Tài liệu Thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người khmer tỉnh hậu giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp

  • Số trang: 194 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1236 |
  • Lượt tải: 6
hoangdieu

Tham gia: 22/06/2014

Mô tả:

Với tấm lòng thành kính, tôi xin chân thành c ảm ơn Lãnh đạo Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Phòng Đào tạo Sau Đại học Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và các thầy giáo, cô giáo của Viện đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận án. Trong quá trình thực hiện luận án tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự động viên của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và nhiều cá nhân . Tôi xin chân thành cám ơn tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG NGUYỄN VĂN LÀNH THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI KHMER TỈNH HẬU GIANG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Hà Nội – 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG NGUYỄN VĂN LÀNH THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI KHMER TỈNH HẬU GIANG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP CHUYÊN NGÀNH: VỆ SINH XÃ HỘI HỌC VÀ TỔ CHỨC Y TẾ MÃ SỐ: 62 72 01 64 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Hướng dẫn khoa học PGS.TS. Nguyễn Văn Tập PGS. TS. Nguyễn Đức Trọng Hà Nội - 2014 Lời cảm ơn Với tấm lòng thành kính, tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Phòng Đào tạo Sau Đại học Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và các thầy giáo, cô giáo của Viện đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận án. Trong quá trình thực hiện luận án tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự động viên của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và nhiều cá nhân . Tôi xin chân thành cám ơn tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Nguyễn Văn Tập và PGS. TS. Nguyễn Đức Trọng, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi hoàn thành luận án này. Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Hậu Giang, lãnh đạo các Phòng Y tế, Trung tâm Y tế và Bệnh viên đa khoa các huyện Long Mỹ, Châu Thành A, Vị Thủy và thị xã Ngã Bảy, Ủy ban Nhân dân và Trạm Y tế xã Xà Phiên, Lương Nghĩa, Vị Thủy, Vĩnh Trung, Cái Tắc, Bảy Ngàn và quý đồng nghiệp đã nhiệt tình tham gia giúp đỡ tôi thu thập số liệu điều tra thực hiện đề tài. Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân thành kính đến Quý sư chùa Bo Tum Vong Sây và chùa Khem Ma Ra Ran Xey đã hợp tác và hỗ trợ tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn những người dân đã đồng ý tham gia công trình nghiên cứu này. Một phần không nhỏ của thành công luận án là nhờ sự giúp đỡ động viên của người thân trong gia đình. Đặc biệt là vợ con tôi đã động viên và giúp đở tôi, khi tôi gặp khó khăn trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án. Xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc./. Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Nguyễn Văn Lành LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức và khảo sát tình hình thực tiễn tại tỉnh Hậu Giang Các số liệu thu thập và kết quả trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi hội đồng đánh giá luận án Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương . Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Nguyễn Văn Lành MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................................................... 1 Chương 1: TỔNG QUAN ........................................................................................... 3 1.1. Bệnh đái tháo đường và các yếu tố liên quan ..................................................... 3 1.2. Tình hình nghiên cứu về đái tháo đường.......................................................... 18 1.3 Hiệu quả của các can thiệp phòng, chống đái tháo đường ................................. 23 1.4. Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu. ........................................................ 33 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................... 36 2.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 36 2.2. Địa điểm nghiên cứu ...................................................................................... 36 2.3. Thời gian nghiên cứu....................................................................................... 36 2.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 36 2.5. Phân tích xử lý số liệu nghiên cứu .................................................................. 63 2.6. Khống chế sai số ............................................................................................. 63 2.7. Đạo đức trong nghiên cứu .............................................................................. 64 2.8. Cán bộ tham gia nghiên cứu ............................................................................ 65 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................................ 66 3.1. Tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường và các yếu tố liên quan............ 66 3.2. Đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp phòng chống tiền đái tháo đường, đái tháo đường ở người dân tộc khmer tại cộng đồng ......................................................... 84 Chương 4: BÀN LUẬN .................................................................................................... 102 4.1. Tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ........................................................................................................................... 102 4.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống tiền đái tháo đường, đái tháo đường týp 2 ở người dân tộc khmer. ..................................................................... 126 4.3. Hạn chế của đề tài ......................................................................................... 135 KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 137 KIẾN NGHỊ...................................................................................................................... 139 TÀI LIỆU THAM KHẢO BỘ CÂU HỎI PHỤ LỤC BMI CDC Cs ĐTĐ EASD ESC FFAs FINDRISC GDNG HA HATT HATTr HbA1c HDL.C IDF LDL.c MCT MNT NPDNG NXB OR RR TG THCS THPT THA TT- GDSK TCYTTG YTNC BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể Center of Disease Control T rung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ Et al Cộng sự Diabetes Đái tháo đường European Association for Hiệp hội nghiên cứu đái tháo the Study of Diabetes, đường Châu Âu European Society of Hội tim mạch Châu Âu Cardiology Free fat acides Các axit béo tự do Finnish Diabetes Risk Thang điểm nguy cơ đái tháo Score đường Phần Lan Impaired Glucose Giảm dung nạp glucose Tolerance (IGT) Huyết áp Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Hemoglobine A1c Hemoglobine A1c High Density lipoprotein Lipoprotein gắn cholesterol có tỷ cholesterol trọng cao International Diabetes Liên đoàn đái tháo đường quốc tế Foundation Low Density lipoprotein Lipoprotein gắn cholesterol có tỷ cholesterol trọng thấp Body Fat Mỡ cơ thể Visceral Fat Mỡ nội tạng Oral Glucose Tolerance Nghiệm pháp dung nạp glucose Test Nhà xuất bản Odd ratio Tỷ số chênh Risk ratio Tỷ số nguy cơ Triglycerid Trung học cơ sở Trung học phổ thông Hypertension Tăng huyết áp Truyền thông – giáo dục sức khỏe World Heath Organisation Tổ chức y tế thế giới Yếu tố nguy cơ TĐTĐ Prediabetes Tiền đái tháo đường DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Nội dung Trang 1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các rối loạn đường huyết . ...................... 8 1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các rối loạn đường .................................. 9 1.3. Mười quốc gia có số người mắc bệnh ĐTĐ cao nhất năm 2000 và ước tính năm 2030 18 2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các rối loạn đường huyết theo WHO IDF 2008 cập nhật 2010 và theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA/WHO, 2010 ............. 44 3.1.Tỷ lệ phân bố tuổi, giới, địa dư, nghề nghiệp, học vấn trên đối tượng nghiên cứu. ......... 66 3.2. Tỷ lệ người Khmer hiện mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường ……………..67 3.3. Tỷ lệ mức độ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường ............................................ 67 3.4. Tỷ lệ người bệnh nhân đái tháo đường theo đặc điểm dân số học .................................. 68 3.5. Tỷ lệ người dân tộc Khmer có kiến thức về phòng chống bệnh đái tháo đường. ............ 69 3.6. Tỷ lệ người dân tộc Khmer có thái độ đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường ........ 70 3.7. Tỷ lệ người dân tộc khmer tham gia thực hành về phòng chống bệnh đái tháo đường ... 70 3.8. Tỷ lệ người dân tộc Khmer thực hành vận động, tập thể dục thể thao, dinh dưỡng, hút thuốc lá, uống rượu/ bia ......................................................................................... 71 3.9. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tộc Khmer trên 45 tuổi . ............................................................................. 72 3.10. Liên quan về tuổi, giới, địa lý, nghề nghiệp đến bệnh đái tháo đường người dân tộc Khmer. ......................................................................................................................... 73 3.11.Một số thói quen liên quan đến mắc bệnh đái tháo đường của người Khmer ................ 74 3.12. Mối liên quan giữa tiền sử gia đình và cá nhân đến mắc bệnh đái tháo đường của người Khmer .............................................................................................................. 75 3.13. Mối liên quan đến bệnh đái tháo đường với các chỉ số sức khỏe trung gian của người Khmer .............................................................................................................. 76 3.14. Mối liên quan giữa các thói quen cuộc sống với bệnh đái tháo đường, qua phân tích hồi qui đa biến ................................................................................................................... 77 3.15. Mối liên quan giữa các chỉ số sức khỏe trung gian với bệnh đái tháo đường, qua phân tích hồi qui đa biến . ..................................................................................................... 78 3.16. Tình hình phân bố theo các yếu tố nguy cơ của người dân tộc Khmer ......................... 80 3.17. Một số yếu tố liên quan trên người dân tộc Khmer tiền đái tháo đường trong và ngoài thang điểm FINDRISC...................................................................................... 81 3.18. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường týp 2 trong 10 năm tới của người dân tộc Khmer bình thường ................................................................................ 82 3.19. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường týp 2 trong 10 năm tới của người tiền đái tháo đường ............................................................................................. 83 3.20. So sánh kiến thức người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường. ............................ 84 3.21. So sánh tỷ lệ thay đổi thói quen ăn ngọt, ăn mỡ, chất béo, ăn rau, trái cây phòng bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp ..................................................... 86 3.22. So sánh tỷ lệ người dân ăn sau 20 giờ luyện tập thể dục, giảm rượu bia, thuốc lá phòng bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp . .................................................... 87 3.23. So sánh tỷ lệ người dân giảm rượu bia, thuốc lá phòng bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp . ........................................................................................................ 