Tài liệu Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng ven biển tiền hải, thái bình

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 140 |
  • Lượt tải: 0
quangtran

Đã đăng 3721 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Từ thống kê nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em trên thế giới đã có sự thay đổi rõ rệt, SDD thể nhẹ cân đã giảm nhanh song SDD thể thấp còi vẫn còn cao và thường kèm theo thiếu vi chất. Năm 2011 tỷ lệ SDD thấp còi trên thế giới là 27,5%, trung bình ở các nước châu Á là 26,8%. Tỷ lệ SDD thể thấp còi Việt Nam năm 2012 vẫn còn cao chiếm trên một phần tư trẻ ở dưới 5 tuổi. Nguyên nhân của SDD rất đa dạng và phức tạp, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng lượng protein động vật và vi chất dinh dưỡng khẩu phần mới chỉ đạt khoảng 30% đến 50% nhu cầu của trẻ. Vấn đề môi trường ô nhiễm, các bệnh nhiễm trùng của trẻ, nhận thức của bà mẹ và người nuôi trẻ, phong tục tập quán, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cũng có tác động đáng kể đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ. Việc phòng chống SDD đã được triển khai rộng khắp trên toàn quốc, nghiên cứu bổ sung đa vi chất trong đó có kẽm đã đạt được kết quả tốt. Nghiên cứu cải thiện bữa ăn bổ sung đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng từ nguồn thực phẩm sẵn có ở địa phương là một cách tiếp cận tốt nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Tiền Hải là huyện nuôi nhiều ngao sò có hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao, ngoài các chất đạm, chất béo còn có các vitamin, chất khoáng như canxi, sắt, đặc biệt là kẽm với hàm lượng cao hơn nhiều so với các thực phẩm khác. Với giả thiết nếu sử dụng ngao bổ sung vào khẩu phần của trẻ có thể sẽ làm tăng thêm nhiều vi chất quan trọng và lượng protid đáng kể để phục hồi SDD, nhất là SDD thấp còi. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài "Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình" Mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan ở vùng ven biển Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm 2011. 2. Xác định tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm ở trẻ em thấp còi 25-48 tháng tuổi chọn từ đối tượng điều tra ban đầu. 3. Đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện khẩu phần lên tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em 25-48 tháng tuổi ăn bán trú tại một số trường mầm non huyện Tiền Hải, Thái Bình. 2 3. Những đóng góp mới của luận án - Đã phối hợp một số chỉ số nhân trắc với hóa sinh đánh giá khá toàn diện về thực trạng thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi vùng ven biển Thái Bình. Lần đầu đưa ra được tỷ lệ thấp còi phối hợp đa chỉ tiêu nhân trắc, SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi thể thấp còi chiếm tỷ lệ cao nhất và xác định được tình trạng thiếu máu phối hợp với thiếu kẽm ở trẻ em thấp còi. - Qua phân tích đa biến đã xác định được các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thấp còi hiện nay đã thay đổi khác với dịch tễ học suy dinh dưỡng giai đoạn trước, trong đó các yếu tố kinh tế, học vấn, nghề nghiệp của mẹ hiện nay ít liên quan đến thấp còi mà chủ yếu là các yếu tố điều kiện vệ sinh, đặc điểm bản thân trẻ đã liên quan đến thấp còi. - Đã chứng minh rằng bổ sung ngao vào khẩu phần với 20 gam ngao sống sạch hằng ngày cho trẻ em thấp còi 25-48 tháng ăn tại trường mầm non phối hợp với tư vấn cho bà mẹ cải thiện khẩu phần thực tế của trẻ đã làm tăng nồng độ kẽm huyết thanh, tăng nồng độ IGF1, giảm tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm, làm giảm tỷ lệ mắc mới thấp còi, tăng tỷ lệ thấp còi phục hồi góp phần làm tăng tốc độ phát triển chiều cao, cân nặng của trẻ. 4. Bố cục của luận án Luận án gồm 129 trang, 28 bảng, 10 biểu đồ và 150 tài liệu tham khảo trong đó có 83 tài liệu nước ngoài. Phần đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu 32 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 27 trang, kết quả nghiên cứu 33 trang, bàn luận 32 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang. CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1- Tình hình trẻ em thấp còi trên thế giới và Việt Nam. - Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới: Tổng hợp từ thống kê các quốc gia cho thấy từ năm 1990 đến năm 2010, tỷ lệ trẻ em bị thấp còi trên thế giới đã giảm 39,7% xuống còn 26,7%, giảm bình quân khoảng 0,7%/năm. Tốc độ giảm SDD không song hành với mức tăng trưởng kinh tế. Thấp còi giảm trong 2 thập kỉ qua ở một vài khu vực đã đạt những tiến bộ đáng kể như châu Á. Ở châu Phi tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi. Sau 20 năm, tỷ lệ thấp còi vẫn dao động trong mức 40%. Khoảng 80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở 14 quốc gia trong đó 4 nước là Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp còi cao nhất (hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi). 