Tài liệu Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và mối liên quan với kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng của người cao tuổi tại thành phố cần thơ, năm 2015

  • Số trang: 62 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 106 |
  • Lượt tải: 0
phihungnguyen45930

Tham gia: 10/05/2016

Mô tả:

Bệnh quanh răng là một trong những răng miệngphổ biến nhất ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.Tỷ lệ người có bệnh quanh răng ở nước ta rất cao, lên tới 96,7% [1], theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 của Trần Văn Trường và cộng sự. Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi: Số người trên 45 tuổi có ít nhất 3 vùng lục phân lành mạnh chỉ chiếm có 5%[1].Khi mà cuộc sống được nâng cao, tuổi thọ tăng thì nước ta đang có xu hướng già hóa dânnhanh chóng thì rất cần thiết phải quan tâm tới căn bệnh này đặc biệt là đối với đối tượng người cao tuổi (NCT)thật sự vô cùng đáng quan tâm. Bệnh vùng quanh răng ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng cuộc sống như hôi miệng, viêm lợi, chảy máu chân răng lung lay răng,...và đặc biệt là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người cao tuổi. Không nhữngảnh hưởngđến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm mà còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí cònảnh hưởngđến tính mạng củangười cao tuổi,quađó làmảnh hưởngđến sức khoẻ và chất lượng cuộc sốngcũng như kinh tế của người bệnh. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tuổi thọ của con người ngày một nâng cao, lực lượng NCT ngày một tăng chiếm một lực lượng không hề nhỏ 8 triệu NCT chiếm 9,4% dân số tính tới cuối năm 2010. NCT là vốn quý của xã hội, chăm sóc tốt NCT không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ người trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” của toàn xã hội nói chung cũng như với mỗi cá nhân, gia đình nói riêng.Nhưng thực tế thì người cao tuổi thường ít quan tâm tới vấn đề răng miệng hơn so với người trẻ, ở nông thôn kém hơn thành thị. Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000 trên 999 người 45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào[1]. Theo Phạm Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ lệ sâu răng của người cao tuổi tại Hà Nội là 55,1%, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng là 96,1%[2].Chính vì vậy không những chúng ta cần phải chữa, phòng,tránh bệnh vùng quanh răng mà xa hơn chúng ta cần phải nâng cao nhận thức, thái độ, hànhvi của chính đối tượng cũng như của cộng đồng xung quanh thì việc chăm sóc sức khỏe răng miệng sẽ hiệu quả hơn. Thành Phố Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương nằm bên hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Theo tổng cục thống kê năm 2013 dân số có 1.222.400 người. Tính cho tới nay, tại đây chưa có một nghiên cứu nào về bệnh vùng quanh răng ở người cao tuổi. Xuấtpháttừ những vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và mối liên quan với kiến thức,thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng của người cao tuổi tạiThành PhốCần Thơ, năm 2015”,với các mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị của người cao tuổi tạiThành phố Cần Thơ, năm 2015. 2. Phân tích một số mối liên quan giữa thực trạng bệnh vùng quanh răng với kiến thức,thái độ,hành vi chăm sóc răng miệng ở đối tượng trên.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh quanh răng là một trong những răng miệngphổ biến nhất ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.Tỷ lệ người có bệnh quanh răng ở nước ta rất cao, lên tới 96,7% [1], theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 của Trần Văn Trường và cộng sự. Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi: Số người trên 45 tuổi có ít nhất 3 vùng lục phân lành mạnh chỉ chiếm có 5%[1].Khi mà cuộc sống được nâng cao, tuổi thọ tăng thì nước ta đang có xu hướng già hóa dânnhanh chóng thì rất cần thiết phải quan tâm tới căn bệnh này đặc biệt là đối với đối tượng người cao tuổi (NCT)thật sự vô cùng đáng quan tâm. Bệnh vùng quanh răng ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng cuộc sống như hôi miệng, viêm lợi, chảy máu chân răng lung lay răng,...và đặc biệt là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người cao tuổi. Không nhữngảnh hưởngđến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm mà còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí cònảnh hưởngđến tính mạng củangười cao tuổi,quađó làmảnh hưởngđến sức khoẻ và chất lượng cuộc sốngcũng như kinh tế của người bệnh. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tuổi thọ của con người ngày một nâng cao, lực lượng NCT ngày một tăng chiếm một lực lượng không hề nhỏ 8 triệu NCT chiếm 9,4% dân số tính tới cuối năm 2010. NCT là vốn quý của xã hội, chăm sóc tốt NCT không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ người trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” của toàn xã hội nói chung cũng như với mỗi cá nhân, gia đình nói riêng.Nhưng thực tế thì người cao tuổi thường ít quan tâm tới vấn đề răng miệng hơn so với người trẻ, ở nông thôn kém hơn thành thị. Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000 trên 999 người 45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào[1]. Theo Phạm Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ lệ sâu 2 răng của người cao tuổi tại Hà Nội là 55,1%, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng là 96,1%[2].Chính vì vậy không những chúng ta cần phải chữa, phòng,tránh bệnh vùng quanh răng mà xa hơn chúng ta cần phải nâng cao nhận thức, thái độ, hànhvi của chính đối tượng cũng như của cộng đồng xung quanh thì việc chăm sóc sức khỏe răng miệng sẽ hiệu quả hơn. Thành Phố Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương nằm bên hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Theo tổng cục thống kê năm 2013 dân số có 1.222.400 người. Tính cho tới nay, tại đây chưa có một nghiên cứu nào về bệnh vùng quanh răng ở người cao tuổi. Xuấtpháttừ những vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và mối liên quan với kiến thức,thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng của người cao tuổi tạiThành PhốCần Thơ, năm 2015”,với các mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị của người cao tuổi tạiThành phố Cần Thơ, năm 2015. 2. Phân tích một số mối liên quan giữa thực trạng bệnh vùng quanh răng với kiến thức,thái độ,hành vi chăm sóc răng miệng ở đối tượng trên. 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Đặc điểm giải phẫu vùng quanh răng 1.1.1.Giải phẫu vùng quanh răng Rãnh lợi Viền lợi Lợi tự do Lõm dưới lợi tự do Xương răng Dây chằng quanh răng Lợi dính Xương ổ răng Ranh giới lợi – niêm mạc Niêm mạc di động Hình 1.1:Giải phẫu răng và vùng quanh răng[3] Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng với răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể, nó bao gồm toàn bộ tổ chức bao bọc quanh răng: Lợi, dây chằng quanh răng, xương răng, xương ổ răng, tuần hoàn và thần kinh vùng quanh răng. Vai trò: -Nâng đỡ, lưu giữ, dinh dưỡng và cảm giác cho răng. -Là một phần của hệ thống nhai, góp phần vào thực hiện chức năng: ăn nhai, phát âm, thẩm mỹ. 1.1.1.1.Lợi Lợi được chia thành 2 phần: lợi dính và lợi tự do [4]: 4 * Lợi tự do:Gồm nhú lợi và đường viền lợi. Nhú lợi là phần lợi che kín các kẽ răng. Có một nhú phía ngoài, một nhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm. Đường viền lợiôm sát cổ răng, và cùng với cổ răng tạo nên một khe gọi là rãnh lợibình thường rãnh sâu 0,5-2mm. Hình thể của nhú lợi vàđường viền lợi phụ thuộc hình thể của chân răng và xương ổ răng, nó còn phụ thuộc vào sự liên quan giữa các răng và vị trí của răng trên xương hàm. * Lợi dính: là phần lợi bám dính vào chân răng và xương ổ răng. Bề rộng của lợi dính cóý nghĩa quan trọngđối với việc giữ cho vùng quanh răng bình thường. - Tổ chức lợi: bao gồm biểu mô và tổ chứcđệm. Phủ bề mặt lợi dính và mặt ngoài viền lợi là lớp biểu bì sừng hoá. Từ sâu ra nông gồm 4 lớp tế bào: TBđáy, TB gai, TB hạt và TB sừng hoá. Phủ mặt trong rãnh lợi là biểu mô không sừng hoá, liên tiếp với phía trên bởi biểu mô sừng hoá của lợi tự do và phía dưới bởi biểu mô bám dính. Biểu mô bám dính là biểu môởđáy rãnh lợi bám dính vào răng. Lớp biểu mô này không sừng hoá, không có các lồi ăn sâu vào tổ chức đệmở dưới, và bám vào men răng, xương răng bởi các bán Desmosom.Tổ chứcđệm: là tổchứcliên kết nhiều sợi keo ít sợi chun. Những sợi keo xếp thành những bó sợi lớn tạo nên hệ thống sợi của lợi, trong đóđáng chúý là các nhóm sợi răng- lợi, xương ổ răng- lợi và nhóm sợi vòng. 1.1.1.2.Dây chằng QR Dây chằng quanh răng là mô liên kết nối liền răng với xương ổ răng.Dây chằng quanh răng bao gồm các tế bào, sợi liên kết, chất căn bản và mạch máu, thần kinh[12]. 