88 3.24. So sánh tỷ lệ thay đổi mức độ vòng bụng, mỡ nội tạng, mỡ cơ thể trước và sau can thiệp ..................................................................................................................... 89 3.25. So sánh tỷ lệ thay đổi BMI, tăng huyết áp trước và sau can thiệp ................................ 90 3.26. Tình hình người bệnh khám chữa bệnh đái tháo đường tại trạm y tế xã ...................... 91 3.27. Tình hình phát hiện người bệnh đái tháo đường tại trạm y tế xã. ................................ 91 3.28. Tình hình phát hiện người Khmer tiền đái tháo đường tại trạm y tế xã. ..................... 92 3.29. Các chỉ số sức khỏe của nhóm đái tháo đường trước và sau can thiệp ......................... 93 3.30. Các chỉ số sức khỏe của nhóm đái tháo đường trước sau can thiệp .............................. 94 3.31. Các chỉ số sức khỏe của nhóm tiền đái tháo đường trước, sau can thiệp ...................... 95 3.32. Các chỉ số sức khỏe của nhóm tiền đái tháo đường trước sau can thiệp ....................... 96 3.33. So sánh trước và sau can thiệp về tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường, tiền đái tháo đường của nhóm chứng và nhóm can thiệp .................................................................................... 97 3.34. Tình hình người bệnh đái tháo đường thay đổi sau can thiệp tại trạm y tế ................... 98 3.35. Tình hình người tiền đái tháo đường thay đổi sau can tại trạm y tế ............................. 98 3.36. Tỷ lệ xã can thiệp tổ chức thực hiện truyền thông phòng chống bệnh đái tháo đường theo chỉ tiêu kế hoạch thực hiện nghiên cứu. ................................................................ 99 3.37. Tỷ lệ xã can thiệp thực hiện công tác thực hành phòng chống đái tháo đường ........... 100 DANH MỤC HÌNH Hình Nội dung Trang 1.2.Bản đồ tỉnh Hậu Giang và các địa điểm nghiên cứu ............................................ 36 2.1. Cân phân tích trở kháng điện sinh học ................................................................ 50 2.2. Máy D10 - BIO-RAD xét nghiệm HbA1c .......................................................... 50 DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ Nội dung Trang 2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp phòng chống bệnh đái tháo đường ở đồng bào người dân tộc Khmer. ........................................................... 37 2.2. Sơ đồ mô hình can thiệp phòng chống bệnh ĐTĐ tỉnh Hậu Giang..................... 51 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ Nội dung Trang 3.1. Tỷ lệ hiểu biết đúng của người dân.................................................................... 69 3.2. Tỷ lệ người dân thực hành đúng phòng chống đái tháo đường ........................... 70 3.3. Yếu tố liên quan ở người dân tiền đái tháo đường trong thang điểm FINDRISC 82 3.4. Tỷ lệ mức độ nguy cơ trên người mắc tiền đái tháo đường. ................................ 83 3. 5 Kiến thức người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường ................................ 85 ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, đái tháo đường là một vấn đề y tế công cộng mang tính chất toàn cầu, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhiều người, nhất là trong độ tuổi lao động trên toàn thế giới. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới, tốc độ phát triển của bệnh đái tháo đường tăng nhanh trong những năm qua. Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường khác nhau ở các châu lục và các vùng lãnh thổ. Tại Pháp, 1,4% dân số mắc đái tháo đường; ở Mỹ, tỷ lệ đái tháo đường 6,6%; Singapor là 8,6%; Thái Lan có tỷ lệ đái tháo đường là 3,5%; tại Malaixia, tỷ lệ đái tháo đường là 3,01% [31]; ở Campuchia (2005) ở lứa tuổi từ 25 tuổi trở lên mắc đái tháo đường tại Siemreap là 5% và ở Kampomg Cham là 11% [80]. Năm 2003, toàn thế giới có 171,4 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030. Mỗi ngày có khoảng 8.700 người chết liên quan đến đái tháo đường [63]. Ở Việt Nam, theo Ngô Thanh Nguyên điều tra đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2011, tỷ lệ mắc đái tháo đường người 30 tuổi trở lên là 8,1%, trong đó, số mới chẩn đoán là 69,1% [44]. Theo Trần Minh Long, năm 2010, nghiên cứu tại Nghệ An, tỷ lệ đái tháo đường týp 2 ở người từ 30 – 69 tuổi là 9,37% và tỷ lệ tiền đái tháo đường là 17,97% [36]. Theo Huỳnh Nhân Hải, năm 2012, tỷ lệ đái tháo đường typ 2 tại thành phố Vĩnh Long là 7,4%, trong đó tỷ lệ đái tháo đường đã biết là 5,9%, tỷ lệ đái tháo đường không được chẩn đoán (mới phát hiện) là 1,5%. Tỷ lệ rối loạn đường huyết lúc đói khá cao là 19,4% [ 23 ]; Tỉnh Trà Vinh năm 2012 tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người trên 45 tuổi là 9,5% và tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường là 19,3% [47]. Đái tháo đường còn là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội vì sự phát hiện và điều trị bệnh muộn sẽ để lại hậu quả nặng nề trên bệnh nhân. Theo Hiệp hội bệnh đái tháo đường quốc tế, bệnh đái tháo đường týp 2 ngày càng có xu hướng xuất hiện ở những người trong độ tuổi lao động và ở lứa tuổi trẻ hơn; chi phí khổng lồ cho việc chăm sóc đái tháo đường sẽ là gánh nặng cho nhiều nước đang phát triển trong tương lai tới [68], [74]. Việc phát hiện sớm và quản lý bệnh đái tháo đường trong cộng đồng là vô cùng cần thiết. Nhiều y văn đã chứng minh rằng bệnh đái tháo đường hoàn toàn có thể phòng và quản lý được, những người mắc bệnh đái tháo đường nếu được quản lý, tư vấn truyền thông và điều trị kịp thời bằng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập hợp lý sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh và làm chậm sự xuất hiện các biến chứng do bệnh gây nên [18]. Tỉnh Hậu Giang là một trong những trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam bộ, với sự phát triển và đô thị hoá tốc độ nhanh, tình hình mắc các bệnh không lây sẽ tăng nhanh như đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp,…. Khảo sát tại thị xã Ngã Bảy, năm 2009, bước đầu phát hiện tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở người dân từ 40 - 69 tuổi là 9,8%; trong đó, đồng bào các dân tộc khác tỷ lệ là 11,8%, và bệnh có xu hướng tăng lên trong cộng đồng dân cư [34]. Dân số các dân tộc khác khoảng trên 170.000 người, trên 22% dân số tỉnh Hậu Giang, trong đó, chủ yếu là đồng bào người dân tộc Khmer với những thói quen, tập quán, đặc trưng riêng; nhưng cho đến nay, ở nước ta chưa có nghiên cứu nào đầy đủ về thực trạng mắc bệnh đái tháo đường; cộng đồng người dân Khmer chưa có hiểu biết đầy đủ về bệnh và chưa quan tâm phòng chống bệnh này [47]. Do đó, để có cơ sở khoa học cung cấp thông tin cho ngành y tế Hậu Giang xây dựng các giải pháp và chính sách y tế công bằng và hiệu quả đến tận các cộng đồng đồng bào các dân tộc anh em về chăm sóc dự phòng bệnh không lây nhiễm đang có xu hướng tăng ở nước ta hiện nay chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thực trạng tỷ lệ người dân mắc bệnh đái tháo đường, phát hiện sớm người dân mắc tiền đái tháo đường nhằm tìm các biện pháp phù hợp dự phòng các yếu tố nguy cơ mắc bệnh đặc trưng của người dân tộc Khmer tại cơ sở y tế đầu tiên người dân tiếp cận là trạm y tế xã, qua hai mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường và một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở người Khmer từ 45 tuổi trở lên tại tỉnh Hậu Giang năm 2011. 2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng phòng, chống đái tháo đường ở đồng bào người Khmer từ 45 tuổi trở lên tại địa bàn nghiên cứu. Chương 1 TỔNG QUAN 1.1. BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 1.1.1. Các định nghĩa về đái tháo đường týp 2. Năm 1550 năm trước Công nguyên bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đã được Thầy thuốc Hy Lạp là Arateus đặt tên là bệnh “Đái tháo” (diabetes)[112]. Từ thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên bệnh cũng được ghi nhận ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ là một bệnh với tiểu ngọt và sau một thế kỷ Dobson chứng minh vị ngọt là do đường. Đảo tụy đã được Langerhans mô tả vào năm 1869 và sau đó nhà khoa học Đức là Mering và Minkowski đã phẫu thuật cắt tụy gây bệnh đái tháo đường thực nghiệm trên chó [19]. Theo Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA), năm 2006, định nghĩa đái tháo đường: “Đái tháo đường týp 2 là bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng đường huyết do sự phối hợp giữa kháng insulin và thiếu đáp ứng insulin”[65]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2010, định nghĩa đái tháo đường: “Đái tháo đường là nhóm những rối loạn không đồng nhất gồm tăng đường huyết và rối loạn dung nạp glucose do thiếu insulin, do giảm tác dụng của insulin hoặc cả hai. Đái tháo đường týp 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đường”[101]. “Tiền đái tháo đường (TĐTĐ) là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose bao gồm hai tình huống là rối loạn glucose lúc đói (Impaired Fasting Glucose- IFG) và giảm dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerance- IGF)” [50]. Năm 1979, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã nêu khái niệm giảm dung nạp glucose (GDNG) thay cho thuật ngữ “đái tháo đường giới hạn”. Giảm dung nạp glucose được TCYTTG và Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) xem là giai đoạn tự nhiên của rối loạn chuyển hóa carbohydrate. Năm 1999, rối loạn glucose lúc đói là thuật ngữ mới được giới thiệu. Cả hai trạng thái này đều có tăng glucose máu nhưng chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [20]. Năm 2008, tình trạng trên được Hội Đái tháo đường Mỹ có sự đồng thuận của TCYTTG đặt tên chính thức là tiền đái tháo đường (Pre-diabetes) [69],[71],[127]. 1.1.2. Sinh bệnh học đái tháo đường týp 2 1.1.2.1. Nguyên nhân giảm tiết insulin Tế bào bêta của tuyến tuỵ bị tổn thương nên không thể sản sinh ra insulin được. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do cơ chế tự miễn [50]. - Rối loạn tiết insulin. Tế bào bêta của tuỵ bị rối loạn về khả năng sản xuất insulin bình thường về mặt số lượng cũng như chất lượng để đảm bảo cho chuyển hoá glucose bình thường. Những rối loạn đó có thể là bất thường về nhịp tiết và động học của bài tiết insulin, bất thường về số lượng tiết insulin, bất thường về chất lượng những tế bào peptid có liên quan đến insulin trong máu. Nguyên nhân có sự rối loạn tiết insulin có thể do một số yếu tố sau: Sự tích tụ Triglycerid và acid béo tự do trong máu dẫn đến tăng sự tích tụ Triglycerid là nguyên nhân gây “ngộ độc lipid” ở tụy, tăng nhạy cảm tế bào beta với chất ức chế trương lực α adreneric. - Kháng insulin. Ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, insulin không có khả năng thực hiện những tác động của mình như người bình thường, kháng insulin chủ yếu được nghiên cứu ở gan và cơ. Kháng insulin ở cơ: Các nghiên cứu đã đề xuất nguyên nhân kháng insulin là vai trò của di truyền, hiện tượng giảm hoạt tính của ezym trong quá trình oxy hoá glucose do tăng acid béo tự do sinh ra từ quá trình phân huỷ lipid. Kháng insulin ở gan là vai trò của tăng glucagon và tăng hoạt tính men PEP - CK Một số tình trạng sinh lý và bệnh lý gây ra sự giảm nhạy cảm insulin như béo phì, thai nghén, bệnh cấp tính, đái tháo đường týp 2. Khi tiết insulin bị thiếu do sự kháng insulin và giảm tiết insulin là cơ sở xảy ra tiền ĐTĐ týp 2 và ĐTĐ týp 2 [118]. Quá trình thu nạp glucose ở các cơ quan, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa sự nhạy cảm của các cơ quan với insulin, với axit béo tự do. Các axit béo tự do ở nồng độ sinh lý ức chế mạnh sự gắn của insulin vào tế bào gan. Tăng nồng độ axit béo tự do cũng kích thích quá trình tăng sinh glucose tại gan do đó tăng glucose máu và đề kháng insulin. Giảm hoạt tính kinase ở thụ thể có thể là cơ chế chính trong đề kháng insulin trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Khiếm khuyết tại thụ thể và sau thụ thể góp phần đề kháng insulin, giảm gắn insulin là vấn đề chính giai đoạn tiền đái tháo đường [55]. Nhiều tác giả chứng minh rằng có liên quan giữa nồng độ insulin và một số rối loạn sinh lý và chuyển hóa như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, giảm dung nạp glucose [89]. Giai đoạn sớm, kháng insulin biểu hiện bởi sự gia tăng tiết insulin nhằm hạ glucose máu, chức năng tế bào bêta còn đảm bảo nên glucose máu vẫn bình thường. Vào giai đoạn muộn, theo thời gian khi bắt đầu có tế bào bêta suy giảm về số lượng và chất lượng, sự tiết insulin sẽ giảm xuống và đái tháo đường týp 2 sẽ xuất hiện. Một số nghiên cứu cho thấy khi insulin giảm xuống thì bệnh đái tháo đường týp 2 sẽ xuất hiện. Nghiên cứu của Hoàng Trung Vinh (2008) cho thấy đặc điểm ĐTĐ týp 2 ở bệnh nhân tuổi cao là nồng độ insulin trung bình giảm, chỉ số kháng insulin tăng cao, chỉ số chức năng tiết insulin của tế bào bêta giảm rõ [63]. 