3 - Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em Việt nam: Những nghiên cứu trong nước cho thấy Việt Nam là một trong 20 quốc gia phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của tình trạng SDD trẻ em. Trong những năm gần đây các thể SDD nặng đã giảm rất nhiều, nhưng tỷ lệ thấp còi vẫn còn rất cao. Tỉnh Thái Bình năm 1991 có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 58,5%, và thấp còi là 59,9% đến năm 2012 tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn 16%, tỷ lệ nhẹ cân ở huyện Tiền Hải là 15,7% 2. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng. - Nguyên nhân do thiếu ăn về số lượng, không đảm bảo chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khẩu phần ăn của trẻ ở nông thôn Việt Nam chỉ đáp ứng khoảng 30- 50% nhu cầu protein động vật và thiếu đa vi chất dinh dưỡng. Người ta ước đoán nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm chiều cao của trẻ. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng của trẻ tăng lên rõ rệt vào những mùa có các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét. Nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra rằng thiếu vitamin A tiền lâm sàng ảnh hưởng đến khoảng 140-250 triệu trẻ em các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tiêu chảy làm cho trẻ mất nước và một số chất dinh dưỡng quan trọng như kẽm và đồng. Các bệnh tật khác như di tật bẩm sinh, tim tiên thiên, các bệnh của các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể cũng làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ và làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng. - Nguyên nhân do thiếu dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của người nuôi trẻ, nước sạch, vệ sinh môi trường. Người ta cũng đã chỉ ra rằng do sự thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh môi trường kém, không có hệ thống nước sạch, dẫn đến bệnh tật phát sinh và không được ngăn chặn đẩy lùi dẫn đến tình trạng SDD của trẻ. Sự khác biệt về tỷ lệ SDD nhất là thể thấp còi tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau đã phản ánh tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ. Mặc dù kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ khá tốt, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa kiến thức và thực hành. - Nguyên nhân do cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thấp kém, tình trạng nghèo đói lạc hậu và mất bình đẳng về kinh tế. Nghiên cứu của các tác giả đã xác nhận rằng cấu trúc chính trị xã hội và cơ sở hạ tầng kinh tế thấp kém là nguyên nhân cơ bản của suy dinh dưỡng. Khủng hoảng kinh tế làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực và khả năng 4 cung cấp các dịch vụ Y tế dinh dưỡng tại các nước đang phát triển càng trở lên khó khăn. Theo số liệu điều tra nhân khẩu và sức khỏe của 11 quốc gia cho thấy hầu hết ở các nước này, nhóm trẻ thuộc tầng lớp nghèo có tỷ lệ thấp còi cao gấp đôi so với nhóm trẻ thuộc lớp giàu. 3. Một số giải pháp can thiệp cải thiện tình trạng thấp còi ở trẻ em. - Truyền thông giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe: Giáo dục kiến thức dinh dưỡng và vệ sinh phòng bệnh trong nhà trẻ mẫu giáo và các bà mẹ cũng đã chứng minh rằng giải pháp này có tác dụng rất lớn đến thực hành về ăn uống và thực hành phòng tránh bệnh tật đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm, do đó có tác dụng phòng tránh các bệnh về dinh dưỡng, nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh do điều kiện sinh hoạt và học tập - Biện pháp can thiệp Y tế tới tình trạng dinh dưỡng trẻ em: Bằng cách khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng, bệnh do thiếu dinh dưỡng, thừa dinh dưỡng người ta thấy rằng cũng đã giúp trẻ em phòng tránh được các biến chứng của bệnh, nâng cao tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và từ đó có tác dụng phòng chống các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh mạn tính khác. - Các nghiên cứu can thiệp cải thiện khẩu phần ăn của trẻ: Biện pháp tốt nhất để cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng qua việc dùng các thực phẩm sẵn có ở địa phương. Người ta cũng đã rất quan tâm đến hải sản đặc biệt là ngao chứa hàm lượng vi chất cao, nhất là kẽm sắt và vitamin B12. Một số tác giả cho thấy rằng việc tăng cường hướng dẫn các kỹ thuật chế biến tại cộng đồng đã giúp cho việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm là một can thiệp đặc hiệu và đã thành công trên nhiều nước. 5 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu - Giai đoạn 1: Điều tra ban đầu trên đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi trong thời gian tháng 7 năm 2011 tại 6 xã thuộc huyện Tiền Hải. - Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp trong 12 tháng (từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 9 năm 2012) trên trẻ em 25-48 tháng. Nhóm đối chứng (ĐC) thực hiện tại 2 xã Đông Minh và Nam Hà và nhóm can thiệp khẩu phần (CT) tại 2 xã Đông Cơ và An Ninh 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1- Thiết kế nghiên cứu: gồm 2 giai đoạn kế tiếp nhau. Giai đoạn 1: nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích qua điều tra cắt ngang 3.042 trẻ dưới 5 tuổi (M0) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua chỉ số nhân trắc và chọn xét nghiệm vi chất dinh dưỡng gồm kẽm, Hemoglobin (Hb) cho 303 trẻ em 25-48 tháng bị suy dinh dưỡng thấp còi qua khám nhân trắc. Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp có đối chứng trong 12 tháng. Nhóm CT: Đã tiến hành đồng thời bổ sung ngao vào bữa ăn tại trường mầm non (40 gam ngao/2 bữa/tuần cho trẻ em bình thường và 120 gam ngao/6 bữa/tuần cho trẻ em thấp còi) kết hợp với truyền thông tư vấn dinh dưỡng, khám sức khỏe định kỳ 3 tháng/lần cho trẻ em Nhóm ĐC: Được áp dụng biện pháp truyền thông tư vấn dinh dưỡng kết hợp với khám sức khỏe định kỳ 3 tháng/lần. Các biến số đánh giá trước can thiệp (M0) và sau 12 tháng (M12) gồm: cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, Hb, IGF1, kẽm, tần suất tiêu thụ thực phẩm trong một tháng, khẩu phần 24h qua, bệnh hiện mắc và tiền sử mắc bệnh trong một tháng trước đó. 2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu + Xác định tỷ lệ thấp còi: đã phối hợp 1 số phương pháp chọn mẫu, chọn ngẫu nhiên 6 xã ven biển của 1 huyện trong số 2 huyện ven biển Thái Bình, rồi khám toàn bộ số trẻ dưới 5 tuổi, cỡ mẫu như sau p (1 - p) (Công thức 1) n = Z2 1 - α/2 e2 Tính cho 5 nhóm tuổi ở 6 xã, chọn mẫu chùm thì số trẻ cần điều tra là 3.080 trẻ. 6 + Xác đinh tỷ lệ thiếu vi chất ở trẻ em 25-48 tháng tuổi bị thấp còi: Sử dụng công thức 1, tính được cỡ mẫu xét nghiệm kẽm và Hb là 303 trẻ. + Nghiên cứu can thiệp: chọn mẫu có mục đích cho nghiên cứu can thiệp, trong đó đã chọn toàn bộ trẻ 25-48 tháng tuổi có ăn tập trung tại trường mầm non ở các xã. Cỡ mẫu cho 1 nhóm CT như sau: [Z n= ( 1−α ) p 0 (1 − p 0 ) + Z (1− β ) p12 (1 − p12 ) ] 2 ( p 0 − p12 )2 (Công thức 2) Tính ra mỗi nhóm cần lựa chọn 342 trẻ vào can thiệp. + Công thức tính cỡ mẫu xét nghiệm trong nghiên cứu can thiệp: 2 n = Z (αα,ββ) 2s2 (µ1 - µ2)2 Công thức 3) Tính ra cỡ mẫu xét nghiệm Hb, kẽm là 112 trẻ và IGF1 là 70 trẻ thấp còi cho mỗi nhóm. 2.2.3. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu: Phân loại trẻ SDD bằng các chỉ số cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều cao theo thang phân loại của WHO 2006. Xét nghiệm Hemoglobin bằng phương pháp cyanmethemoglobin. Định lượng kẽm huyết thanh theo phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử. Định lượng IGF1 (Insulin-Like Growth Factor I) theo phương pháp miễn dịch phát quang (Chemiluminescence Immunoasay). 2.2.4. Xử lý số liệu: Số liệu được phân tích bằng phần mềm Stata 10.0 tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình và Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Sử dụng các phép tính giá trị trung bình, tỷ lệ %, các test thống kê ứng dụng trong nghiên cứu y sinh học để phân tích kết quả. Sử dụng hồi quy logistic trong phân tích đa biến để xác định các yếu tố liên quan, loại trừ các yếu tố nhiễu và ảnh hưởng tương tác. + Tính chỉ số hiệu quả: CSHQ (% ) = A − B A + Tính hiệu quả can thiệp: HQCT = |H1 - H2| 100 7 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan ở vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình Bảng 3.3. Tỷ lệ mắc thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi vùng ven biển Tiền Hải Tháng Nữ Nam p tuổi n SL (%) n SL (%) =<12 258 271 35 (13,6) 61 (22,5) < 0,05 13 – 24 338 72 (21,3) 341 127 (37,2) < 0,05 25 – 36 314 92 (29,3) 348 117 (33,6) > 0,05 37 – 48 287 85 (29,6) 299 91 (30,4) > 0,05 49 – 60 274 58 (21,2) 312 81 (26,0) > 0,05 Chung 1471 342 (23,2) 1571 477 (30,4) < 0,05 Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em nữ đều thấp hơn so với trẻ nam cùng tuổi, tỷ lệ SDD thấp còi tăng cao ngay trong nhóm tuổi từ 13 đến 36 tháng tuổi và giảm dần ở các nhóm tuổi sau. Tuy nhiên, sự khác biệt chỉ gặp ở nhóm dưới 25 tháng tuổi. So sánh giữa 2 giới cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ nữ là 23,2% thấp hơn nam là 30,4% có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 0 -0,2 <=12 tháng -0,25 13-24 tháng 25-36 tháng 37-48 tháng 49-60 tháng Giátrị HAZ-score -0,4 -0,6 -0,8 Nam -0,68 Nữ -0,98 -1 -1,3 -1,2 -1,21 -1,45 -1,4 -1,6 -1,37 -1,43 -1,27 -1,41 Biểu đồ 3.2. Phân bố giá trị của HAZ theo giới của từng nhóm tuổi Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy giá trị trung bình chỉ số HAZ của trẻ ở tất cả các nhóm tuổi đều có chỉ số âm, giá trị thấp nhất gặp ở nhóm tuổi 25-36 và 37-48 tháng. Sự khác biệt về giá trị giữa nam và nữ thể hiện rõ rệt nhất ở nhóm dưới 24 tháng tuổi. 8 40 