trạng suy giảm hay tăng trưởng.Các tỷ số cần phải được so sánh giữa các thời kỳ trong công ty để thấy được công ty đang tăng trưởng hay suy giảm, và với các công ty trong cùng ngành để thấy công ty đó hoạt động tốt hay xấu so với mức trung bình ngành.Các phương pháp, kinh nghiệm thường được căn cứ trên các chỉ số tài chính sau: - Tỷ số về khả năng thanh toán: thanh toán nhanh, thanh toán hiện hành - Tỷ số hoạt động: số vòng quay các khản phải thu, tồn kho và hiệu suất sử dụng tài sản cố định, toàn bộ tài sản, tỷ số nợ trên vốn cổ phần, tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần, tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần và khả năng thanh toán lãi vay - Tỷ số sinh lợi: tỷ suất sinh lợi trên doanh thu, tổng tài sản và trên vốn cổ phần. - Tỷ số nợ: tỷ số nợ trên tổng tài sản, các hệ số nợ. Phân tích thông qua cách thức cho điểm 10 Thang Long University Library Có một số chỉ dẫn truyền thống có thể làm khuôn khổ cho việc đánh giá để phân nhóm khách hàng. Các chỉ dẫn này được gọi là “tín dụng 5C”. - Character – Đặc điểm: liên quan đến mức độ sẵn sàng của khách hàng trong việc đáp ứng các khoản nợ tín dụng. Cấu trúc thu nợ quá khứ rất hữu ích khi đánh giá yếu tố này. - Capacity – Năng lực: liên quan đến khả năng của khách hàng trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Công ty có thể thu thập dự đoán về năng lực của khách hàng bằng cách kiểm tra khả năng thanh toán và dòng ngân quỹ dự đoán của công ty. Ngoài ra, yếu tố này còn liên quan đến sức mạnh tài chính của khách hàng, đặc biệt là giá trị ròng. Công ty có thể thu thập thông tin này bằng cách đánh giá bảng cân đối kế toán qua các thông số tài chính. - Capital – Vốn: đây là tiêu chuẩn đánh giá về tiềm năng tài chính dài hạn của khách hàng thông qua các chỉ tiêu về vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trong kinh doanh. - Collateral – Vật ký quỹ: là những tài sản mà khách hàng có thể cầm cố như là vật đảm bảo cho mức tín dụng cấp cho họ. Tuy nhiên, vật ký quỹ thường không phải là yếu tố quan trọng vì mối quan tâm chính của công ty cấp tín dụng thương mại là việc thanh toán đúng thời hạn chứ không phải là đánh giá các tài sản cầm cố. - Conditions – Các điều kiện: liên quan đến tình hình kinh tế nói chung và ảnh hưởng của nó lên khả năng trả nợ của khách hàng. Một khách hàng có mức độ tín dụng tốt trong thời kỳ thuận lợi có khả năng không trả được nợ trong thời kỳ suy thoái. Nhiều nhà phân tích tín dụng cho rằng hai chữ C đầu tiên là quan trọng nhất vì chúng giúp đảm bảo cho công ty mở tín dụng không bỏ sót yếu tố quan trọng nào trong phân tích. Ngày nay, có nhiều kỹ thuật, chương trình hỗ trợ và nhiều chỉ dẫn cho việc phân tích tín dụng. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng phụ thuộc vào kinh nghiệm và đánh giá của người ra quyết định khi đánh giá thông tin. Ví dụ: Cách thức đánh giá thông qua thang điểm được Công ty Cổ phần Sữa Vinamilk áp dụng theo các bước như sau: Bước 1: Liệt kê các khách hàng đang sử dụng tín dụng thương mại của Công ty trong những năm qua Bước 2: Gán trọng số cho mỗi yếu tố của phương pháp 5C một khoảng điểm (110 điểm) sau đây: + Bản chất tín dụng: 40% + Vốn: 20% + Thế chấp: 20% + Điều kiện kinh tế: 10% + Vật kí quỹ: 10% => Ta được công thức sau: 11 Số điểm của khách hàng = C1*40% + C2*20% + C3*20% +C4*10% +C5*10% Bước 3: Đánh giá mức độ thỏa mãn từng yếu tố của từng khách hàng + Dựa vào thang điểm trên, doanh nghiệp đánh giá khách hàng theo