1.1.2.2. Rối loạn sự điều tiết Leptin, Resistin, Adiponectin. Yếu tố hoại tử bướu alpha, Interleukin – 6 và kháng insulin. Mô mỡ tiết ra Leptin là một hormone protein có tác dụng tác động lên các hoạt động của cơ thể như: tác động lên sự điều hòa thể trọng, chuyển hóa, chức năng sinh sản và nhiều tác dụng khác. Đặc biệt là Leptin điều hòa nồng độ đường trong máu thông qua hai con đường là kiểm soát sự ngon miệng và tích trữ năng lượng, thông tin cho gan về sử dụng glucose dự trữ. Khi hai con đường trên bị phá vỡ sẽ dẫn đến bệnh ĐTĐ [18]. Khi khối mô mỡ tăng thì làm gia tăng Leptin cùng với sự chuyển hóa bù trừ cho bảo tồn sự nhạy cảm của insulin [117]. Resistin là hormone được tiết ra từ mô mỡ. Trong quá trình biệt hóa mô mỡ thì nồng độ của Resistin sẽ tăng lên. Nồng độ của Resistin máu tăng lên ở người béo phì do chế độ ăn hoặc nguồn gốc di truyền. Giữa béo phì và đái tháo đường có mối liên kết của Resistin, đó chính là nguyên nhân dẫn đến đái tháo đường týp 2 [55]. Adiponectin là một hormone được tiết ra từ các tế bào mỡ của mô mỡ, có tác dụng chống xơ vữa động mạch và tăng độ nhạy của insulin. Adiponectin cũng có tác dụng gây hạ đường huyết bằng cách giảm kháng insulin, Adiponectin không làm tăng cân và có tác dụng chống viêm nhờ tác động lên các tế bào nội mạc. Người béo phì và đề kháng insulin thường có nồng độ Adiponectin trong máu thấp [122]. Yếu tố hoại tử bướu alpha (Tumor Necrosis Factor alpha: TNFα) được tế bào mỡ tạo ra ảnh hưởng đường tín hiệu insulin. Interleukin – 6 (IL-6) do tế bào mỡ và tế bào miễn dịch sản xuất, tăng ở người béo phì và ĐTĐ týp 2. Chất IL-6 kích thích trục dưới đồi – yên – thượng thận và làm tăng các axit béo tự do (FFAs). Cả hai đều gây kháng insulin [55]. 1.1.2.3. Quá trình sinh bệnh đái tháo đường týp 2 Tình trạng kháng insulin cũng xảy ra ở những người béo phì. Giai đoạn sớm mức dung nạp glucose không thay đổi vì tụy tăng tiết insulin giữ cho glucose huyết tương không tăng [31]. Giảm dung nạp glucose là một trong các rối loạn sớm nhất của đái tháo đường týp 2 hay tiền đái tháo đường. Sự tiết insulin đạt đến đỉnh sẽ giảm nhạy cảm của tế bào bêta với glucose và sẽ giảm tiết insulin và ĐTĐ týp 2 sẽ xuất hiện [32], [99]. 1.1.2.4. Chẩn đoán và phân loại đái tháo đường . Năm 1936, Himsworth đề nghị có hai loại bệnh đái tháo đường là đái tháo đường nhạy với insulin và đái tháo đường không nhạy với insulin, tiền thân do thiếu insulin. Năm 1979, ADA đã chính thức công nhận đái tháo đường phụ thuộc insulin đồng nghĩa đái tháo đường týp 1 và đái tháo đường không phụ thuộc insulin đồng nghĩa đái tháo đường týp 2. Nhóm nghiên cứu ĐTĐ Quốc gia Mỹ và TCYTTG phát triển tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ bằng nghiệm pháp dung nạp glucose và được ADA cập nhật vào năm 1997 và được duyệt lại vào năm 2003 [112]. Trong những năm 1999, 2003, 2006, Ủy ban chuyên gia của Hội Đái tháo đường Mỹ, Hội Đái tháo đường Châu Âu đã cập nhật phân loại như sau: - Đái tháo đường týp 1 là có phá hủy tế bào bêta và thiếu insulin tuyệt đối, được chia làm hai thể theo nguyên nhân là do cơ chế tự miễn và do không tự miễn, không phụ thuộc kháng thể kháng bạch cầu ở người (Human Leucocyst Antigen: HLA). - Đái tháo đường týp 2 đặc trưng bởi kháng insulin, giảm tiết insulin, tăng sản xuất glucose từ gan và bất thường chuyển hóa mỡ. Béo phì đặc biệt mỡ nội tạng hoặc béo phì trung tâm là phổ biến nhất trong ĐTĐ týp 2 [118]. - Các týp đặc hiệu khác như đái tháo đường do thiếu hụt chức năng tế bào bêta di truyền (MODY 1,2,3,4,5,6), do thiếu hụt hoạt động insulin do di truyền, do các bệnh tuyến tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết như hội chứng đa nội tiết tự miễn, Cushing, u tế bào tiết glucagon, u tủy thượng thận, cường giáp, u tế bào tiết somatin, u vỏ thượng thận, đái tháo đường do thuốc hoặc hóa chất, do nhiễm trùng, hoặc các týp đái tháo đường do trung gian tự miễn như hội chứng Stiff – Man, Down, Klinerfelter, Turner, … - Đái tháo đường thai nghén là đái tháo đường phát hiện lần đầu lúc mang thai và sau khi sinh phần lớn glucose máu trở về bình thường, một số ít tiến triển thành đái tháo đường týp 2 [21]. Đái tháo đường thể LADA (Latent Autoimmune Diabetes in Adulthood) là đái tháo đường tự miễn nhưng xảy ra ở người lớn [32]. Gần đây, người ta khám phá ra não có sản xuất insulin. Thiếu insulin và glucose trong máu cao là những yếu tố chính ảnh hưởng xấu đến chức năng của não, hậu quả là gia tăng nguy cơ bệnh Alzheimer’s và chứng mất trí. Tình trạng này được đề cập như đái tháo đường týp 3 [103]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 từ 80% đến 90% tổng số bệnh nhân bị đái tháo đường [19] và có thể phòng ngừa được nếu từ bỏ hoặc giảm các yếu tố nguy cơ. Do đó, trong khuôn khổ luận án này chỉ đề cập bệnh tiền đái tháo đường - đái tháo đường týp 2. 1.1.2.5. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường, đái tháo đường. Năm 2004, ADA đã đề xuất hạ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn glucose máu lúc đói từ 6,1 mmol/l huyết tương tĩnh mạch xuống 5,6mmol/l huyết tương tĩnh mạch và đưa ra khái niệm “tiền đái tháo đường” pre - diabetes được quy ước gồm giảm dung nạp glucose (IGT) và IFG. Năm 2008 ADA và TCYTTG chính thức đặt tên là tiền đái tháo đường (pre – diabetes). Bảng 1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các rối loạn đường huyết (TCYTTG - 1999)[65]. Nồng độ Glucose máu mmol/l Chẩn đoán Tĩnh mạch toàn phần Mao mạch toàn phần Huyết tương tĩnh mạch  6,1  6,1  7 Đái tháo đường Glucose lúc đói Hoặc 2 giờ sau test dung nạp Glucose RLDNG (IGT) Glucose lúc đói Và 2 giờ sau test dung nạp Glucose RLĐHLĐ (IFG) Glucose lúc đói Và đo 2 giờ sau test dung nạp Glucose hoặc  10,0 hoặc  11,1 hoặc  11,1 5,6 ≤ 6,1 5,6 ≤ 6,1 6,1 ≤ và < 7 hoặc 6,7 ≤ 11,1 hoặc 7,8 ≤ và < 11,1 hoặc 7,8 ≤ và < 11,1 5,6 ≤ và < 6,1 5,6 ≤ và < 6,1 5,6 ≤ và < 6,1 hoặc < 6,7 hoặc < 7,8 hoặc < 7,8 Chẩn đoán xác định với xét nghiệm lần thứ hai trừ khi có triệu chứng của tăng glucose máu rõ và có glucose máu bất kỳ từ 11,1mmol/l trở lên. Nếu 2 xét nghiệm khác nhau đều đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thì được chẩn đoán xác định. Nếu hai xét nghiệm khác nhau nên lặp lại cùng xét nghiệm có kết quả đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ và chẩn đoán dựa vào kết quả lần sau. Những người này được xem là mắc bệnh ĐTĐ [71]. Năm 2007, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC) sử dụng nồng độ glucose huyết tương lúc đói để ước tính TĐTĐ – ĐTĐ chưa được chẩn đoán. Năm 2011, CDC sử dụng cả nồng độ glucose huyết tương lúc đói và HbA1c để sàng lọc TĐTĐ – ĐTĐ chưa được chẩn đoán. Những xét nghiệm này được chọn vì được thường xuyên sử dụng trong lâm sàng [76]. Những cá thể khỏe mạnh là nồng độ glucose huyết tương tĩnh mạch hay mao mạch lúc đói dưới 100 mg/dl (dưới 5,5 mmol/l) hoặc glucose máu toàn phần dưới 90 mg/dl (dưới 5,0 mmol/l) [74]. Bảng 1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các rối loạn đường huyết theo WHO – IDF 2008 cập nhật 2010 Chẩn đoán Thời điểm lấy máu Glucose lúc đói Đái tháo đường Glucose huyết tương  7 mmol/l Glucose bất kỳ hoặc sau 2  11,1 mmol/l giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose Giảm dung nạp Glucose máu lúc đói và/ 5,6 - <7mmol/l và glucose (IGT) hoặc glucose máu sau 2 giờ 7,8 - < 11,1mmol/l Tiền làm nghiệm pháp dung nạp đái glucose Rối loạn glucose Glucose máu lúc đói và/ 5,6 - <7mmol/l và tháo đường máu lúc đói hoặc glucose máu sau 2 giờ < 7,8mmol/l (IFG) làm nghiệm pháp dung nạp glucose Bình thường Glucose máu lúc đói < 5,6 mmol/l 1.1.3. Các yếu tố liên quan đến đái tháo đường. 1.1.3.1 Các yếu tố liên quan đái tháo đường týp 2 Trong những năm gần đây, người ta đã chứng minh rằng có nhiều yếu tố liên quan gây bệnh đái tháo đường. Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ, những yếu tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2 bao gồm: - Người có tuổi  45 90 -95 % người bị bệnh đái tháo đường týp 2. Ngày nay, bệnh đang có xu hướng xuất hiện ở những bệnh nhân trẻ tuổi, tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường càng lớn. - Thừa cân (BMI  23 đối với người châu Á), béo dạng nam (vòng eo  90 cm đối với nam; hoặc vòng eo  80 cm đối với nữ, WHR cao). Hơn 80% người bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2 có thừa cân. - Huyết áp 140/90 mmHg hoặc cao hơn. - Tiền sử gia đình có cha, mẹ, anh, chị bị đái tháo đường. Nghiên cứu chứng minh rằng người có các thành viên trong gia đình mắc bệnh đái tháo đường thì càng có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường . - Phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai nghén, hoặc tiền sử sanh con to (4 kg) - Người có rối loạn đường huyết lúc đói, hoặc rối loạn dung nạp glucose. Đây là nhóm người có glucose trong máu cao hơn trong giới hạn bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường. - Có LDL cholesterol hoặc Triglycerides cao. - Ít vận động thể lực [50],[102]. - Một vài nghiên cứu tại Mỹ chứng minh rằng. Nhóm dân tộc thuộc Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ Latinh, người Mỹ gốc địa phương, nhóm dân nói tiếng Tây Ban Nha rất dễ mắc bệnh đái tháo đường . Ngoài ra người ta cũng ghi nhận một số các yếu tố khác như: Tiêu thụ nhiều rượu bia, hút thuốc lá cũng được xem là yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường . Trong thực tế còn có nhiều yếu tố liên quan khó thay đổi được như liên quan đến môi trường sống và chế độ ăn uống của từng quốc gia, chủng tộc...Trong số các yếu tố liên quan nói trên có những yếu tố liên quan không thể thay đổi được và có những yếu tố có thể thay đổi được; điều này đặc biệt quan trọng để có những biện pháp giúp tác động vào những yếu tố liên quan có thể thay đổi được, từ đó có thể ngăn chặn hoặc làm chậm diễn tiến bệnh ĐTĐ týp 2. - Các yếu tố liên quan không thay đổi được. + Dân tộc/chủng tộc: Mỗi chủng tộc người có tính nhạy cảm với ĐTĐ týp 2 khác nhau. Tính dễ mắc ĐTĐ týp 2 được ghi nhận lần đầu tiên ở những người sống trong vùng Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, gần đây là dân châu Á và Trung Đông, người bản xứ Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Phi, người da đỏ Hoa Kỳ, người Canada bản xứ, người ở đảo Torres Strait và người Úc bản xứ, người Polynesian ở New Zealand, người Mỹ gốc Mexico và người da đỏ Pima. Tần suất mắc ĐTĐ ở người Ấn gốc Á cũng cao hơn người bản xứ ở Anh, Fiji, Nam Phi và trong vùng Caribê. Sự khác biệt về tần suất ĐTĐ cũng được ghi nhận trong số các cộng đồng dân cư đa chủng tộc ở Hawaii và New Zealand, những người bản xứ Hawaii và Maori có tần suất ĐTĐ cao hơn những chủng tộc khác [75]. + Gia đình: Theo Tổ chức Y tế thế giới, ĐTĐ týp 2 thường có liên quan đến tiền sử gia đình mắc ĐTĐ. Nghiên cứu trên 573 người Bahrain từ 20 tuổi trở lên F.I. Zurba nhận thấy có đến 41,7% trường hợp ĐTĐ có tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ, trong khi đó ở nhóm người không mắc ĐTĐ tỷ lệ gia đình có người mắc ĐTĐ chỉ từ 16% 23,3% [83]. Nghiên cứu về nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 sẽ tăng gấp 2 đến 6 lần ở những người có bố mẹ hoặc anh chị em ruột mắc ĐTĐ. Vì thế tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ là một dữ kiện hữu ích giúp đánh giá khả năng mắc ĐTĐ của một thành viên trong gia đình. Mặt khác tiền sử gia đình mắc ĐTĐ có thể không liên quan đến lý do di truyền. Các thành viên trong gia đình thường có chung những tác động của môi trường, đặc biệt ở trẻ em và thiếu niên. +Di truyền: ĐTĐ týp 2 xảy ra trên anh em sinh đôi đồng hợp tử nhiều hơn anh em sinh đôi dị hợp tử, điều này chứng tỏ yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong việc quyết định tính nhạy cảm đối với bệnh ĐTĐ týp 2. Nhiều nghiên cứu trên các cặp sinh đôi đồng hợp tử người ta nhận thấy tỷ lệ tương đồng cùng mắc ĐTĐ týp 2 lên đến hơn 90%, ngay cả khi trọng lượng cơ thể khác nhau. Tuy vậy không phải tất cả hai thành viên sinh đôi đồng hợp tử đều mắc ĐTĐ týp 2 nếu một người bị mắc ĐTĐ [118]. + Tuổi. Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ týp 2 tăng dần theo tuổi. Ở nhóm dân có tỷ lệ mới mắc cao thì tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ týp 2 cao nhất ở nhóm người trẻ (20-35 tuổi); trong khi ở các nhóm người khác tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở lứa tuổi lớn hơn (55-74 tuổi). Nhìn chung tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ týp 2 giảm ở những người trên 75 tuổi do tỷ lệ tử vong cao ở nhóm người này. Ở các nước đang phát triển, do tình trạng dân số trẻ hóa nên có nhiều trường hợp ĐTĐ týp 2 xảy ra ở lứa tuổi trẻ và trung niên [71]. Trước đây ĐTĐ týp 2 được xem là bệnh lý của người trưởng thành. Tuy vậy trong những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh vẫn có thể xảy ra ở trẻ em và thiếu niên, bệnh ĐTĐ ở trẻ em thường không có triệu chứng và được phát hiện chủ yếu nhờ xét nghiệm tầm soát. + Sự phát triển của thai nhi. Có mối liên quan giữa trọng lượng lúc sinh và chuyển hóa glucose-insulin bất thường về sau. Theo Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), trẻ mới sinh người Châu Á có cân nặng dưới 2500 gam là có cân nặng lúc sinh thấp, trẻ có cân nặng bình thường từ 2500 gam đến dưới 4000 gam. Gần đây người ta quan tâm đến mức độ ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ĐTĐ của việc phát triển thai nhi trong tử cung người mẹ. Con của những người mẹ bị ĐTĐ thường lớn và nặng cân khi sinh, thường có khuynh hướng bị béo phì trong thời kỳ niên thiếu và nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 sớm. Phần lớn nguy cơ mắc ĐTĐ về sau ở trẻ là hậu quả của việc tiếp xúc với môi trường ĐTĐ bên trong tử cung. Những trẻ do mẹ mắc bệnh ĐTĐ sinh ra thì có nguy cơ mắc ĐTĐ về sau gấp 3 lần những trẻ được sinh trước khi mẹ mắc ĐTĐ. Đái tháo đường xảy ra sớm ở những người có mẹ mắc ĐTĐ và làm gia tăng hơn nữa nguy cơ mắc ĐTĐ cho những thế hệ tiếp theo [98]. Mối liên quan giữa trọng lượng lúc sinh thấp và ĐTĐ được Hales C.N. và Barker D.J.P. (2001) cho rằng sự thiếu hụt dinh dưỡng bào thai sẽ làm giảm khối lượng tế bào bêta và mối quan hệ giữa ĐTĐ và trọng lượng lúc sinh thấp có liên quan đến kiểu di truyền “tiết kiệm”, bệnh ĐTĐ týp 2 sẽ xảy ra khi điều kiện dinh dưỡng trở nên dư thừa. Như vậy sự chậm phát triển của thai nhi trong tử cung được xem là một yếu tố nguy cơ mắc đái tháo đường về sau [100]. Một số tác giả cho rằng bố mẹ có mang gen đặc hiệu ảnh hưởng đến insulin, làm cho chính bản thân họ cũng như con cái của họ có nguy cơ bị ĐTĐ trong tương lai [88]. - Các yếu tố liên quan có thể dự phòng thay đổi được. + Béo phì: Béo phì là một đặc điểm thường đi kèm trong ĐTĐ týp 2 và là một yếu tố nguy cơ của tiền ĐTĐ týp 2. Béo phì đã tăng nhanh ở nhiều nhóm dân cư trong vài năm gần đây do hậu quả của sự tác động qua lại giữa yếu tố di truyền và môi trường bao gồm: Rối loạn chuyển hóa, ít hoạt động thể lực, ăn quá nhiều so với nhu cầu... Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 thấp nhất ở những người có BMI < 21 [40],[67]. Hơn nữa, béo phì là yếu tố thuận lợi góp phần làm THA, tăng cholesterol máu, hạ thấp nồng độ HDL.c và làm tăng glucose máu [3]. + Ít hoạt động thể lực, nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc không hoạt động thể lực trong việc hình thành tiền ĐTĐ týp 2, lối sống tĩnh tại đã kéo theo sự gia tăng tương ứng tỷ lệ béo phì. Không hoạt động là nguyên nhân chính của bệnh tim mạch, bệnh mạch vành và tử vong, người không hoạt động thể lực có khả năng dễ phát triển bệnh tim gấp đôi những người có nhiều hoạt động [73]. Vận động thể lực làm tăng nhạy cảm insulin và dung nạp glucose. Tập thể dục làm giảm nguy cơ ĐTĐ týp 2 ở cả người béo phì và không béo phì. Tập thể dục ít nhất 7 giờ trong 1 một tuần làm giảm nguy cơ của ĐTĐ týp 2 đến 39% so với tập thể dục dưới 30 phút trong một tuần. Đối tượng có tiền sử gia đình, bằng việc tập luyện và có lối sống lành mạnh sẽ làm chậm lại, thậm chí phòng ngừa được sự khởi phát của ĐTĐ lâm sàng [128]. + Chế độ ăn. Chế độ tiết thực với tiêu thụ nhiều rau, trái cây, cá, thịt gia cầm và ngũ cốc, làm giảm nguy cơ ĐTĐ týp 2. Số lượng lẫn chất lượng của chất béo đều ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và sự nhạy cảm insulin. Thức ăn có nhiều chất béo gây rối loạn chuyển hóa glucose bằng nhiều cơ chế khác nhau như giảm khả năng gắn insulin vào thụ thể, gây rối loạn vận chuyển glucose, giảm tổng hợp glycogen và tích tụ triglyceride ở cơ vân [56]. Một số nghiên cứu cho thấy ăn nhiều carbohydrate làm tăng tần suất mắc ĐTĐ. Đặc biệt có rất nhiều nghiên cứu chứng tỏ ăn nhiều carbohydrate làm giảm HDL và làm gia tăng triacylglycerol. Sự sản xuất insulin được kích thích liên tục bởi chế độ ăn nhiều carbohydrate và sẽ dẫn đến làm giảm khả năng tiết insulin gây ra ĐTĐ týp 2 khởi phát sớm [57]. Có tác giả cho rằng đường cho vào thức ăn hay thức uống đều có hại cho sức khỏe kể cả đường trắng hay đường nâu, mật ong, hay syro có đường fructose cao, hoặc bất cứ loại nào thêm đường. Mục tiêu được đề xuất là nên thêm đường ít hơn 10% năng lượng hàng ngày [92], [92]. Mặc khác, những nghiên cứu trên nhiều mẫu động vật khác nhau cho thấy gia tăng tiêu thụ đường sẽ dẫn đến tăng huyết áp ngay cả sau khi kiểm soát cân nặng [96]. Một phân tích gộp 88 nghiên cứu cho thấy rằng liên quan giữa thức uống có đường làm tăng cân ảnh hưởng rất nhiều trên giới nữ [90]. + Rượu bia: Lượng lớn alcohol tiêu thụ làm giảm hấp thụ Glucose qua trung gian insulin và RLDNG, có lẽ do tác dụng độc của rượu trực tiếp lên tế bào đảo tụy hay ức chế sự tiết insulin và tăng đề kháng insulin. Hơn nữa, dùng nhiều alcohol làm tăng BMI và nguy cơ khác của ĐTĐ trong khi uống rượu ít hoặc vừa làm giảm các nguy cơ này [57]. Nhiều nghiên cứu cũng đã xác định rằng bệnh liên hệ đến uống nhiều rượu và nghiện rượu là đột quỵ, bệnh cơ tim do rượu, nhiều loại ung thư, xơ gan, và viêm tụy, tai nạn...Nghiên cứu ca bệnh đối chứng và sinh thái học chứng tỏ giảm nguy cơ bệnh mạch vành bằng giảm uống rượu mức độ thấp hoặc vừa phải [57]. Lượng rượu vừa phải có thể được xác định bằng hoặc không nhiều hơn 1 cốc / ngày đối với phụ nữ và không nhiều hơn 2 cốc/ngày đối với đàn ông [67]. Một đơn vị tương đương 1 lon bằng 12 ounces bia; 1 ly bằng 5 ounces rượu vang hoặc 1,5 ounces rượu mạnh như whisky. Mỗi đơn vị tương đương 12 gam đến 14 gam alcohol [90]. + Rối loạn lipid máu: Sự gia tăng acid béo tự do (FFAs) huyết tương đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển ĐTĐ týp 2 thông qua cơ chế gây kháng insulin. ĐTĐ týp 2 phát triển bởi vì tế bào tụy không tiết đủ insulin để bù cho tình trạng kháng insulin càng ngày càng tiến triển. Có sự liên quan chặt chẽ giữa rối loạn lipid máu và ĐTĐ týp 2 [57]. + Tăng huyết áp: Tăng huyết áp (THA) là một trong những yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ týp 2. Khoảng 2/3 người bệnh ĐTĐ có THA. Cả hai bệnh ĐTĐ và THA đều làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim. Hội ĐTĐ và Viện Y tế Quốc gia Mỹ đề nghị người mắc ĐTĐ nên giữ huyết áp dưới 130/80 mmHg và nên kiểm tra huyết áp ít nhất 2 đến 4 lần trong một năm [70]. Tăng huyết áp có ĐTĐ gây biến chứng tim mạch nặng [57]. Trong một nghiên cứu ở những đối tượng không bị ĐTĐ, sự đề kháng insulin xuất hiện 2 đến 4 giờ sau khi gia tăng cấp tính nồng độ axít béo tự do và cần khoảng một thời gian tương đương để biến mất sau khi nồng độ axít béo tự do huyết tương trở lại bình thường. Sự gia tăng axít béo tự do huyết tương sau vài giờ sẽ đưa đến gia tăng triglyceride trong tế bào cơ và đồng thời gây đề kháng insulin. axít béo tự do có thể gây kháng insulin do gia tăng stress oxy hóa. axít béo tự do cũng ảnh hưởng chức năng của insulin trên gan thông qua cơ chế tăng phân giải glycogen dự trữ và vì vậy gây tăng sản xuất glucose ở gan và làm tăng glucose máu [106]. Tuy nhiên, gia tăng nồng độ axít béo tự do góp phần gây rối loạn tiết insulin chỉ trên đối tượng có nguy cơ cao [95]. + Thay đổi lối sống: Thay đổi thói quen ăn uống, tập thể dục thể thao, quản lý cân nặng, ngừng hút thuốc lá, không uống nhiều bia rượu. + Thuốc lá: Hút thuốc lá có liên hệ đến sự đề kháng insulin, là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ týp 2 ở cả nam lẫn nữ. Nghiên cứu cho rằng thuốc lá tăng 70% nguy cơ của ĐTĐ týp 2 và ích lợi của việc ngừng hút thuốc lá đối với ĐTĐ týp 2 chỉ có thể thấy sau 5 năm còn để đạt được giống như người không hút thuốc bao giờ thì thời gian ngừng hút phải trên 20 năm [128]. Theo ATP III 2002, thành phần chủ yếu của điều trị đái tháo đường là phải thay đổi lối sống như: Giảm ăn chất béo bão hòa dưới 7% tổng số ca-lo-ri mỗi ngày, ăn ít hơn 200 mg cholesterol mỗi ngày, chọn những thức ăn để làm tăng sự giảm LDL-C như stanol/sterol thực vật 2 gram/ngày và tăng sợi xơ hòa tan 15 - 20 gram/ngày, giảm cân nếu thừa cân, duy trì cân nặng hợp lý và dự phòng tăng cân, hoạt động thể lực vừa phải để tiêu hao khoảng 200 kcal/ ngày. + Stress: Stress cấp rõ ràng là có liên quan đến đề kháng insulin, tuy nhiên sự đề kháng trong trường hợp này có khả năng hồi phục. Các nhà nghiên cứu cho rằng glucocorticoid gia tăng lúc bị stress có thể đóng góp vào sự đề kháng insulin. Stress tác động đến sự đề kháng insulin trực tiếp hay gián tiếp thông qua tương tác với leptin dẫn đến tăng nồng độ leptin máu và ức chế hoạt động của leptin, thúc đẩy tình trạng đề kháng leptin, góp phần vào sự đề kháng insulin [57]. 