29.3 Tỷ lệ % 30 31.6 30 18.1 23.7 20 8.7 8.3 10 13.4 11.8 4.7 3.7 5.1 3.6 ≤ 12 tháng 13-24 tháng 25-36 tháng 37-48 tháng 0 13.1 5.3 49-60 tháng Nhóm tuổi Thấp còi Nhẹ cân Gầy còm Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ 3 thể suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi Kết quả biểu đồ 3.4 cho thấy cả 2 thể SDD nhẹ cân và thấp còi đều có xu hướng tăng dần theo tuổi đến nhóm 25-36 tháng rồi bắt đầu giảm dần cho đến 60 tháng tuổi. Tỷ lệ gầy còm không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm tuổi khác nhau. Bảng 3.6. Phân tích đặc điểm mắc thấp còi phối hợp với thể SDD khác Thấp còi đơn thuần Thể SDD phối hợp thấp còi Nhẹ cân Nam (n=477) SL % 301 63,1 123 25,8 Nữ (n=342) SL % 217 63,5 98 28,7 Chung (n=819) SL % 518 63,2 221 27,0 Nhẹ cân + gầy còm 25 5,2 7 2,0 32 3,9 TCBP 28 5,9 20 5,8 48 5,9 Bảng kết quả bảng 3.6 cho thấy không có sự khác biệt giữa trẻ nam và nữ. Trẻ em dưới 5 tuổi ở Tiền Hải mắc thấp còi đơn thuần chiếm cao nhất (63,2%), có 27,0% thấp còi phối hợp với nhẹ cân, thấp còi phối hợp với thừa cân chiếm 5,9%, phối hợp gầy còm là 3,9%. 9 Bảng 3.7. Mô hình hồi quy liên quan một số yếu tố điều kiện gia đình với thấp còi ở trẻ em Biến số 1- Nghề mẹ Cán bộ Công nhân Nông dân Buôn bán, nội trợ 2- Nhà tiêu Hợp vệ sinh Không hợp vệ sinh 3- Nguồn nước Nước máy Giếng khoan Giếng khơi Nguồn khác n % SDD Đa biến OR(95%CI) p 542 286 1912 302 19,6 1 1 26,4 1,5 (1,04-2,1) <0,05 1,3 (0,7-2,2) >0,05 28,0 1,6 (1,2-2,2) <0,05 1,3 (0,8-2,2) >0,05 27,8 1,6 (1,1-2,3) <0,05 1,4 (0,8-2,3) >0,05 2112 930 25,2 1 1 30,7 1,3 (1,1-1,6) <0,01 1,2 (1,0-1,5) 1205 1358 432 47 23,4 1 29,4 1,4 (1,1-1,8) <0,05 30,1 1,3 (1,2-1,6) < 0,05 17,0 0,7 (0,3-1,4) > 0,05 4- Số con trong GĐ 1-2 con 2658 27,2 Trên 2 con Đơn biến OR(95%CI) p 384 25,3 1 <0,05 1 1,3 (1,0-1,7) <0,05 1,4 (1,1-1,6) < 0,05 0,6 (0,3-1,2) > 0,05 1 0,9 (0,7-1,2) > 0,05 0,9 (0,5-1,6) > 0,05 Kết quả bảng 3.7 phân tích 4 nhóm yếu tố liên quan đến điều kiện gia đình trẻ em cho thấy khi phân tích đơn biến thì thấy cả 4 nhóm đều có khác biệt với p < 0,05 nhưng khi phân tích hồi quy đa biến cho thấy rằng chỉ có các yếu tố liên quan đến nguồn nước, hố xí, nghề nghiệp của mẹ là có liên quan đến tỷ lệ thấp còi với p < 0,05. 10 Bảng 3.9. Mô hình hồi quy về liên quan một số yếu tố cá nhân với thấp còi Biến số n % SDD CNSS > 3500g 332 2500g–3500g 2625 <2500g 85 13,8 28,2 38,8 Đơn biến OR(95%CI) Đa biến p OR(95%CI) p 0,4 (0,3-0,6) < 0,01 0,4 (0,3-0,5) 1 1 1,6 (1,1-2,5) < 0,01 1,6 (1,1-2,6) < 0,01 < 0,05 Giới tính Nữ 1474 23,2 1 1 Nam 1571 30,4 1,4 (1,2-1,7) < 0,01 1,5 (1,3-1,7) <0,01 Nhóm tuổi ≤ 12 tháng 529 18,2 1 1 13-24 tháng 679 29,3 1,86 (1,4-2,5) < 0,01 1,8 (1,4-2,4) < 0,01 25-36 tháng 662 31,6 2,1 (1,6-2,7) < 0,01 2,0 (1,5-2,7) < 0,01 37-48 tháng 586 30,3 1,9 (1,5-2,6) < 0,01 1,9 (1,4-2,5) < 0,01 49-60 tháng 139 23,7 1,4 (1,1-1,8) < 0,01 1,3 (0,9-1,7) >0,05 Chế độ ăn Đủ 2438 25,5 1 1 Không đủ 604 32,8 1,4 (1,2-1,7) <0,01 1,4 (1,1-1,7) <0,01 Kết quả bảng 3.9 cho thấy khi phân tích đa biến đều thấy có 5 nhóm yếu tố của cá nhân trẻ em liên quan rõ rệt đến tỷ lệ thấp còi của trẻ em ven biển Tiền Hải (p < 0,05) đó là cân nặng sơ sinh, giới, nhóm tuổi, chế độ ăn của trẻ em. 3.2. Tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm ở trẻ thấp còi 25-48 tháng từ đối tượng điều tra ban đầu. Bảng 3.11. Giá trị trung bình của Hb, Zn ở trẻ em thấp còi Xét nghiệm Hb 25-36 tháng 170 12,1 ± 1,3 133 12,5 ± 1,2 12,3±1,3 Kẽm 170 63,7 ± 14,4* 133 67,3 ± 11,7* 65,3±13,4 n 37-48 tháng Chung n (*: p <0,05) Kết quả bảng 3.11 cho trình bày giá trị trung bình của Hemoglobin, kẽm, IGF1 ở trẻ thấp còi nhóm 25 - 36 tháng và 37-48 tháng, trong đó chỉ có hàm lượng kẽm huyết thanh là có sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi với p<0,05. 11 Bảng 3.12. Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm ở trẻ em thấp còi Chỉ số xét nghiệm Hb (g/dl) Chỉ SDD thấp còi SDD thấp còi + (n=283) gầy còm (n=20) SL % SL % 76 26,8 8 40,0 Chung (n=303) p (test χ2) % 27,7 > 0,05 Kẽm (µg/dl) 199 70,3 15 75,0 70,6 > 0,05 Hb + kẽm 51 18,0 8 40,0 19,5 < 0,05 Bảng 3.12 cho thấy trẻ em thấp còi có 27,7% thiếu máu, 70,6% thiếu kẽm và 19,5% thiếu cả Hb và kẽm. Tỷ lệ thiếu phối hợp cả Hb và kẽm nhóm thấp còi có gầy còm cao hơn rõ rệt so với nhóm trẻ chỉ thấp còi (p < 0,05). 3.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện khẩu phần lên tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 25-48 tháng tuổi tại một số trường mầm non Tiền Hải Thái Bình Bảng 3.18. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên cân nặng và tình trạng SDD nhẹ cân Chỉ số Nhóm ĐC Nhóm CT p (n=421) (n=366) Cân nặng trung bình (Kg, X ± SD) M0 12,4 ±1,6 12,3±1,6 > 0,05 M12 14,0±1,5 14,1±1,5 > 0,05 M12 - M0 1,6±0,47 1,7±0,46 < 0,01 WAZ- score ( X ± SD) M0 -1,0 ±0,85 -1,07 ±0,88 > 0,05 M12 -1,02±0,68 -1,01±0,68 > 0,05 M12 - M0 -0,024 ± 0,33 0,054 ± 0,34 < 0,001 p trước sau > 0,05 < 0,01 Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân CN/T: n (%) Mắc mới 6 (1,43) 3 (0,82) >0,05 Phục hồi 13 (3,1) 16 (4,4) >0,05 44 (10,5) 37 (8,8) 16,2 % 46 (12,6) 33 (9,0) 28,6 % M0 M12 CSHQ (%) HQCT (%) > 0,05 > 0,05 < 0,05 12,4% Kết quả bảng 3.18 cho thấy cả 2 nhóm đều có sự tăng cân qua các thời điểm đánh giá, sự khác biệt giữa M12 - M0 về cân nặng trung bình, chỉ số Z- 12 score và chỉ số hiệu quả can thiệp giữa 2 nhóm đều khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Bảng 3.19. Hiệu quả can thiệp lên theo nhóm tuổi Các chỉ số 25-36 tháng (a) NhómĐC NhómCT (n=240) (n=199) WAZ- score ( X ± SD) M0 -0,96±0,8 -1,0±0,89 M12 -1,01±0,7 -0,95±0,69 M12 – M0 -0,05±0,3 0,055±0,35 p trước sau < 0,05 < 0,05 cân nặng và tình trạng SDD nhẹ cân 37-48 tháng (b) NhómĐC NhómCT (n=181) (n=167) -1,06±0,8 -1,05±0,6 0,005±0,3 > 0,05 p -1,1±0,87 > 0,05 -1,09±0,67 > 0,05 0,053±0,34 p(a)< 0,01 < 0,05 Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân CN/T: n (%) M0 28 (11,7) 23 (11,6) 16 (8,8) 23 (13,8) > 0,05 M12 24 (10,0) 16 (8,0) 13 (7,2) 17 (10,2) > 0,05 CSHQ (%) 14,5 % 31,0% 18,2% 26,1 % < 0,01 HQCT (%) 16,5% 7,9 % < 0,05 Phân tích chi tiết theo từng nhóm tuổi, kết quả bảng 3.19 cho thấy trẻ em nhóm từ 25 – 36 tháng có diễn biến tốt hơn ở cả nhóm CT và ĐC, do vậy mà hiệu quả can thiệp đạt tốt hơn (p < 0,05). Bảng 3.20. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên chiều cao và tình trạng SDD thấp còi Chỉ số Nhóm ĐC (n=421) Nhóm CT (n=366) p Chiều cao trung bình (cm, X ± SD) M0 88,9±5,2 89,2±5,7 >0,05 M12 95,4±5,1 96,1±5,3 < 0,05 M12 - M0 6,5±1,2 6,9±1,1 < 0,05 HAZ- score ( X ± SD) M0 -1,65±0,91 -1,57±0,97 >0,05 M12 -1,63±0,81 -1,47±0,74 < 0,01 M12 - M0 0,02±0,36 0,1±0,37 < 0,01 p trước sau > 0,05 < 0,001 Tỷ lệ thấp còi CC/T (n,%) Mắc mới 21 (4,9) 11 (3,0) <0,05 Phục hồi 31 (7,4) 49 (13,4) <0,05 M0 137 (32,5) 125 (34,2) >0,05 M12 127 (30,2) 87 (23,8) <0,05 CSHQ (%) 7,1% 30,4% < 0,01 HQCT (%) 23,3% 13 Kết quả bảng 3.20 cho thấy ở nhóm CT có tỷ lệ thấp còi mắc mới thấp hơn và tỷ lệ phục hồi cao hơn so với nhóm ĐC. Chỉ số HAZ-score tăng rõ rệt ở nhóm CT so với ĐC. Hiệu quả can thiệp là 23,3%. Bảng 3.21. Hiệu quả can thiệp lên chiều cao và tình trạng SDD thấp còi theo nhóm tuổi Các chỉ số 25-36 tháng (a) 37-48 tháng (b) NhómĐC NhómCT NhómĐC NhómCT (n=240) (n=199) (n=181) (n=167) HAZ- score ( X ± SD) M0 -1,66±0,9 -1,6±0,96 -1,64±0,87 -1,54±0,97 M12 -1,72±0,8 -1,58±0,7 (*) -1,5±0,76 -1,34±0,75 (*) M12 – M0 -0,06±0,4 0,03±0,38 (*) 0,13±0,31 0,19±0,33 (*) p trước sau < 0,05 > 0,05 < 0,01 < 0,01 Tỷ lệ thấp còi CC/T (n,%) M0 82 (34,2) 73 (36,7) 55 (30,4) 52 (31,1) M12 83 (34,6) 54 (27,1) 44 (24,3) 33 (19,7) CSHQ (%) -1,2 26,2 20,1 36,7 HQCT (%) 27,4 16,6 (*) so sánh 2 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Kết quả bảng 3.21 chỉ ra rằng ở cả 2 nhóm tuổi đều thấy chỉ số Z-score trung bình của nhóm CT tăng cao hơn nhóm ĐC một cách rõ rệt (p < 0,05). Tỷ lệ thấp còi ở các nhóm tuổi đều giảm sau can thiệp nhưng hiệu quả can thiệp của nhóm 2536 tháng là 27,4% cao hơn nhóm 37-48 tháng là 16,6%. Bảng 3.24. Hiệu quả can thiệp đối với nồng độ Hb, kẽm huyết thanh và IGF-1 qua các thời điểm can thiệp. Các chỉ số Giai đoạn Nhóm ĐC Nhóm CT p Hb trung bình M0 (g/L) M12 ( X ±SD) M12 -M0 p (trước sau) Kẽm trung M0 bình M12 ( X ±SD) M12 - M0 (mg/dL) p (trước sau) IGF 1 trung M0 bình (ng/ml) M12 ( X ±SD) M12 - M0 p (trước sau) 12,16±1,3 12,41±1,2 0,25 < 0,05 65,6±14,5 73,2±11,2 7,6 < 0,01 106,5±28,6 93,8±31,4 -12,7 < 0,01 12,27±1,3 12,53±1,1 0,26 < 0,05 66,1±12,7 80,7±15,8 14,7 < 0,001 101,5±40,1 125,8±43.7 24,3 < 0,01 > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05 <0,01 < 0,01 > 0,05 < 0,01 <0,01 14 Bảng 3.24 cho thấy, chỉ số Hb trung bình (g/dl) nhóm ĐC và CT trước can thiệp là tương đương nhau, so sánh sau CT thấy nhóm CT tăng có ý nghĩa thống kê. Hàm lượng kẽm huyết thanh ở cả 2 nhóm đều tăng nhưng nhóm CT tăng cao hơn nhóm ĐC. Cũng tương tự như vậy, IGF1 ở nhóm CT cũng tăng cao hơn nhóm ĐC với p < 0,05. So sánh trước sau can thiệp cho thấy nồng độ Hb, Zn đều tăng cao hơn so với trước một cách có ý nghĩa thống kê nhưng nhóm CT tăng cao hơn. Bảng 3.25. Hiệu quả can thiệp giảm tỷ lệ thiếu máu và thiếu kẽm Các chỉ số Thiếu máu (%) (Hb <11g/dl) Giai đoạn M0 M12 Mức giảm thiếu máu (%) Chỉ số hiệu quả (%) Hiệu quả CT % Thiếu kẽm (%) M0 (< 70µg/dl) M 12 Mức giảm thiếu kẽm (%) Chỉ số hiệu quả (%) Hiệu quả CT % Nhóm ĐC (n=117) 29,9 Nhóm CT (n=117) 29,1 p > 0,05 23,1 6,8 22,7 12,8 16,3 56,0 < 0,05 < 0,05 < 0,05 66,7 70,9 > 0,05 43,6 23,1 34,6 28,2 42,7 60,2 < 0,05 < 0,05 < 0,05 33,3 25,6 Kết quả 3.25 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở cả nhóm ĐC và nhóm CT đều đã giảm sau CT, nhưng mức giảm ở nhóm CT (16,3%) cao hơn ở nhóm ĐC (6,8%) và hiệu quả can thiệp là 33,3% (p < 0,05). Tình trạng thiếu kẽm cũng đã giảm sau CT ở cả 2 nhóm ĐC và CT, trong đó mức giảm thiếu kẽm ở nhóm CT (42,7%) cao hơn nhóm ĐC (23,1%) và hiệu quả can thiệp là 25,6%. 