Tài liệu Thực trạng sản xuất và phân bố cây ngô tỉnh sơn la

  • Số trang: 116 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 135 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong cơ cấu các cây lương thực quan trọng trên thế giới, cây ngô đứng ở vị trí thứ thứ 3 sau lúa gạo và lúa mì. Ngô cùng với một số cây lương thực khác đã góp phần to lớn trong việc ổn định an ninh lương thực trên thế giới. Trong thời đại nền kinh tế thị trường được mở rộng cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong nông nghiệp như hiện nay, cây ngô được nghiên cứu và tiếp tục được phát triển không chỉ với vai trò cung cấp lương thực mà còn còn là nguồn hàng hóa quan trọng của mỗi quốc gia. Việt Nam là đất nước có nhiều ưu thế để phát triển loại cây lương thực này. Hiện nay, Việt Nam là một trong 17 quốc gia sản xuất ngô nhiều nhất trên thế giới. Trong đó, Sơn La là tỉnh có diện tích và sản lượng ngô hàng đầu cả nước. Là một tỉnh vùng cao của Tây Bắc, nơi mà phần lớn dân cư là các đồng bào dân tộc ít người điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội còn vô cùng khó khăn, cây ngô không chỉ đơn thuần có vai trò là cung cấp lương thực mà hơn thế nó còn là một sản phẩm hàng hóa góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân Sơn La. Tuy nhiên hiện nay, trong quá trình phát triển cây ngô tỉnh Sơn La cũng còn gặp phải không ít những khó khăn và thách thức như: diện tích lớn nhưng năng suất ngô còn thấp, sự khó khăn trong quá trình vận chuyển trong thu hoạch và tiêu thụ, thị trường của sản phẩm ngô Sơn La chưa được mở rộng, giá cả còn bấp bênh và phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống tư thương, công nghệ chế biến và bảo quản ngô sau thu hoạch còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường,… Trước tình hình trên, để phát triển cây ngô Sơn La tương xứng với tiềm năng của vùng và thực hiện đúng chủ trương của tỉnh đó là: đổi mới đa dạng cơ cấu cây trồng vật nuôi, đầu tư phát triển cơ cấu cây trồng vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao dựa trên những ưu thế riêng về tự nhiên và kinh tế xã hội. Hơn nữa, vấn đề nghiên cứu về tình hình phát triển và phân bố cây ngô tỉnh Sơn La 1 vẫn chưa được chú ý tìm hiểu. Rất nhiều các nhà đầu tư, cán bộ, giáo viên, sinh viên, học sinh trong và ngoài tỉnh quan tâm đến vấn đề này nhưng chưa có những tài liệu cần thiết đề phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và giảng dạy. Vì vậy, xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực trạng sản xuất và phân bố cây ngô tỉnh Sơn La” cho luận văn thạc sĩ của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về tình hình sản xuất và phân bố cây ngô trên thế giới đã có một số tác giả đã đề cập đến mà điển hình là tác giả Aldrich.S.R và nhóm giáo sư của khoa Nông nghiệp thuộc Đại học Ilinois, Hoa Kì trong cuốn Modern corn production xuất bản năm 1965 dài 318 trang với hơn 200 hình ảnh đã đề cập đến những thay đổi phương pháp trồng ngô hiện đại sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với phương pháp trồng ngô truyền thống. Các tác giả cũng đã chỉ ra rằng động lực đầu tiên trong sự tăng năng suất là do sự nghiên cứu sản xuất các giống ngô lai, thêm vào đó là những thành tựu của việc cải tiến trong kỹ thuật sản xuất cây trồng. Tuy nhiên, cuốn sách chỉ phân tích chủ yếu vào phương thức sản xuất ngô của khu vực Châu Mĩ (điển hình là Hoa Kì) và Châu Âu, chưa áp dụng và đề cập nhiều đến các khu vực khác trên thế giới. Principles of Crop production: Theory, Techniques and Technology (tạm dịch: Những nguyên tắc trong sản xuất cây trồng: Lý thuyết, kỹ thuật và công nghệ) của tác giả George Acquaah, năm 2008 công trình này tiếp cận về mặt kỹ thuật và công nghệ gieo trồng các các loại cây trồng chính trong đó có cây ngô. Việt Nam nghiên cứu về cây ngô cũng được các tác giả lưu ý từ lâu, điều đó thể hiện có rất nhiều các công trình nghiên cứu về cây ngô trong đó có một số công trình như: Cây ngô. Cao Đắc Điểm, 1988, Nhà xuất bản Nông nghiệp; Giáo trình Cây Lương thực, tập 2, Đinh Thế Lộc, ĐHNN I, Nhà Xuất bản Nông nghiệp. Các tác giả đã đề cấp đến nguồn gốc, đặc điểm sinh thái, yêu cầu kỹ thuật đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô, tình hình sản xuất ngô trên thế giới. 2 Nguyễn Thế Hùng, 2001, Ngô lai và kỹ thuật thâm canh - Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. Đề cập những phương pháp trồng các loại giống ngô lai năng suất cao phù hợp với từng điều kiện của Việt Nam. Địa lý kinh tế xã hội đại cương, Địa lí nông - lâm - thủy sản, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam GS.TS Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên), trong các công trình này các tác giả cũng đã nêu ra những vấn đề lí luận và thực tiễn của nhóm ngành cây lương thực nói chung và cây ngô nói riêng như: vai trò, đặc điểm sản xuất và phát triển, các vùng trồng ngô chính của Việt Nam. Trong quá trình đào tạo sau đại học của khoa Địa lý - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cây ngô tỉnh Sơn La cũng đã được tác giả Tòng Thị Quỳnh Hương đề cập một cách khái quát trong luận văn thạc sĩ Địa lí nông - lâm - thủy sản tỉnh Sơn La. Tuy nhiên tác giả vẫn chưa đi sâu vào phân tích cũng như đánh giá cụ thể và chi tiết về các nhân tố ảnh hưởng cũng như hiện trạng phát triển, cơ cấu mùa vụ của cây ngô. Trên địa bàn tỉnh Sơn La, đã một số đề tài nghiên cứu về cây ngô của tỉnh Sơn La, các công trình nghiên cứu như: Sản xuất và tiêu thụ ngô Sơn La, Trần Đình Thao, Nguyễn Tuấn Sơn, 2003, Trung tâm sinh thái nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp 1 dài 12 trang. Đề tài nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô tỉnh Sơn La tuy nhiên chưa đưa ra được cơ sở lí luận đầy đủ về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cho sản xuất ngô cũng như chưa phân tích cụ thể tình hình sản xuất theo từng mùa vụ cũng như sự phân bố ngô của tỉnh Sơn La. Mà mới tập trung vào vấn đề sản xuất ngô trên phạm vi toàn tỉnh nói chung, cũng như nghiên cứu sơ lược về thị trường của ngô Sơn La lúc bấy giờ. Bài báo nghiên cứu Phát triển bền vững trên đất dốc trong canh tác ngô nương hàng hóa ở Sơn La của Trần Bình Đà (Trường ĐH Lâm Nghiệp), Phạm Đức Tuấn (Cục Lâm Nghiệp) trong tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 134 năm 2009. Bài báo đã đánh giá khái quát tình hình sản xuất ngô nương 3 hàng hóa Sơn La, trên cơ sở đó xác định những vấn đề bất ổn đối với việc sử dụng, quản lý và phát triển bền vững trên đất dốc. Ngoài ra còn có các đề án, đề tài như: Đề án Định hướng và giải pháp phát triển cây ngô vụ đông của các tỉnh phía Bắc của Bộ NN và PTNT năm 2011. Gần đây có công trình: So sánh một số giống ngô lai mới tại một số vùng trồng ngô chính của tỉnh Sơn La của tác giả Hà Văn Lán, 2012 luận văn thạc sỹ trường Đại học Nông nghiệp I. Song các công trình này vẫn chưa đi sâu vào tìm hiểu thực trạng tình hình sản xuất và phân bố ngô của tỉnh Sơn La. Tuy vậy, các nghiên cứu trên vẫn có những ý nghĩa nhất định đối với phát triển KT - XH của tỉnh và cũng là nguồn tư liệu quý giá cho công tác nghiên cứu tình hình sản xuất và phân bô ngô tỉnh Sơn La trong thời gian tới. 3. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài 3.1. Mục tiêu nghiên cứu Dựa trên cơ sở lí luận về Địa lí kinh tế - xã hội nói chung, Địa lí ngành nông nghiệp nói riêng, đề tài tập trung đánh giá các nguồn lực, phân tích thực trạng tình hình sản xuất và phân bố ngô, từ đó đề ra các giải pháp hợp lí góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất cây ngô của tỉnh Sơn La. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan cơ sở lí luận về tình hình sản xuất và phân bố ngô để vận dụng vào địa bàn tỉnh Sơn La. - Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất và phân bố ngô của tỉnh Sơn La. - Phân tích thực trạng sản xuất ngô của tỉnh Sơn La. Trên cơ sở đó, làm rõ bức tranh phát triển và phân bố ngô của một tỉnh miền núi trong thời kì công nghiệp hóa. - Đề xuất các giải pháp góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất và phân bố ngô Sơn La hợp lý và bền vững. 4 3.3. Giới hạn của đề tài - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất và phân bố ngô tỉnh Sơn La trên các mặt: +) Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và phân bố ngô của tỉnh Sơn La. +) Phân tích thực trạng sản xuất ngô và sự phân hóa lãnh thổ sản xuất ngô, có nghiên cứu đến các vùng chuyên canh ngô của tỉnh Sơn La. - Về phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu lãnh thổ của toàn tỉnh, có sự phân hóa tới cấp huyện. Bao gồm 11 huyện thị: thành phố Sơn La, thị xã Mộc Châu, các huyện: Yên Châu, Mai Sơn, Mường La, Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên, Sông Mã, Sốp Cộp. (huyện Vân Hồ mới tách khỏi huyện Mộc Châu 9/2013) - Về thời gian: Tập trung phân tích các số liệu từ năm 2000 đến 2012. 4. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Quan điểm nghiên cứu 4.1.1. Quan điểm hệ thống và lãnh thổ Đây là quan điểm được thể hiện rộng rãi trong nghiên cứu địa lí, theo quan điểm này, khi nghiên cứu một lãnh thổ nào đó phải đặt nó trong hệ thống các thể tổng hợp tự nhiên và thể tổng hợp KT - XH. Khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong mối tương quan với những vấn đề xung quanh, (các yếu tố trong cấp phân vị cao hơn và thấp hơn nó), ví dụ khi nghiên cứu tình hình sản xuất và phân bố ngô tỉnh Sơn La phải được xác định là một mắt xích, một bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với các phần khác trong nền kinh tế của tỉnh Sơn La đặc biệt là ngành nông nghiệp, của vùng kinh tế Tây Bắc, vùng Trung du miền núi phía Bắc, trong nền kinh tế cả nước. Đồng thời, cũng phải xem Sơn La như 1 hệ thống lãnh thổ kinh tế với nhiều thành phần, không những là sự phát triển kinh tế trên các phương diện 5 ngành, thành phần nông nghiệp mà còn là sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế theo một hệ thống bao gồm các bộ phận khác nhau về chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, thông thương trên địa bàn nhằm tạo điều kiện thu hút sự trao đổi, mở rộng giao lưu phát triển. 4.1.2. Quan điểm tổng hợp Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của khoa học Địa lý. Nội dung của quan điểm này được xem xét dưới 2 góc độ khác nhau: Nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, các yếu tố KT - XH, sự phân bố, quy luật phân bố và biến động của chúng, những mối quan hệ tương tác, chế ngự lẫn nhau giữa các hợp phần của thể tổng hợp Địa lý. Nghiên cứu sự kết hợp, phối hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng bộ và toàn diện các yếu tố hợp phần của thể tổng hợp lãnh thổ kinh tế, phát hiện và xác định các đặc điểm đặc thù của chúng. Vì đối tượng nghiên cứu của đề tài phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc trưng riêng nên việc áp dụng quan điểm tổng hợp cho phép xem xét các yếu tố tác động đến tình hình sản xuất và phân bố ngô trong phạm vi lãnh thổ đề tài nghiên cứu cũng như mối quan hệ chặt chẽ với tình hình sản xuất và phân bố ngô với bộ phận lãnh thổ khác để tìm ra mối quan hệ, từ đó đưa ra những chính sách, chiến lược phát triển hợp lí trên lãnh thổ nghiên cứu. 4.1.3. Quan điểm bền vững Phát triển bền vững vừa được coi là quan điểm vừa được coi là mục tiêu nghiên cứu trong các nghiên cứu Địa lý KT - XH. Đây cũng là mục tiêu của việc phát triển cây ngô Sơn La nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung ở các vùng lãnh thổ đặc biệt khó khăn, nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch về phát triển KT XH giữa các địa phương trong tỉnh, trong vùng và giữa các vùng trong cả nước. Sơn La là tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh chưa được đánh thức và khai thác triệt để cho phát triển KT - XH, đặc biệt là phát triển cây ngô - là cây 6 thế mạnh đặc biệt của tỉnh tuy nhiên trong quá trình sản xuất vẫn tồn tại nhiều những bất hợp lý, cạn kiệt tài nguyên hay ô nhiễm môi trường cũng đã và đang nảy sinh. Vì vậy, cần phải đảm bảo phát triển bền vững trên cả 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. 4.1.4. Quan điểm lịch sử Sơn La là vùng đất có bề dày lịch sử, là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người với bản sắc văn hoá lâu đời. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử với những bước phát triển thăng trầm, đến nay, vùng đất này vẫn giữ được những đặc điểm riêng biệt về tự nhiên, văn hoá và con người. Những đặc thù này là điều kiện cho phát triển KT – XH trên địa bàn. Sử dụng quan điểm lịch sử để nghiên cứu truyền thống sản xuất, đặc trưng văn hóa của các dân tộc để từ đó có thể hoạch định những chiến lược phát triển KT – XH hợp lý trên địa bàn nói chung, giúp cho việc phát triển cây ngô trên địa bàn có hiệu quả và bền vững vừa tận dụng được những ưu thế trong kinh nghiệm gieo trồng của các đồng bào dân tộc nơi đây, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc, xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu, đề tài còn sử dụng một số quan điểm khác như quan điểm kinh tế, quan điểm sinh thái, quan điểm dự báo… 4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.2.1. Phương pháp thu thập phân tích và tổng hợp tài liệu Phương pháp này được sử dụng phổ biến hầu như trong tất cả các nghiên cứu. Việc vận dụng phương pháp này đảm bảo tính kế thừa các nghiên cứu trước đó, sử dụng các thông tin đã được kiểm nghiệm, công nhận và xã hội hoá, tiết kiệm được thời gian và công sức. Việc phân loại, phân nhóm và phân tích dữ liệu sẽ giúp phát hiện nhiều vấn đề trọng tâm và nhiều khía cạnh cần được tiếp cận của vấn đề. Trên cơ sở những tài liệu thu thập được những kết quả phân tích, việc tổng hợp sẽ giúp hệ thống hoá 1 cách toàn diện và khái quát về vấn đề nghiên cứu. Tài liệu cần thu thập gồm các tài liệu trong phòng và tài liệu ngoài thực địa. 7 4.2.2. Phương pháp thực địa Thực địa là phương pháp đặc thù trong nghiên cứu đối tượng địa lý. Việc tiếp cận trực tiếp các đối tượng nghiên cứu cho phép thu thập các thông tin cập nhật, cụ thể và chính xác là các tài liệu thành văn và các bản đồ không có ưu thế bằng. Với phương pháp này, chúng ta có thể chủ động quan sát, điều tra, thu thập, phỏng vấn về những vấn đề mình quan tâm và nghiên cứu. Các kết quả kiểm tra thực địa là cơ sở quan trọng để thẩm định lại tài liệu cũng như một số vấn đề thế giới quan trong quá trình nghiên cứu. 4.2.3. Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin và bản đồ Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, đề tài còn sử dụng một số công cụ hỗ trợ như các phần mềm Mapinfo, SPSS, Microsoft (Word, Excel…) các công cụ này hỗ trợ đắc lực trong việc xử lý các số liệu thông tin để làm cơ sở cho việc đánh giá hiện tượng và xu hướng phát triển của hiện tượng, đồng thời là cơ sở dữ liệu để thành lập hệ thống bản đồ, biểu đồ nhằm góp phần xác định các đặc điểm phân bố, mức độ tập trung của đối tượng nghiên cứu theo không gian và thời gian. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp như: Điều tra xã hội học, phương pháp dự báo, phương pháp thông kê, phương pháp so sánh… 5. Những đóng góp chủ yếu của đề tài - Chọn lọc, kế thừa, đúc kết, bổ sung, cập nhật và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài, cụ thể là về tình hình sản xuất và phân bố ngô tỉnh Sơn La. - Làm rõ được những lợi thế, cơ hội cũng như những khó khăn thách thức của các nhân tố tự nhiên và KT-XH cho sự phát triển sản xuất ngô tỉnh Sơn La. - Đưa ra bức tranh tình hình sản xuất và phân bố ngô của tỉnh Sơn La trong những năm gần đây. 8 - Đề xuất một số giải pháp để phát triển sản xuất ngô tỉnh Sơn La có hiệu quả và bền vững trong tương lai. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận gồm 4 chương: Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Chương II: Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố cây ngô tỉnh Sơn La Chương III: Thực trạng sản xuất và phân bố cây ngô tỉnh Sơn La Chương IV: Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất và phân bố ngô tỉnh Sơn La đến năm 2020 9 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ PHÂN BỐ CÂY NGÔ 1.1. Cơ sở lí luận về cây ngô 1.1.1. Lịch sử phát triển của cây ngô Ngô còn gọi là “bắp”, tên khoa học là Zea_mays. Trong tiếng Anh, “maize” xuất phát từ tiếng Tây Ban Nha (maiz) là thuật ngữ trong tiếng Taino để chỉ loài cây này, là từ thông dụng Vương quốc Anh để chỉ cây ngô. Tại Hoa Kỳ, Canada và Australia, thuật ngữ này được sử dụng là corn, là từ trước đây dùng để chỉ cho một loài cây lương thực, hiện nay thuật ngữ dùng để chỉ cây ngô. Lịch sử nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khảo cổ, di truyền học, thực vật học và địa lý học… quan tâm và đưa ra nhiều giả thuyết. Có giả thuyết cho là nguồn gốc cây ngô có từ khoảng năm 5.500 tới năm 10.000 TCN. Những nghiên cứu về di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần hóa ngô diễn ra vào khoảng năm 7.000 trước Công nguyên tại miền trung Mexico và tổ tiên của nó là loại cỏ Teosinte hoang dại, gần giống nhất với cây ngô hiện nay. Liên quan đến khảo cổ học, người ta cũng đã phát hiện các bắp ngô cổ nhất trong các hang động gần Tehuacan, Puebla, có niên đại vào khoảng 2.750 TCN. Một giả thuyết cho rằng, có lẽ sớm nhất khoảng năm 1.500 TCN, ngô bắt đầu được phổ biến rộng rãi. Ngô là lương thực chính của phần lớn các nền văn hóa tiền Columbus tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và các khu vực Caribe. Với người dân bản xứ tại đây, ngô được suy tôn như bậc thần thánh và có tầm ảnh hưởng quan trọng về mặt tôn giáo, do ảnh hưởng lớn của nó đến đời sống của họ. Việc gieo trồng ngô đã lan rộng từ Mexico tới Tây Nam Hoa Kỳ, sau đó vào Đông Bắc nước này cũng như Đông Nam Canada, làm biến đổi cảnh quan các vùng đất này do thổ dân Châu Mỹ đã dọn sạch nhiều diện tích rừng và đồng cỏ để trồng ngô. Ngô lan truyền sang Châu Âu và phần còn lại của thế giới sau có sự tiếp xúc của người Châu Âu với người Châu Mỹ. Ngô được đưa vào Châu Âu, đầu tiên ở Tây Ban Nha trong chuyến thám hiểm thứ hai của Colombus vào khoảng năm 1494. Người Châu Âu đã nhận biết được giá trị của nó và nhanh chóng phổ biến rộng 10 rãi. Vào những năm đầu của thế kỷ XVI, bằng đường thủy các tàu Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia đã đưa cây ngô ra hầu hết các lục địa của thế giới. Năm 1517, cây ngô xuất hiện ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Đức, sau đó là Nam Châu Âu và Bắc Phi. Năm 1521, Ngô đến với Đông Ấn Độ và quần đảo Indonesia. Vào khoảng 1575 cây ngô đến Trung Quốc. Cây ngô ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Theo truyền thuyết kể rằng Tàu có giống ngọc mễ (ngô) mà nước ta lúc bấy giờ chưa có. Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528, quê ở làng Phùng Xá, tên Nôm là Kẻ Bùng, huyện Thạch Thất, Sơn Tây. Ông được cử đi sứ nhà Minh năm 1597, khi ấy dân ta vẫn gọi là nước Ngô. Trong thời gian đi xứ ông được nước Minh dọn cho ăn món này. Nhận thấy loại hạt quí, ngon và bùi, ông lân la chỗ người Tàu để hỏi về cách gieo trồng giống ngọc mễ. Khi về nước, ông đã dấu và mang theo về nước được 3 hạt ngọc mễ, tự mình gieo trồng và nhân giống. Giống ngọc mễ là do dân đất Ngô trồng nên ông đã đặt tên là ngô cho dân dễ gọi. Mãi sau này, năm 1723 Theo Lê Quý Đôn, trong “Vân Đài loại ngữ” hồi đầu đời Khang Hy (1662 1762), Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong (Sơn Tây, phủ Quảng Oai) sang sứ nhà Thanh lấy được giống ngô đem về nước. Khắp cả Hạt Sơn Tây dùng ngô thay cho gạo. Từ đó, ngô phổ biến rộng và phát triển khắp cả nước. 1.1.2. Vai trò của cây ngô * Có giá trị sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành sản xuất Ngô là một loại cây lương thực có giá trị sử dụng rộng rãi, không những trong nông nghiệp mà còn trong các ngành sản xuất khác: - Hạt ngô dùng làm lương thực cho con người và thức ăn cho chăn nuôi, ngoài ra còn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như lấy tinh bột ngô để làm hồ vải hoặc dùng vào công nghiệp chế biến đường gluco, doxtrox, deptrin, maldons, công nghiệp chế biến thực phẩm. - Bẹ ngô dùng làm thảm hoặc chế biến giấy cuộn thuốc lá. - Thân ngô dùng làm chất đốt hoặc nguyên liệu giấy sợi, thân ngô non dùng làm thức ăn cho bò sữa rất tốt. 11 - Cùi ngô dùng làm chất đốt hoặc để tạo chất dẻo, nylon. - Râu ngô được dụng làm dược liệu. Hiện nay ở nước ta, cây ngô vẫn được dụng chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi, còn các ngành sản xuất khác mới chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, cần mở rộng trong thời gian tới. Do có nhiều công dụng và vị trí quan trọng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, còn các ngành sản xuất khác mới chiếm tỉ trọng nhỏ trong sản xuất nông nghiệp nên ngô được trồng ở nghiệp trên thế giới. * Là một loại cây xóa đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập cho người nông dân Mục đích cơ bản của các chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn là phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống cho người nông dân. Với những nghiên cứu sâu rộng của các cơ quan nghiên cứu, cây ngô đã nằm trong nhóm cây lương thực cần phát triển trong tương lai. Với giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao, cùng với khả năng nâng cao năng suất, cây ngô sẽ nâng cao mức thu nhập cho người nông dân, từ đó đáp ứng được mục tiêu xã hội quan trọng là xóa đói giảm nghèo. * Sử dụng đất đai có hiệu quả, phá thế độc canh cây lúa Với một nền nông nghiệp lúa nước trước kia, cây ngô thường được coi là loại cây lương thực bổ sung. Nhưng hiện nay, với yêu cầu chuyển đổi, đa dạng hóa cây trồng, việc phát triển ngô là phù hợp. Đi đôi với việc tăng năng suất, chất lượng của cây ngô là việc chuyển đổi những vùng đất không thích hợp đối với trồng lúa sang cây trồng có hiệu quả là ngô. * Tiết kiệm được ngoại tệ Cây ngô được phát triển sẽ làm giảm lượng ngô nhập khẩu, tiết kiệm được ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước. Đây là một chỉ tiêu cần thiết trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển, rất cần tiết kiệm nguồn vốn cho đầu tư phát triển các vấn đề cấp thiết khác. 12 Bảng 1.1: Một số thị trƣờng nhập khẩu ngô chủ yếu của Việt Nam năm 2012 Thị trƣờng Lƣợng (tấn) Trị giá (USD) Tổng 1.614.473 500.343.869 Ấn Độ 1.165.398 329.783.385 Achentina 238.885 75.087.298 Thái Lan 12.238 25.903.978 Campuchia 34.743 11.039.500 503 468.842 Hoa Kỳ Nguồn: [1] Từ năm 2012 trở lại đây nhu cầu dùng ngô trong nước cao hơn khả năng cung ứng nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập 1,5 - 2.0 triệu tấn ngô từ các nước khác, theo dự báo với nhu cầu ngày càng tăng như hiện nay thì hết năm 2014 Việt Nam sẽ phải chi khoảng hơn 1 tỉ USD cho nhập khẩu ngô, con số lớn nhất từ trước đến nay. Do vậy, việc tăng sản lượng ngô là việc cần thiết và cấp bách hiện nay, nó phải được nằm trong chiến lược thay thế hàng nhập khẩu ở Việt Nam. * Phát triển cây ngô nhằm phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam Việt Nam là quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất ngô: điều kiện tự nhiên (3/4 diện tích đồi núi, đất đai đa dạng với nhiều loại đất phù hợp với sự phát triển cây ngô, khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng nhiệt và ẩm cao thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của ngô. Hơn nữa, các điều kiện kinh tế - xã hội: dân cư và nguồn lao động dồi dào, nhiều kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ rộng lớn, các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho sản xuất ngô ngày càng hiện đại,...Do vậy, phát triển ngô giúp Việt Nam tận dụng được những ưu thế của mình, nâng cao năng lực sản xuất, phát triển nền kinh tế đất nước. 1.1.3. Đặc điểm kinh tế của cây ngô - Có khả năng nâng cao năng suất và sản lượng. 13 Năng suất ngô ở Việt Nam nhìn chung còn thấp, thấp hơn nhiều so với các nước có ngành nông nghiệp phát triển trên thế giới. Năng suất ngô mới đạt trung bình trên 40tạ/ha trong khi đó các nước: Mỹ, Úc, Pháp đã đạt hơn 80 tạ/ha. Do đó, để có thể tiếp tục phát triển cây ngô, tạo cho nó một chỗ đứng trong nền nông nghiệp, cần thiết phải nâng cao năng suất của cây ngô, mà điều này là có thể đối với Việt Nam. - Là một cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực quốc gia, sản lượng lương thực đứng thứ 2 chỉ sau lúa, ở một số vùng miền núi khó khăn, cây ngô vẫn còn đóng vai trò như nguồn lương thực chính của người dân trong cuộc sống hằng ngày. - Cây ngô dễ trồng, có giới hạn thích nghi sinh thái rộng, có giá trị kinh tế cao. Mặt mạnh này làm cho cây ngô đang dần trở thành một cây trồng phổ biến, được ưa chuộng của mọi người dân trên khắp các vùng miền. Nó tác động mạnh đến tâm lí của mỗi người sản xuất là cây trồng phải đem lại lợi ích nhiều nhất và rủi ro thấp nhất. - Cần lượng vốn đầu tư không nhiều. Cũng như các loại cây lương thực khác, cây ngô không cần vốn đầu tư ban đầu nhiều. Thích hợp với điều kiện KTXH nước ta, đặc biệt với người nông dân. - Cây ngô có hàm lượng dinh dưỡng cao, vừa làm thức ăn, vừa làm nguyên liệu chế biến. Bảng 1.2: Hàm lƣợng dinh dƣỡng của gạo, ngô, khoai, sắn Loại lƣơng thực Hàm lƣợng protein (%) Hàm lƣợng Lipit (%) Hàm lƣợng Gluxit (%) Lƣợng Calo cho 100g Gạo 6.7 2.1 64.0 309.4 Ngô 9.0 5.0 67.0 364.0 Khoai 2.2 0.5 80.0 341.0 Sắn 3.0 0.7 80.3 348.0 Nguồn: [5] Trong các sản phẩm lương thực như: gạo, ngô, khoai, sắn thì ngô là sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng gần như cao nhất, hàm lượng protein và lipit cao hơn nhiều so với các loại lương thực khác, riêng hàm lượng gluxit thấp hơn 14 khoai khô, sắn khô, còn lượng calo cho một đơn vị khối lượng cũng đứng đầu. Ngô là một loại lương thực giàu dinh dưỡng nhưng không hợp nhiều với khẩu vị con người. Do đó, ngô tươi là thức ăn bổ sung cho bữa ăn hàng ngày, còn phần lớn lượng ngô dùng cho sản xuất thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác. 1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố ngô 1.1.4.1. Vị trí địa lí Vị trí địa lí gắn liền với khả năng giao lưu kinh tế, ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế của quốc gia. Vị trí địa lí của lãnh thổ kết hợp với đất liền, biển, với các quốc gia trong khu vực và nằm trong một đới tự nhiên nhất định sẽ có ảnh hưởng tới phương thức sản xuất, tới việc trao đổi và phân công lao động [24]. Ví dụ, vị trí của Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa đã quy định nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới. Các nông sản trao đổi trên thị trường thế giới cũng chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới. Vị trí địa lí của sản xuất ngô tác động trực tiếp đến việc tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm ngô. Do vậy có thể tạo ra lợi thế hay bất lợi thế cạnh tranh cho một quốc gia, một vùng, một địa phương hoặc thậm chí một cơ sở sản xuất kinh doanh nào đó. Vùng sản xuất ngô nếu nằm gần thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như thị trường cung cấp đầu vào, kết hợp với hệ thống giao thông đi lại thuận tiện không những cho phép giảm chi phí vận chuyển, giảm chi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ mà quan trọng hơn là còn cho phép thoả mãn nhu cầu của thị trường về chất lượng và thời điểm cung cấp 1.1.4.2. Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Từ những đặc điểm đặc thù của sản xuất ngô, có thể thấy rằng sự phát triển và phân bố của ngô tùy thuộc nhiều vào các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Sự phân hóa những vùng chuyên canh, tiểu vùng nông nghiệp,... cũng gắn liền với những thay đổi của điều kiện tự nhiên. Tính mùa vụ trong sản xuất, trong sử dụng lao động và các nguồn lực khác, trong việc trao đổi, giao lưu 15 sản phẩm cũng chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Tính bấp bênh, không ổn định của nông nghiệp phần nhiều là do tai biến thiên nhiên và thời tiết khắc nghiệt. Mỗi loại giống ngô chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong một điều kiện tự nhiên nhất định. Các nhân tố tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó nổi lên hàng đầu là đất, nước và khí hậu. a. Đất trồng Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở để tiến hành sản xuất nông nghiệp nói chung và canh tác ngô nói riêng. Không thể có ngành trồng trọt nếu như không có đất đai. Quỹ đất, cơ cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng lớn đến qui mô và phương sản xuất, cơ cấu và sự phân bố các giống ngô chủ yếu, mức độ thâm canh và năng suất cây trồng. Đất không chỉ là môi trường sống, mà còn là nơi cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng (các chất khoáng trong đất như: N, P, K, Ca, Mg,... và các nguyên tố vi lượng). Đồng thời chất lượng đất tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng, đến năng suất và chất lượng ngô thu hoạch. Do vậy yếu tố đất trồng cũng có thể mang lại lợi thế cạnh tranh nhất định cho người sản xuất kinh doanh đặc biệt là khi nó góp phần tạo ra hương vị, tính chất ngô khác biệt so với sản phẩm cùng loại khác. Ngô là loại cây được đánh giá là thích hợp với nhiều loại đất. Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan. Trước hết nông nghiệp khác cơ bản với ngành khác ở chỗ tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai, không có ngành nào đất đai đóng vai trò chủ đạo như trong nông nghiệp. Ngô là loại cây trồng có khả năng mọc trên nhiều loại đất khác nhau (nếu có đủ ẩm). Để có năng suất cao thì ngô thường trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình, có độ thấm nước và kết cấu tơi xốp, có chế độ giữ nước tốt, giàu dinh dưỡng, độ PH từ 6 -7. Trên thực tế, ngô thích hợp với đất đỏ bazan. Ngoài ra ngô cũng có thể trồng năng suất cao ở vùng đất phù sa cổ, đất đỏ vàng, đất bạc màu nếu có chế độ thâm canh tốt. 16 Những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu trên thế giới đều là những vùng nông nghiệp và vùng sản xuất ngô nổi tiếng trên thế giới: Hoa Kỳ, Braxin, Achentina,... Tài nguyên đất nông nghiệp rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên của toàn thế giới. Ở Việt Nam tương ứng là 28,5% với 9,3 triệu ha. Xu hướng bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm do sự gia tăng dân số, sói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng. Vì vậy, trong nông nghiệp nói chung và trong ngành trồng ngô nói riêng, con người phải khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên quí giá này. b. Địa hình Địa hình là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngô. Địa hình với các đặc điểm cơ bản về độ cao so với mặt nước biển, độ dốc, độ chia cắt sẽ có ảnh hưởng đến việc quy hoạch, bố trí vùng trồng ngô và ảnh hưởng đến khả năng mở rộng diện tích vùng trồng...[24]. Hơn nữa, canh tác ngô trên những điều kiện đất có độ dốc lớn sẽ ảnh hưởng đến điều kiện canh tác, bởi vấn đề thủy lợi sẽ không được phát triển so với những khu vực có độ dốc nhỏ, công tác xây dựng và hoạt động các công trình thủy lợi cũng khó khăn, hạn chế phạm vi hoạt động. Mặt khác, địa hình có độ dốc lớn là một trong những nguyên nhân gây nên các hiện tượng xói mòn, trượt lở, thoái hóa đất,... Đặc biệt trong điều kiện mưa mùa như Việt Nam, vấn đề canh tác ngô lại càng khiến việc xói mòn đất diễn ra nhanh chóng (nhất là trong thời kỳ đầu, cây ngô chưa đủ lớn để tạo nên lớp phủ bề mặt cho đất). c. Khí hậu Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió và cả những bất thường của thời tiết như: bão, lũ, hạn hán, gió nóng,...có ảnh hưởng rất lớn đến sự xuất hiện, tồn tại, sinh trưởng và phát triển của cây ngô. Tính mùa của khí hậu quy định tính mùa trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. 17 Là loại cây lương thực ngắn ngày, có thể trồng theo nhiều mùa vụ khác nhau (đông - xuân, xuân - hè, vụ thu). Một vụ gieo trồng cho đến khi thu hoạch của ngô kéo dài trong khoảng 4 tháng. Là cây ưa nóng, phát triển tốt trên đất ẩm, nhiều mùn, dễ thoát nước với điều kiện nhiệt độ trung bình từ 20 - 300C, tổng nhiệt cần 2.000 - 2.2.000C, lượng mưa từ 400 - 500mm/năm. Ngô là cây dễ tính, dễ thích nghi với các dao động của khí hậu. Đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa là nhiều nắng, lượng mưa nhiều, độ ẩm trung bình cao, là điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loại thực vật; là điều kiện tốt để tiến hành xen canh, gối vụ, quay vòng ruộng đất, thâm canh tăng năng suất ngô. Mỗi loại giống ngô lại thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất định. Vượt quá ngưỡng cho phép chúng sẽ chậm phát triển, thậm chí bị chết. Vì vậy, cần phải quan tâm đến yếu tố này trong việc lựa chọn quy hoạch vùng trồng, lựa chọn các giống phù hợp để đem lại hiệu quả sản xuất cao nhất. Những vùng dồi dào về nhiệt, ẩm, lượng mưa, thời gian chiếu sáng, cường độ bức xạ có thể cho phép trồng nhiều vụ trong năm, có khả năng xen canh gối vụ. d. Nguồn nước Muốn duy trì các hoạt động sản xuất trồng trọt cần phải có đầy đủ nguồn nước cho cây trồng. Nước ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây trồng. Những nơi có nguồn cung cấp nước dồi dào, thường xuyên là những vùng nông nghiệp trù phú. Ngược lại, những vùng khan hiếm nguồn nước thường rất khó khăn cho ngành sản xuất nông nghiệp. Để khắc phục tình trạng thiếu nước vào mùa khô và thừa nước vào mùa mưa người ta đã xây dựng những công trình thủy lợi, hồ chứa,... để phục vụ tưới tiêu một cách chủ động. Sự suy giảm nguồn nước ngọt là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn tại của ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng. Vì vậy, chúng ta cần phải sử dụng hợp lí, tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước. e. Sinh vật Sinh vật trong tự nhiên là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi. Sự đa dạng về sinh vật, đặc biệt về thảm thực vật là tiền đề hình 18 thành các giống cây trồng, vật nuôi và tạo khả năng chuyển đổi ngành nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái. Trên thế giới, sản lượng lương thực (lúa, ngô, khoai,...) và các cây công nghiệp quan trọng khác tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới bởi vì tại đây có tới 6/10 trung tâm phát sinh giống cây trồng. Bên cạnh đó, với một quốc gia có điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại sâu bệnh, dịch hại. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, sản lượng và chất lượng ngô. 1.1.4.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội a. Thị trường tiêu thụ - Thị trường đầu ra là nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá nói chung và sản xuất kinh doanh ngô nói riêng. Thông qua thị trường, giá trị hàng hoá được thể hiện thông qua giá cả. Ngô là thực phẩm đáp ứng nhu cầu cho con người và các hoạt động sản xuất của người dân vì vậy nếu nhu cầu của con người ngày một tăng thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Nhưng nhu cầu của con người phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giá cả, chất lượng... của sản phẩm. Nếu như giá ngô quá cao thì người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng các thực phẩm khác có giá trị dinh dưỡng tương đương. Hoặc ngày nay khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu sản phẩm chất lượng cao ngày càng tăng đòi hỏi sản phẩm của ngô ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng trực tiếp cũng như phục vụ sản xuất. - Thị trường yếu tố đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến mặt cung sản phẩm ngô và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngô. Thị trường các yếu tố đầu vào như lao động, vốn, vật tư (giống, phân bón, hoá chất, dịch vụ...) càng phát triển và hoạt động có hiệu quả thì không những có thể đáp ứng tốt nhu cầu đầu vào của sản xuất ngô về mặt số lượng, chất lượng, chủng loại, thời điểm mà còn 19 cả phương diện giá cả, góp phần nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. b. Dân cư và nguồn lao động - Dân cư và lao động có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất ngô dưới 2 góc độ: là lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ nông sản. + Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo chiều rộng (mở rộng diện tích, khai hoang) và chiều sâu (thâm canh, tăng vụ,...). Những cây trồng đòi hỏi nhiều công chăm sóc thường được phân bố ở những khu đông dân cư, nhiều lao động và ngược lại. Hơn nữa, sản xuất ngô nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung là hoạt động cần nhiều lao động. Ở các nước đang phát triển, nông nghiệp tập trung nhiều lao động hơn hẳn so với các ngành khác, trung bình thường chiếm 60 - 80% lao động (ở Việt Nam tỷ lệ này là 75%). Đối với cây ngô ở nước ta, việc gieo trồng và thu hoạch vẫn sử dụng sức lao động của con người là chủ yếu, máy móc còn rất ít và chủ yếu trong khâu làm đất. Với đặc điểm này, việc phát triển ngô sẽ góp phần giải quyết một phần số lao động thất nghiệp ở nông thôn. Nguồn lao động không chỉ xem xét về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng như trình độ học vấn, tỉ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp, tình trạng thể lực của người lao động,...Nếu nguồn lao động đông, tăng nhanh, trình độ học vấn hay tay nghề thấp, thiếu việc làm sẽ trở thành gánh nặng cho nông nghiệp (trong đó có sản xuất ngô) nói riêng và cả ngành kinh tế nói chung. + Dưới góc độ là người tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống, tập quán ăn uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực thực phẩm. Ở Việt Nam, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, nhu cầu lương thực để phát triển ngành chăn nuôi cũng rất lớn đã tạo tiền đề cho ngành sản xuất ngô phát triển. Tuy nhiên, hiện nay nguồn ngô trên thực tế vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước. 20
- Xem thêm -