1.1.3.2. Đánh giá các nguy cơ tiến triển bệnh ĐTĐ týp 2 Thang điểm FINDRISC đánh giá các nguy cơ tiến triển bệnh ĐTĐ týp 2 dựa vào 8 tiêu chuẩn là tuổi, BMI, vòng bụng, vận động thể lực hàng ngày, chế độ ăn nhiều rau quả, sử dụng thuốc hạ huyết áp, tiền sử có lần phát hiện tăng glucose máu và tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ. Thang điểm FINDRISC được Hội Đái tháo đường Phần Lan đề xuất năm 2001 và được nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới [107]. Một nghiên cứu trên 869 đối tượng sống ở hai khu vực thành phố và vùng ngoại ô Athens của Makrilakis K. và cộng sự (2010), cho thấy nghiệm pháp dung nạp glucose (NPDNG) đã phát hiện được tỷ lệ bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán là 10,8%, giảm dung nạp glucose là 12,6% và rối loạn glucose máu lúc đói là 9,8% [111]. Thang điểm FINDRISC được Schawarz P.E và Li J. cho rằng là công cụ có sẵn để dự báo ĐTĐ týp 2 trong cộng đồng người da trắng, những có thể thay đổi các chỉ số cho phù hợp khi áp dụng trên các dân tộc khác nhau [121]. Năm (2005 – 2008), tại Đài Loan – Trung Quốc, Jou – Wel Lin và cộng sự đã áp dụng 10 thang điểm FINDRISC để dự báo nguy cơ ĐTĐ týp 2 trên 2759 đối tượng. Kết quả thang điểm FINDRISC dùng để dự báo nguy cơ ĐTĐ týp 2 rất tốt. Thang điểm là công cụ đầu tiên dự đoán nguy cơ ĐTĐ trong 10 năm tới [89]. Thang điểm FINDRISC để đánh giá các nguy cơ tiến triển bệnh ĐTĐ týp 2, trong đó thông số BMI và vòng bụng đã được thay đổi cho phù hợp với người châu Á đã sử dụng tại Nhật Bản, theo Shuichi Katoh và cộng sự (2007) nhận định đây là công cụ đánh giá các nguy cơ tiến triển bệnh bệnh đái tháo đường trong 10 năm tới có hiệu quả. Thang điểm FINDRISC có điều chỉnh BMI và vòng bụng theo tiêu chuẩn Châu Á. Mức đánh giá của vòng bụng là 0, 3, 4 điểm, mỗi mức cách nhau 8cm tương đương thang điểm FINDRISC. Mức cao nhất là điểm cắt tiêu chuẩn thay cho điểm cắt tiêu chuẩn vòng bụng to của người Châu Âu trong thang điểm FINDRISC (102 cm đối với nam và 88 cm đối với nữ). Phân độ BMI dành cho người Châu Á. Theo TCYTTG, nguy cơ bệnh ĐTĐ týp 2 và tim mạch người Châu Á tăng khi BMI ≥ 23 kg/m2, và phân loại như sau: + BMI < 18,5 kg/m2: nhẹ cân; + 18,5 kg/m2 - < 23 kg/m2: nguy cơ chấp nhận được; + 23 kg/m2 – 27,5 kg/m2: nguy cơ tăng; + ≥ 27,5 kg/m2: nguy cơ cao [126]. Tóm lại, thang điểm FINDRISC đã được áp dụng trên cộng đồng tại một số quốc gia của Châu Á và Đông Nam Á với sự thay đổi tiêu chí vòng bụng và BMI cho phù hợp với người Nam Á. Vì thế qua luận án này lần đầu tiên chúng tôi áp dụng thang điểm FINDRISC tại Việt Nam để đánh giá các nguy cơ tiến triển bệnh đái tháo đường trong cộng đồng người dân tộc Khmer và cũng qua kết quả của thang điểm này chúng tôi sẽ phát hiện được những yếu tố nguy cơ quan trọng cần can thiệp nhằm làm chậm tiến triển tiền đái tháo đường sang đái tháo đường týp 2. 1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN C U V ĐÁI THÁO Đ NG 1.2.1 Tình hình nghiên cứu về đái tháo đường trên thế giới. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới, tốc độ phát triển của bệnh đái tháo đường tăng nhanh trong những năm qua. Đái tháo đường týp 2 đang là một cuộc khủng hoảng trên toàn cầu đe dọa sức khỏe và kinh tế cho tất cả các quốc gia, đặc biệt là những nước phát triển. Nguyên nhân đầu tiên của sự gia tăng bệnh đái tháo đường trong cộng đồng là do tình trạng đô thị hóa nhanh chóng, thay đổi tình trạng dinh dưỡng và gia tăng lối sống tĩnh tại. Sự gia tăng bệnh ĐTĐ ở Châu Á được đặc trưng là mức BMI thấp và trẻ tuổi so với dân số da trắng [84], [120]. Nghiên cứu Frank B. cho thấy dinh dưỡng kém trong tử cung và trong thời thơ ấu cùng với dinh dưỡng dư thừa trong cuộc sống sau này có thể góp phần vào sự gia tăng bệnh ĐTĐ hiện tại trong dân số Châu Á [84]. Bảng 1.3. Mười quốc gia có số người mắc bệnh ĐTĐ cao nhất năm 2000 và ước tính năm 2030 [130] Năm 2030 Năm 2000 STT Quốc gia Số người mắc bệnh ĐTĐ (Triệu người) 31,7 Quốc gia Ấn Độ Số người mắc bệnh ĐTĐ (Triệu người) 79,4 1 Ấn Độ 2 Trung Quốc 20,8 Trung Quốc 42,3 3 Mỹ 17,7 Mỹ 30,3 4 Indonesia 8,4 Indonesia 21,3 5 Nhật Bản 6,8 Pakistan 13,9 6 Pakistan 5,2 Brazil 11,3 7 Nga 4,6 Bangladesh 11,1 8 Brazil 4,6 Nhật Bản 8,9 9 Ý 4,3 Philippines 7,8 10 Bangladesh 3,2 Ai Cập 6,7 Tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường - đái tháo đường thay đổi nhiều theo từng nghiên cứu, một phần do tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thay đổi từ mức 140 mg/dl (7,8 mmol/l) xuống mức 126 mg/dl (7,0 mmol/l) và tiêu chuẩn chẩn đoán TĐTĐ từ 110 mg/dl (6,1 mmol/l) xuống 100 mg/dl (5,6 mmol/l) nhưng cũng do tỷ lệ TĐTĐ – ĐTĐ gia tăng trong cộng đồng. Tình hình đái tháo đường trên thế giới gia tăng rất nhanh theo Liên đoàn đái tháo đường Quốc tế, bệnh đái tháo đường hiện nay trên thế giới khoảng 285 triệu người và ước tính sẽ tăng nhanh trong những năm tới, dự đoán đến năm 2030 có khoảng 438 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Điều đáng quan tâm là tỷ lệ mắc bệnh gặp nhiều ở các nước có thu nhập từ thấp đến trung bình với 2/3 trường hợp ĐTĐ xảy ra ở những nước có thu nhập từ thấp đến trung bình. Năm 2010, số người giảm dung nạp glucose khoảng 344 triệu người, dự đoán con số này tăng lên khoảng 472 triệu người vào năm 2030 [84]. Đối với bệnh đái tháo đường ngày nay khi phát hiện thì bệnh nhân đã có rất nhiều biến chứng, thực tế cho thấy khi phát hiện bệnh đái tháo đường trên 50% bệnh nhân này đã có biến chứng tim mạch. Điều đó chứng tỏ biến chứng trên bệnh nhân đái tháo đường đã xảy ra khi bệnh nhân ở giai đoạn tiền đái tháo đường, chưa có triệu chứng lâm sàng [1], [69]. Tại Mỹ, năm 2010, khoảng 1,9 triệu người Mỹ được lần đầu tiên chẩn đoán ĐTĐ. Năm 2011, số người mắc bệnh đái tháo đường rất cao khoảng 26 triệu người tương đương 8,3% trong tổng số người Mỹ mắc ĐTĐ và khoảng 79 triệu người trưởng thành mắc TĐTĐ tương đương 11,3% tuổi từ 20 trở lên. Khoảng 27% người bệnh ĐTĐ tương đương 7 triệu người Mỹ không biết là họ bị bệnh… [77]. Vùng Đông Nam Á có tỷ lệ rối loạn glucose lúc đói cao nhất vào năm 2003, và tỷ lệ rối loạn glucose lúc đói sẽ là 13,5% vào 2025. Khoảng 15% người ở vùng khác sẽ bị ĐTĐ hoặc rối loạn glucose lúc đói vào năm 2025. Khoảng 2% đến 14% (trung bình khoảng 5%) người có rối loạn glucose lúc đói tiến triển thành ĐTĐ týp 2 mỗi năm [86]. Linstrom J. nghiên cứu thuần tập trên 4.435 đối tượng, dùng thang điểm có 7 biến số: tuổi, BMI, vòng bụng, đã hoặc đang dùng thuốc hạ huyết áp, tiền sử tăng glucose máu, vận động thể lực dưới 4 giờ/tuần, và tiết thực nhiều rau, quả. Thời gian theo dõi 5 năm cho kết quả với số điểm trên 9 test này có độ nhạy là 0,78 và 0,81; độ đặc hiệu là 0,77 và 0,76; giá trị tiên đoán dương là 0,13 và 0,05 [107]. Nghiên cứu của Chương trình Phòng ngừa ĐTĐ Mỹ cho thấy rằng một chế độ ăn kỹ lưỡng và can thiệp tập luyện làm giảm xảy ra ĐTĐ týp 2 khoảng 58% trong số 1.079 người với GDNG được theo dõi trong 2,8 năm và so sánh với nhóm chứng chỉ thực hiện lời khuyên thay đổi lối sống và giả dược [117]. Nghiên cứu ở Da Qing, Trung Quốc (1997 – 2003) trên 110.660 đối tượng từ 33 trung tâm y tế được sàng lọc bằng nghiệm pháp dung nạp glucose tìm ra 577 đối tượng đạt tiêu chuẩn giảm dung nạp glucose theo tiêu chuẩn của TCYTTG, và được chia làm 3 nhóm can thiệp gồm chế độ ăn, vận động thể lực và cả hai yếu tố trên. Nghiên cứu sau 6 năm can thiệp dự phòng đã giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 ở cả 3 nhóm lần lượt là 31%, 46% và 42% [116]. Nghiên cứu phòng ngừa ĐTĐ ở Phần Lan (2003) trên 522 người trung niên thừa cân có GDNG, mục tiêu của nhóm can thiệp là làm giảm cân, giảm chế độ ăn nhiều mỡ, tăng vận động thể lực và ăn nhiều chất xơ. Kết quả có cải thiện đáng kể từng mục tiêu can thiệp sau 1 đến 3 năm, cân nặng giảm 4,5 kg (sau 1 năm) và 3,5kg (sau 3 năm) và ở nhóm chứng là 1,0 kg và 0,9 kg. Sau một năm can thiệp có sự cải thiện đáng kể về lâm sàng và các chỉ số về chuyển hóa. Chỉ số glucose máu giảm ở nhóm rối loạn glucose lúc đói (-0,2 so với 0,3 mmol/l), và chỉ số HbA1c (-0,1% so với 0,1%) [108]. Trong nghiên cứu của Chương trình Phòng ngừa Đái tháo đường của Mỹ gần một nửa số người tham gia được chẩn đoán hội chứng chuyển hóa, nhóm người có yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch cũng kèm với sự gia tăng đái tháo đường týp 2. Trên những người với hội chứng chuyển hóa, 23% nhóm sử dụng Metformin và 38% nhóm sử dụng thay đổi lối sống đều giảm hội chứng chuyển hóa ở giai đoạn kết thúc nghiên cứu. Cả hai loại trị liệu thay đổi lối sống và Metformin đều làm giảm sự phát triển hội chứng chuyển hóa. Nhìn chung, thay đổi lối sống là bảo đảm và rất hiệu quả để phòng ngừa ĐTĐ týp 2 và làm giảm nguy cơ tim mạch ở những người bị TĐTĐ týp 2 [119]. Những nghiên cứu trên chứng minh rằng TĐTĐ – ĐTĐ týp 2 có thể phòng ngừa được bằng thay đổi lối sống hoặc bằng thuốc. Theo một nghiên cứu tại Campuchia (2005) ở lứa tuổi từ 25 tuổi trở lên mắc đái tháo đường tại Siemreap là 5% và ở Kampomg Cham là 11% [80] . 1.2.2 Tình hình nghiên cứu đái tháo đường ở Việt Nam. Ở Việt Nam, sau nhiều năm đổi mới, kinh tế tăng trưởng nhanh đã phần nào cải thiện cuộc sống và sức khoẻ cộng đồng. Song chúng ta nhận thấy rằng sự biến đổi sâu sắc trong lối sống, đặc biệt của cư dân các đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Xe máy, ô tô gần như đã thay thế xe đạp, các công việc cần đến sức cơ bắp đã có đội ngũ người giúp việc làm thay. Mất cân bằng trong việc nhận năng lượng và tiêu thụ năng lượng là yếu tố nguy cơ cho các bệnh béo phì, tăng huyết áp, tăng mỡ máu và bệnh đái tháo đường phát triển. Theo Nguyễn Huy Cường, năm 1999 – 2001, đã tiến hành điều tra 3.555 người từ 15 tuổi trở lên với xét nghiệm glucose mao mạch lúc 17 giờ có trị số trên 105 mg/dl rồi tiếp tục làm nghiệm pháp dung nạp glucose ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung ở nội và ngoại thành Hà Nội là 2,42%. Trong đó 64% mới phát hiện, tỷ lệ nội thành là 4,31% và ngoại thành là 0,61% và GDNG ở nội thành là 3,27% và ngoại thành là 1,56% [15]. Nguyễn Hải Thủy, năm 2002 – 2004, nghiên cứu 328 tu sĩ từ 15 tuổi trở lên có chế độ ăn chay trường thuần túy tại Huế, ghi nhận tỷ lệ tăng glucose máu là 27,44%, tỷ lệ GDNG là 17,68%. Tỷ lệ mắc ĐTĐ là 9,75%. Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng từ 2,1 lần ở độ tuổi từ 40 đến 59, tăng lên 3,84% lần ở độ tuổi trên 60 [57]. Nguyễn Hứa Quang, Nguyễn Hải Thủy (2004 – 2005) nghiên cứu trên 101 đối tượng từ 40 tuổi trở lên là con của bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Các đối tượng được tiến hành làm nghiệm pháp dung nạp glucose ghi nhận tỷ lệ tăng glucose máu là 36,63%, trong đó ĐTĐ là 18,81% và GDNG là 17,82%. Tỷ lệ này cao hơn trong các nghiên cứu trong cộng đồng cùng độ tuổi [51]. Từ năm 2003 đến năm 2009 có nhiều công trình điều tra dịch tễ học ĐTĐ trong nước trên nhiều tỉnh thành cho nhiều kết quả khác nhau. Theo điều tra ĐTĐ toàn quốc cuối năm 2008, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng gần gấp đôi năm 2002 (5,0% so với 2,7%) và tỷ lệ này tăng nhanh ở các thành phố lớn (4,0% năm 2000 so với 7,2% năm 2008) [9]. Tại Trà Vinh, nghiên cứu năm 2004 cho kết quả tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người trên 35 tuổi là 3,7% [46]. Tại tỉnh Hậu Giang, năm 2009, nghiên cứu tỷ lệ bệnh đái tháo đường lứa tuổi từ 40 – 69 tuổi là 9,8% và ở nhóm dân tộc khác là 11,8% [34]. Theo Trần Minh Long và cộng sự (2010) nghiên cứu tại Nghệ An, tỷ lệ đái tháo đường týp 2 ở người từ 30 – 69 tuổi là 9,37% và tỷ lệ tiền đái tháo đường là 17,97% [36]. Tại Trà Vinh, Cao Mỹ Phượng năm 2012 nghiên cứu về bệnh đái tháo đường đã cho kết quả tỷ lệ bệnh đái tháo đường tương đương ở người trên 45 tuổi là 9,5% và tiền đái tháo đường có tỷ lệ cao hơn 19,3% [47]. Nghiên cứu của Ngô Thanh Nguyên và cs (2012), nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2011 cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ người 30 trở lên là 8,1%, trong đó nữ là 51,9% và nam là 48,1% [44]. Những công trình điều tra dịch tễ trên cho tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ, ĐTĐ không giống nhau do đối tượng nghiên cứu khác nhau, thời điểm khác nhau và tiêu chuẩn chẩn đoán thay đổi Bên cạnh rất nhiều những công trình nghiên cứu dịch tễ học có rất ít nghiên cứu công bố về kết quả can thiệp tại Việt Nam. Nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cs (2004) trên đối tượng mắc bệnh ĐTĐ cho kết quả có sự thay đổi tích cực về kiến thức, thái độ, hành vi tự chăm sóc sau khi được giáo dục [6]. Tác giả Nguyễn Vinh Quang (2007) nghiên cứu hiệu quả can thiệp trên cộng đồng tại Nam Định, Thái Bình từ năm 2002 đến 2004 cho thấy có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực về nhận thức và hành vi, giảm tỷ lệ tiến triển từ TĐTĐ sang ĐTĐ, giảm chỉ số BMI và HbA1c sau can thiệp 18 tháng [52]. Các nghiên cứu trên đây phần nào góp tiếng nói trong lãnh vực dịch tễ học ĐTĐ và y học dự phòng. Tỷ lệ mắc TĐTĐ – ĐTĐ có vẻ rất khác nhau giữa các vùng trong nước, tỷ lệ mắc