15 Bảng 3.28. Hiệu quả can thiệp khẩu phần ăn của trẻ 25-36 tháng 37-48 tháng Hiệu quả can thiệp ĐC CT ĐC CT (%) Năng CSHQ 12,5 21,4 25,8 39,5 lượng HQCT 8,9 13,7 Protid CSHQ 3,8 12,6 25,6 44,9 HQCT 8,7 19,3 Lipid CSHQ 11,9 33,3 37,4 52,3 HQCT 21,4 14,6 Sắt CSHQ 19,8 39,8 27,1 37,9 HQCT 20,0 10,8 Kẽm CSHQ 77,7 108,6 44,7 87,2 HQCT 30,8 42,5 Canxi CSHQ 17,2 42,9 22,0 48,9 HQCT 25,7 26,9 Qua bảng 3.28 cho thấy, chỉ số hiệu quả về năng lượng, hàm lượng protid, lipid, sắt, kẽm, canxin trong khẩu phần của nhóm can thiệp đều cao hơn so với nhóm chứng ở cả nhóm 25-36 và 37-48 tháng tuổi. Vi chất kẽm trong khẩu phần có hiệu quả can thiệp cao nhất là 42,5% ở nhóm 37-48 tháng và 30,8% ở nhóm 25-36 tháng tuổi. Tiếp đó là hiệu quả can thiệp về canxi (25,7% nhóm 25-36 tháng tuổi và 26,9% nhóm 37-48 tháng tuổi). Hiệu quả can thiệp về năng lượng, protid và lipid, sắt dao động trong khoảng từ 10-20%. CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN 4.1. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 60 tháng tuổi vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình. Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân chung của 6 xã ven biển huyện Tiền Hải là 11,1%, thấp hơn so với trung bình của cả nước năm 2012 (16,2%), và của tỉnh Thái Bình là 16%. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn kết quả điều tra tại Nghệ An, Yên Bái. SDD nhẹ cân trẻ em ở trẻ trai (12,5%) cao hơn trẻ gái (9,6%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. SDD thể nhẹ cân tăng dần theo độ tuổi, ở độ tuổi từ 1 đến 16 12 và từ 13 đến 24 tháng tuổi có tỷ lệ thấp 8,3% và 8,7%, từ 25 đến 36 tháng tuổi tỷ lệ tăng rất nhanh (13,4%). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của hầu hết các nghiên cứu từ trước đến nay. Chu Trọng Trang nghiên cứu tại Nghệ An cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân tăng dần từ 4% ở nhóm dưới 6 tháng đến 29,6% ở nhóm 48 đến 60 tháng tuổi. Nguyên nhân là do trẻ từ 1 đến 24 tháng tuổi trẻ được chăm sóc tốt hơn được bú mẹ đảm bảo đủ dinh dưỡng và an toàn cho trẻ nhất là ở dưới 6 tháng tuổi, trẻ trên 24 tháng tuổi bắt đầu đi nhà trẻ và chế độ ăn phụ thuộc hoàn toàn vào thực phẩm bên ngoài trong khi khả năng tiêu hóa của trẻ còn kém và cộng thêm với nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng do tiếp xúc với bên ngoài môi trường nên ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tiêu hóa hấp thu và dẫn đến tỷ lệ SDD tăng cao. Theo phân loại của tổ chức Y tế thế giới thì tỷ lệ SDD thể thấp còi trong nghiên cứu này thuộc mức trung bình (26,9%) và cũng tương đương với bình quân chung toàn quốc là 26,7%. Suy dinh dưỡng thấp còi độ 2 trong nghiên cứu này là 5,4% thấp hơn nhiều so với trung bình chung toàn quốc là 10,5%, thấp hơn cả so với mức trung bình chung của Thái Bình năm 2010 là 10,3%. SDD thấp còi xuất hiện sớm ở độ tuổi 1-12 tháng tuổi là 18,1% cao hơn so với thể SDD nhẹ cân, sau đó tiếp tục tăng nhanh, đến 29,3% ở nhóm 13-24 tháng tuổi, cao nhất ở nhóm 25 -36 tháng tuổi (31,6%) và nhóm 49 đến 60 tháng tuổi có tỷ lệ mắc thấp hơn còn 23,7%. Xu hướng này có lẽ hơi khác biệt so với một số kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây. Hai nghiên cứu của tác giả Chu Trọng Trang và Khúc Thị Tuyết Hường thực hiện tại Nghệ An, nghiên cứu của Lưu Thị Thơ tại Yên Bái cùng với kết quả tổng điều tra toàn quốc đều cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp cao nhất ở nhóm 49 đến 60 tháng tuổi. Trong nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi gặp ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,01. Kết quả này của chúng tôi tương tự như nghiên cứu của Khúc Thị Tuyết Hường tại Nghệ An năm 2011. Đây cũng là một điểm khác biệt so với một số nghiên cứu trước. Tác giả Lê Danh Tuyên nghiên cứu trên 8 vùng sinh thái trong cả nước năm 2002 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng không có sự khác biệt đáng kể nào giữa nam và nữ ở tất cả các vùng sinh thái. Một số nghiên cứu tại Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, Yên Bái... trong thời gian qua cho thấy xu hướng suy dinh dưỡng các thể của nam cao hơn so với nữ nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05. 