Tài liệu Thực trạng công tác thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố múng cái - tỉnh quảng ninh

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 548 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Thực trạng công tác thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái - tỉnh Quảng Ninh
1 Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Điều 1 - Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam ghi rõ: “Mụi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiờn nhiờn”. Qua định nghĩa trên ta thấy được môi trường có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường là việc được toàn cầu quan tâm và là vấn đề cấp bách. Ngày nay, việc phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số đã làm chất lượng môi trường bị đe dọa nghiêm trọng, đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp bảo vệ môi trường cụ thể và kịp thời. Bảo vệ môi trường không chỉ là việc của các cơ quan chức năng mà là trách nhiệm của toàn thể cộng đồng. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta và gìn giữ cho sự phát triển bền vững của các thế hệ tương lai. Một trong những vấn đề nan giải nhất của Việt Nam hiện nay là công tác quản lý rác thải. Dân số tăng nhanh, tập trung phần lớn tại các đô thị dẫn đến việc đô thị hóa tăng mạnh, nhu cầu của người dân được cải thiện cũng đồng nghĩa với lượng rác thải ngày càng tăng và thay đổi liên tục. Trong quá trình sinh hoạt, một khối lượng chất thải khổng lồ chưa qua xử lý hoặc xử lý thô sơ được con người ném vào môi trường gây ô nhiễm. Vì vậy, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội luôn đi đôi với việc quan tâm tới vấn đề rác thải, góp phần cải thiện môi trường sống trong sạch, lành mạnh. Cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước, thành phố Múng Cỏi cũng đang phát triển mãnh mẽ, sự chuyển mình đó tạo nhiều công ăn việc làm, đời sống người dân được nâng cao. Nhưng bên cạnh mặt tích cực đó xuất hiện nhiều vấn đề đáng quan tâm như: Nước thải chưa qua xử lý, khói bụi, rác thải nói chung… Trong đó, phải kể đến là lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều nếu không có biện pháp thu gom, xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sức khỏe cộng đồng, làm mất cảnh quan văn hóa đô thị và nông thôn. 2 Nhờ hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, thành phố Múng Cỏi trong những năm gần đây đó cú cỏc chính sách, biện pháp bảo vệ và giải quyết các vấn đề môi trường như: tuyên truyền giáo dục, thu gom, xử lý và áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất sạch hơn. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên cùng với sự hướng dẫn của cô giáo Đặng Thị Hồng Phương - giảng viên khoa Tài nguyên & Môi trường, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng công tác thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái - tỉnh Quảng Ninh”. 1.2. Mục đích của đề tài Đề tài nhằm đánh giá thực trạng rác thải và công tác quản lý chất thải sinh hoạt của thành phố Múng Cỏi, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng. 1.3. Yêu cầu của đề tài - Tìm hiểu được thực trạng rác thải và quản lý chất thải. - Đưa ra được những nhận xét về các vấn đề trên. - Số liệu thu thập phải khả quan, chính xác, trung thực - Giải pháp đề xuất phải khả thi 1.4. Ý nghĩa của đề tài * í nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Nâng cao nhận thức, kỹ năng, khả năng thu thập và xử lý thông tin. Củng cố thêm kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. * í nghĩa trong thực tiễn: Đánh giá được toàn diện các vấn đề về công tác quản lý, thu gom rác thải sinh hoạt, từ đó đề xuất một số hướng xử lý, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho thành phố Múng Cỏi. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1.1. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. 2.1.2. Cơ sở lí luận 2.1.2.1. Khái niệm về chất thải Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hang, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải kim loại, hóa chất và các loại vật liệu khác.[5] 2.1.2.2. Khái niệm về chất thải rắn Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa .[6] 4 2.1.2.3. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng.[13] Ví dụ như: Thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, gạch ngói, đất đá, gỗ, kim loại, cao su, chất dẻo, các loại cành cây, lá cây, vải, giấy, rơm rạ, vỏ trai, vỏ ốc, xương động vật… 2.1.2.4. Khái niệm về quản lý chất thải rắn Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.[13] Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về CTR đô thị có vai trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến CTR liên quan đến vấn đề về quản lý hành chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật.[13] 2.1.2.5. Thu gom chất thải rắn Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.[13] 2.1.2.6. Lưu giữ chất thải rắn Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.[13] 2.1.2.7. Vận chuyển chất thải rắn Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chon lấp cuối cùng.[13] 5 2.1.2.8. Sự hình thành, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt * Sự hình thành Nguyên vật liệu Chất thải Chế biến Thu hồi và tái chế Chất thải Chế biến lần 2 Tiêu thụ Thải bỏ Hình 2.1: Sự hình thành chất thải rắn Ghi chú: Nguyên vật liệu, sản phẩm, và các thành phần thu hồi và tái sử dụng Chất thải Chất thải rắn sinh hoạt sinh ra từ hoạt động hàng ngày của con người. Rác sinh hoạt thải ra ở mọi nơi mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trường học, các cơ quan nhà nước… Cuộc cách mạng về công nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích cho con người như nâng cao mức sống, công tác phục vụ ngày càng tốt hơn, nhưng đồng thời cũng sinh ra một lượng chất thải rắn khá lớn. Những năm đầu của thập kỷ 80, chất thải rắn công nghiệp đặc biệt là chất thải độc hại đã trở thành vấn đề môi trường đang được quan tâm hàng đầu. Cho đến những năm 1990, khi các thông tin khoa học đang trình bày các vấn đề có thể xảy ra thì chất thải rắn đã liên tục gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và nhiều nước đã phải đầu tư không nhỏ để giải quyết vấn đề này bằng các chương trình môi trường đặc biệt . 6 * Phân loại chất thải rắn Các loại chất thải rắn thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách [6] - Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ… - Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da , giẻ vụn, cao su, chất dẻo… - Theo bản chất nguồn tạo thành: Chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp… - Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau: + Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả… + Chất thải trực tiếp của người và động vật là phân. + Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư. + Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than , củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than. + Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gúi… - Theo mức độ nguy hại phân ra thành Chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại. * Thành phần chất thải rắn Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Chất thải rắn nói chung là một khối hỗn hợp không đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần của chất thải rắn đô thị bao gồm mọi thứ chất liệu từ nhiều nguồn gốc khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố…). Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau: [6] - Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27 - 62,22%) - Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ… - Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg ). 7 2.1.2.9. Tác hại của rác thải * Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường - Môi trường đất Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom sẽ lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất. Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa. - Môi trường nước Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa các chất thải này sẽ theo dòng nước chảy và hòa lẫn trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rỏc thỡ cú nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước kém, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực. Ở cỏc bói chụn lấp rác thải chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận. Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt. - Môi trường không khí Các trạm hoặc bãi trung chuyển rác xen kẽ với khu vực dân cư là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xỳc rỏc, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác. Tại cỏc bói chụn lấp chất thải rắn thì mùi hôi thối, mựi khớ metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí. * Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lờn cỏc thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn. Tại các bãi rác, nếu không áp dụng theo đúng các quy định về kỹ thuật chôn lấp và xử lý thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh. Chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ 8 gõy cỏc bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh. Rác thải còn tồn đọng tại các khu vực và bãi rác không hợp vệ sinh là nguyên nhân làm phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bói chụn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 %.[6] * Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiờn… gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm. Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ. 2.1.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài 2.1.3.1. Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới Mức đô thị hoá cao thì lượng chất thải tăng lên theo đầu người, ví dụ cụ thể một số quốc gia hiện nay như sau: Canda là 1,7kg/người/ngày; Australia là 1,6kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3kg/người/ngày; Trung Quốc là 1,3kg/người/ngày. Với sự gia tăng của rỏc thỡ việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải là điều mà mọi quốc gia cần quan tâm. Ngày nay, trên thế giới có nhiều cách xử lý rác thải như: công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin. Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người. Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày. Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển có thể lên đến 50 % ngân sách hàng năm. Cơ sở hạ tầng tiêu huỷ an toàn rác thải 9 thường rất thiếu thốn. Khoảng 30% - 60% rác thải đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom.[1] Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải rắn mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc và mức sống, văn minh dân cư ở mỗi khu vực. Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB,2004), tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8 kg/người/ngày, Singapo, Hồng Kụng là 0,8-10 kg/người/ngày[1] Bảng 2.1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước Dân số đô thị hiện nay LPSCTRĐT hiện nay (% tổng số) (kg/người/ngày) Nước thu nhập thấp 15,92 0,40 Nepal 13,7 0,50 Bangladesh 18,3 0,49 Việt Nam 20,8 0,55 Ấn Độ 26,8 0,46 Nước thu nhập trung bình 40,8 0,79 Indonesia 35,4 0,76 Philippines 54,0 0,52 Thái Lan 20,0 1,10 Malaysia 53,7 0,81 Nước có thu nhập cao 86,3 1,39 Hàn Quốc 81,3 1,59 Singapose 100 1,10 Nhật Bản 77,6 1,47 (Nguồn: Bộ môn sức khoẻ môi trường, 2006) [9] Tên nước Trên thế giới, các nước phát triển đó cú những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả cụ thể: California: nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau. Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/thỏng. Nếu có những phát sinh khác như: khối lượng rác gia tăng hay các xe chở rác phải 10 phục vụ tận sâu trong các toà nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/thỏng. Phớ thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh. Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn. Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác.[21] Nhật Bản: các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thuỷ tinh, rác kim loại. Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh. Các loại rác còn lại: giấy, vải, thuỷ tinh, kim loại,... đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hoá. Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để. Sau quá trình xử lý đú, rỏc chỉ còn như một loại cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm. Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉ hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa.[12] Mỹ: hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu tấn. Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2 kg rỏc/ngày. Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dể lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cựng cỏc vật liệu có nguồn gốc vô cơ. Trong thành phần rác thải sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ các loại kim loại cũng khá cao là 7,7%. Như vậy trong rác thải sinh hoạt Mỹ các loại có thể qua phân loại, xử lý để tái sinh sử dụng chiếm tỷ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thuỷ tinh, gốm, sứ) chiếm khoảng hơn 20%.[4] Hiện nay có rất nhiều các phương pháp khác nhau để xử lý rác thải. Tỷ lệ rác thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng sau: 11 Bảng 2.2: Tỷ lệ CTR xử lí bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước ĐVT: % STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Nước Canađa Đan Mạch Phần Lan Pháp Đức Ý Thụy Điển Thụy Sĩ Mỹ Tái chế Chế biến phân vi sinh Chôn lấp 10 2 80 19 4 29 15 0 83 3 1 54 16 2 46 3 3 74 16 34 47 22 2 17 15 2 67 (Nguồn: Đỗ Thị Lan và cs, 2007)[3]. Đốt 8 48 2 42 36 20 3 59 16 2.1.3.2. Hiện trạng quản lý rác thải tại Việt Nam Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình quân đạt trên 7%/năm. Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Đến cuối năm 2005, dân số Việt Nam là 83.119.900 người. Từ năm 2000 - 2005, dân số Việt Nam tăng 5,48 triệu người, trong đó tỉ lệ dân số thành thị tăng từ 24,18% năm 2000 - 26,97% năm 2005, tương ứng tỉ lệ dân số nông thôn giảm từ 75,82% xuống 73,93%. Dự báo đến năm 2010, dân số thành thị lên tới 30,4 triệu người, chiếm 33% dân số và đến năm 2020 là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước. Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ. Tính đến tháng 6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thành phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V (thị trấn và thị tứ). Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát 12 triển không bền vững. Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp.[10] Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)... Các đô thị khu vực Tõy Nguyờn có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%). Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị. Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày. Nhìn chung, lượng chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: sự phát triển của nền kinh tế và dân số. Theo thống kê mức chất thải rắn ở các nước đang phát triển trung bình là 0,3 kg/ người/ ngày. Tại các đô thị ở nước ta, trung bình mỗi ngày mỗi người thải ra khoảng 0,5 kg - 0,8 kg rác. Khối lượng rác tăng theo sự gia tăng của dân số. Rác tồn đọng trong khu tập thể, trong phố xá phụ thuộc vào yếu tố như: địa hình, thời tiết, hoạt động của người thu gom… Rất khó xác định thành phần CTR đô thị, vì trước khi tập trung đến bãi rác đã được thu gom sơ bộ. Tuy thành phần CTR ở các đô thị là khác nhau nhưng đều có chung 2 đặc điểm.[2] 13 - Thành phần rác thải hữu cơ khú phõn huỷ, thực phẩm hư hỏng, lá cây, cỏ trung bình chiếm khoảng 30 - 60 %, đây là điều kiện tốt để chôn, ủ hay chế biến CTR thành phân hữu cơ. - Thành phần đất, cát, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác trung bình chiếm khoảng 20 - 40%. Bên cạnh đó, thành phần và khối lượng CTR thay đổi theo các yếu tố sau đây: điều kiện kinh tế - xã hội, thời tiết trong năm, thói quen và thái độ của xã hội, quản lý và chế biến trong sản xuất, chính sách của nhà nước về chất thải [2]. Theo báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng từ 0,9 kg lên 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 kg lên 0,65 kg/người ngày tại các đô thị nhỏ. Dự báo, tổng lượng chất thải rắn phát sinh có thể tăng lên đến 25 triệu tấn vào năm 2010, 35 triệu tấn vào năm 2015, 45 triệu tấn vào năm 2020. Trong khớ đú, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở cỏc vựng đô thị trung bình đạt khoảng 70%, ở cỏc vựng nông thôn nhỏ đạt dưới 20%. Và phương thức xử lý rác thải chủ yếu là chôn lấp. Cả nước có 91 bói chụn lấp rác thải thỡ cú đến 70 bói chụn lấp không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, không hợp vệ sinh. Ngành công nghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đúng mức. Một số địa phương đã và đang thực hiện những dự án 3R, điển hình là Dự án 3R Hà Nội, song nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu định hướng. Nếu phân loại tại nguồn tốt, chất thải rắn sinh hoạt có thể tái chế khoảng 60 - 65%. Chất thải hữu cơ cao trong rác thải sinh hoạt có tiềm năng lớn trong việc chế biến phân compost. Với lĩnh vực công nghiệp, một số ngành công nghiệp có khả năng tái sử dụng, tái chế tới 80% lượng chất thải. Thậm chí, các công nghệ mới như Seraphin, Tâm Sinh Nghĩa, Công ty thủy lực đã được áp dụng ở một số thành phố như Hà Nội (Sơn Tây), Vinh, Huế, Ninh Thuận đem lại tỷ lệ tái chế tới hơn 90%, đồng nghĩa chất thải mới phải chôn lấp chỉ dưới 10%. Như vậy, chất thải có vai trò quan trọng trong việc tiết kiệm nguồn tài nguyên quốc gia. Do đó, chất thải cần phải được coi trọng, được thống kê, đánh giá, phân tích và phân loại để tái chế, tái sử dụng tốt trước khi đem tiêu hủy. 14 Hiện nay phần lớn rác thải sinh hoạt ở Việt Nam vẫn được xử lý bằng hình thức chôn lấp. Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 12 trong tổng số 64 tỉnh, thành phố cú bói chụn lấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật và chỉ có 17 trong tổng số 91 bói chụn lấp hiện có trong cả nước là bói chụn lấp hợp vệ sinh. Phần lớn cỏc bói chụn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách là hết sức khó khăn và hạn chế. Lượng chất thải rắn tại các đô thị được thu gom mới đạt 70% tổng lượng chất thải rắn phát sinh. Trong khi đó, việc tái chế và tái sử dụng mới chỉ giảm khoảng 1012% khối lượng rác thải. Ở nước ta chỉ khoảng 7 người/1 triệu dân làm công tác quản lý nhà nước về môi trường, trong khi con số này ở nước láng giềng Trung Quốc là 20 người, so với các nước trong khu vực ASEAN như: Thái Lan là 30 người, Campuchia là 55 người, Malaysia là 100 người, Singapore là 330 người. Đối với các nước phát triển thì con số này còn cao hơn nhiêu, ví dụ như: Canada là 155 người, Anh là 204 người. Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải. Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính cũn quỏ thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa. Bên cạnh đú, cỏc cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường..do đó công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo.[20] 2.1.3.3. Tình hình quản lý rác thải tại tỉnh Quảng Ninh Đến nay, các loại chất thải rắn chưa được phân loại nên tỷ lệ các thành phần chưa thể thống kê được. Tuy nhiên, có thể đánh giá dựa vào đặc điểm của từng khu vực như sau: Thành phố Hạ Long, Múng Cỏi là khu dân cư và du lịch phát triển nên chất thải chủ yếu là chất thải sinh hoạt, vật liệu xây dựng, chất thải công nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít. Tại thị xã Cẩm Phả, Uụng Bớ, Đụng Triều có hoạt động khai thác than nên chất thải rắn chủ yếu là chất thải sinh hoạt, chất thải mỏ chiếm tỷ trọng tương đối lớn. 15 Việc thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt chỉ tập trung tại các trung tâm của huyện, thị xã và thành phố do Công ty môi trường đô thị địa phương đảm nhiệm. Theo thống kê, tỷ lệ thu gom chất thải tại đô thị đạt khoảng 60 – 70%, tại nông thôn đạt 40 – 50%. Việc thu gom chất thải chưa được thực hiện ở cỏc vựng sõu, vựng xa, chất thải tại đây chủ yếu do dân cư tập trung tại vườn rồi đốt hoặc ủ làm phân bón gây ô nhiễm môi trường. Theo thống kê, trung bình mỗi ngày tại khu vực vịnh Hạ Long phát sinh 5m 3, hiện tại mới chỉ thu gom được 3m 3/ngày tại các điểm du lịch, hang động, khu vực làng chài và khu Bến Đoan. Trên biển và các khu vực khác, việc thu gom còn rất hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ tới mỹ quan và môi trường nước vịnh . [8] Hiện nay có ba phương pháp xử lý chất thải được áp dụng chủ yếu ở Quảng Ninh đó là: xử lý bằng chôn lấp, xử lý bằng phương pháp đốt, xử lý chất thải rắn bằng chế biến phân hữu cơ. Trong đó, phương pháp xử lý chất thải sinh hoạt bằng chôn lấp là phương pháp phổ biến. Tuy nhiên, hệ thống các công trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở tỉnh Quảng Ninh còn thiếu và yếu. Hiện tại, toàn tỉnh chỉ có 3 bói chụn lấp hợp vệ sinh tập trung tại thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả như: Đèo Sen, Quang Hanh, Hà Khẩu… Còn lại trên 10 bãi rác của các địa phương khác trong tỉnh đều không đạt các tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật do Bộ Xây dựng ban hành, không đạt các tiêu chí và tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh môi trường theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tại các nơi không được hưởng các dịch vụ thu gom, xử lý chất thải còn thường xảy ra tình trạng đem đổ bỏ ở cỏc sụng, hồ hoặc vứt bừa bãi tại những nơi công cộng… Đội quản lý môi trường vịnh Hạ Long tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý rác trôi nổi trên vịnh. Hình thức thu gom chủ yếu dùng phương pháp thủ công, dùng vợt vớt rác trôi nổi trên vịnh rồi đưa lên tàu trở vào bờ để xử lý, tỷ lệ thu gom khoảng 70% khối lượng. Dự án xử lý chất thải thành phố Hạ Long bằng phương pháp chế biến phân hữu cơ do Công ty Cổ phần xử lý chất thải Hạ Long đã được UBND tỉnh phê duyệt đang trong giai đoạn xúc tiến đầu tư. Tại những vùng không có dịch vụ thu gom, chất thải sinh hoạt thường đem ra đổ tại cỏc sụng, suối, chôn lấp tại vườn, ủ làm phân bón… Tất cả các 16 phương pháp đú đó và đang gây ô nhiễm môi trường cục bộ tại các gia đình và ảnh hưởng tới chất lượng đất, nguồn nước của dân cư. Chất thải công nghiệp, chủ yếu là bãi thải than. Từ năm 1955 đến 2003 các mỏ đó búc khoảng 853,415 triệu m3 đất đá, trong đó năm 1995 – 2004 là 475 triệu m3, năm 2005 là 150 triệu m3 đất đá. Khối lượng đất đá khổng lồ này gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường, đặc biệt là các bãi thải nằm dọc quốc lộ 18A như bãi thải than Cọc 6, Đèo Nai, không chỉ gây ô nhiễm môi trường nước mặt và nước biển ven bờ vịnh Hạ Long mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường hệ sinh thái. Tỷ lệ các đơn vị y tế được trang bị lò đốt chất thải còn thấp, khoảng dưới 40%. Chất thải y tế nguy hại mặc dù đã được xử lý nhưng chưa triệt để do gặp khó khăn trong vận hành. Do đó, ô nhiễm môi trường do chất thải y tế đến sức khoẻ cộng đồng là điều không thể tránh khỏi. 17 Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: - Rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh. - Công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt của thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh * Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan tới công tác thu gom, quản lý chất thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh. 3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu * Địa điểm nghiên cứu: Khu vực thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh. * Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2011 đến tháng 05/2011. 3.3. Nội dung nghiên cứu 3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.1.1. Điều kiện tự nhiên 3.3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 3.3.2. Thực trạng công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.2.1. Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.2.2. Lượng phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.2.3. Công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.3. Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.3.1. Quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh bằng các biện pháp kinh tế - xã hội. 18 3.3.3.2. Quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh bằng các biện pháp kỹ thuật 3.3.3.3. Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.3.3.4. Một số nhận xét về công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Múng Cái – tỉnh Quảng Ninh 3.4. Phương pháp nghiên cứu 3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp - Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan như: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương; hiện trạng rác thải sinh hoạt, công tác thu gom, vận chuyển thông qua các cơ quan của thành phố Múng Cỏi. - Tìm hiểu qua sách báo, mạng internet….. 3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp - Phương pháp khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung về rác thải trên địa bàn. - Phỏng vấn bằng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của các hộ gia đình về tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương. 3.4.3. Phương pháp chuyên gia - Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi và thảo luận với các cán bộ tại địa phương và giáo viên hướng dẫn nhằm tháo gỡ những thắc mắc. 3.4.4. Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải * Phương pháp xác định lượng rác thải được thu gom: tiến hành theo dõi việc tập kết rác thải tại các điểm tập kết rác thải của từng phường, xã để đếm số xe đẩy tay chứa rác trong một ngày, tuần và trong thỏng. Cỏc xe đẩy tay được chở đến điểm tập kết vào đúng giờ quy định và cho lên xe chở rác chuyên dùng của công ty môi trường đô thị. Với phương pháp đếm số xe và cân để xác định thành phần, tỷ lệ rác thải sẽ giúp biết được khối lượng rác thải phát sinh hàng ngày. Do lượng rác thải thường là ổn định từ các nguồn thải, rất ít bị biến động. Nên tiến hành xác định khối lượng và sau đó tính trung bình. 19 * Phương pháp xác định lượng rác thải bỡnh quõn/người/ngày và thành phần rác thải tại các phường, xã: - Đối với rác hộ gia đình và khu dân cư: mỗi phường, xã lựa chọn ngẫu nhiên khoảng 10 hộ để theo dõi được thuận lợi và dễ dàng. Việc lựa chọn các hộ theo tiêu chí cân đối về tỷ lệ giữa các hộ là công nhân, viên chức (50%); hộ kinh doanh, buôn bán (40%); hộ làm nghề khác (10%). Trên cơ sở số liệu điều tra của từng UBND các phường, xã về tỷ lệ nghề nghiệp của người dân trên địa bàn. + Tiến hành phát cho các hộ 2 túi màu khác nhau để phân loại rác ngay tại nguồn và để rác thải lại để cân. + Đến từng hộ gia đình thí điểm cõn rỏc vào giờ cố định trong ngày 1lần/ngày. + Số lần cõn rỏc của mỗi hộ gia đình lặp lại 3 lần/thỏng (cõn trong 4 tháng). Giữa các ngày cõn rỏc trong tuần, trong thỏng cú sự luân chuyển để cân được vào các ngày đầu tuần, giữa tuần, cuối tuần trong thỏng. Rỏc sau khi thu gom, cõn thỡ được đổ vào xe thu gom vào các điểm tập trung rác của từng phường, xã. + Từ kết quả cân thực tế rác tại các hộ gia đình, tính được lượng rác thải trung bình của 1 hộ/ngày, và lượng rác thải bỡnh quõn/người/ngày. + Phõn loại rác tập trung tại bãi rác khu dân cư tiến hành phân loại rác trong 1 tháng, mỗi tuần 2 lần vào 2 ngày cố định trong tuần thu gom, cân trọng lượng rác thải vô cơ, hữu cơ quy thành tỷ lệ % trọng lượng. - Đối với rác tại các chợ: Dựa trên việc nghiên cứu điều tra về đặc điểm các chợ ở từng phường, xã: số lượng các chợ, thời gian họp chợ, chu kỳ họp chợ là thường ngày hay theo phiên và từ đó làm như sau: + Nếu phường, xã nào được thu gom rác thải tập trung thì tiến hành đếm số xe đẩy tay chở rác trong ngày, tháng. Sau đó ước tính khối lượng trung bình lượng rỏc/ngày/thỏng, sẽ biết được lượng phát sinh và thu gom. + Nếu phường, xã nào chưa tổ chức thu gom rác: sau mỗi lần họp chợ, khi rác được thu gom thành đống thì tiến hành cân và tính khối lượng trung bỡnh/ngày/thỏng. - Đối với rác tại các cơ quan công sở, trường học: Do các đặc điểm nghề nghiệp và tính chất công việc, nên thành phần là khá giống nhau. Đầu tiên tiến hành điều tra về số lượng các cơ quan, trường học, ở các phường, xó 20 cỏc thông tin về: số nhân viên, số học sinh, sinh viên, số cán bộ giáo viên, loại hình sản xuất, đặc thù rác thải của cơ quan, trường học. Sau đó căn cứ vào quy mô, lượng người của từng nhóm công sở, trường học để ước tính khối lượng rác thải cho những nhúm cú đặc điểm tương tự nhau: lựa chọn một số cơ quan, trường học (mẫu giáo, tiểu học, trung học, UBND) và sau đó cân thí điểm rồi tính trung bình lượng rỏc/ngày/thỏng hoặc tiến hành đếm các xe thu gom (nếu có thể). Rồi ước tính khối lượng rác được thu gom, phát sinh và sau đó tính trung bình lượng rỏc/ngày/thỏng. - Đánh giá về lợi ích tái chế, tái sử dụng rác thải: Điều tra về lượng rác thải có thể tái chế tại các bãi rác của thành phố: điều tra, phỏng vấn trực tiếp những người nhặt rác (khoảng 15 – 20 người), và những chủ hộ thu mua rác ở khu vực gần bãi rác. Sau đó tính trung bình khối lượng, chủng loại các thành phần rác có thể tái chế và giá mua (bán) từng loại. Mặt khác căn cứ vào tỷ lệ từng loại rác có thể tái chế trong tổng lượng rác phát sinh để ước tính khối lượng thành phần cỏc rỏc tái chế rác tái chế. Sau đó ước tính hiệu quả mang lại của rác thải sinh hoạt. * Phương pháp xác định thành phần rác thải: Căn cứ vào đặc điểm chung của các phường, xã ta chọn các điểm tập kết rác tại 2 phường, và 2 xã để phân loại rác, rồi cân từng thành phần sau đó tính tỷ lệ. Mỗi phường, xã ta cân và phân loại thí điểm tại 1 điểm tập kết. 3.4.5. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu + Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được từ các phương pháp trên. + Xử lý số liệu bằng Excel.
- Xem thêm -