từng khía cạnh của nguyên tắc “5C”. Tùy theo vị thế khách hàng mà doanh nghiệp có các mức độ điểm khác nhau và được đánh giá như sau: + Điểm trung bình >8: đánh giá là khách hàng tốt (Nhóm A) + 7 < điểm trung bình < 8: đánh giá là khách hàng khá (Nhóm B) + 5 < điểm trung bình < 7: đánh giá là khách hàng trung bình (Nhóm C) + Điểm trung bình < 5: đánh giá là khách hàng kém và thường không được xem xét cấp tín dụng (Loại). Những khách hàng được xét vào nhóm A, B, C là những khách hàng tiềm năng thỏa mãn điều kiện của công ty. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cân nhắc để đưa ra các ưu đãi như thời hạn hay tỷ lệ chiết khấu để phù hợp với từng nhóm khách hàng trên. 1.2.2.3. Quyết định tín dụng Sau khi doanh nghiệp đã ấn định các điều kiện bán hàng, quyết định bán theo tài khoản mua bán chịu hay yêu cầu khách hàng ký vào giấy nợ, doanh nghiệp đã lập một quy chế để ước tính xác suất mỗi khách hàng sẽ trả tiền. Bước kế tiếp của doanh nghiệp là tính xem nên cấp tín dụng cho khách hàng nào. Quyết định cấp tín dụng tức là chúng ta cần so sánh chi phí của việc cấp tín dụng và lợi ích thu được từ cấp tín dụng có tính đến rủi ro và giá trị theo thời gian của luồng tiền Xét mô hình cơ bản: Dòng tiền vào CFin= Dòng tiền vào dự kiến phát sinh từ bán hàng theo phương thức trả chậm Dòng tiền ra CFout = Dòng tiền ra gắn với hàng hóa được bán T = Thuế suất cận biên của công ty Dòng tiền sau thuế mà công ty nhận được từ bán hàng trả chậm: CF = (CFin – CFout )(1T) = (CFBT)(1 T) Giá trị hiện tại ròng : NPV = CF CF0 k Trong đó: CFt : luồng tiền sau thuế mỗi thời kì CFt = [S(1 VC) – S.BD – CD](1 – T) 12 Thang Long University Library k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế phản ánh nhóm rủi ro của khách hàng tiềm năng BD: Tỷ lệ nợ xấu trên dòng tiền vào từ bán hàng CD: Luồng tiền ra tăng thêm của phòng quản lý tín dụng T: Thuế suất DN phải nộp CF0: Đầu tư công ty thực hiện ở tài khoản phải thu khách hàng CF0 = VC.S.ACP/365 S: Luồng tiền vào (doanh thu dự kiến mỗi thời kì) VC: Luồng tiền ra biến đổi của sản xuất và bán hàng (tính theo tỉ lệ phần trăm trên dòng tiền vào) ACP: thời gian thu tiền trung bình tính theo số ngày ACP = (AR: các khoản phải thu khách hàng) Cuối cùng ta có, nguyên tắc cấp tín dụng sau khi tính toán xong giá trị hiện tại ròng của doanh nghiệp: NPV > 0 Doanh nghiệp thực hiện cấp tín dụng. NPV < 0 Doanh nghiệp không cấp tín dụng. NPV = 0 Doanh nghiệp bàng quan. (Nguồn: Giáo trình TCDN – Đại học Kinh Tế Quốc Dân) Tuy nhiên nhược điểm của NPV là việc tính toán NPV rất phức tạp lại yêu cầu phải đưa ra các giả định ở mỗi giai đoạn như tỉ lệ chiết khấu, khả năng nhận tiền thanh toán... Vì nếu giả định trong trường hợp tỷ suất k không đổi trong suốt thời gian đầu tư thì điều này khó xảy ra trong thực tế, nhất là trong giai đoạn biến động khó lường của nền kinh tế trong và ngoài nước hiện nay. Vậy nên, ta có thể xem xét mô hình Điểm số Altman Z-score để hỗ trợ cho việc đánh giá quyết định thực hiện CSTD trong các trường hợp rủi ro quá cao có thể dẫn đến tình trạng xấu như phá sản của doanh nghiệp Sơ lƣợc về mô hình điểm số Altman Z-score: Mô hình điểm số Altman Z-score được công bố năm 1968 do Edward Altman khởi tạo. Mô hình được sử dụng để xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp và đo xác suất vỡ nợ của khách hàng thông qua các dữ liệu từ báo cáo tài chính để tính toán. Z-score sử dụng mô hình tuyến tính bậc nhất giữa các chỉ tiêu tài chính được lượng hóa bằng các hệ số. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để để phân loại rủi ro đối với người vay và phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của người vay. Mô hình sử dụng phương pháp hồi quy dựa trên cơ sở dữ liệu trong quá khứ và từ đó đưa ra dự báo cho tương lai. Altman đã xây dựng mô hình cho điểm như sau: 13 Công thức tính: Chỉ số Z được xây dựng dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lướng lớn các công ty khác nhau tại Mỹ. Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Indian... Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA) Cụ thể, Z-score được được tính với 5 chỉ số tài chính được ký hiệu từ X1, X2, X3, X4, X5, bao gồm: X1= - Vốn lưu động (Working Capitals) = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn - Tổng tài sản (Total Assets) - Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỉ số X1 X2= - Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại (Retain Earnings) tích lũy qua thời gian. - Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này. Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận X3= - Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) - Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của nó. Vì vậy, tỷ số này , theo Altman thể hiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lời. X4= - Giá thị trường của vốn cổ phần (Market Value of Total Equity) = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi - Giá trị sổ sách của tổng nợ (Book values of total Liabilities) = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn - Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nếu tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao. 14 Thang Long University Library X5= - Doanh thu (Sales) - Đo lường khả năng quản trị của công ty để tạo ra doanh thu trước sức ép cạnh tranh của đối thủ khác. - Tỷ số này có mức ý nghĩa thấp nhất trong mô hình nhưng nó là một tỷ số quan trọng vì giúp khả năng phân biệt của mô hình được nâng cao. - X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành khác nhau và các quốc gia khác nhau. - Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z’ và Z’’ để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp: - Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất, Z – score được tính theo công thức: Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,64X4 + 0,999X5 (1) + Nếu Z > 2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. + Nếu 1,8 < Z < 2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. + Nếu Z <1,8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. - Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất Z – score được tính theo công thức: Z’ = 0,717X1 + 0,847X2 + 3,107X3 + 0,42X4 + 0,998X5 (2) + Nếu Z’ > 2,9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. + Nếu 1,23 < Z’ < 2,9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. + Nếu Z’ <1,23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. - Đối với các doanh nghiệp khác: Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được loại ra. Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau: Z’’ = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4 (3) + Nếu Z’’ > 2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. + Nếu 1,2 < Z’’ < 2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. + Nếu Z <1,1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. 