5 Nó giữ răng trong ổ răng vàđảm bảo sự liên quan sinh lý giữa răng vàổ răng nhờ những TB liên kếtđặc biệt trong tổ chức dây chằng.Bề rộng của dây chằng quanh răng khoảng 0,15- 0,21mm. Tuỳ theo sự sắp xếp và hướngđi của các bó sợi mà người ta phân ra thành 5 nhóm sau: * Nhóm cổ răng (hay nhóm màoổ răng):Gồm những bó sợi đi từ mào xương ổ răng đến xương răng gần cổ răng. * Nhóm ngang:Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng góc với trục của răng đến xương ổ răng. * Nhóm chéo:Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dưới phía chân răng, bám vào xương răng. Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong dây chằng QR. * Nhóm cuống răng:Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng, toả hình nan quạt để đến bám vào xương ổ răng vùng cuống răng. * Nhóm giữa các chân răng: Đối với răng nhiều chân còn có các bó sợi đi từ kẽ giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng. Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là: TBchất tựa, sợi, chất nền.Dây chằng QRcấu tạo bởinhững sợi Collagen, những sợi đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và từ đó chạy vào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổ răng, xương răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trong xương ổ răng riêng biệt. 1.1.1.3. Xương ổ răng Xương ổ răng là một phần của xương hàm để giữ chân răng gồm có: * Bản xương: có cấu tạo là xương đặc. Bản xương ngoài là xương vỏ ở mặt ngoài và mặt trong của xương ổ răng, được màng xương che phủ. Còn bản xương trong (gọi là lá sàng) nằm liền kề với chân răng, có nhiều lỗ thủng (lỗ sàng). * Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng [4]. 6 1.1.1.4. Xương răng Xương răng được hình thành trong quá trình hình thành chân răng, bọc phần ngà răng ở chân răng. Là một dạngđặc biệt của xương, trong đó thành phần vô cơ và hữu cơ chiếm tỷ lệ ngang nhau,nhưng không có hệ thống Havers và mạch máu[4]. Xương răng bao phủ chân răng vàđi qua phần men răng, phủ trên bề mặtmen ở cổ răng. Bề dày của xương răng thay đổi theo tuổi, tuỳ vùng và chức năng, dày nhất là vùng cuống răng, mỏng nhất là vùng cổ răng.Zander nghiên cứu vàđo bề dày xương răng giữa các vùng khác nhau của chân răng, giữa người già và người trẻ cho thấy: sựđắp dày thêm của xương răng xảy ra từ từ vàđềuđặn theo tuổi. Ngoài ra còn do các yếu tố khácnhư: kích thích của quá trình viêm, hoá chất vùng cuống răng và do chuyển hoá. Về cấu trúc, xương răng gồm 2 loại: Xương răng không có tế bào và xương răng có tế bào. Xương răng không có tế bàolà lớpđầu tiênđược tạo ra trong quá trình tạo ngàở chân răng, phủ lên chân răng bởi xương răng thứ phát (hay xương răng có tế bào).Quá trình tạo xương răng có tế bào nhanh, những tế bào tạo xương răng non bám chắc và giữ lại tới lúc phát sinh lớp xương răng mới và tế bào xương răng được trưởng thành. Sự bồiđắp xương răng liên tục, suốt đời, ở cuống răng thì nhanh hơn ở cổ răng, những lớpđược bồiđắp tạođiều kiện cho sự bám chắc của những dây chằng mớigiữ cho bề rộng vùng QR, xương răng không bị tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc như xương. Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hình thành hệ thống cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộngcần thiết cho vùng QR, bảo vệ ngà răng và tham gia sửa chữaở một số trường hợp tổn thương ngà chân răng. 7 1.1.2. Tuần hoàn quanh răng Răng, dây chằng QR và xương ổ răng thường có một mạch máu nuôi dưỡng. Mỗi răng và khe QRđược nuôi dưỡng bởi một động mạch nhỏ là một nhánh của động mạch chính trong xương tới lỗ cuống răng, trước khi vào lỗ cuống răng nó tách ra các nhánh vào trong xương ổ răng, một nhánh vào khe QR nuôi các dây chằng QR. Nhánh chính đi vào tuỷ răng qua lỗ cuống răng, động mạch tuỷ răng không có nhánh nối với bên ngoài. Còn trong xương ổ răng thì có nhiều mạng nối chằng chịt với nhau, ở vùng dây chằng QR cũng vậy,có những nhánh xuyên qua bản xương thành trong huyệt răng nối với mạng lưới tuần hoàn trong khe QR. Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt là mạng lưới nối tĩnh mạch ở vùng QR tập trung quanh lỗ cuống răng. 1.1.3. Thần kinh vùng quanh răng: Có hai loại: - Các sợi giao cảm chạy song song với mạch máu, điều hoà máu chảy trong các mao mạch. - Các sợi cảm giác hầu hết là các nhánh có Myelin của nhánh II hoặc nhánh III của dây thần kinh tam thoa.Vùng dây chằng QR giàu mạng lưới mạch máu và cũng giàu các sợi cảm giác. Người ta tìm thấy có hai loại thần kinh tận cùng: là có vỏ bọc và không có vỏ bọc ở đầu tận cùng. Nhánh tận đầu tự do đáp ứng với cảm giác đau, trong khi đó đầu có vỏ bọc đáp ứng với thay đổi áp lực; ở những đầu có vỏ bọc cấu trúc phức tạp hơn nhiều so với ở da và niêm mạc miệng,hơn nữa phần lớn nó đáp ứng với khả năng nhạy cảm của dây chằng quanh răng. 1.2. Một số đặc điểm biến đổi sinh lý, bệnh lý vùng quanh răng ở người cao tuổi 1.2.1. Định nghĩa người cao tuổi Người cao tuổi (NCT) là người từ 60 tuổi trở lên theo quy ước chung của Liên Hợp Quốc và theo luật người cao tuổi củanước ta (được Quốc hội khóa 8 XII thông qua ngày 23/11/2009,có hiệu lực từ ngày 1/7/2010). Dân số NCT đã trở thành một trong những vấn đề được coi là quan trọng ở nhiều nước trong những thập niên qua. Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8 triệu NCT (chiếm 9,4% dân số). Số lượng NCT đã tăng lên nhanh chóng,trong khi tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng, tỷ lệ giữa dân số độ tuổi lao động và những NCT đang giảm đáng kể. Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn “lão hóa” sang một cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so với nhiều nước phát triển: giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 22 năm ở Thái Lan, trongkhi dựkiến có chỉ 20 năm cho Việt Nam , từ năm 2011 Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số. Như vậy cùng với việc nâng cao sức khỏe nói chung thì việc chăm sóc sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi rất cần được quan tâm.Trong đó công tác chăm sóc phòng ngừa bệnh vùng quanh răng cho người cao tuổi của ngành Răng Hàm Mặt nói riêng là một nhiệm vụ rất quan trọng. 1.2.2. Biến đổi sinh lý chung Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi về hình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn[11],[12],[13]. Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và nhăn nheo, tăng lớp mỡ dưới da ở bụng, ngực, đùi, mông. Tóc chuyển bạc, trước ít và chậm sau nhiều và nhanh hơn. Mắt điều tiết kém đi gây lão hóa và thị lực giảm. Thính lực kém đi. Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm dần, bài tiết dịch vị kém ăn uống kém ngon và chậm tiêu, hoạt động chức năng gan, thận cũng giảm dần, hệ thống nội tiết yếu đi. Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh kém dần như thời tiết nóng, lạnh. Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng với lao động nặng. 9 Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liên tưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp. Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng xương. Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [12]. Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính. 1.2.3. Ảnh hưởng của lão hóa tới mô niêm mạc miệng * Niêm mạc miệng: Biểu mô phủ và mô liên kết ở khoang miệng teo và mỏng, giảm mối liên kết giữa các protein và Mucoprotein theo tuổi. Tăng số lượng tương bào và hậu quả là giảm tính đàn hồi và tăng sự nhạy cảm của mô đối với sang chấn. Tổ chức niêm mạc phủ khoang miệng ở người cao tuổi có những biến đổi dạng phù nề, các nhú biểu mô mất dần làm cho vùng tiếp giáp giữa biểu mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước.Thời gian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi. Vì các biến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước các kích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành. * Niêm mạc lưỡi: Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo. Số gai hình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teo nhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợt nhạt, teo mỏng do giảm chất gian bào, giảm khả năng tăng sinh tế bào và giảm đáp ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân thường thấy ở người cao tuổi. 10 1.2.4.Ảnh hưởng của lão hóa tới vùng quanh răng 1.2.4.1.Biểu mô lợi Nhiều nghiên cứu cho thấy sự mỏng đi và giảm sừng hóa của biểu mô lợi theo tuổi, vì vậy làm tính thấm của biểu mô với kháng nguyên vi khuẩn và giảm sức đề kháng với các sang chấn chức năng có thể ảnh hưởng lâu dài đến vùng quanh răng. Ngoài ra, còn có một số thay đổi khác liên quan đến lão hóa như các gai biểu bì phẳng hơn và thay đổi mật độ tế bào biểu mô. Tụt lợi: đây có thể là hậu quả tích lũy của quá trình viêm hoặc chấn thương mô quanh răng. Cùng với sự tụt lợi, chiều rộng của lợi dính sẽ giảm theo tuổi. Ngoài ra, sự di chuyển của biểu mô nối về phía chóp có thể là hậu quả của sự mọc răng liên tục qua biểu mô lợi trong nỗ lực duy trì mặt phẳng cắn với răng đối diện để thích nghi với sự mòn răng (sự mọc răng thụ động). 1.2.4.2.Mô liên kết lợi Mô liên kết lợi ngày càng thô hơn và dày đặc hơn theo tuổi, ngoài ra còn có sự thay đổi về số lượng và chất lượng sợi collagen. Những thay đổi này bao gồm sự tăng tỷ lệ chuyển đổi từ collagen hoàn thành collagen không hoàn toàn, tăng sức mạnh cơ học và tăng nhiệt độ làm biến tính collagen. Như vậy, có sự tăng tính ổn định của collagen do những thay đổi trong cấu trúc phân tử. Tuy nhiên, tỷ lệ collagen được tổng hợp lại giảm đi theo tuổi. 1.2.4.3.Dây chằng nha chu Những thay đổi trong dây chằng nha chu do lão hóa bao gồm giảm số lượng nguyên bào sợi và tăng bất thường cấu trúc. Ngoài ra, có sự giảm sản xuất các chất hữu cơ căn bản, ngừng hoạt động các tế bào biểu mô và tăng số lượng sợi đàn hồi. Nhiều kết quả trái chiều đã được ghi nhận về sự thay đổi chiều rộng của dây chằng nha chu theo tuổi trong các mẫu vật của người và 11 động vật. Một điều chắc chắn là chiều rộng của khoảng quanh răng sẽ giảm nếu răng không được nhai đến (giảm chức năng) hoặc chịu lực nhai quá mức. Cả hai tình huống trên đều dẫn đến sự mất răng sớm. 1.2.4.4. Xương răng Có sự gia tăng chiều dày xương răng theo tuổi do sự bồi đắp liên tục sau khi mọc răng. Sự gia tăng chiều dày này nhiều hơn ở vùng chóp và mặt lưỡi. Khả năng sửa chữa xương răng là hạn chế, những bất thường trên bề mặt xương răng như những hõm tiêu xương răng xuất hiện ngày càng nhiều theo tuổi. 1.2.4.5.Xương ổ răng Hình thái lá cứng xương ổ răng thay đổi liên quan với tuổi, có ngày càng nhiều bất thường trên bề mặt xương ổ răng và giảm số lượng kết nối bất thường với sợi collagen. Ngoài ra,có sự giảm mạch máu trong xương, giảm trao đổi chất và khả năng tự sữa chữa, tăng quá trình hủy xương và giảm tái tạo xương. Trong ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng, nếu sử dụng vật liệu ghép từ người cho trên 50 tuổi thì khả năng tạo mô xương ít hơn so với vật liệu lấy từ người cho trẻ hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ lành xương (can xương) của xương vùng ổ răng đã nhổ không liên quan tới tuổi tác. Thật vậy, những thành công trong tích hợp xương trong cấy ghép nha khoa dựa trên đáp ứng lành thương ở mọi mô xương lành,không liên quan với tuổi tác. 1.2.4.6.Mảng bám vi khuẩn Sự tích tụ mảng bám ở lợi-răng được cho là tụt lợi làm tăng diện tích bề mặt mô cứng lộ ra và đặc điểm bề mặt chân răng bị lộ khác so với men răng. Đối với mảng bám trên lợi, không có sự khác biệt thực sự về chất lượng các thành phần mảng bám. Đối với mảng bám dưới lợi, một số nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng số lượng trực khuẩn đường ruột và pseudomonas ở người 12 lớn tuổi. Tuy nhiên,cần thận trọng trong việc giải thích kết quả này do sự gia tăng của những chủng loại vi khuẩn trên trong miệng của những người lớn tuổi. Có sự thay đổi một số tác nhân gây bênh nha chu với tuổi tác, đặc biệt là vai trò ngày càng tăng của Porphyromonas ginggivalis và vai trò ngày càng giảm của Actinobacillus actinomycetemcomitans.Tuy nhiên, tác động của lão hóa lên sự thay đổi sinh thái học vi khuẩn quanh răng vẫn còn chưa thực sự rõ ràng. 1.2.5.Ảnh hưởng quá trình lão hóa lên sự tiến triển của bệnh nha chu Sự nhạy cảm của bệnh nha chu tăng theo tuổi. Trong một nghiên cứu thực nghiệm kinh điển về viêm lợi, đối tượng nghiên cứu được loại trừ hoàn toàn mảng bám và viêm bằng các phương pháp làm sạch và điều trị chuyên biệt. Sau đó đối tượng không thực hiện bất kỳ biện pháp vệ sinh răng miệng nào trong thời gian 3 tuần để tạo điều kiện cho viêm lợi phát triển. So sánh sự phát triển viêm lợi giữa các cá thể trẻ tuổi và lớn tuổi đã được chứng minh phản ứng viêm mạnh hơn ở những đối tượng nghiên cứu lớn tuổi hơn, kể cả người và chó. Trong nhóm người lớn tuổi hơn (từ 65 đến 80 tuổi), người ta nhận thấy khoảng mô liên kết bị thâm nhiễm lớn hơn, gia tăng dịch rỉ viêm và tăng chỉ số lợi. Ngay cả khi các đối tượng đều có tình trạng lợi hoàn toàn bình thường trước thử nghiệm, sự khác biệt vẫn có thể tồn tại giữa các nhóm tuổi trong đó những người càng lớn tuổi thì tình trạng viêm càng nhiều. Ở người cao tuổi, bệnh viêm lợi thường tiến triển thầm lặng dẫn tới viêm quanh răng và hậu quả là tiêu xương và mất răng. Rõ ràng khi tuổi cao sẽ không tránh khỏi việc gia tăng sự mất mô liên kết bám dính. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào sự phơi nhiễm với một số yếu tố gây phá hủy tổ chức quanh răng như:mảng bám, sang chấn cơ học mạn tính do đánh răng, những tác động không mong muốn do thầy thuốc gây ra trong phục hình răng,lấy cao răng, kiểm soát bề mặt chân 13 răng.Ảnh hưởng của những phơi nhiễm này đi theo một hướng duy nhất là làm gia tăng mất bám dính. Một số nghiên cứu đã được thiết kế để loại bỏ những yếu tố nhiễu và hướng tới làm rõ câu hỏi tuổi cao có phải là yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu (yếu tố nguy cơ được định nghĩa là một phơi nhiễm hoặc tác nhân làm tăng xác suất xảy ra bệnh). Những nghiên cứu này đều cho thấy tác động của tuổi tác là không tồn tại hoặc ít có ý nghĩa lâm sàng làm gia tăng sự mất bảo vệ vùng nha chu: tỷ suất chênh cuẩ tình trạng vệ sinh răng miệng kém đối với viêm quanh răng là 20,52 trong khi tỷ suất chênh của tuổi tác chỉ là 1,24. Như vậy, có thể nói tuổi cao không phải là một yêu tố nguy cơ thực sự nhưng là nền tảng hoặc một yếu tố kết hợp của sự phát triển viêm quanh răng. 1.3.Phân loại bệnh quanh răng 1.3.1. Phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1961  Viêm Lợi: - Thể cấp tính:  Viêm lợi loét hoại tử cấp (bệnh vincent)  Viêm lợi cấp không đặc hiệu - Thể mãn tính:  Viêm lợi mãn tính  Viêm lợi mãn tính phì đại  Viêm quanh răng: - Viêm quanh răng cấp tính:  Abces quanh răng  Viêm quanh răng loét - Viêm quanh răng mãn tính:  Viêm quanh răng đơn giản: xươngngang mào xương ổ răng Tiêu 14  Viêm quanh răng phức tạp: Tiêu xương không đồng đều 1.3.2. Phân loại bệnh quanh răng theo hội nghị quốc tế năm 1999,bao gồm 8 nhóm bệnh dưới đây  Các bệnh lợi.  Viêm quanh răng mạn.  Viêm quanh răng phá hủy.  Viêm quanh răng là biểu lộ các bệnh toàn thân.  Các bệnh quanh răng hoại tử.  Các apxe vùng quanh răng.  Viêm quanh răng do các tổn thương nội nha.  Các biến dạng và tình trạng mắc phải hay trong quá trình phát triển. 1.4. Hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng 1.4.1. Hành vi sức khỏe Hành vi sức khỏe bao gồm nhiều hành động chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố như di truyền, môi trường kinh tế - xã hội và chính trị. Hành vi sức khỏe có một vai trò vô cùng quan trọng để tạo lập cho sức khỏe mỗi cá nhân và cộng đồng. Các yếu tố quyết định nên hành vi con người có thể tóm tắt như sau: Kiến thức→Thái độ→Hành vi K AP ↓ Knowledge Attitude Practice Sự hiểu biết phụ thuộc vào yếu Tư duy, lập trường, Các hoạt động tố văn hóa, xã hội, kinh tế. 1.4.2. Kiến thức (Knowledge) quan điểm. của con người. 15 Kiến thức là sự hiểu biết của con người thường khác nhau và thường bắt nguồn từ kinh nghiệm, vốn sống hoặc của người khác truyền lại. Hiểu biết rất khó thay đổi khi hiểu biết sai và trở thành định kiến bởi đó là của chủ thể.Vì vậy rất cần sự cập nhật về kiến thức sức khỏe răng miệng một cách đúng đắn để đánh giá trình độ nhận thức của chủ thể với kiến thức chuẩn. Kiến thức phòng bệnh răng rất cần thiết trong phòng tránh bệnh răng miệng. 1.4.3. Thái độ (Attitude) Là tư duy, lập trường, quan điểm của đối tượng đối với một vấn đề. Nó có thể bị ảnh hưởng bởi trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, xã hội, gia đình, khu vực sinh sống. Chính vì thái độ ảnh hưởng bởi tính cách của đối tượng nên rất cần sự quan tâm cuẩ cộng đồng đoàn thể và gia đình mới có kết quả tốt trong việc thực hiện chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất được. 1.4.4. Hành vi (Practice) Xuất phát từ những hiểu biết, có kiến thức và thái độ dẫn đến những hành động của đối tượng. Kiến thức và thái độ đúng sẽ có hành động đúng và ngược lại. 1.5. Vấn đề kiến thức, thái độ và hành vi sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã được đặc biệt quan tâm ở nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, song với việc chăm sóc sức khỏe răng miệng nói riêng ở người cao tuổi còn ít được quan tâm và triển khai một cách hệ thống. Do sinh ra trong thời gian sự nhận thức về sức khỏe răng miệng còn hạn hẹp nên những người cao tuổi thường thiếu những thông tin cần thiết để tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe răng miệng, bản thân họ cũng không tích cực trong việc thực hiện các biện pháp vệ sinh răng miệng như: ít chải răng, hay thực hiện các thói quen không tốt cho răng miệng như xỉa tăm, đánh cau khô, ăn trầu, hút thuốc và đặc biệt rất ít khi kiểm tra răng miệng thường xuyên. 