17 Kết quả tổng điều tra toàn quốc 2009-2010 cũng cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở nam là 31,5% cao hơn so với ở nữ là 27,1%, sự khác biệt cũng không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. SDD thể gầy còm chung của trẻ dưới 5 tuổi là 4,5%, thấp hơn so với tổng điều tra toàn quốc của Viện dinh dưỡng năm 2010 (7,1%). Tỷ lệ SDD thể gầy còm của nam là (5,7%) cũng cao hơn so với nữ (3,1%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, thấp hơn so với tổng điều tra năm 2010 tỷ lệ SDD gầy còm ở nam là 7,3% và ở nữ là 6,9%. Trong tổng số 819 trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi ở vùng ven biển Tiền Hải có 63,2% chỉ SDD thấp còi, 27% phối hợp với thể nhẹ cân, 3,9% phối hợp cả nhẹ cân và gầy còm (cả ba thể) và đặc biệt có 5,9% trẻ thấp còi kết hợp với thừa cân. Do đó khi can thiệp phòng chống SDD thấp còi chúng ta cần chú ý đến việc bù thêm năng lượng trong khẩu phần ăn cho trẻ đồng thời cũng cần phải phòng tránh trẻ không phục hồi được chiều cao mà lại bị thừa cân béo phì và một trong các giải pháp không thể thiếu được là bổ sung thêm vi chất dinh dưỡng cho trẻ nhất là các vi chất giúp cho phát triển tăng trưởng chiều cao của trẻ. Tương ứng với tỷ lệ thấp còi cao thì giá trị trung bình Zscore chiều cao theo tuổi ở tất cả các lứa tuổi đều có giá trị âm và thấp nhất là nhóm 25-48 tháng tuổi và sự khác biệt rõ ràng nhất giữa nam và nữ là ở lứa tuổi dưới 12 tháng. Nghiên cứu này cũng tương tự như phân tích của Trần Thành Đô về xu hướng thay đổi giá trị Zscore ở trẻ em. Suy dinh dưỡng thấp còi hiện nay đang là vấn đề của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Theo số liệu của tổ chức Y tế thế giới năm 2010, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới là 26,7% tương ứng 171 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi trong đó 167 triệu trẻ em là ở các nước đang phát triển. Châu Á là nơi có diễn biến suy dinh dưỡng thấp còi giảm rất nhanh từ 49% năm 1990 còn 28% năm 2010. Trong khi đó châu Phi có mức giảm rất chậm, vẫn dao động trong vòng 40% sau 20 năm. Các nước Mỹ Latin và vùng Caribe cũng có mức giảm 10% trong khoảng thời gian này, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi chỉ còn 14%. Nguồn số liệu thống kê năm 2013 của WHO cũng cho biết một xu hướng tương tự. Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao trên 40% gặp ở một số nước như Ethiopia, India, Madagascar, Malavi, Niger, Mozambique, Somali. Ở khu vực Đông Nam Á, Đông Timor là nước có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi rất cao tới 60% ở nam 18 và 56% ở nữ. Lào cũng có gần 1 nửa số trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thấp còi (48% ở nam và 47% ở nữ). Campuchia có tỷ lệ mắc thấp hơn nhưng cũng ở ngưỡng xấp xỉ 40 % (41% ở nam và 37% ở nữ). Tình trạng SDD thấp còi của trẻ có liên quan rất nhiều đến các yếu tố văn hóa, xã hội, môi trường sống và cả các yếu tố cá nhân của trẻ. So sánh tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi dưới 5 tuổi theo nghề của mẹ kết quả có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ trẻ SDD thấp còi ở trẻ có mẹ là cán bộ gặp thấp nhất. Mức độ liên quan SDD thấp còi tăng dần, từ so sánh tương quan hồi quy đơn biến từ mẹ có nghề công nhân với OR (95% CI) bằng 1,5(1,042,1), nông dân OR (95% CI) bằng 1,6(1,2-2,2), nội trợ buôn bán OR (95% CI) bằng 1,6(1,1-2,3). Môi trường sống là một yếu tố quan trọng tác động đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Một môi trường sống an toàn, vệ sinh giúp trẻ khỏe mạnh, tránh được vòng luẩn quẩn giữa nhiễm trùng và suy dinh dưỡng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ ở gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh có tỷ lệ SDD thấp còi (25,2%) thấp hơn trẻ ở gia đình nhà tiêu không hợp vệ sinh (30,7%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 trong so sánh tương quan hồi quy đơn biến với OR (95% CI) bằng 1,3(1,1-1,6) và với p < 0,05 trong tương quan hồi quy đa biến với OR (95% CI) bằng 1,2(1,041,5). Kết quả nghiên cứu về vấn đề nguồn nước cho thấy gia đình trẻ sử dụng nước máy có tỷ lệ SDD thấp còi thấp nhất (23,4%), tỷ lệ này tăng lên khi gia đình trẻ sử dụng các nguồn nước giếng khoan (29,4%) và giếng khơi (30,1%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Xét mối tương quan hồi quy trong trường hợp gia đình sử dụng giếng khoan trong hồi quy đơn biến với OR (95% CI) bằng 1,4(1,1-1,8), trong hồi quy đa biến với OR (95% CI) bằng 1,3(1,021,7). Xét mối tương quan hồi quy trong trường hợp gia đình sử dụng giếng khơi trong hồi quy đơn biến với OR (95% CI) bằng 1,36(1,2-1,6), trong hồi quy đa biến với OR (95% CI) bằng 1,4(1,1-1,6). Như vậy, có thể thấy môi trường sống có tác động không nhỏ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Vấn đề tuổi mẹ khi sinh cũng ảnh hưởng tới tình trạng SDD của trẻ. Trẻ có tuổi mẹ khi sinh dưới 20 tuổi tỷ lệ SDD thấp còi cao 40,5% so với tuổi bình quân từ 21 đến 40 tuổi 26,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05 và so sánh hồi quy đa biến và đơn biến đều có ý nghĩa liên quan. Như vậy tuổi mẹ khi sinh thấp dưới hặc bằng 20 tuổi có mối liên quan làm tăng tỷ lệ SDD thấp còi, vấn đề này hoàn toàn hợp lý vì mẹ ít tuổi dẫn đến 19 kinh nghiệm nuôi con và điều kiện kinh tế khó khăn. Đa số các bà mẹ này còn phụ thuộc vào gia đình nên chưa thể chủ động trong việc