Tài liệu Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị việt nam

  • Số trang: 35 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 701 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Đã đăng 62182 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị Mục lục Lời mở đầu 3 Chương 1- Một số cơ sở lý luận về thất nghiệp 4 1.1. 4 Một số khái niệm 1.1.1. Thất nghiệp 4 1.1.2. Người thất nghiệp 4 1.1.3. Tỷ lệ thất nghiệp 6 1.2. Phân loại thất nghiệp 7 1.2.1. Theo ý chí của người lao động 7 1.2.2. Theo tính chất của thất nghiệp 8 1.3. 1.4. Đặc điểm của thất nghiệp 12 1.3.1. Theo tuổi 12 1.3.2. Theo giới 13 1.3.3. Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 13 Ảnh hưởng của thất nghiệp tới phát triển kinh tế xã hội 14 1.4.1. Hậu quả kinh tế của thất nghiệp 14 1.4.2. Hậu quả xã hội của thất nghiệp 15 Chương 2: thực trạng thất nghiệp ở thành thị Việt Nam 17 2.1. Một số đặc trưng cơ bản của dân số thất nghiệp nước ta 17 2.2. Thất nghiệp chung của lực lượng lao động ở khu vực thành thị theo vùng kinh tế 20 2.3. Thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị theo tỉnh, thành phố 21 2.4. Thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 22 2.5. Thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị theo nhóm tuổi 23 2.6. Thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị theo giới 24 Chương 3: các giải pháp nhằm giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam hiện nay 3.1. Nguyên nhân thất nghiệp ở khu vực thành thị nước ta Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 25 25 1 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị 3.1.1. Cung lao động vượt quá cầu lao động 25 3.1.2. Ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và thế giới 26 3.1.3. Chất lượng nguồn lao động chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. 26 3.1.4. Chính sách giảm biên chế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước26 3.1.5. Sự phát triển khoa học công nghệ 27 3.1.6. Tâm lý xã hội của dân cư khu vực thành thị trong việc lựa chọn việc làm 27 3.2. Giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị việt nam hiện nay 27 3.2.1. Giảm cung lao động ở khu vực thành thị 27 3.2.2. Phát triển kinh tế khu vực thành thị để tạo ra chỗ làm việc mới và đảm bảo việc làm 30 3.2.3. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 30 3.2.4. Xuất khẩu lao động 31 3.2.5. Hỗ trợ giải quyết việc làm cho người thất nghiệp và thiếu việc làm 32 Kết luận 34 Tài liệu tham khảo 35 Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 2 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện kinh tế thị trường, thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, nó không loại trừ một quốc gia nào, cho dù quốc gia đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triển. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia. Những hậu quả mà nó gây ra không dễ gì khắc phục được trong một thời gian ngắn. Do vậy, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống cho người lao động trở thành mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất phát từ một nước nghèo, có nền kinh tế kém phát triển, dân số tăng nhanh trong nhiều thập kỷ qua, thất nghiệp (đặc biệt là thất nghiệp ở khu vực thành thị) đang là một vấn đề gây sức ép rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như sự lo lắng đối với từng người lao động. Xuất phát từ điều đó, em đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam” để nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm khái quát một số vấn đề lý luận về thất nghiệp, phân tích đánh giá thực trạng thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam – một phần hệ quả của quá trình đô thị hóa (bằng cách sử dụng các phương pháp thống kê toán, phân tích số liệu) và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực này. Kết cấu của đề tài gồm 3 phần chính: + Chương 1: Một số cơ sở lý luận về thất nghiệp. + Chương 2: Thực trạng thất nghiệp ở thành thị Việt Nam. + Chương 3: Giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam hiện nay. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 3 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị CHƯƠNG I- MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẤT NGHIỆP 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1.1. Thất nghiệp Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận. Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp. - Tại Điều 20 Công ước số 102 (1952) của tổ chức lao động Quốc tế (gọi tắt là ILO) về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội định nghĩa: “Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc, theo định nghĩa này để xác định tình trạng thất nghiệp cần hai điều kiện “có khả năng làm việc” và “sẵn sàng làm việc”; sau đó Công ước số 168 (1988) bổ sung thêm vào định nghĩa này khái niệm “tích cực tìm kiếm việc làm”. 1.1.2. Người thất nghiệp Tùy theo quan điểm nhận thức, mục đích hoàn cảnh của mỗi nước người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau về người thất nghiệp. Chẳng hạn: - Ở Nga: “Những người thất nghiệp được thừa nhận là những công dân có khả năng lao động, không có việc làm và thu nhập; đã đăng ký ở các cơ quan dịch vụ việc làm với mục đích tìm kiếm những công việc thích hợp, đang đi tìm việc làm và sẵn sàng làm việc. Những công dân chưa đủ 16 tuổi và những người đã về hưu theo độ tuổi thì không được công nhận là những người thất nghiệp”. - Ở Mỹ: “Người thất nghiệp là những người không có việc làm trong tuần điều tra, mặc dù có khả năng làm việc, mong muốn tìm được việc làm trong vòng 4 tuần đã qua, có liên hệ với các trung tâm dịch vụ việc làm hoặc trực tiếp với người thuê lao động”. - Ở Anh: “Người thất nghiệp là những người không làm việc 1 giờ nào trong vòng 2 tuần điều tra”. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 4 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị - Ở Cộng hoà Liên bang Đức: “Người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn”. - Ở Thái lan: “Người thất nghiệp là người lao động không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”. - Từ định nghĩa về thất nghiệp, ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp” đó là: trong độ tuổi lao động; có khả năng lao động đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ra những khái niệm về người thất nghiệp. Ví dụ như: Trong Luật bảo hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức (1969) định nghĩa: “Người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công tác ngắn hạn”. Ở Trung Quốc người thất nghiệp là: “Người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, mong muốn tìm việc nhưng không có việc”. Ở Pháp, người thất nghiệp “là người không có việc làm, có điều kiện làm việc và đang tìm việc làm”. - Ở Việt nam (Bộ LĐTB&XH): “Người thất nghiệp là những người từ đủ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm trong tuần lễ điều tra và tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần qua với các lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu… hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8h, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc”. - Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” đã được luật hóa và trở thành thuật ngữ pháp lý tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH. Theo đó, người thất nghiệp được định nghĩa là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp dồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 5 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị Có rất nhiều khái niệm về người thất nghiệp, nhung dù thế nào đi chăng nữa thì một người lao động được coi là thất nghiệp phải thể hiện đầy đủ 4 đặc trưng sau: + Là người lao động + Có khả năng lao động + Đang không có việc làm + Đang đi tìm việc làm Số người thất nghiệp Số người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần tham chiếu đã hội đủ các yếu tố sau đây: - Không làm việc nhưng sẵn sàng và mong muốn có việc làm; - Đang đi tìm việc làm có thu nhập, kể cả những người trước đó chưa bao giờ làm việc. Số người thất nghiệp còn bao gồm các trường hợp đặc biệt sau: + Những người đang nghỉ việc tạm thời nhưng không có căn cứ bảo đảm sẽ được tiếp tục làm công việc cũ, trong khi đó họ vẫn sẵn sàng làm việc hoặc đang tìm kiếm việc làm mới; + Những người trong thời kỳ tham chiếu không có hoạt động tìm kiếm việc làm vì họ sẽ được bố trí việc làm mới sau thời gian tạm nghỉ việc; + Những người đã thôi việc không được hưởng tiền lương, tiền công; + Những người không tích cực tiềm kiếm việc làm vì họ tin rằng không thể tìm được việc làm (do hạn chế về sức khoẻ, trình độ chuyên môn không phù hợp,…). 