16 Khi gặp các vấn đề về răng miệng họ cũng ít đi khám nha sĩ hơn những người trẻ, họ mặc nhiên chấp nhận và chịu đựng đau, hay khó chịu ở vùng răng miệng…Cũng vì vậy, nguyện vọng của họ thường rất thấp so với nhu cầu thực tế cần được chăm sóc, điều trị. Đối với một bộ phận những người có sức khỏe yếu hay khuyết tật không độc lập trong sinh hoạt cá nhân thì các vấn đề trên càng trở nên nặng nề. 1.5.1. Đặc điểm chung Sức khỏe là biểu hiện của nhiều yếu tố tác động, trong đó vấn đề kiến thức, thái độ và thực hành sức khỏe đóng vai trò cực kì quan trọng, nó có thể thúc đẩy tình trạng sức khỏe tốt lên hay xấu đi. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi chủ yếu là kinh nghiệm tích lũy của bản thân hoặc do người khác truyền lại, mà trên thực tế theo quan điểm y học hiện đại thì các kinh nghiệm đó đôi khi đi ngược lại và có thể làm cho tình trạng sức khỏe răng miệng xấu đi. Hơn nữa, kiến thức chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi cũng phụ thuộc nhiều yếu tố như: Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, mức sống, khu vực sinh sống, sự tự tìm hiểu của từng cá nhân…Thông thường ý niệm về bệnh tật chỉ được quan tâm khi có cảm giác đau, thẩm mỹ bị ảnh hưởng, giao tiếp xã hội bị hạn chế. Đây là những nhận biết có thể có ở hầu hết người cao tuổi. Nhưng nếu để hiểu nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp phòng chống bệnh thì đa số tỏ ra không biết hoặc hiểu sai các kiến thức cơ bản, thông thường. Thực tiễn này đặt ra trách nhiệm cho vấn đề giáo dục nha khoa trong chương trình nâng cao hiểu biết đối với sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi. Trên cơ sở nhận thức và thái độ có nhiều hạn chế nên thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao tuổi đã thể hiện nhiều yếu tố tiêu cực: Cách thức vệ sinh răng miệng không tốt, biểu hiện bằng việc ít chải răng và kỹ thuật chải răng không tốt. Họ sử dụng nhiều biện pháp vệ sinh răng miệng không cơ 17 bản và có nhiều thói quen không tốt cho sức khỏe răng miệng. Rất ít người có thói quen đi khám răng miệng định kì để phát hiện và điều trị sớm [21],[14]. 1.5.2. Các yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi Sức khỏe răng miệng người cao tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻrăng miệng có thể bắt nguồn từ những nguy cơ nội tại do sự ngấm vôi kém ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc… Nguy cơ cũng đến từ các thói quen có hại: Hút thuốc, uống rượu, ăn trầu… Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể do trình độ học vấn, mức thu nhập không cao, sức khỏe chung yếu, tập quán văn hóa và nhất là yếu tố không được chăm sóc bởi các dịch vụ nha khoa. Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được tìm hiểu để đưa ra giải pháp can thiệp hợp lý. Nhằm tăng cường nhận thức, thay đổi thái độ, hành vi sức khỏe người cao tuổi, chúng ta cần giúp họ loại bỏ những thói quen có hại, giáo dục các đối tượng tự chăm sóc sức khỏe răng miệng có khoa học và có ý thức thăm khám răng định kì tại các cơ sở nha khoa. Đây là một quá trình cần có sự tác động nhiều mặt, nhưng ý thức bản thân luôn luôn là một yếu tốt quyết định quan trọng nhất [22]. 1.6. Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và Việt Nam * Ở Việt Nam: Tại Việt Nam, từ năm 1960 đến nay đã có nhiều công trình điều tra về bệnh quanh răng ở một số địa phương. Các kết quả điều tra đều cho thấy bệnh quanh răng chiếm tỷ lệ cao và ở mức báo động.Trần Văn Trường và Lâm Ngọc Ấn đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc qua 2 đợt thì nhận thấy rằng qua 2 lần tỷ lệ bệnh quanh răng của nhóm tuổi >45 tuổi không biến đổi nhiều, đều trên 90% [1]. 18 Về tình hình bệnh tổ chức quanh răng, theo điều tra cơ bản tại khu vực Hà Nội của Nguyễn Đức Thắng[26] với lứa tuổi 45-64 và cỡ mẫu (n=150) thì có CPITN 1 tỉ lệ là 1,33% và CPITN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,67%.Nguyễn Văn Cát và Renneberg T và cs (1992) khám 181 người từ 44 đến 64 tuổi không thấy người nào có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là 1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8.Theo tác giả Dương Thị Hoài Giang năm 2009 khám trên 303 người từ 60 tuổi trở lên tại Hoàng Mai – Hà Nội thấy tỷ lệ người mắc bệnh quanh răng là 93,1% [17]. * Trên thế giới: Bảng 1.1:Tình trạng túi lợi ở người cao tuổi của các nghiên cứu trên thế giới Quốc gia, tác giả Bergman J.D và Cs, Australian [27] Galan D. và Cs, Canada [28] Miyazaky