nuôi trẻ, thiếu cả kinh nghiệm chăm sóc, theo dõi đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ khỏe cũng như trẻ bị bệnh. Một số nghiên cứu cho thấy tuổi của mẹ trên 40 . Cân nặng sơ sinh là một trong những yếu tố có liên quan chặt chẽ tới suy dinh dưỡng đã được nhiều nghiên cứu chứng minh. Nhóm trẻ có cân nặng sơ sinh bình thường thì tỷ lệ SDD thấp còi là 28,2%, trẻ có cân nặng sơ sinh cao trên 3500 gam tỷ lệ SDD thấp còi là 13,8%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01, so sánh hồi quy đa biến và đơn biến đều xác định mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh cao giúp giảm tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ. Tuổi và giới tính là 2 yếu tố cá nhân có liên quan khá chặt chẽ tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi dưới 12 tháng tuổi là 18,2% thấp nhất, sau đó tăng dần ở 3 độ tuổi sau 13-24, 25-36; 37-48; 49-60 tháng tuổi và có xu hướng giảm xuống song vẫn cao hơn so với dưới 12 tháng tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 so sánh hồi quy đơn biến cả 4 nhóm tuổi đều có tương quan đến tình trạng SDD thấp còi của trẻ, so sánh hồi quy đa biến ở 3 độ tuổi sau 13-24, 25-36; 37-48 tháng tuổi có sự liên quan giữa nhóm tuổi với tình trạng SDD thấp còi có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. 4.2. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ SDD thấp còi 25 đến 48 tháng tuổi chọn từ đối tượng điều tra ban đầu. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng thấp còi. Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá mức độ thiếu Hemoglobin và thiếu kẽm ở nhóm trẻ 25-48 bị thấp còi. Kết quả cho thấy, giá trị trung bình Hb (g/l) của trẻ SDD thấp còi ở nhóm 25 -36 tháng là 12,1 ± 1,3, ở nhóm 37 48 tháng tuổi là 12,5 ± 1,2g/dL và tỷ lệ thiếu máu chung là 27,7% tương đương với các kết quả năm 2008 tỷ lệ thiếu máu chung của trẻ em toàn quốc là 29%, trong đó nhóm tuổi 24-36 tháng tuổi là 38% ở nhóm và ở nhóm 3648 tháng tuổi 29%. So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà năm 2011 tỷ lệ thiếu máu của trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là từ 39 đến 41% giá trị trung bình của Hb 11,83 ± 1,37 đến 11,8 ± 1,28. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Trung ở trẻ 20 em dưới 1 tuổi ở Quế võ Bắc Ninh năm 2004, giá trị Hb trung bình là 10,86 đến 11,16 và tỷ lệ thiếu máu dao động từ 47,9% đến 57,2%. Nhưng nếu so với tỷ lệ thiếu máu của trẻ em 6 - 36 tháng tuổi ở Quảng Trị (44,3%) thì tỷ lệ thiếu máu trong nghiên cứu này vẫn thấp hơn mặc dù đánh giá tình trạng thiếu vi chất ở trẻ thấp còi. Giá trị trung bình nồng độ kẽm huyết thanh 65,3 ± 13,4 µg/dl và tỷ lệ thiếu kẽm là 70,6%, cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà 2011, tỷ lệ thiếu kẽm dao động từ 36,9 đến 44,7%. Các tác giả Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự đã đánh giá tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ em tại cộng đồng, dao động trong khoảng 25 - 40% tùy theo địa phương và nhóm tuổi nghiên cứu. Hằng số sinh học của người Việt Nam thập kỷ 90 của thế kỷ 20 cho biết nồng độ kẽm ở lứa tuổi 1-36 tháng là 93,07 µg/dL ở nam và 97,18 µg/dL ở nữ. Như vậy, trẻ thấp còi có nồng độ kẽm huyết thanh thấp hơn nhiều so với trẻ bình thường. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả cho thấy, tỷ lệ thiếu máu trẻ SDD thấp còi từ 25 đến 36 tháng tuổi 35,5%, trẻ từ 37 đến 48 tháng tuổi 20,3% có xu hướng giảm dần phù hợp với kết quả đánh giá tình trạng thiếu máu toàn quốc năm 2008, có xu hướng giảm khi tuổi của trẻ tăng lên: 45% ở nhóm 12-24 tháng tuổi, 38% ở nhóm 24-36 tháng tuổi, 29% ở nhóm 36-48 tháng tuổi; 19,7% ở nhóm 48-59 tháng tuổi. Tuy nhiên tỷ lệ thiếu máu tương ứng theo nhóm tuổi thấp hơn năm 2008, đây là kết quả của chương trình phòng chống thiếu máu của trẻ tại địa phương. Tỷ lệ thiếu kẽm trẻ chỉ SDD thấp còi 70,3%, trẻ thấp còi kết hợp với gầy còm là 75%, không có sự khác biệt lớn giữa thể SDD, tuy nhiên tỷ lệ thiếu kẽm cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Lan ở trẻ từ 12 đến 36 tháng tuổi (dao động từ 35,4% đến 43,5%). Trẻ được coi là thiếu kẽm khi nồng độ kẽm huyết thanh < 70 µg/dl hoặc < 10,7 µmol/l. Tuy nhiên theo nhiều nhà nghiên cứu dinh dưỡng trên thế giới hàm lượng kẽm huyết thanh không có giá trị cao trong việc đánh giá tình trạng kẽm. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng kẽm huyết thanh chỉ chiếm 0,1% tổng lượng kẽm trong cơ thể, và hàm lượng kẽm huyết thanh thường duy trì ở mức độ rất thấp như vậy nhưng lại có mức độ giao động rất nhiều tùy theo tình trạng sinh lý và lượng kẽm trong thức ăn. Song nó cũng có tác dụng phản ánh tình trạng cung cấp kẽm qua thức ăn hàng ngày của trẻ trong quá trình nuôi dưỡng và nếu thiếu lâu dài sẽ làm cho cơ thể thiếu kẽm thực sự cung cấp cho quá trình phát triển cơ thể. Nghiên cứu tại khu vực nông thôn
- Xem thêm -