1.1.3. Tỷ lệ thất nghiệp - Tỷ lệ thất nghiệp: là tỷ lệ phần trăm của số người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 6 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị Ngoài khái niệm trên người ta còn thường dùng một số tỷ lệ thất nghiệp theo các đặc trưng như: - Tỷ lệ thất nghiệp theo giới: là tỷ lệ phần trăm của số người thất nghiệp ở nam giới hoặc nữ giới so với tổng dân số nam giới hoặc nữ giới hoạt động kinh tế. - Tỷ lệ thất nghiệp theo độ tuổi (nhóm tuổi): là tỷ lệ phần trăm của số người thất nghiệp ở độ tuổi x hoặc nhóm tuổi (x, x+n) so với tổng dân số hoạt động kinh tế của độ tuổi hoặc nhóm tuổi đó. - Tỷ lệ thất nghiệp theo vùng: là tỷ lệ phần trăm của số nghười thất nghiệp của vùng so với tổng dân số hoạt động kinh tế của vùng đó. Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động (tổng dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ. Công thức tính: Tỷ lệ thất nghiệp (%) = {( Số người thất nghiệp)/( Dân số hoạt động kinh tế (LLLĐ))} x 100. Do đặc trưng của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp của nước ta thường được tính cho khu vực thành thị theo công thức sau: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (%) = {(Số người thất nghiệp khu vực thành thị)/( Dân số hoạt động kinh tế (LLLĐ) khu vực thành thị)} x 100 1.2. PHÂN LOẠI THẤT NGHIỆP 1.2.1. Theo ý chí của người lao động Người ta phân thành 2 loại sau: a/ Thất nghiệp tự nguyện: là hiện tượng người lao động từ bỏ một công việc nào đó do một số nguyên nhân, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc. Một số nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp tự nguyện: Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 7 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị - Thay đổi chỗ ở: Thông thường trước khi người lao động chuyển đến nơi ở mới, từ bỏ công việc cũ., họ thường giải quyết việc đảm nhận chỗ làm mới. Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp điều đó không đạt được và người lao động rơi vào tình trạng không có việc làm. - Mức lương: Với một ngành nghề nhất định, người lao động cho rằng họ là người có năng lực trên thị trường lao động. Do đó, họ chỉ đi làm khi mức lương được trả cao hơn mức lương bình quân phổ biến của ngành nghề đó. - Người lao động đang trong thời gian đợi thuyên chuyển công tác. - Sinh viên mới rời khỏi ghế nhà trường đang trong quá trình đi tìm - Công việc hiện tại của người lao động không còn phù hợp (chuyên việc. môn, trình độ), họ sẵn sàng từ bỏ công việc đó để đi tìm một công việc khác thích hợp hơn. b/ Thất nghiệp không tự nguyện: là hiện tượng người lao động có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động, có mong muốn làm việc nhưng do một số nguyên nhân mà không được tuyển dụng, không có việc làm và trở thành thất nghiệp. Một số nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp không tự nguyện: - Người lao động mong muốn làm việc với mức lương bình quân phổ biến của ngành nghề mà họ có năng lực trên thị trường lao động nhưng tại nơi mà họ đang tìm việc không có người sử dụng (không có vị trí công việc trống, nên không có người tuyển dụng). - Người lao động bị sa thải do cắt giảm sản xuất, tinh giảm biên chế, vi phạm kỷ luật lao động và một số nguyên nhân khác. 1.2.2. Theo tính chất của thất nghiệp Có thể phân thành những loại sau: Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 8 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị a/ Thất nghiệp tạm thời (hay thất nghiệp bề mặt): Phát sinh do sự di chuyển của con người giữa các vùng, các miền, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống và họ cần có thời gian để tìm được việc làm thích hợp. Đây là loại thất nghiệp khá phổ biến và thường xuyên diễn ra, thậm chí một nền kinh tế được coi là đầy đủ công ăn việc làm thì loại thất nghiệp này vẫn tồn tại. Nguyên nhân: - Do quá trình đi tìm việc làm của sinh viên mới ra trường - Do sự thay đổi chỗ ở của người lao động - Phụ nữ quay lại lực lượng lao động sau khi có con - Đợi thuyên chuyển công tác - Mất việc làm do doanh nghiệp bị phá sản b/ Thất nghiệp cơ cấu: Do không có sự đồng bộ giữa kỹ năng tay nghề của người lao động với cơ hội việc làm do nhu cầu lao động và sản xuất thay đổi. Điều này phát sinh do sự mất cân đối giữa cung và cầu về các loại lao động. Cầu của loại lao động này tăng, cầu loại lao động khác giảm, cung không điều chỉnh kịp cầu. Nguyên nhân: Trong quá trình vận động của nền kinh tế thị trường, sẽ có những ngành phát triển thu hút nhiều lao động, nhưng cũng có nhiều ngành bị thu hẹp làm dư thừa lao động. Nhưng lượng lao động này chưa kịp được đào tạo và đào tạo lại để bổ sung vào chỗ cầu tăng lên. Điều này thấy rõ nhất giữa hai ngành công nghiệp và nông nghiệp. Do ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp làm dư thừa lao động trong nông nghiệp. Trong khi đó cầu lao động trong công nghiệp tăng do thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhưng lượng lao động dư thừa chưa được đào tạo hoặc đào tạo lại để kịp thời bổ sung. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 9 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị c/ Thất nghiệp chu kỳ: Loại thất nghiệp này gắn với chu kỳ của ngành và nền kinh tế. Nó xảy ra khi chu kỳ kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát gia tăng làm tỷ lệ tăng trưởng của tổng cầu về sản lượng giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất làm cho mức cầu lao động giảm xuống. Có hai dạng chu kỳ khác nhau: - Chu kỳ công nghiệp (chu kỳ đền bù): Chu kỳ này thường kéo dài từ 7 – 8 năm và gắn với quá trình đổi mới máy móc sản xuất trong công nghiệp và những ngành khác phụ thuộc vào nhịp độ đổi mới máy móc, mức độ khấu hao tự nhiên các nguồn vốn sản xuất cơ bản và những nguyên nhân khác. - Chu kỳ Kondrachep: Chu kỳ này do nhà bác học người Nga Kondrachep Nicolai Dmitrievich tìm ra. Chu kỳ này thường kéo dài từ 40 – 50 năm và gắn với những biến đổi cơ bản tất cả những yếu tố cấu thành sản xuất và thay đổi thế hệ công nhân lao động. d/ Thất nghiệp mùa vụ: Loại thất nghiệp này phát sinh theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và xuất hiện phổ biến trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp với những công việc mang tính chất mùa vụ. Đây là loại thất nghiệp dễ dự đoán trước. e/ Thất nghiệp do thiếu cầu: Đây là loại thất nghiệp theo lý thuyết của Keynes, nó xảy ra khi tổng cầu giảm mà tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh để phục hồi mức hữu nghiệp toàn phần. Chúng ta biết rằng: Tiền lương và giá cả được điều chỉnh theo mức cân bằng dài hạn. Vì thế khi tổng cầu giảm một mức nhất định thì trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượng giảm và mức hữu nghiệp thấp hơn. Một số công nhân muốn làm việc tại mức lương thực tế hiện hành nhưng không thể tìm được việc làm. Chỉ trong dài hạn, khi tiền lương và giá cả giảm đến mức cần thiết để phục hồi Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 10 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị tổng cầu ở mức hữu nghiệp toàn phần thì thất nghiệp do thiếu cầu mới bị triệt tiêu. f/ Thất nghiệp cổ điển (thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường): Xảy ra khi tiền lương được cố ý duy trì (ấn định không bởi các lực lượng thị trường) ở mức cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động (mức mà tại đó đường cung và đường cầu lao động cắt nhau). Nguyên nhân: - Do sự đấu tranh của công đoàn đòi tiền lương ở mức cao hơn mức tiền lương cân bằng. - Do sự quyết định một cách cứng nhắc của chính phủ về luật tiền lương tối thiểu với mức lương cao hơn mức tiền lương cân bằng trên thị trường lao động. g/ Thất nghiệp dai dẳng: Loại thất nghiệp này xảy ra do người lao động có tật về thể xác và thần kinh nên hầu như không thể được thuê làm việc và những người tạm thời không có việc làm trong thời gian chuyển công việc trong nền kinh tế, nơi mà các công việc mời chào luôn luôn thay đổi. h/ Thất nghiệp công nghệ: Do sự áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất ngày càng được tăng cường làm cho người lao động trong các dây chuyền sản xuất bị dôi ra, từ đó làm phát sinh thất nghiệp công nghệ. Trên thực tế không phải loại hình thất nghiệp nào cũng là vấn đề nghiêm trọng. Chỉ có một loại hình luôn làm nhiều người lo lắng và chiếm nhiều thời gian thảo luận nhất của các nhà lập chính sách đó là thất nghiệp cơ cấu. Ngoài các loại thất nghiệp trên còn một loại thất nghiệp mà chúng ta hay đề cập đến đó là thất nghiệp tự nhiên. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 11 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị Trong bất kỳ một quốc gia nào, luôn có một lượng thất nghiệp nhất định (thậm chí khi quốc gia đó được đánh giá là toàn dụng công nhân). Đó là sàn thất nghiệp tối thiểu phải chấp nhận được gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hạ thất nghiệp đến mức đụng sàn có thể xem như là thành công trong mục tiêu toàn dụng hay thất nghiệp thấp. Tỷ lệ thất nghiệp này luôn tồn tại vì những nguyên nhân khách quan sau: - Luôn tồn tại một tỷ lệ lao động lười biếng, thực sự không muốn làm việc. - Có những lao động chấp nhận thất nghiệp tạm thời để tìm cơ hội có việc làm khác với mức lương cao hơn vì không hài lòng với thu nhập thấp hiện tại. - Nhiều lao động không cập nhật tay nghề, bị đào thải, đang chờ xin việc khác hoặc phải học lại nghề. - Lao động đang chờ phân công do chuyển việc. - Lao động đang làm việc một phần thời gian. - Lao động thất nghiệp vào những thời điểm nông nhàn ở nông thôn. Vì các nhân tố trên nên việc hạ thất nghiệp xuống 0% là điều hoang tưởng. Một số nhà kinh tế học thì cho rằng việc duy trì một tỷ lệ thất nghệp tự nhiên là điều cần thiết. Đó sẽ là nguồn lực dự trữ cho quốc gia khi cần phải sản xuất vượt tiềm năng, họ là đối tượng để giữ cân bằng tiền lương, không làm lương bổng tăng nóng và bất hợp lý mỗi khi thị trường khan hiếm. 1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA THẤT NGHIỆP 1.3.1. Theo tuổi Thất nghiệp có xu hướng nhiều nhất ở các nhóm tuổi trẻ nhất, giảm dần cho đến độ tuổi lao động chính. Một số nguyên nhân dẫn đến điều đó là: Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 12 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị - Cũng giống như bất kỳ sự chuyển đổi nào, cần phải có một thời gian nhất định để người lao động trẻ thích nghi khi chuyển từ ghế nhà trường sang môi trường làm việc. Họ cần một thời gian để tìm hiểu các điều kiện của thị trường lao động, chẳng hạn như có thể có những loại công việc gì, với mức lương bao nhiêu, yêu cầu công việc như thế nào và nó có phù hợp với bản thân hay không? Hơn thế nữa, thanh niên vẫn ở giai đoạn đầu của cuộc đời, phần lớn vẫn có chỗ dựa là cha mẹ và chưa lập gia đình nên trách nhiệm của họ đối với gia đình là không quá cao. Họ có thể chấp nhận thất nghiệp tạm thời một thời gian để chờ một công việc có thu nhập cao hoặc có điều kiện làm việc tốt hơn hoặc phù hợp hơn với bản thân. - Ở độ tuổi lao động chính, người lao động thường phải có trách nhiệm với gia đình, đòi hỏi phải có một việc làm với thu nhập ổn định. Thất nghiệp ở nhóm tuổi này thực sự là thử thách đối với gia đình họ. - Tuổi càng cao, người lao động tích luỹ được càng nhiều kinh nghiệm, trình độ chuyên môn kỹ thuật được nâng cao, cơ hội tìm kiếm việc làm ngày càng cao. 1.3.2. Theo giới Tỷ lệ thất nghiệp của nữ giới thường cao hơn nam giới. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến điều đó, một trong những nguyên nhân chính là: - Mặc dù trong điều kiện hiện nay, nam nữ bình đẳng nhưng tâm lý chung của các nhà tuyển dụng vẫn thích tuyển nam giới hơn nữ giới. Bởi vì trong quá trình công tác, nam thường có điều kiện đi công tác xa, ít phải bận công việc gia đình nhất là con cái hơn nữ. - Nam giới thường có sức khoẻ cũng như điều kiện để nâng cao trình độ hơn nữ giới nên khả năng tìm kiếm việc làm cao hơn. 1.3.3. Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật Người có trình độ chuyên môn lành nghề càng cao thì thất nghiệp càng ít. Nguyên nhân: Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 13 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị - Do nhu cầu lao động chất lượng cao ngày càng nhiều trong khi cung ứng lao động này lại ít nên người có trình độ chuyên môn lành nghề càng cao thì khả năng tìm việc càng dễ dàng hơn. - Hơn nữa người có trình độ chuyên môn kỹ thuật và học vấn càng cao thì càng có khả nhận nhiều loại công việc hơn. 1.3.4. Theo khu vực Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động ở thành thị luôn cao hơn tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn. Người ta nói rằng, nếu thất nghiệp là vấn đề của khu vực thành thị thì thiếu việc làm vấn đề của khu vực nông thôn. Tại sao thất nghiệp là vấn đề của thành thị, điều này sẽ được lý giải trong phần sau: Nguyên nhân thất nghiệp ở khu vực thành thị. Còn ở khu vực nông thôn, mức sống chủ yếu là thấp, hơn nữa họ thường không có một nguồn thu nhập nào khác nếu họ không làm việc. Vì vậy họ dễ chấp nhận bất kì công việc gì và duy trì thời gian không làm việc là ngắn nhất. Tuy nhiên, do khối lượng công việc ít, lại chủ yếu mang tính thời vụ nên tuy không thất nghiệp nhưng thiếu việc làm là rất nhiều. 1.4. ẢNH HƯỞNG CỦA THẤT NGHIỆP TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1.4.1. Hậu quả kinh tế của thất nghiệp Được chia ra làm 3 cấp độ: a/ Đối với quốc gia: - Thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn lực xã hội. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển, hiệu quả sản xuất kém hơn tiềm năng (tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng). Hơn thế nữa, nếu thất nghiệp kéo theo sự gia tăng của lạm phát dẫn đến nền kinh tế bị suy thoái và khả năng phục hồi chậm. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 14 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị Thất nghiệp làm giảm tổng thu nhập GDP của quốc gia, do đó làm - giảm cơ sở đánh thuế dẫn đến nguồn thu thuế của nhà nước giảm. Thất nghiệp làm gia tăng chi phí của nhà nước trong giới hạn gia - tăng của nó. Khối lượng chi phí này được thực hiện nhờ quỹ việc làm. b/ Đối với doanh nghiệp: Thất nghiệp tạo cơ hội cho doanh nghiệp giảm giá sức lao động (đặc biệt khi thất nghiệp kéo dài). Người thuê lao động (đặc biệt là các xí nghiệp nhỏ) kéo dài tuần làm việc hơn so với quy định của pháp luật, kéo dài thời kỳ nghỉ không lương, không trả tiền viện phí cho phụ nữ sinh con nhỏ, người lao động bị ốm đau, không nhận lao động nữ vào làm việc, huỷ bỏ các hợp đồng lao động tuỳ tiện,… Từ đó làm ảnh hưởng rất lớn tới lợi ích của người lao động. c/ Đối với cá nhân người lao động: - Thất nghiệp là sự mất mát nguồn thu nhập đều đặn, thường xuyên. - Đối với người lao động có thu nhập thấp, không có điều kiện để tích luỹ tiền hoặc hiện vật. Khi thất nghiệp xảy cuộc sống của họ sẽ vô cùng khó khăn. Nhiều khi vì cuộc sống mưu sinh bắt buộc họ phải làm việc ở những chỗ ít thú vị, kém uy tín, không phù hợp với trình độ cũng như khả năng. Do đó hiệu suất làm việc thấp, không đảm bảo yêu cầu của công việc đặt ra. 1.4.2. Hậu quả xã hội của thất nghiệp Thất nghiệp không chỉ là vấn đề kinh tế mà nó còn là vấn đề xã hội. Những hậu quả xã hội mà nó gây ra là: - Thất nghiệp làm mất đi thu nhập của gia đình làm tăng khoảng cách về sự phân hoá thu nhập của dân cư. - Thất nghiệp đẩy người lao động vào tâm trạng hoang mang, buồn chán, thất vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng dẫn tới khủng hoảng lòng tin, đồng thời làm giảm sút sức khoẻ của con người. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 15 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị - Không chỉ có vậy thất nghiệp còn dẫn đến tình trạng không hoạt động và có thể đem đến sự suy đồi, phân hoá trong con người như: rượu chè, cờ bạc, nghiện hút ma tuý… mắc phải những hoạt động phi pháp vô đạo đức. Nó chính là một trong những nguyên nhân gây nên những hiện tượng tiêu cực, đẩy người lao động đến bất chấp kỷ cương, luật pháp, đạo lý để tìm kế sinh nhai như: trộm cắp, làm ăn phi pháp, buôn lậu… - Thất nghiệp làm cho các mối quan hệ trong gia đình bị yếu đi. Vì mải lo tìm kế sinh nhai mà những người cha, người mẹ quên mất trách nhiệm của mình đối với gia đình và con cái, dẫn đến không ít sự tan rã của bao gia đình. - Thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị, xã hội bất ổn, hiện tượng bãi công biểu tình có thể xảy ra. Người lao động giảm niềm tin vào chế độ, vào khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền. Tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu đánh giá uy tín của nhà cầm quyền. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 16 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở THÀNH THỊ VIỆT NAM 2.1. Một số đặc trưng cơ bản của dân số thất nghiệp nước ta Năm 2012, cả nước có 925,6 nghìn người thất nghiệp, tăng so với cùng kỳ năm trước là 119,7 nghìn người (11,5%). Trong đó khu vực thành thị chiếm 51,2% và số nữ chiếm 54,7% tổng số người thất nghiệp (Bảng 2.1). Số thất nghiệp thanh niên 15-24 tuổi chiếm 46,7% trong tổng số người thất nghiệp, trong khi đó nhóm dân số từ 15-24 tuổi chỉ chiếm 20,7% tổng dân số từ 15 tuổi trở lên của cả nước. Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu tuổi của người thất nghiệp, năm 2012 Nhóm tuổi Số người thất nghiệp (Nghìn người) Tỷ trọng (%) Tổng số Tổng số 925,6 100,0 15-24 tuổi 432,1 46,7 25-54 tuổi 452,5 48,9 55-59 tuổi 37,0 4,0 60 tuổi trở lên 4,0 0,4 Thành thị 473,7 100,0 15-24 tuổi 180,9 38,2 25-54 tuổi 268,4 56,7 55-59 tuổi 22,7 4,8 60 tuổi trở lên 1,7 0,4 Nông thôn 451,9 100,0 15-24 tuổi 251,1 55,6 25-54 tuổi 184,1 40,7 55-59 tuổi 14,3 3,2 60 tuổi trở lên 2,3 0,5 Dân số thất nghiệp nước ta có trình độ Nam % Nữ Nữ 100,0 100,0 54,7 47,2 46,2 54,2 44,0 52,9 59,2 8,3 0,4 6,0 0,5 0,4 50,7 100,0 100,0 52,7 39,6 36,9 50,9 50,3 62,3 58,0 9,5 0,5 6,0 0,5 0,2 34,2 100,0 100,0 56,8 56,0 55,3 56,5 36,7 43,8 61,1 6,9 0,3 6,0 0,4 0,6 62,6 học vấn tương đối khá, với số chưa đi học chỉ chiếm 2,6% và số có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 29,1% tổng số người thất nghiệp (Bảng 2.2). Trừ bậc dạy nghề, ở các bậc học còn lại, phân bố thất nghiệp chia theo trình độ học vấn giữa nam và nữ chênh lệch không nhiều. Cột cuối cùng chúng ta thấy tỷ trọng lao động nữ thất nghiệp trong tổng số người thất nghiệp theo trình độ học vấn. Ở bậc phổ thông trung học và bậc Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 17 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị dạy nghề, nữ giới thất nghiệp ít hơn nam giới với tỷ trọng tương ứng là 49,0% và 25,9%, ở tất cả các trình độ còn lại nữ giới thất nghiệp nhiều hơn nam giới. Bảng 2.2: Cơ cấu người thất nghiệp chia theo các bậc học cao nhất đã đạt được, năm 2012 % Nữ Tổng số Tỷ trọng (%) Nam Nữ 100,0 2,6 6,3 19,0 24,2 18,9 6,8 6,8 5,4 10,1 100,0 1,5 4,2 17,2 24,5 21,2 11,2 5,6 4,3 10,4 54,6 74,1 70,0 58,9 54,1 49,0 25,9 62,4 64,3 52,9 Bậc học cao nhất đã đạt được Tổng số Chưa đi học Chưa tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp THCS Tốt nghiệp PTTH Dạy nghề Trung cấp chuyên nghiệp Cao đẳng Đại học trở lên 100,0 3,5 8,0 20,4 24,0 16,9 3,2 7,7 6,4 9,7 Bảng 2.3 phản ánh tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động theo vùng (nam từ 15-59 tuổi và nữ từ 15-54 tuổi) chia theo thành thị/nông thôn, giới tính và các vùng kinh tế - xã hội. Đối với nước ta, tỷ lệ thất nghiệp năm 2012 của khu vực thành thị là 3,21%, trong đó của nam (1,67%) thấp hơn của nữ 2,30%). Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn thấp hơn nhiều, chỉ ở mức 1,39%. Bảng 2.3: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động theo vùng, năm 2012 Đơn vị tính: Phần trăm Vùng kinh tế - xã hội Toàn quốc Các vùng kinh tế - xã hội Trung du và miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng (*) Bắc Trung Bộ và DHMT Khu vực cư trú Chung Thành thị Nông thôn 1,96 3,21 1,39 Giới tính Nam Nữ 1,67 2,30 0,75 1,81 2,21 0,78 1,89 2,02 0,72 1,73 2,43 2,25 3,50 3,91 0,46 1,27 1,60 Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 18 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị Tây Nguyên Đông Nam Bộ (*) Đồng bằng sông Cửu Long Hà Nội Thành phố Hồ Chí Minh Nhóm tuổi 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-59 1,47 1,66 2,17 2,10 3,70 1,89 1,75 2,87 3,47 4,00 1,30 1,59 1,94 1,17 2,24 1,05 1,40 1,27 2,02 3,25 1,95 1,95 3,33 2,18 4,24 5,54 5,44 2,53 1,18 0,76 0,69 0,76 1,43 1,92 10,51 8,70 4,08 2,06 1,55 1,21 1,61 2,78 3,79 4,38 4,17 1,72 0,75 0,38 0,43 0,37 0,81 1,08 4,96 4,36 2,06 0,88 0,59 0,52 0,60 1,27 1,92 6,30 6,71 3,03 1,49 0,95 0,87 0,92 1,60 - Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị của các vùng kinh tế - xã hội rất khác nhau, con số này của Đông Nam Bộ là thấp nhất (1,75%) và của thành phố Hồ Chí Minh là cao nhất (4,00%). Thất nghiệp ở khu vực thành thị của nữ cao hơn của nam ở tất cả các vùng, trừ Trung du và miền núi phía Bắc. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị cao nhất ở nhóm tuổi thanh niên, trong đó nhóm tuổi cao nhất là 15-19 (10,51%), tiếp đến là nhóm 20-24 (8,70%). Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm dần ở những nhóm tuổi cao hơn, khoảng 2% hoặc thấp hơn đối với những người từ 30-49 tuổi. Có sự khác biệt về tỷ lệ thất nghiệp thành thị giữa các nhóm trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị cao nhất đối với những người đã tốt nghiệp cao đẳng (5,64%) và thấp nhất đối với những người có trình độ đại học trở lên (2,56%) và trình độ dạy nghề (3,03%). Số liệu và phân tích về tình trạng thất nghiệp giúp đánh giá mức độ thiếu hụt của thị trường lao động. Ở các nước đang phát triển, nơi mà mức độ thất nghiệp và an sinh xã hội thường thấp, chỉ số thiếu việc làm có thể cung cấp hiểu biết sâu hơn. Các chỉ tiêu trong phân tích dưới đây về thất nghiệp và thiếu việc Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 19 Tiểu luận môn: Những vấn đề về quần cư và đô thị làm được tính cho người từ 15 tuổi trở lên, và trong độ tuổi lao động nữ từ 15-54 tuổi và nam từ 15-59 tuổi và thanh niên từ 15-24 tuổi. 2.2. THẤT NGHIỆP CHUNG CỦA LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG Ở KHU VỰC THÀNH THỊ THEO VÙNG KINH TẾ Bảng 2.4. Tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động ở khu vực thành thị thời kì 2005 - 2013 Năm CẢ NƯỚC Đồng bằng sông Hồng Trung du và miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long - 2005 5.31 5.61 2007 4.64 5.74 2009 4.60 4.59 2011 3.60 3.41 2013 3.59 5.13 5.07 3.85 3.90 2.62 2.26 5.20 4.23 5.62 4.95 2.11 4.83 5.54 3.05 4.54 3.96 1.95 4.13 3.81 2.07 3.34 4.87 4.03 4.54 3.37 2.96 Tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm mạnh song tốc độ giảm không đồng đều giữa các năm. Tỷ lệ thất nghiệp giảm đều vào giai đoạn 2005 – 2013 là Đông Nam Bộ giảm từ 5,62% xuống còn 3,34%, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung giảm từ 5,20% xuống còn 3,81%, Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 4,87% xuống 2,96%; Còn giảm không ổn định là Trung du miền núi phía Bắc giảm từ 5,07% xuống 2,26% (thời kì 2007-2011 giảm không liên tục), tương tự Tây Nguyên giảm không đều. - Nhìn chung, thất nghiệp chung của lực lượng lao động ở khu vực thành thị Việt Nam có xu hướng giảm, song tốc độ giảm chậm. Từ năm 2005 đến năm 2013 tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên giảm từ 5,31% xuống 3,59%, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi giảm từ 5,12% xuống còn 3,43%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 0.2%. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật ở trên thì thất nghiệp ở khu vực thành thị vẫn Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở khu vực thành thị Việt Nam 20
- Xem thêm -