H. và Cs, Japan [18] Trần Văn Trường, Việt Nam [29] Túi lợi Trung Trung Túi lợi nông bình cao bình túi sâu (%) (%) răng lợi Năm Tuổi Người 1990 60-69 303 15,2 1993 ≥ 60 54 37,0 49,0 1994 65-74 60,0 2000 ≥ 45 35,7 999 2,00 1,60 10,0 2,70 1,10 10,5 2,86 1,83 Một số điều tra khác như;theo điều tra sức khỏe quốc gia 1971-1974 của Mỹ,tình hình bệnh nha chu theo độ tuổi như sau: với độ tuổi 55-64 (có nam bệnh nha chu chiếm 46,9%, còn nữ chiếm 35,8%).Theo điều tra của P.D.Barnard năm 1988 ở Astraulia [31] thì số trung bình lục phân có số CPITN cao nhất ở lứa tuổi từ 65 tuổi trở lên thì thấy tỷ lệ CPITN 4 chiếm tới 70%.Theo Brown và cộng sự 1981 ở Mỹ 65% người lứa tuổi từ 19-65 có túi lợi sâu ≥ 3mm, 28% có túi lợi sâu 4-6mm và 8% có túi lợi sâu > 6mm. 1.7. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi 19 Qua một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng: Những người cao tuổi thường không có hiểu biết nhiều về răng miệng. Vì vậy, mà việc tự chăm sóc sức khỏe răng miệng ở họ cũng có rất nhiều hạn chế. Schwarz E và Lo E.C (1994) phỏng vấn 559 đối tượng tuổi 65-74 ở Hồng Kông cho thấy có tỉ lệ rất cao về số người không hiểu rõ về sâu răng, viêm lợi [19]. Smith J.M và Cs điều tra tại Anh năm 1980 cho thấy 22% người cao tuổi có từ 1-5 năm và 26% có từ 6-20 năm không đi khám răng miệng. Theo Strayer M.S (1993) tại Mỹ đã có 60% các bang có chương trình giáo dục sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi. Hầu hết các nghiên cứu đều cho nhận xét là bệnh răng miệng ở người cao tuổi thường cao hơn các lứa tuổi khác và kiến thức, thái độ và thực hành của họ cũng rất hạn chế. Theo điều tra của Rademakers L (tại Hà Lan năm 2008), Carter G và cộng sự (tại Christchurch năm 2004) và Sweeney MP và cộng sự (tại Glasgow năm 2007) cho kết quả tương tự là người cao tuổi ít quan tâm tới việc chăm sóc răng miệng. Thêm vào đó, số lần chăm sóc răng miệng của người cao tuổi lại không phụ thuộc vào tuổi mà phụ thuộc vào số răng hiện có (theo nghiên cứu của Niessen LC tại Mỹ năm 2002). Bệnh răng miệng của người cao tuổi không phải do cảm nhiễm (susceptibility) mà do quá trình tích lũy bệnh tật theo thời gian sống của họ. Người cao tuổi ở vùng nông thôn và từ 70 tuổi trở lên thường ít quan tâm tới nhu cầu chăm sóc răng miệng so với nhu cầu thực tế [16]. Ở Việt Nam, theo điều tra của Phạm Văn Việt (1999) tại Hà Nội, trong 556 người≥ 60 tuổi có gần 90% không hiểu hoặc chỉ biết một phần về vai trò, chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng, chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ biết về nguy cơ lây nhiễm HIV khi nhổ răng. Khi răng miệng có vấn đề, chỉ có 26,7% tìm đến nha sĩ, chỉ có 20,2% người mất răng có nguyện vọng làm răng giả để thay thế. 20 Tại Việt nam, theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 thì tỷ lệ sâu răng ở người trên 45 tuổi là 89,7%, cao nhất trong tất cả các lứa tuổi [13]. Kết quả một số nghiên cứu trước đó cho thấy người cao tuổi có hiểu biết hạn chế và ít quan tâm tới việc chăm sóc răng miệng. Ví dụ như nghiên cứu của Phạm văn Việt tại Hà Nội cho kết quả 90% người cao tuổi (từ 60 trở lên) trong diện nghiên cứu không hiểu biết hoặc chỉ hiểu biết một phần về vai trò, chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng. Kết quả điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 trên 999 người độ tuổi từ 45 trở lên có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào và 12,7% đi khám răng lần cuối cùng trước đó 5 năm. Các bệnh răng miệng không những làm ảnh hưởng tới chức năng ăn nhai, thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân, thậm chí nếu không điều trị kịp thời nó còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hoặc toàn thân. 1.8. Một số đặc điểm sinh thái của Thành phốCần Thơ Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm bên hữu ngạn của sông Hậu, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam. Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá chằng chịt. Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm. Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ. Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đếntháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C, số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 2.249,2h, lượng mưa trung bình năm đạt 1600mm. Độ ẩm trung bình năm dao động từ 82% - 87%. Do chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm.
- Xem thêm -