15 Vậy doanh nghiệp sẽ cấp tín dụng cho khách hàng có Z-score nằm trong các vùng an toàn như trên tùy theo từng loại hình công ty. Ưu điểm của mô hình Z-score: Cho đến ngày nay thì mô hình Z-score vẫn là mô hình được sử dụng rộng rãi trên thế giới vì độ chính xác tương đối của nó. Mô hình Zscore được thừa nhận là có khả năng dự báo chính xác đến 2 năm trước khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng rủi ro cao. Mô hình Z-score sử dụng kĩ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản thuận tiện cho người sử dụng. Nhược điểm của mô hình Z-score: Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro. Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay. Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến. Tương tự như vậy, bản thân các chỉ số được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục. Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay (danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa NH và khách hàng hay các yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế). 1.2.3.4. Chính sách thu hồi nợ Chính sách thu nợ là yếu tố cuối cùng trong chính sách tín dụng. Chính sách thu nợ liên quan đến việc giám sát các khoản phải thu để phát hiện ra các rắc rối và nhận được các khoản thanh toán quá hạn của khách hàng. Chính sách thu nợ liên quan đến các thủ tục mà công ty sử dụng để thu hồi các khoản nợ quá hạn. Các thủ tục này bao gồm các hoạt động như gởi thư đến cho khách hàng, điện thoại, viếng thăm cá nhân và cuối cùng là các hành động mang tính luật pháp. Một trong những biến số cơ bản nhất của chính sách này chính là số tiền cho cho các thủ tục thu hồi. Tiến trình thu hồi nợ thường tốn khá nhiều chi phí, do cả các chi phí ngoài dự tính và cả mất uy tín do khách hàng không muốn bị chuyển cho cơ quan thu hồi nợ. Tuy nhiên, cũng cần phải kiên quyết để ngăn chặn sự kéo dài của thời hạn thu tiền và giảm thiểu mất mát. Công ty phải xác định rõ cân đối giữa chi phí và lợi nhuận thu được từ các chính sách thu hồi khác nhau. 16 Thang Long University Library Hình 1.1 Quan hệ giữa chi phí mức độ giảm mất mát trong chính sách thu hồi Mất mát Điểm bão hòa Chi phí thu nợ (Nguồn: Giáo trình TCDN hiện đại, T.S Trần Ngọc Thơ, Năm 2003) Biến số cơ bản của chính sách thu nợ là giá trị kỳ vọng của các thủ tục thu nợ. Trong một giới hạn nhất định, số tiền chi tiêu tương đối cho hoạt động thu nợ càng cao, tỷ lệ mất mát càng thấp và kỳ thu tiền càng ngắn. Song mối quan hệ giữa chi phí thu nợ và mất mát cũng như kỳ thu tiền không phải là quan hệ tuyến tính. Ban đầu, sự gia tăng chi phí thu nợ có thể giảm đáng kể các mất mát và thời hạn thu tiền, càng về sau việc gia tăng chi phí thu nợ sẽ không còn tích cực nữa. Điều này được minh họa qua hình 1.11. Để cân nhắc chi phí của các khoản nợ thu hồi, ta giả sử lượng bán không còn ảnh hưởng đến nỗ lực thu nợ. Như vậy, cân nhắc giữa một bên là giảm đầu tư vào khoản phải thu và giảm mất mát, còn bên kia là tăng chi phí kiểm soát tín dụng, tăng cường hoạt động thu nợ. Một khoản phải thu chỉ tốt như mong muốn khi nó được thanh toán đúng hạn. Công ty không thể chờ quá lâu đối với các hóa đơn quá hạn trước khi khởi sự thủ tục thu tiền. Song nếu khởi sự các thủ tục thu tiền quá sớm, không hợp lý có thể làm mất lòng khách hàng thực chất là có lý do chính đáng cho sự chậm trễ của họ Những thay đổi trong chính sách thu hồi nợ ảnh hưởng đến doanh số, kỳ thu tiền và phần trăm thất thoát nợ. Công ty cần tính đến tất cả các yếu tố này khi xây dựng chính sách tín dụng. Khi quyết định thực hiện chính sách tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp trước tiên cần lưu ý 3 bước sau: Bước 1: Các số liệu khi giao dịch, mua hàng, thanh toán của khách hàng phải được ghi chép lại chính xác 100%. Doanh nghiệp cần phân loại các khoản nợ của khách theo tuổi nợ. Bước 2: Kết hợp với Bộ phận bán hàng để đốc thúc khách hàng thanh toán, khi hóa đơn sắp hết hạn thì Bộ phận quản lý nợ phải tiến hành gọi điện/ gửi thư nhắc nhở khách sắp hết thời hạn để chuẩn bị. 17 Bước 3: Xử lý các khoản nợ đến hạn chưa thanh toán bằng nhiều cách: gửi thư liên tục, nhờ các công ty chuyên thu nợ hoặc luật sư để đàm phán, đốc thúc khách hàng về việc thanh toán nợ. Cụ thể: - Theo dõi tình hình thanh toán nợ của khách hàng: Việc theo dõi các khoản phải thu định kì giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả, phát hiện những khoản tín dụng có vấn đề và thu thập những thông tin liên quan để giảm thiểu ngay những khoản hao hụt một cách hiệu quả, nhanh chóng. Doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ dưới đây để theo dõi: + Kì thu tiền bình quân + Thời hạn các khoản phải thu + Số dư các khoản phải thu Tuy nhiên, mỗi công cụ có những ưu nhược điểm riêng và cần được doanh nghiệp chọn lựa sao cho phù hợp với trường hợp của mình. Do vậy, ưu tiên tốt nhất với doanh nghiệp là thực hiện phân loại và theo dõi số dư nợ của từng nhóm khách hàng theo các phương thức thanh toán của họ. - Đề ra các chính sách thu hồi nợ Một chính sách thu nợ hiệu quả phải được kết hợp hiệu quả giữa mục đích hạn chế rủi ro tín dụng và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong giới hạn nhất định, chi phí để thực hiện hoạt động thu nợ càng cao, tỷ lệ thất thoát càng thấp và kỳ thu tiền càng ngắn. Tuy nhiên, nếu gia tăng chi phí thu nợ trong thời gian dài thì kết quả thực hiện không còn được hiệu quả, tích cực nữa. Để cân nhắc cho chi phí của các thủ tục thu nợ, ta giả sử lượng bán không còn ảnh hưởng đến nỗ lực thu nợ. Như vậy cần cân nhắc giữa một bên là giảm đầu tư vào khoản phải thu, mất mát; một bên là tăng chi phí kiểm soát tín dụng, tăng cường hoạt động thu nợ. Một khoản phải thu chỉ tốt khi được thanh toán đúng hạn, công ty không thể chờ quá lâu đối với các hóa đơn quá hạn trước khi khởi sự thu tiền. Tuy nhiên, nếu áp dụng các thủ tục thu tiền quá sớm, không hợp lý có thể làm mất lòng những khách hàng thực chất có lý do chính đáng cho sự chậm trễ của họ. Trước khi thực thi các thủ tục thu nợ cần phải đặt ra các vấn đề về giá trị của khoản nợ quá hạn và thời gian quá hạn. Thủ tục thu nợ thường bao gồm trình tự hợp lý cho các giải pháp mà công ty áp dụng như điện thoại, thư tín, viếng thăm cá nhân, hoạt động luật pháp, chẳng hạn: 18 Thang Long University Library Bảng 1.1. Bảng thủ tục thu nợ Thời gian quá hạn Hành động cần thiết Sau 15 ngày Gửi thư kèm hoá đơn nhắc nhở trả tiền Sau 45 ngày Gửi thư kèm thông tin hoá đơn thúc giục. Gửi thư kèm hoá đơn khuyến cáo sẽ huỷ bỏ giá trị tín dụng Gọi điện khẳng định thông báo cuối cùng về huỷ bỏ tín dụng. Sau 75 ngày Sau 80 ngày Gửi thư huỷ bỏ giá trị tín dụng Sau 105 ngày Liệt kê vào nợ khó đòi, nếu giá trị lớn có thể đòi bằng con đường pháp luật. (Nguồn: Giáo trình Quản trị Tài chính – NXB Nông Nghiệp) Sau 135 ngày Thủ tục thu nợ vừa mềm dẻo, vừa cương quyết, có thể từ việc gửi thư với những giọng điệu ngày càng nghiêm khắc đến các cú điện thoại, sau nữa là luật pháp. Đòi nợ bằng luật pháp ít có giá trị thực tế và chỉ nên áp dụng đối với trường hợp phá sản, khi họ không thể thu hồi được nợ. Nói chung các biện pháp thu hồi nợ và xử lý nợ quá hạn không được quá cứng nhắc mà vẫn phải đảm bảo giữ mối quan hệ với khách hàng. 1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách tín dụng 1.3.1. Nhân tố bên ngoài - Điều kiện kinh tế: Trong môi trường kinh tế ổn định, những công ty trong các ngành có tốc độ tăng trưởng cao và tiềm năng phát triển thì thường tạo cho các nhà cung cấp một sự tin tưởng, đánh giá tốt khi quyết định thực hiện CSTD, điều đó thu hút họ tham gia một cách mạnh mẽ vào hoạt động này. Ngược lại với một môi trường kinh tế có nhiều biến động không ổn định thì các nhà cung cấp tín dụng sẽ không mấy quan tâm đến lĩnh vực này. - Lƣợng cầu: Lượng cầu ở mức thấp là công cụ dùng để kích thích gia tăng sức mua, gia tăng lượng cầu. Mở rộng CSTC trong trường hợp này là tương đối phù hợp và đem lại hiệu cao. Tuy nhiên, nếu lượng cầu lên cao thì việc áp dụng CSTD mở rộng sẽ không có hiệu quả cao. - Điều khoản tín dụng của ngành: Các công ty đặc biệt là những công ty nhỏ thường thấy khó khăn trong việc áp dụng những điều khoản tín dụng bình thường trong ngành. Trong trường hợp công ty 19 có quy mô lớn hoặc các sản phẩm, dịch vụ cung cấp có khả năng cạnh tranh cao thì lợi thế trong việc mở rộng hay thu hẹp các điều khoản tín dụng hơn so với ngành. - Cơ sở khách hàng: Việc phân tích cơ sở khách hàng có thể hỗ trợ cho việc xây dựng chính sách tín dụng rõ ràng và chính xác. Vấn đề này liên quan đến việc kiểm tra hồ sơ của khách hàng, các mối quan hệ thương mại, tần suất và tỷ lệ duy trì việc mua hàng của khách hàng. Chính sách tín dụng phải làm nổi bật các thủ tục trọng điểm, khách hàng rủi ro cao và tỷ trọng của họ trong mối quan hệ với tổng số khách hàng. 1.3.2. Nhân tố bên trong - Khả năng về tài chính Nhà quản lý nên xác định được tổng số vốn đầu tư tài chính cần thiết cho toàn bộ hoạt động tín dụng và nghiên cứu một cách cẩn thận trong việc khai thác nguồn tài chính có sẵn. Điều này sẽ phụ thuộc và khả năng của doanh nghiệp để mở rộng quy mô vốn đầu tư của mình thông qua các nguồn tài trợ nội bộ như lợi nhuận giữ lại hoặc tín dụng của nhà cung cấp. Ngoài ra nó cũng sẽ phụ thuộc vào các thị trường tài chính và năng lực của doanh nghiệp trong việc xâm nhập vào các thị trường. - Sứ mệnh, mục tiêu và chiến lƣợc của công ty Uy tín của công ty cũng được tạo dựng thông qua việc thực hiện những sứ mệnh, mục tiêu chiến lược mà công ty đặt ra. Từ đó giúp công ty đi đúng hướng tạo được niềm tin với người cho vay đồng thời việc đi vay vốn sẽ trở nên dễ dàng so với các công ty khác. - Khả năng về công nghệ thông tin Hiện nay, công nghệ thông tin đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản trị, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại giúp doanh nghiệp quản lí chặt chẽ vốn lưu động, các khoản phải thu, các khoản phải trả nhằm đưa ra quyết định chính xác khi thực hiện TDTM . - Bản chất của sản phẩm hàng hóa Thời hạn tín dụng thương mại được chấp thuận mở rộng còn tùy thuộc vào bản chất của sản phẩm có thời gian luân chuyển cao hay thấp - Lợi nhuận tiềm năng Là cơ sở để đánh giá chính sách tín dụng có hiệu quả hay không. Công ty cần xem xét khả năng bán hàng tín dụng cũng như tài sản đầu tư vào các khoản phải thu chưa được thanh toán, điều cần quan tâm là lợi nhuận tiềm năng có bù đắp được những phí tổn của chính sách tín dụng hay không là điều đáng quan tâm. - Khối lƣợng bán 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -