Tài liệu Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc thiểu số tại hà giang (nghiên cứu trường hợp tại xã lùng tám, huyện quản bạ và xã bạch đích, huyện yên minh, tỉnh hà giang)

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1094 |
  • Lượt tải: 20
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn khoa xã hội học  Hoàng Thị Tây Ninh Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc thiểu số tại Hà giang (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) Luận văn thạc sỹ xã hội học Hà Nội - 2008 1 Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn khoa xã hội học  Hoàng Thị Tây Ninh Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc thiểu số tại Hà giang (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) Chuyên ngành: Xã hội học Mã số: 60 31 30 Luận văn thạc sỹ xã hội học Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Quý Hà Nội - 2008 2 Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn «Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Hà Giang » (Nghiên cứu trường hợp xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang), tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình từ phía Vụ Gia đình, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam (nay thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu, tôi xin trân trọng cảm ơn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Thị Quý - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy ở Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã cho tôi những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian tôi học tập tại đây. Nhân dịp này, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả vì những tình cảm vô cùng tốt đẹp đó. Hà Nội, ngày 1/11/2008 Học viên Hoàng Thị Tây Ninh 3 MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn 3 Mục lục 4 Bảng các chữ cái viết tắt 6 Phần mở đầu 7 1. Lý do chọn đề tài 7 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 11 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 15 5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 15 6. Phương pháp nghiên cứu 16 7. Điểm mới của luận văn 18 Phần nội dung 19 Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 19 1.1. Phương pháp luận Mác xít 19 1.2. Một số lý thuyết và quan điểm của các nhà xã hội học trong 20 nghiên cứu về gia đình. 1.3. Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về 25 hôn nhân – gia đình. 1.4. Hệ thống khái niệm công cụ 28 Chương II: Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng các dân tộc thiểu 36 số tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang 2.1. Một số nét khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã 36 hội của địa bàn nghiên cứu 2.2. Một số đặc điểm nhân khẩu học của nhóm khách thể nghiên cứu 4 41 2.3. Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc thiểu số ở Hà Giang 47 2.3.1. Tỷ lệ tảo hôn tại địa bàn nghiên cứu. 47 2.3.2. Thực trạng đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục 50 của những người kết hôn sớm 2.4. Nhận thức, thái độ của người dân đối với hiện tượng kết hôn 58 sớm. 2.5. Vấn đề bình đẳng giới trong tảo hôn Chương III: Các nguyên nhân và hậu quả của tình trạng kết hôn sớm ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại xã Lùng Tám và xã Bạch Đích, tỉnh Hà Giang 3.1. Các nguyên nhân dẫn đến của tình trạng kết hôn sớm tại địa bàn 60 64 64 nghiên cứu. 3.1.1. Nguyên nhân về gia đình 64 3.1.2. Nguyên nhân về văn hóa 69 3.1.3. Nguyên nhân về nhận thức 71 3.1.4. Nguyên nhân về quản lý 75 3.2. Một số hậu quả của tình trạng kết hôn sớm tại địa bàn nghiên 78 cứu. 3.2.1. ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất và chăm sóc sức khoẻ 78 3.2.2. ảnh hưởng đến cơ hội học tập, phát triển cá nhân 80 3.2.3. ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển kinh tế gia đình 81 Kết luận và khuyến nghị 84 tài liệu tham khảo 88 Phụ lục 91 5 Bảng các chữ cái viết tắt CTQG Chính trị quốc gia DS Dân số GĐ Gia đình KH&CN Khoa học và Công nghệ KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình KHXH Khoa học xã hội NXB Nhà xuất bản PTCS Phổ thông cơ sở PTTH Phổ thông trung học PVS Phỏng vấn sâu TC, CĐ Trung cấp, cao đẳng TCTK Tổng cục Thống kê TE Trẻ em TLN Thảo luận nhóm UBND Uỷ ban nhân dân UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc 6 Phần Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài: Gia đình là tế bào của xã hội, là một thiết chế xã hội đặc thù có vị trí và vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, bảo vệ và chuyển giao các giá trị văn hoá của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dưới tác động của các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội, cấu trúc và chức năng của gia đình thường có những biến đổi phù hợp, do vậy, việc củng cố và phát triển thiết chế gia đình được coi là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự bền vững của xã hội. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, gia đình Việt Nam đang dần chuyển hóa và chịu ảnh hưởng của một số đặc điểm gia đình thuộc nền văn minh công nghiệp. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, giao lưu văn hoá đang làm biến đổi cấu trúc, chức năng gia đình ở Việt Nam. Những xung đột giá trị trong quá trình chuyển đổi này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên sự xáo trộn của gia đình. Nếu lãng quên các giá trị truyền thống sẽ dẫn đến sự "đứt đoạn văn hóa gia đình” hoặc gia đình không có “gốc”, không có nền tảng bền vững, còn nếu từ chối những giá trị hiện đại, gia đình sẽ trở nên trì trệ, bảo thủ. Trong xã hội sản xuất nông nghiệp truyền thống, gia đình là một trong những thiết chế quan trọng nhất của xã hội. Vì vậy, việc "dựng vợ gả chồng", ổn định cuộc sống gia đình cho con cái được coi là một trách nhiệm quan trọng của các bậc làm cha mẹ. Ngay từ khi con còn nhỏ, cha mẹ thường để ý, "đánh tiếng" trước với những đối tượng kết hôn họ thấy là phù hợp và sắp xếp sớm lập gia đình cho con. Việc kết hôn sớm khi chưa đến tuổi trưởng thành hay còn gọi là tảo hôn là một hiện tượng phổ biến trong các xã hội trước đây, nó gắn với chế độ gia trưởng. Đây là do nhu cầu kén người phụ nữ về làm 7 việc đồng áng và việc nhà, đồng thời, sớm sinh đẻ cho gia đình những đứa con “nối dõi”. Tuy nhiên, cho đến nay hiện tượng kết hôn sớm vẫn tồn tại ở một số nhóm cộng đồng trong xã hội, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Mặc dù khoản 1 điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã có quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn “đối với nam là từ 20 tuổi trở lên, đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên”, tuy nhiên, theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 của Tổng cục Thống kê cho thấy: cả nước có 112.773 nam nữ thứ 13 – 17 tuổi kết hôn, chiếm 1,3% dân số ở độ tuổi này. Việc tảo hôn xảy ra ở tất các các khu vực, từ nông thôn, thành thị hay miền núi, với các đối tượng khác nhau; song nhiều nhất vẫn là khu vực nông thôn – miền núi, đặc biệt miền núi chiếm 87,44%; vùng chiếm tỷ lệ cao nhất là Tây Bắc (3,86%), tiếp đó là Tây Nguyên (2,08%) và Đông Bắc (2,06%). [29, tr.23-37] Điều đáng lưu ý là thời gian gần đây, nhóm 13-14 tuổi có xu hướng kết hôn nhiều hơn trước, năm 1997 - 1998 nhóm tuổi này chưa có trường hợp nào kết hôn thì năm 2002 có 0,1% số trẻ em ở độ tuổi 13-14 đã có vợ/chồng. Tỷ lệ tảo hôn cao tập trung tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và tại một số địa phương có trình độ dân trí thấp, còn tồn tại các phong tục tập quán lạc hậu. 15/61 tỉnh, thành phố có trên 1% trẻ em ở độ tuổi từ 14-16 tuổi đã có vợ/ chồng. Các tỉnh có tỷ lệ trẻ em tảo hôn cao là Hà Giang (5,72%); Cao Bằng (5,1%); Lào Cai (2,7%); Sơn La (2,6%); Quảng Trị (2,4%). [23] Kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình 2005 cho thấy: trong phạm vi cả nước, tỷ lệ đã từng kết hôn của nam 15-19 tuổi là dưới 2% và nữ ở nhóm tuổi này là gần 7%. Tỷ lệ kết hôn trong nhóm tuổi 15 – 19 thấp nhất tại đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ 8 và Đông Nam Bộ (dưới 1%) còn Tây Bắc chiếm tỷ lệ cao nhất (9%). [22, tr.23-29] Để thực sự trở thành tổ ấm của mỗi người, gia đình cần được xây dựng trên một nền tảng vững chắc cả về vật chất và tinh thần, sức khoẻ và tâm sinh lý của mỗi thành viên. Việc lập gia đình khi người con trai và người con gái vừa bước qua tuổi thiếu niên, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tâm lý, chưa có khả năng tự lập về kinh tế, chưa có đủ nhận thức về hôn nhân, gia đình, ít kinh nghiệm sống.... sẽ trực tiếp gây ra những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình sau này, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của bản thân, hạnh phúc lứa đôi, sự phát triển của gia đình và tương lai con cái. Kết hôn sớm cũng đồng nghĩa với việc các em sẽ trở thành các ông bố, bà mẹ “trẻ con”. Làm mẹ khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ là nguyên nhân dẫn đến đẻ non, đẻ nhẹ cân; trẻ sinh ra dễ mắc các bệnh và thường không khỏe mạnh. Ngoài ra, những bà mẹ vị thành niên có nguy cơ tử vong trong thời kỳ thai nghén cao gấp đôi so với những bà mẹ trên 20 tuổi [40]. ở độ tuổi này, hầu hết các em chưa thể tự lập, không có việc làm mà thường vẫn phải dựa vào bố mẹ, trông chờ vào sự giúp đỡ từ phía cha mẹ, gia đình, thiếu chủ động về kinh tế. Quan trọng hơn, việc các em lập gia đình quá sớm có ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập, phấn đấu vươn lên; nhiều em sau khi lập gia đình thường ngại đi học vì sợ bạn bè trêu chọc nên thường bỏ học. Các em gái khi đã có chồng thường phải gánh vác công việc gia đình quá sức và sinh con nên việc học tập trở thành điều không tưởng. Có con khi còn quá trẻ, điều kiện kinh tế khó khăn, không có việc làm, thu nhập, không có trình độ học vấn ... sẽ đẩy các cặp vợ chồng vào vòng luẩn quẩn lạc hậu - thất học - nhiều con – ốm đau - không có việc làm - đói nghèo. Điều này không những ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các cặp vợ 9 chồng trẻ, gây ra mâu thuẫn gia đình, bạo lực gia đình, mà còn có những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, từ trước đến nay, Hà Giang luôn được xếp là một trong những tỉnh khó khăn nhất của cả nước. Một trong những nguyên nhân chính là do địa bàn của tỉnh phức tạo, dân cư phần lớn sống ở các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xã nên gặp nhiều khó khăn trong đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Là một tỉnh đa dân tộc (với 22 dõn tộc cựng chung sống), mỗi dõn tộc ở đây lại cú phong tục tập quỏn, nghi lễ khỏc nhau. Nhỡn chung, nghi lễ cưới hỏi của cỏc dõn tộc ở vựng sõu, vựng xa ở Hà Giang cũn nhiều hủ tục rườm rà như xem tuổi, thách cưới, tảo hụn, tỷ lệ đăng ký kết hôn thấp... Việc dựng vợ gả chồng nhiều khi chưa thực sự do đôi trai gái tự chọn, vẫn cũn hiện tượng do bố mẹ, gia đỡnh quyết định. Có thể nói, do điều kiện phát triển kinh tế khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, người dân còn chịu nhiều ảnh hưởng của phong tục tập quán nên Hà Giang là tỉnh có tỷ lệ kết hôn sớm trước tuổi quy định còn tương đối cao. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các chính sách về dân số, gia đình của Nhà nước, đồng thời, ảnh hưởng đến sự phát triển của bản thân những ông bố, bà mẹ trẻ và các con của họ. Đây là một trong những yếu tố kìm hãm sự phát triển của địa phương cả về kinh tế, xã hội và mặt bằng văn hoá chung, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của gia đình. Năm 2005, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em, thực hiện đề tài khảo sát thực trạng tảo hôn ở khu vực miền núi phía Bắc. Bản thân tác giả luận văn là người tham gia trực tiếp trong tất cả các bước thực hiện đề tài. Kế thừa kết quả nghiên cứu “Khảo sát thực trạng tảo hôn khu vực miền núi phía Bắc”, trong luận văn này, tôi tập trung vào vấn đề: "Thực trạng kết hôn sớm 10 ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Hà Giang" (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) với mong muốn làm rõ thực trạng kết hôn sớm trước tuổi quy định, nguyên nhân của hiện tượng này, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục, tiến tới giảm mạnh tỷ lệ kết hôn sớm ở địa bàn nghiên cứu và các địa phương khác. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Nghiên cứu về gia đình nói chung, về gia đình các dân tộc thiểu số, các phong tục tập quán, giá trị, chuẩn mực, định hướng giá trị nói riêng đã và đang là mảng đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Một số hiện tượng xã hội lệch chuẩn như bạo lực gia đình, kết hôn sớm… cũng được nhiều tác giả đề cập trong một số công trình nghiên cứu, trên một số phương tiện thông tin đại chúng. Nhận thức được những hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng tảo hôn đối với việc thực hiện quyền của trẻ em gái, phụ nữ và trẻ em, ngày 8/10/2003, trong Báo cáo thường niên, Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đó tuyờn bố rằng: “Kết hụn sớm, cú thai ngoài ý muốn và HIV/AIDS ở độ tuổi vị thành niên trên thế giới đang là mối đe dọa cho sự phát triển và chúng ta cần phải chiến đấu chống lại giống như cuộc chiến chống nghèo đói”.[40] Có thể khẳng định rằng: xã hội càng văn minh thì số lượng người kết hôn sớm càng giảm. Trên thế giới, tại các nước công nghiệp phát triển, người ta thường thấy một xu hướng tương đối phổ biến là tuổi kết hôn lần đầu muộn hơn so với các thế hệ trước; rất hiếm các trường hợp kết hôn sớm trước tuổi quy định. Trong khi đó, ở các nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp vẫn còn tồn tại hiện tựợng tảo hôn. Theo báo cáo mới đây của UNICEF, 74% bé gái vùng Amhara bị ép lấy chồng trước 15 11 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân quá nghèo khổ, họ muốn gả con để họ và con khỏi bị chết đói. Người dân ở đây cho tảo hôn là một hiện tượng bình thường vì đây là một tục lệ tồn tại đã lâu trong lịch sử, họ sợ bị mang tiếng xấu nếu không tìm được chỗ gửi gắm con gái trước tuổi thành niên, sợ con họ sẽ phải sống độc thân suốt đời và không được cộng đồng thừa nhận; và một nguyên nhân nữa là vấn đề trinh tiết, họ sợ không bảo vệ được đứa trẻ, nếu đứa trẻ bị hãm hiếp thì khổ cho cả gia đình [35]. ở Việt Nam, vấn đề kết hôn sớm trước tuổi quy định cũng được đăng tải trên nhiều báo, tạp chí, internet… “Nạn tảo hôn và hôn nhân không đăng ký trước pháp luật vẫn diễn ra phổ biến ở các xã vùng sâu, vùng xa thuộc tỉnh Lâm Đồng. Theo Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em huyện Bảo Lâm, toàn huyện có 14 xã thì xã nào cũng có tình trạng tảo hôn, xã vùng sâu có tỷ lệ cao hơn” [36]. “ở P.Lỏm (Tương Dương, Nghệ An), người Mông vẫn còn duy trì nạn tảo hôn. Con gái 13, 14 tuổi đã phải lấy chồng, rồi sinh 5, 6 đứa con, làm quận quật cả ngày. Nếu lúc nhỏ không được đến trường thì suốt đời không nói được tiếng Kinh, chứ nói chi đến biết đọc, biết viết” [38]. “ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, hiện tượng tảo hôn xảy ra rất nhiều. Điều đáng nói là những đám cưới “non” ấy được tổ chức rất công khai… Nguyên nhân là do nhận thức của người dân còn kém, do sự bồng bột của tuổi trẻ và do sự buông lỏng của chính quyền địa phương…” [32]. Nhìn chung, tình hình tảo hôn tương đối phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả khảo sát của Sở Tư pháp tỉnh Sơn La năm 2006 cho thấy: toàn tỉnh có 47.665 trường hợp các cặp vợ chồng sống với nhau mà không đăng ký kết hôn, 101.036 trường hợp trẻ chưa được khai sinh. Trong năm 2005 và 6 tháng đầu năm 2006, tại 10 huyện miền núi của tỉnh Sơn La đã có 500 trường hợp vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình [35]. 12 Tuy nhiên, không phải ở nơi miền núi xã xôi mà liền kề ngay với thành phố Hồ Chí Minh phát triển và sôi động vẫn còn có hiện tượng tảo hôn. “Một cán bộ Hội phụ nữ xã Tân Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh cho biết: chỉ riêng ấp Bến Đò 1 và 2 của xã, tính sơ sơ đã có 5 trường hợp chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn tổ chức cưới hỏi... Có những đứa trẻ 2, 3 tuổi rồi mà vẫn không làm giấy khai sinh được vì cha mẹ chưa đăng ký kết hôn. Không biết đợi đến tuổi vào lớp 1 thì cha mẹ của chúng có còn sống chung với nhau nữa không?” [32] Nhìn chung, các tin tức, bài viết về vấn đề hôn nhân gia đình, đặc biệt là vấn đề tảo hôn xuất hiện tương đối nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề hôn nhân và gia đình trong cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc mới chỉ được một số nhà nghiên cứu quan tâm. Năm 2003, Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em thuộc Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm hôn nhân và gia đình các dân tộc H'Mông và Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng". Công trình nghiên cứu này đã đi sâu phân tích, phản ảnh rõ nét những đặc điểm cũng như thực trạng hôn nhân và gia đình của hai dân tộc Hmông và Dao đồng thời đã đưa ra được những khuyến nghị cụ thể giúp cho việc hoạch định chính sách về dân số và gia đình. Trong nghiên cứu này, thông qua việc tập trung đánh giá những vấn đề về hôn nhân và gia đình, như người quyết định hôn nhân, tiêu chí lựa chọn trong hôn nhân, tuổi kết hôn lần đầu... nhóm tác giả cũng đã đề cập đến hiện tượng tảo hôn, việc đăng ký kết hôn, các nghi lễ trong hôn nhân và một số đặc điểm về gia đình của hai dân tộc Hmông và Dao ở hai địa phương trên. [12] Tác giả Đỗ Thuý Bình - Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (nay là Viện Gia đình và Giới) trong đề tài" Hôn nhân và gia đình các 13 dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" (1994) đã mô tả tương đối chi tiết thực trạng hôn nhân và gia đình ở đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam; phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là phong tục tập quán đối với vấn đề hôn nhân và gia đình trong cộng đồng các dân tộc; ngoài ra, nghiên cứu cũng đề cập ít nhiều đến hiện tượng tảo hôn.[1] Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung của hôn nhân và gia đình, chưa tập trung đánh giá một cách toàn diện thực trạng và các nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng kết hôn sớm trước tuổi quy định - một hiện tượng tuy không phổ biến nhưng còn tồn tại trong không ít các nhóm cộng đồng dân cư, có ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc cuộc sống gia đình và những vấn đề liên quan như sức khoẻ sinh sản, mức sinh, chất lượng sống... Việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tỷ lệ tảo hôn cũng chưa được quan tâm một cách thích đáng. Do vậy, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu "Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Hà Giang" (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) với hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào các nghiên cứu về vấn đề hôn nhân và gia đình nói chung, làm phong phú thêm phần nào các mảng nghiên cứu về vấn đề gia đình hiện nay. 14 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3.1. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố tác động đến hiện tượng kết hôn sớm trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Hà Giang qua nghiên cứu trường hợp tại hai xã Bạch Đích và Lùng Tám, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ kết hôn sớm để tăng cường chất lượng sống của các gia đình trẻ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở địa bàn nghiên cứu. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận nghiên cứu vấn đề kết hôn sớm trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. - Phân tích thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố tác động đến tình trạng kết hôn sớm trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở địa bàn nghiên cứu. - Phân tích tình trạng bất bình đẳng giới trong tảo hôn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ kết hôn sớm để tăng cường chất lượng sống của các gia đình trẻ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Hà Giang và các vùng khác có hoàn cảnh tương tự. 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu: 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Hà Giang. 4.2. Khách thể nghiên cứu: - Các đối tượng kết hôn sớm - Cha mẹ có con kết hôn sớm - Đối tượng nam nữ 13-18 tuổi chưa lập gia đình - Phụ nữ và nam giới đã có gia đình 15 - Cán bộ chính quyền, đoàn thể địa phương (Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, cán bộ tư pháp, cán bộ chuyên trách dân số…). 4.3. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. 5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết: 5.1. Giả thuyết nghiên cứu: - Tình trạng kết hôn sớm vẫn tồn tại khá phổ biến và được chấp nhận trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. - Các nguyên nhân của hiện tượng kết hôn sớm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ phong tục tập quán, điều kiện kinh tế và nhận thức của người dân. - Các chính sách, pháp luật về vấn đề hôn nhân và gia đình chưa được triển khai thực hiện hiệu quả ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa 5.2. Khung lý thuyết: 16 Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội Chính sách dân số, pháp luật về hôn nhân và gia đình Gia đình (điều kiện kinh tế, thu nhập...) Cá nhân (Các đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, sức khoẻ, nghề nghiệp, việc làm…) Phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình Tình trạng kết hôn sớm trước tuổi quy định Hệ quả của tình trạng kết hôn sớm với cá nhân, gia đình và xã hội 6. Phương pháp nghiên cứu: 6.1. Phương pháp luận: - Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề hôn nhân và gia đình (có tính đến yếu tố thời gian - trong nhóm này, trong giai đoạn này...). - Vận dụng một số lý thuyết và tư tưởng của một số nhà xã hội học trong nghiên cứu về hôn nhân và gia đình. Ví dụ như các lý thuyết: 17 + Lý thuyết về giới + Lý thuyết cấu trúc - chức năng + Lý thuyết hành vi lựa chọn hợp lý 6.2. Phương pháp nghiên cứu: a. Phương pháp định lượng: Thông tin và số liệu định lượng sử dụng trong luận văn dựa trên việc phân tích số liệu thứ cấp của cuộc điều tra “Khảo sát thực trạng tảo hôn khu vực miền núi phía Bắc” do Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện năm 2005. Khảo sát được tiến hành với việc phỏng vấn bằng bảng hỏi 400 đối tượng là nam nữ đã có gia đình và 100 nam nữ thanh niên trong độ tuổi từ 1318 chưa lập gia đình tại địa bàn nghiên cứu. Tác giả luận văn là người tham gia trực tiếp cuộc khảo sát này ở tất cả các bước thiết kế bảng hỏi, thu thập thông tin, phân tích số liệu, viết báo cáo. Các thông tin sử dụng trong luận văn được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 11.5 và chương trình hỗ trợ Epi6. b. Phương pháp định tính: Một số phương pháp định tính được sử dụng trong đề tài này là phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Các thông tin định tính được tiến hành phân tích và đưa ra các đánh giá định tính kết hợp với đánh giá định lượng trong báo cáo kết quả. * Phỏng vấn sâu: thực hiện 12 phỏng vấn sâu đối với các đối tượng sau: + 02 lãnh đạo chính quyền xã, 02 cán bộ đoàn thể xã. + 02 nam và 02 nữ thanh niên kết hôn sớm; + 02 cha và 02 mẹ có con kết hôn sớm. * Thảo luận nhóm: thực hiện 06 thảo luận nhóm (mỗi nhóm 6- 8 người) 18 + 02 nhóm phụ nữ đã có gia đình; + 02 nhóm nam giới đã có gia đình + 01 nhóm nam và 01 nhóm nữ 13-18 tuổi chưa lập gia đình - Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu: Đề tài sử dụng phương pháp thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm các công trình thực nghiệm, các báo cáo nghiên cứu, số liệu thống kê, sách báo, Internet… để có được cái nhìn toàn diện cũng như có cơ sở để so sánh, đối chiếu với những thông tin, số liệu mà đề tài thu thập được. 7. Điểm mới của luận văn Đề tài nghiên cứu "Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Hà Giang" (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố tác động đến hiện tượng kết hôn sớm tại một địa bàn cụ thể mang tính đại diện cho một số địa phương có hoàn cảnh tương tự. Các giải pháp được đề xuất sẽ góp một phần vào việc thay đổi nhận thức của các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và người dân nhằm giảm thiểu tình trạng kết hôn sớm tại địa bàn nghiên cứu và một số địa phương khác. 19 PHầN NộI DUNG Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.1. Phương pháp luận Mác xít Luận văn được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các nguyên tắc phương pháp luận của xã hội học. - Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan: nghiên cứu bản thân sự vật hiện tượng như chúng đang tồn tại trong thực tế, không phán đoán chủ quan, các kết luận phải được phản ánh từ thực tế. Khi xem xét các sự vật hiện tượng, để có hiểu biết đúng đắn về sự vật, hiện tượng phải hướng tới cái bản chất, không hướng tới cái ngẫu nhiên, không ổn định. - Nghiên cứu trong sự phát triển: mỗi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển; đều tồn tại trong một không gian và thời gian xác định. Khi nghiên cứu cần nhìn nhận sự vật hiện tượng như nó tồn tại trong một giai đoạn cụ thể trong cả quá trình vận động, phát triển; chú ý đúng mức đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực khách quan và chủ quan. Nó giúp ta thấy được sự vận động, phát triển của các sự vật cũng như lý giải được quá trình vận động và phát triển của các sự vật đó. - Nguyên tắc nghiên cứu sự vật hiện tượng trong một chỉnh thể toàn vẹn. Khi xem xét các sự vật hiện tượng, phải nhìn nhận trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật hiện tượng đó. Đồng thời, phải xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ qua lại với 20
- Xem thêm -