TĐTĐ – ĐTĐ thay đổi nhiều theo từng nghiên cứu có thể do đối tượng khác nhau, tiêu chuẩn chẩn đoán của TĐTĐ – ĐTĐ thay đổi cùng với tình trạng đô thị hóa nhanh chóng, kinh tế xã hội phát triển, lối sống tĩnh tại hưởng thụ dẫn đến con người tiếp xúc nhiều yếu tố nguy cơ trong cộng đồng làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh TĐTĐ - ĐTĐ trong những năm gần đây. 1.3 HIỆU QUẢ CỦA CÁC CAN THIỆP PHÒNG, CHỐNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1.3.1. Các biện pháp phòng, chống đái tháo đường trên thế giới. Cách ngăn chặn phát triển thành bệnh đái tháo đường týp 2, ở người lớn được chẩn đoán tiền đái tháo đường, nếu thực hiện việc thay đổi hành vi lối sống có thể phòng tránh và làm chậm quá trình bệnh tiến triển lên thành ĐTĐ týp 2. Kết quả từ chương trình phòng chống bệnh ĐTĐ của cơ quan về dịch vụ sức khỏe và con người Hoa Kỳ (HHS) tiến hành trên 3.000 người cho thấy giảm từ 5 - 7% kg cân nặng có thể làm giảm 58% nguy cơ bệnh tiến triển lên ĐTĐ týp 2. Có thể giảm cân bằng cách ăn kiêng (giảm chất béo và lượng calo ăn vào) cũng như tập thể dục với mức độ vừa phải tối thiểu 150 phút một tuần (hầu hết những người tham gia nghiên cứu chọn đi bộ). Năm 1989, Hội nghị Y tế toàn cầu lần thứ 42 đã kêu gọi thế giới hành động về phòng và kiểm soát bệnh ĐTĐ theo khung của Nghị quyết WHA42.36 [75]. Sau sự kiện này, nhằm hưởng ứng tích cực lời kêu gọi trên thế giới đã diễn ra những hành động như “Tuyên bố the St. Vincent ở Châu Âu năm 1994”, “Tuyên bố và kế hoạch hành động của khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2000” tương tự là “Tuyên bố và chiến lược của khu vực cận Sahara năm 2008” và “Tuyên bố Kathmandu trong năm 2008” [82]. Nghị quyết WHA 42.36 có thể nói đã mở đầu cho sự phát triển của Chương trình Phòng chống ĐTĐ ở cấp độ quốc gia. Các chương trình này ở mỗi nước là phương tiện cho các quốc gia phân bổ nguồn lực một cách rõ ràng để ngăn ngừa bệnh ĐTĐ và chăm sóc cho người bị ĐTĐ, có thể được xem như là một cam kết của các nước để phòng chống bệnh ĐTĐ [82]. Vào năm 2006, Liên hợp quốc (UN) đã công bố Nghị quyết UN61/225 về phòng chống ĐTĐ với thông điệp kêu gọi: “Các nước thành viên xây dựng chính sách quốc gia để điều trị, phòng chống và chăm sóc của bệnh ĐTĐ phù hợp với sự phát triển bền vững của hệ thống chăm sóc sức khỏe của họ, tiến đến thống nhất mục tiêu phát triển quốc tế bao gồm cả các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế (IDF) đang phát triển mô hình hữu ích để hỗ trợ các nước cần thiết kế một chương trình phòng chống bệnh ĐTĐ quốc gia. Theo IDF, một thiết kế chương trình phòng chống ĐTĐ quốc gia phải bao gồm những mục tiêu là nâng cao nhận thức cộng đồng xúc tiến quốc gia, truyền thông và giáo dục; phòng ngừa cấp 1 nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ; thay đổi hành vi và điều trị nhằm phát hiện sớm bệnh làm giảm biến chứng, tử vong. Mặc dù thay đổi lối sống có hiệu quả cao để phòng ngừa TĐTĐ - ĐTĐ týp 2, trong thời gian qua đã có một số khuyến cáo can thiệp bằng thuốc để phòng ngừa TĐTĐ - ĐTĐ týp 2. Vào thập niên 80, thuốc được sử dụng Sulphonylurea, Tolbutamide cho những người có rối loạn dung nạp glucose. Những năm gần đây Metformin, thuốc ức chế glucosidase là Acarbose, chất ức chế lipase dạ dày ruột là Orlistat và Thiazolidinediones (TZDs) được nghiên cứu điều trị TĐTĐ týp 2. Căn cứ trên những nghiên cứu lâm sàng và những ý tưởng như sự dung nạp và chi phí, Metformin được khuyến cáo là một lựa chọn điều trị nếu có chỉ định điều trị TĐTĐ týp 2 bằng thuốc. Đặc biệt, Metformin được chấp nhận trên bệnh nhân dưới 60 tuổi với BMI từ 30 kg/m2 trở lên căn cứ trên những dữ liệu trong nghiên cứu của Chương trình Phòng ngừa ĐTĐ Mỹ. Heikes K.E. (2008) đề nghị một công cụ sàng lọc không can thiệp TĐTĐ và ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong dân số Mỹ có 8 biến số bao gồm tuổi, vòng bụng, yếu tố di truyền, chiều cao, dân tộc, tăng huyết áp, tiền sử gia đình và tập thể dục [95]. Tóm lại, Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế và các Hội Đái tháo đường của nhiều nước trên thế giới đang quan tâm đặc biệt đến bệnh tiền ĐTĐ, ĐTĐ týp 2 và nỗ lực can thiệp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh nâng cao sức khỏe cộng đồng. 1.3.2. Các biện pháp phòng chống đái tháo đường ở Việt Nam Hiện, cả nước có trên 2 triệu người mắc đái tháo đường týp 2, 3% dân số. Còn theo kết quả một cuộc điều tra sơ bộ mới đây tại Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình, Nghệ An, có tới 16,3% số người từ 25 tuổi trở lên mắc bệnh tăng huyết áp. Vì thế, việc cần làm trước mắt là phải đánh giá và sàng lọc những đối tượng có nguy cơ cao tại cộng đồng và cơ sở y tế nhằm phát hiện sớm những người mắc bệnh không lây nhiễm; tập trung xây dựng các mô hình trọng điểm về phòng chống bệnh không lây nhiễm dựa vào cộng đồng. ĐTĐ là căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng con người và gây nhiều tổn thất kinh tế cho xã hội do chi phí điều trị rất cao. Bệnh ĐTĐ, trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp 2 85 - 95%. Đây là bệnh do tác động qua lại của cả 2 yếu tố là di truyền và môi trường. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy nếu loại trừ tình trạng thừa cân, béo phì và ít hoạt động thể lực (2 yếu tố nguy cơ chính gây bệnh) thì có thể phòng ngừa việc nhiễm căn bệnh này. Một hướng phòng chống bệnh được chú ý là việc can thiệp lối sống cộng đồng, thay đổi hành vi ăn uống sinh hoạt (thay đổi chế độ ăn thừa đạm, mỡ, chất béo bằng sinh hoạt ăn, ngủ điều độ, vận động thể lực hợp lý) được coi là giải pháp dự phòng hiệu quả, ngăn ngừa tình trạng gia tăng tỷ lệ người mắc ĐTĐ hiện nay. Tình hình quản lý bệnh ĐTĐ ở nước ta còn nhiều hạn chế, mạng lưới y tế quản lý bệnh ĐTĐ chưa phủ khắp toàn quốc, mà mới tập trung ở một vài trung tâm y tế lớn của quốc gia; số cán bộ có khả năng khám và điều trị bệnh ĐTĐ còn thiếu về mặt số lượng và hạn chế về mặt kiến thức; trang bị để chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân còn lạc hậu; bệnh nhân thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và nhiều biến chứng. Một nghiên cứu ở Yên Bái tỷ lệ bệnh ĐTĐ lần lượt 69,7%; 80,6% không được phát hiện và điều trị; Tại Nghệ An tỷ lệ bệnh ĐTĐ 69,7%; có 64% không được phát hiện và điều trị [31]. Nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ và phòng bệnh còn nhiều hạn chế. Người mắc bệnh ĐTĐ còn bi quan trong điều trị do thấy rằng điều trị ít có hiệu quả. Những người có yếu tố nguy cơ thì không biết những nguy cơ mắc bệnh của mình cũng như kiến thức về phòng bệnh [28]. Chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002 - 2010, có đề cập đến mục tiêu giảm tỷ lệ mắc, biến chứng và tử vong của bệnh ĐTĐ. Để chống bệnh ĐTĐ có hiệu quả, không thể chỉ trông chờ vào cơ quan y tế, vào kỹ thuật tiên tiến, mà toàn xã hội phải tự thấy có trách nhiệm, từ việc tuyên truyền giáo dục, đến việc cải tiến công nghệ thực phẩm, thay đổi lối sống, thực hiện chế độ ăn uống hợp lý kết hợp với gia tăng vận động. Điều này không chỉ để phòng bệnh ĐTĐ mà còn góp phần vào việc phòng ngừa các bệnh mạn tính không lây khác (bệnh tăng huyết áp, ung thư, tim mạch,...) và giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. 1.3.3. Các chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường. Hiện nay, theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh ĐTĐ đã được công nhận là bệnh đặc biệt nghiêm trọng đe dọa đến sức khỏe và sự phát triển kinh tế ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy vào năm 1989, Hội nghị lần thứ 42 của Hội nghị Y tế toàn cầu (Hội đồng Y tế toàn cầu - WHA) đã thông qua lời kêu gọi toàn cầu hành động về phòng và kiểm soát bệnh ĐTĐ theo khung của Nghị quyết WHA 42.36 và phản ứng triển khai của năm châu lục cũng đã được thông qua. Sau sự kiện này, một loạt hành động khác nhằm hưởng ứng tích cực lời kêu gọi này trên thế giới đã diễn ra như Tuyên bố The St. Vincent ở châu Âu năm 1994; Tuyên bố và kế hoạch hành động của khu vực Tây Thái Bình Dương; chiến lược của khu vực cận Sahara năm 2008 và Tuyên bố Kathmandu trong năm 2008 [82]. Nghị quyết WHA 42.36 có thể nói đã mở đầu cho sự phát triển của chương trình phòng chống ĐTĐ ở mức độ quốc gia. Các chương trình này ở mỗi nước là phương tiện mà các quốc gia phân bổ nguồn lực một cách rõ ràng để ngăn ngừa bệnh ĐTĐ và chăm sóc cho người bị ĐTĐ và do đó có thể được xem như là một chỉ số của sự cam kết của các nước để đối phó với bệnh ĐTĐ [82]. Tiếp theo Nghị quyết WHA42.36 thì vào năm 2006, Liên hợp quốc (UN) đã công bố Nghị quyết UN61/225 về phòng chống ĐTĐ bao gồm ba thông điệp chính, một trong đó kêu gọi. “Các nước thành viên xây dựng chính sách quốc gia để điều trị, phòng chống và chăm sóc của bệnh ĐTĐ phù hợp với sự phát triển bền vững của hệ thống chăm sóc sức khỏe của họ, tính đến thống nhất mục tiêu phát triển quốc tế bao gồm cả các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.” Tình hình chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường Để hưởng ứng lời kêu gọi này của Liên hợp quốc, Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế (IDF), tổ chức đóng vai trò then chốt trong việc phòng chống bệnh ĐTĐ toàn cầu, đã tổ chức “Lực lượng đặc biệt chuyên trách về chính sách quốc gia về ĐTĐ và hành động” để tiến hành khảo sát 202 thành viên Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế trong năm 2008 để xác định sự tồn tại, nội dung và tình hình thực hiện của chương trình phòng chống ĐTĐ tại quốc gia của họ. Kết quả cuộc khảo sát này cho thấy, có một nửa các thành viên của Hiệp hội đã phản hồi lại với IDF và 61% trong số 89 nước trả lời thông báo rằng tại đất nước họ đã có chương trình quốc gia phòng chống bệnh ĐTĐ. Và 3/4 số kế hoạch của các nước này đã được thực hiện. Bên cạnh đó, trong 2/3 nước thì chương trình quốc gia phòng chống bệnh ĐTĐ nằm trong chiến lược quốc gia chung về bệnh không lây truyền. Các quốc gia còn lại báo cáo rằng họ có kinh phí dành riêng cho chương trình quốc gia phòng chống bệnh ĐTĐ. Cuộc điều tra đã chứng minh rằng có một sự gắn kết mạnh mẽ về hoạt động của các quốc gia về phòng chống bệnh ĐTĐ trên thế giới. Tuy nhiên, nó cũng chứng minh sự cần thiết của một nỗ lực phối hợp để khuyến khích và hỗ trợ các nước mà không có và những nước có chương trình này nhưng không hoạt động để phát triển và thực hiện kế hoạch phòng chống và chăm sóc toàn diện nhằm giảm gánh nặng của bệnh ĐTĐ cho gia đình, cá nhân và xã hội trên toàn cầu. 1.3.4 Thiết kế chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường. Để hỗ trợ các nước cần thiết kế một chương trình phòng chống bệnh ĐTĐ quốc gia, Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế, đang phát triển thiết kế hữu ích để giúp đỡ họ trong việc này và xây dựng chương trình này đòi hỏi các nước phải xem xét và cung cấp nguồn lực cho phát triển và thực hiện nó. Chương trình này cũng sẽ phải bao gồm đo lường được vấn đề (tình trạng bệnh và chi phí điều trị), can thiệp để giảm thiểu tác hại (bao gồm phòng chống, chẩn đoán sớm, dịch vụ và chăm sóc người bị bệnh ĐTĐ) và sau cùng là đánh giá tác động của các can thiệp. Theo Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế, một thiết kế chương trình phòng chống ĐTĐ quốc gia phải bao gồm những mục tiêu sau: - Nâng cao nhận thức công chúng, xúc tiến quốc gia, thông tin và giáo dục. - Phòng ngừa tiểu học (giảm tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ). - Thay đổi hành vi và điều trị (phát hiện sớm bệnh làm giảm biến chứng, tử vong, giảm thiểu tác hại và thay đổi hành vi). - Nâng cao chất lượng chuyên môn và đào tạo cho nhân viên chăm sóc bệnh nhân ĐTĐ (nhân viên y tế). - Phát triển hướng dẫn quốc gia về điều trị của bệnh ĐTĐ - Hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học về bệnh ĐTĐ. - Thiết lập một hệ thống đăng ký bệnh ĐTĐ. Chắc chắn sự thành công hay không của các chương trình phòng chống bệnh ĐTĐ quốc gia phải tập trung vào câu hỏi liệu nó có phải chương trình bền vững hay không và rất rõ ràng rằng các phong trào xây dựng chương trình quốc gia phòng chống bệnh ĐTĐ bắt đầu 20 năm trước với Nghị quyết WHA42.36 của tổ chức y tế thế giới và hiện đang được hỗ trợ của Liên hợp quốc bằng Nghị quyết 61/225, sẽ mang tính bền vững và có khả năng gắn kết một cuộc chiến mạnh mẽ và thành công chống lại bệnh ĐTĐ [82]. 1.3.5 Các mô hình can thiệp phòng chống bệnh đái tháo đường. 1.3.5.1. Khái niệm về mô hình. Mô hình là một cách trình bày đơn giản của thực tế, trong đó một số khía cạnh của sự chính xác có thể bỏ qua hoặc được giả thuyết là không thay đổi để các khía cạnh khác có thể quan sát rõ hơn. Có hai nhóm mô hình: Nhóm các mô hình “chuẩn” liên quan tới mô tả những hiện tượng có thể xảy ra trong những điều kiện đặc biệt nào đó - điều kiện không hiện thực. Nhóm các mô hình “mô tả” đưa ra những hiện tượng gần với thực tế nhất, nhóm này được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ hơn.Trong lĩnh vực y tế các tác giả thường thể hiện các mô hình “mô tả” bằng lời hoặc bằng biểu đồ, sơ đồ hoặc mô hình toán học. 1.3.5.4. Nội dung can thiệp phòng chống đái tháo đường trong cộng đồng. - Can thiệp thay đổi chế độ ăn uống Khuyến cáo chế độ ăn giảm rối loạn lipid máu bao gồm giảm lượng chất béo, cholesterol, tăng protein ít béo, tăng chất xơ, chất bột 60-70% tổng năng lượng trong ngày, hạn chế đường mật [30]. - Can thiệp khuyến khích tăng cường hoạt động thể lực + Khái niệm về hoạt động thể lực, hoạt động thể lực được xác định là sự vận động của cơ thể được tạo ra bởi sự co giãn của cơ xương và sự gia tăng tiêu thụ năng lượng trên mức cơ bản. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hoạt động thể lực bao gồm 4 thành phần [2]. Tập thể dục thể thao, công việc chân tay, đi lại bằng phương tiện không có động cơ, một số việc nhà như gánh nước, kiếm củi. Khối lượng thực sự hoạt động thể lực cần thực hiện tùy thuộc vào mục tiêu thích hợp của mỗi người. Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và chế độ ăn kiêng. Nghiên cứu áp dụng chế độ ăn giảm mỡ, cholesterol < 100mg/ngày, carbohydrate >70% kcal và sợi xơ 35g/1000 kcal, tập thể dục nhịp điệu và đi bộ, kết quả cho thấy giảm có ý nghĩa mức cholesterol máu 20%, đường 16% [2],[50]. Tác dụng giảm béo, nghiên cứu cho thấy tập luyện các bài tập rèn sức bền thường xuyên có hiệu quả giảm béo cao. Trong loại hình vận động này thì đi bộ nhanh là phương pháp giảm béo rất tốt. Đi bộ nhanh kết hợp chế độ ăn uống hạn chế thức ăn có chứa nhiều ca-lo-ri sẽ có tác dụng giảm cân nhanh [2]. Quy trình luyện tập thường là đi bộ nhanh 5-7 buổi/ tuần, mỗi buổi 40-60 phút trong 4-6 tháng, rồi sau đó chuyển sang tập luân phiên giữa đi bộ nhanh và chạy bước nhỏ để tăng cường phát triển chức năng của hệ thống tim mạch và hô hấp [1],[2] - Những khuyến cáo can thiệp về hoạt động thể lực Để giảm nguy cơ bệnh tim, giảm cholesterol, ĐTĐ người trưởng thành cần 30 phút hoạt động vừa phải trong hầu hết và tốt nhất là tất cả những ngày trong tuần bằng các hoạt động như đi bộ nhanh, chạy bộ, đạp xe, bơi ...Mức hoạt động này cũng có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ, ung thư đại tràng, THA, ĐTĐ và những vấn đề sức khỏe khác với cường độ về sau càng tăng hơn, ở 50-85% nhịp tim tối đa [52]. Thời gian trong một ngày có thể chia ra mỗi lần 15 phút hoặc 10 phút . Nếu cần cố gắng để duy trì cân nặng và dự phòng tăng cân, cần 60 phút hoạt động từ vừa đến mạnh hầu hết những ngày trong tuần, đồng thời chú ý lượng calori thu vào chỉ cần vừa đủ để duy trì cân nặng, nếu cần để giảm cân nên cố gắng 60 phút- 90 phút hoạt động mạnh vừa phải và không thu nhận thừa calori. Cần chọn những hoạt động dễ thực hiện và trở thành thói quen hàng ngày, thuận lợi thời gian để duy trì hoạt động [50]. Một số hình thức tập luyện sức bền phổ biến: + Đi bộ sức khỏe: Trong số các loại hình thể dục thể thao củng cố và nâng cao sức khoẻ thì đi bộ nhanh có vị trí quan trọng và có tính đại chúng cao, đặc biệt là đối với những người cao tuổi [1]. Đi bộ có ảnh hưởng tốt lên toàn bộ cơ thể, đặc biệt là đối với hệ thống tim mạch, hô hấp, giảm cân, chữa bệnh cường độ vận động phụ thuộc vào số bước chân trong 1 phút [50]: Rất chậm, từ 60 đến 70 bước trong một phút (2,5-3km/giờ) Chậm, từ 70 đến 90 bước trong một phút (3-4km/giờ) Nhanh, từ 120 đến 140 bước trong một phút (5,5-6,5km/giờ) Rất nhanh, trên 140 bước trong một phút (trên 6,5 km/giờ) Đi bộ với tốc độ lên đến 6,5 km/giờ thì cường độ vận động đã có thể đạt ở vùng có hiệu quả rèn luyện (Số lượng mạch 120-130 lần/phút), và trong một giờ có thể tiêu hao khoảng 300-400 kcal (khoảng 0,7 kcal/1kg thể trọng/trên 1km đường). Đi bộ nhanh để củng cố và nâng cao sức khoẻ có thể áp dụng cho những đối tượng có chống chỉ định đối với chạy, những đối tượng ở các độ tuổi khác nhau mới bắt đầu tham gia tập luyện mà có tình trạng thể lực kém. Cùng với sự gia tăng trình độ rèn luyện, các bài tập đi bộ sức khoẻ cần phải được xen kẽ với tập chạy, chạy bước nhỏ. + Chạy: Trong những năm gần đây, chạy là một loại hình rèn luyện phổ biến, có số lượng lớn người tham gia, ở mọi lứa tuổi. Môn chạy là một loại hình vận động phổ cập nhất để tập thể lực và nâng cao sức khoẻ. Trừ một số ngoại lệ, tất cả mọi người đều có thể tập chạy, không phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, trình độ luyện tập [2]. Môn chạy rất tự nhiên và đơn giản đến mức không đòi hỏi huấn luyện kỹ thuật đặc biệt, nhưng nó có ảnh hưởng cực kỳ tốt đối với cơ thể con người. + Bơi: Tiêu hao năng lượng của cơ thể trong khi bơi có một loạt các đặc điểm khác biệt. Ngay từ giây phút đầu khi người bơi xuống nước, chưa thực hiện các động tác vận động, tiêu hao năng lượng của cơ thể đã tăng thêm 50% so với bình thường để giữ tư thế trong nước, tiêu hao năng lượng đã tăng 2-3 lần, vì tính dẫn nhiệt của nước cao hơn của không khí 25 lần. Do lực cản và tính chất dẫn nhiệt của nước lớn nên tiêu hao năng lượng khi bơi cao hơn khoảng 4 lần so với đi bộ cùng tốc độ (3 kcal/kg/km; 0,7 kcal/kg/km tương đương). Như vậy, tập bơi là một phương pháp tuyệt vời để giảm cân. Để đạt được hiệu quả rèn luyện sức khoẻ của tập bơi, cần phải phát triển tốc độ bơi đủ lớn để mạch đập đạt trên 130 lần/phút, tập bơi 3 buổi/tuần, mỗi buổi khoảng 30 phút [1]. + Thể dục nhịp điệu: Để đạt được hiệu quả củng cố, nâng cao sức khoẻ và can thiệp bệnh tật, chúng ta cần phải tham gia tập luyện thường xuyên, tối thiểu tuần hai lần và mỗi lần 30 phút với cường độ cao, phù hợp với lứa tuổi của mình, với yêu cầu có không dưới 2/3 số cơ của cơ thể tham gia vào quá trình vận động. Hiệu quả tập luyện chỉ đạt được khi trong phần tập chính cường độ gánh nặng vận động tương đương khoảng 65-85% của F max, trong trường hợp này nhịp tim đạt 136-156 nhịp/phút. Với đối tượng tập luyện từ 40 tuổi trở lên, đối tượng mới bắt đầu tập hoặc sau khi nghỉ tập trong một thời gian dài cần phải tập với cường độ 65% của F max (hay 130-140 nhịp/phút). Nếu đối tượng đang tham gia tập luyện thường xuyên và có trình độ rèn luyện tốt thì có thể tập luyện ở vùng cường độ gần 85 % Fmax (hay Số lượng mạch đạt 156 nhịp/phút). Lựa chọn hoạt động để thực hiện thành công một chương trình rèn luyện cần lựa chọn một hoạt động hoặc những hoạt động phù hợp cho bản thân, thuận lợi về thời gian và những lợi ích gì sẽ thu được từ hoạt động [50]. - Khuyến khích giảm uống nhiều rượu và bỏ hút thuốc lá Tiêu thụ rượu vừa phải liên hệ với tử vong thấp hơn, và tiêu thụ rượu cao hơn thì tử vong cao hơn. Lượng rượu vừa phải có thể được xác định bằng hoặc không nhiều hơn 1 cốc/ngày đối với phụ nữ và không nhiều hơn 2 cốc/ ngày đối với đàn ông [30]. 1.3.5.5. Tình hình chi phí về phòng chống đái tháo đường. Trong thực tế tại tỉnh Hậu Giang chưa có đề tài nào nghiên cứu về chi phí của một bệnh nhân đái tháo đường; nhưng theo các nghiên cứu trước đây đã cho thấy chi phí trực tiếp cho 10 triệu người bị đái tháo đường chung năm 1998 đã tiêu tốn 26,97 tỷ USD và chi phí trực tiếp cho điều trị đái tháo đường týp 2 từ 3 – 6% ngân sách dành cho ngành y tế. Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay thì bệnh đái tháo đường càng gia tăng chứng tỏ là nguồn kinh phí chi cho công tác phòng chống và điều trị bệnh ĐTĐ là một chi phí rất khổng lồ mà đó là vấn đề gánh nặng cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [47]. Chính vì thế đề tài này nhằm mục đích nâng cao hoạt động y tế nhằm làm giảm bệnh ĐTĐ trong cộng đồng người dân tộc Khmer, góp phần giảm tỷ lệ bệnh ĐTĐ chung. Đồng thời giảm mức chi phí điều trị cho bệnh nhân góp phần giảm chi phí cho ngân sách nhà nước . 1.4. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU. Tỉnh Hậu Giang là một tỉnh mới được chia tách từ Thành Phố Cần Thơ vào năm 2005 và là một tỉnh nghèo nhất trong tỉnh miền Tây Nam bộ, có diện tích tự nhiên là 1.600 km2. Có bảy đơn vị hành chính là thành phố, thị xã và huyện. Với dân số chung 800.000 người, có khoảng trên 20% người dân là dân tộc Khmer (khoảng trên 170.000 người) và đồng bào các dân tộc khác…. Cộng đồng dân tộc Khmer có nền văn hóa đặc trưng về ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù. Người dân tộc Khmer đa số là sống về nghề nông, trình độ dân trí thấp, cuộc sống kinh tế khó khăn, sự hiểu biết về chăm sóc sức khoẻ chưa cao. Trong một năm người dân tộc Khmer có rất nhiều lể hội lớn như: lễ Chôl Chnam Thmây - tết năm mới; lễ Sen Dolta; lễ Ok Ombok là lễ nông nghiệp rất tiêu biểu và đặc thù của người Khmer. Trong đời sống người dân tộc Khmer, chùa Phật giáo có vai trò rất quan trọng. Mỗi ngôi chùa Khmer không chỉ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo mà còn là trung tâm văn hóa nghệ thuật, đào tạo, giáo dục xã hội và là nơi giao lưu học tập lẫn nhau. Đặc điểm của đồng bào Khmer ở ĐBSCL đa số người dân sống ở nông thôn, cư trú thành những cụm dân cư gọi là Phum, Sóc tương đối biệt lập với cộng đồng các dân tộc khác, cũng có một bộ phận đồng bào sống xen kẽ với người Kinh, còn một số hộ sinh sống rải rác ở vùng sâu và ở ven các kênh rạch. Xuất phát điểm về đời sống của đồng bào Khmer, tốc độ phát triển chậm so với mức bình quân chung trong vùng. Nghề nghiệp chính là trồng lúa khoảng trên 50%, và trồng trọt hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản, buôn bán đi làm thuê, làm mướn,…Thu nhập bình quân nhìn chung còn thấp. Tuy nhiên hiện nay tốc độ phát triển về kinh tế văn hoá xã hội tăng nhanh, đời sống của một số bộ phận người dân của tỉnh Hậu Giang có sự thay đổi rõ nét như từ lao động chân tay chuyển lao động trí óc, cuộc sống người dân được nâng lên. Từ đó số người dân có cuộc sống tĩnh tại rất cao trong cộng đồng, đường xá giao thông được nâng cấp, xây dựng nối ấp liền ấp, xã liền xã, huyện liền huyện và thông suốt về trung tâm tỉnh, thành phố. Từ đó sự phát triển về kinh tế, giao lưu hàng hoá mua bán được thuận tiện đời sống của đại đa số người dân được nâng lên, cho nên không phải tại trung tâm tỉnh người dân mới có cuộc sống tĩnh tại mà tất cả các huyện thị trong tỉnh từ nông thôn đến thành thị đều có sự thay đổi rất nhanh. Điều đặc biệt người dân tộc Khmer từ lâu đời là đối tượng lao động nặng nhọc có thói quen sử dụng các thực phẩm ngũ cốc như: gạo, ngô, khoai là thức ăn chính hằng ngày, đồng thời có thói quen chế độ ăn ngọt, béo nhiều hơn mức cho phép; một số người dân thường lao động về đêm tại các kênh rạch nên đã hình thành nên thói quen ăn đêm tại mỗi hộ gia đình; bên cạnh đó, thường sau một ngày lao động thì tổ chức nhậu kể cả nam lẫn nữ từ đó việc tiêu thụ rượu của từng cá nhân cũng rất cao. Về bệnh tật và mạng lưới y tế cộng đồng: điều kiện tiếp cận với cán bộ y tế còn hạn chế nên kiến thức phòng ngừa bệnh tật chưa được đầy đủ. Trong khi đó có các xã đều có trạm y tế thì chỉ bác sĩ hoặc y sĩ và được trang bị một số dụng cụ khám chữa bệnh, thuốc điều trị các bệnh thông thường. Các trạm y tế đều được tập huấn, chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật cũng như thuốc men, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân. Một số cán bộ y tế tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số vừa thiếu, vừa yếu. Công tác tuyên truyền phòng chống các dịch bệnh cho đồng bào còn hạn chế cả về nội dung, hình thức cũng như phương pháp. Qua thực tế trên cho thấy cần quan tâm nghiên cứu về các bệnh tật nói chung và bệnh đái tháo đường nói riêng và mỗi dân tộc có một tỷ lệ mắc bệnh khác nhau, nhưng chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về bệnh tật ở đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Tây Nam bộ, mặc dù có cùng trong môi trường sống chung của người dân miền Nam bộ, nhưng có một cách sống theo phong tục tập quán về ăn ở và sinh hoạt khác nhau. Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài này để xác định một số đặc điểm về căn bệnh ĐTĐ ở người dân tộc Khmer và tìm ra các biện pháp phù hợp phòng chống bệnh đài tháo đường . Hình 1.2.Bản đồ tỉnh Hậu Giang và các địa điểm nghiên cứu Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đ I T NG NGHIÊN C U Những người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên đang cư trú trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tại thời điểm nghiên cứu. 2.1.1. Tiêu chí chọn mẫu Những người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên đang cư trú trên địa bàn huyện, xã được chọn ngẫu nhiên tại thời điểm nghiên cứu. Xác định đối tượng là dân tộc Khmer dựa vào giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ khẩu. Những người đồng ý tham gia nghiên cứu. 2.1.2. Tiêu chí loại trừ Những người mới chuyển đến từ nơi khác không có đăng ký cư trú. Những người bệnh tâm thần. 2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU Tại cộng đồng dân cư thuộc 3 huyện của tỉnh Hậu Giang. Các huyện được chọn là huyện Long Mỹ; huyện Châu Thành A và huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang. 2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 9 năm 2013. Nghiên cứu được tiến hành qua 2 giai đoạn. - Từ tháng 9 năm 2011. Nghiên cứu mô tả cắt ngang. - Từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 9 năm 2013. Nghiên cứu can thiệp. 2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.4.1. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn và thiết kế theo 2 phương pháp. - Giai đoạn 1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang - Giai đoạn 2. Nghiên cứu can thiệp trên cộng đồng có đối chứng Thiết kế các phương pháp nghiên cứu như sau: Điều tra ngang Tình hình bệnh đái tháo đường và các yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở người dân tộc Khmer tại tỉnh Hậu Giang Điều tra Nhóm can thiệp ngang tại cộng đồng và 2 xã cứu can thiệp Điều tra ngang sánh tại cộng đồng và 2 xã Thử nghiệm mô hình So sánh So sánh Nghiên Nhóm đối chứng So CAN THIỆP So Nhóm can thiệp sánh Nhóm đối chứng Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp phòng chống bệnh đái tháo đường ở đồng bào người dân tộc Khmer. 2.4.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu mô tả 2.4.2.1 Cỡ mẫu đối tượng nghiên cứu ngang mô tả Cỡ mẫu . Được tính theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên đơn, cỡ mẫu n . n = Z²(1-α/2) x p(1-p) d² x DE Trong đó: Z(1-α/2) = 1,96, với độ tin cậy 95%. p = 0,15. p là tỷ lệ đái tháo đường và tiền đái tháo đường theo nghiên cứu người Khmer tại Campuchia năm 2005[80]. d = 0,03: là sai số lựa chọn. Hệ số thiết kế DE = 2. làm tròn số ta được. Cỡ mẫu n = 1100. - Chọn mẫu. Chọn ngẫu nhiên 3 huyện, mỗi huyện chọn 2 xã. Với cỡ mẫu là 1100 người/4792 người/6 xã. Mỗi xã chọn mẫu ngẫu nhiên theo danh sách người dân từ 45 tuổi trở lên của mỗi xã với số lượng đối tượng chọn tương ứng theo tỷ lệ dân số.` Chọn mẫu. Dùng phương pháp phân tầng. Chọn huyện: Tỉnh Hậu Giang được chia thành 7 đơn vị hành chính có một thành phố Vị Thanh, một thị xã Ngã Bảy và năm huyện, bốc thăm ngẫu nhiên chọn ba huyện. Các huyện được chọn là huyện Long Mỹ; huyện Châu Thành A và huyện Vị Thủy đại diện cho người dân tộc Khmer tỉnh Hậu Giang . Chọn xã. Mỗi huyện chọn hai xã theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên. Như vậy có 6 xã được chọn để nghiên cứu . Chọn mẫu. Chọn người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên. Dùng phương pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống chọn đủ các đối tượng vào mẫu qua các bước lập danh sách toàn bộ người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên ở mỗi xã. Sau đó xác định khoảng cách k theo công thức k= N/n . Tiến hành trên bảng số ngẫu nhiên một số R trong khoảng từ 1 đến k và cũng là đối tượng đầu tiên được chọn vào mẫu. Chọn những cá thể trong danh sách trên có số thứ tự lần lượt là R, R+ k, R +2k, R + 3k ... cho đến đủ số mẫu cần chọn . 2.4.2.2. Nội dung và định nghĩa biến số nghiên cứu cắt ngang - Tỷ lệ tiền đái tháo đường – ĐTĐ ở người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên Tỷ lệ người mắc tiền đái tháo đường. Tỷ lệ người mắc đái tháo đường. - Chỉ số về kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh. + Về kiến thức Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về bệnh đái tháo đường . Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ . Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về khám phát hiện đái tháo đường . Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về cách phòng bệnh đái tháo đường . Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về hậu quả bệnh đái tháo đường . + Về thái độ Tỷ lệ người dân đồng ý cần sự quan tâm phòng, chống ĐTĐ của cộng đồng. Tỷ lệ người dân đồng ý về lối sống và chế độ ăn không đúng sẽ ảnh hưởng đến bệnh ĐTĐ. Tỷ lệ người dân đồng ý bệnh ĐTĐ có ảnh hưởng đến kinh tế, gia đình, xã hội Tỷ lệ người dân đồng ý với những biện pháp y tế phòng, chống ĐTĐ Tỷ lệ người dân đồng ý vận động thể lực là biện pháp phòng bệnh ĐTĐ . + Về thực hành Tỷ lệ người dân từ bỏ hành vi có hại: không hút thuốc lá, không lạm dụng rượu bia Tỷ lệ người dân thường xuyên tập thể dục thể thao phòng chống bệnh ĐTĐ Tỷ lệ người dân thực hiện dinh dưỡng đúng trong bữa ăn hàng ngày Tỷ lệ người dân thường xuyên thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh Tỷ lệ người dân kiểm tra sức khỏe định kỳ, quan tâm đến bệnh đái tháo đường và tiếp thu những tư vấn, truyền thông của ngành y tế. - Chỉ số các yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường của người Khmer + Về dân số học, gia đình: Giới, tuổi, học vấn, kinh tế gia đình, nghề nghiệp Tiền sử gia đình. + Về các thói quen trong cuộc sống: Chế độ ăn uống, hoạt động thể lực, uống rượu, hút thuốc lá. + Về thể lực, sức khỏe Liên quan chỉ số BMI và ĐTĐ Liên quan vòng bụng ĐTĐ Liên quan tỷ lệ vòng bụng /vòng mông và ĐTĐ Liên quan tăng huyết áp và ĐTĐ Liên quan tiền sử sản khoa và ĐTĐ + Chỉ số về đánh giá nguy cơ tiến triển bệnh đái tháo đường Dựa theo thang điểm FINDRISC (Finnish Diabetes Risk Score) Hội đái tháo đường Phần Lan đề xuất năm 2001 [106]. Theo 8 tiêu chuẩn: Tuổi, BMI, vòng bụng, hoạt động thể lực hằng ngày từ 30 phút trở lên, thường ăn rau quả, đã có lần được kê toa thuốc hạ huyết áp, đã có lần phát hiện tăng đường huyết, có người thân được chẩn đoán ĐTĐ ( týp 1 hoặc týp 2). Nguy cơ tiến triển bệnh ĐTĐ: Thấp, thấp nhẹ, trung bình, cao, rất cao. - Về các giải pháp can thiệp theo mức độ nguy cơ Mức độ nguy cơ trung bình: Từ 12-14 điểm, xem xét nghiêm túc về hoạt động thể lực, thói quen ăn uống, chú ý cân nặng, nên xét nghiệm kiểm tra. Mức độ nguy cơ cao, rất cao: Từ 15 điểm trở lên, nên kiểm tra đường huyết nhanh và đường huyết sau ăn hoặc làm nghiệm NPDN glucose. - Biến số về nhân khẩu, gia đình và môi trường Nhóm tuổi. Theo sự phân chia yếu tố nguy cơ của thang điểm FINDRISC phân chia nhóm tuổi thành 4 nhóm. Đề tài nghiên cứu trên đối tượng từ 45 tuổi trở lên nên được chia làm 3 nhóm tuổi. Nhóm từ 45 đến 54 tuổi, nhóm từ 55 đến 64, nhóm trên 64 tuổi [107]. + Giới tính. Có hai biến là giới nam và giới nữ. + Nơi sinh sống. Có hai vùng là khu vực chợ và nông thôn. + Trình độ học vấn. Có 4 cấp độ là mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông , cao đẳng, đại học. + Nghề nghiệp. Là nghề mà người dân có thu nhập nhiều nhất và cần nhiều thời gian làm việc: Nông dân, công nhân viên, buôn bán, nghề nghiệp khác: làm thuê, chạy xe ôm, . . .) + Mức kinh tế gia đình. Mức kinh tế gia đình chia thành 2 mức: Khá- đủ ăn; Nghèo- cận nghèo. Tiêu chuẩn xác định hộ nghèo/hộ cận nghèo theo qui định trong chỉ thị 1752/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hộ nghèo khu vực nông thôn có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống, khu vực thành thị có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. Hộ cận nghèo khu vực nông thôn có thu nhập bình quân 401.000–520.000 đồng/người/tháng. Khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân 501.000–650.000 đồng/ người/ tháng. Những hộ nghèo và cận nghèo có sổ hộ nghèo được địa phương cấp [12]. Hộ từ khá đủ ăn trở lên là những hộ có thu nhập cao hơn mức qui định cho hộ nghèo và cận nghèo, không có sổ nghèo và cận nghèo. + Tiền sử gia đình. Có 2 giá trị có/không: có cha, mẹ, anh, chị em ruột mắc bệnh đái tháo đường, đó là người thân cùng huyết thống thế hệ thứ nhất hoặc thế hệ thứ 2 như chú, bác, cô, dì được chẩn đoán là đái tháo đường. + Tiền sử bản thân. Có sinh con từ 4000 g trở lên. Có 2 giá trị có/không: có tiền sử sinh con cân nặng lúc sinh từ 4000 g trở lên hoặc không. + Tiền sử tăng glucose máu. Sử dụng 2 giá trị có/không đã được phát hiện tăng glucose máu tại một cơ sở y tế. Đã được chẩn đoán đái tháo đường. Có 2 giá trị có/không: Có là đã được một cơ sở y tế chẩn đoán là ĐTĐ hoặc đang dùng thuốc điều trị ĐTĐ. Không là không có tiêu chuẩn trên. - Biến số kiến thức về bệnh đái tháo đường + Kiến thức về triệu chứng bệnh đái tháo đường Có hai giá trị kiến thức đúng và không đúng. Kiến thức đúng là trả lời đúng một trong các triệu chứng sau: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, sụt cân, tiểu ngọt, mệt mỏi. Không đúng trả lời không đúng triệu chứng nào. + Kiến thức về yếu tố nguy cơ tiền đái tháo đường, đái tháo đường. Có hai giá trị kiến thức đúng và không đúng. Kiến thức là trả lời đúng một hay nhiều câu về các yếu tố nguy cơ có trong bảng câu hỏi. Kiến thức không đúng là trả lời không đúng các câu hỏi + Kiến thức về cách phát hiện tiền đái tháo đường, đái tháo đường Có hai giá trị kiến thức đúng và không đúng. Kiến thức đúng là trả lời đúng về xét nghiệm máu. Kiến thức không đúng là trả lời không đúng các câu hỏi + Kiến thức về hậu quả bệnh đái tháo đường. Có hai giá trị kiến thức đúng và không đúng. Kiến thức đúng là trả lời đúng một trong những hậu quả của bệnh. Kiến thức không đúng là trả lời không đúng các câu hỏi + Kiến thức về cách phòng bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường. Có hai giá trị kiến thức đúng và không đúng. Kiến thức đúng là trả lời đúng một trong những hậu quả của bệnh. Kiến thức không đúng là trả lời không đúng các câu hỏi - Biến số về hành vi sức khỏe liên quan + Hút thuốc lá Có 2 giá trị là có và đang hút thuốc lá và không hút thuốc lá (hoàn toàn). + Thói quen uống nhiều rượu bia Có 2 mức độ là: Có lạm dụng rượu/ không có lạm dụng rượu bia. Được xác định có lạm dụng rượu bia khi lượng rượu bia uống vào cơ thể được xác định bằng hoặc không nhiều hơn 1 cốc / ngày đối với phụ nữ và không nhiều hơn 2 cốc/ngày đối với đàn ông [67]. Một đơn vị tương đương 1 lon bằng 12 ounces bia; 1 ly bằng 5 ounces rượu vang hoặc 1,5 ounces rượu mạnh như whisky. Mỗi đơn vị tương đương 12 gam đến 14 gam alcohol [90]. Không lạm dụng rượu bia là không uống rượu bia hoặc uống ít hơn tiêu chuẩn trên. + Nguồn cung cấp năng lượng của khẩu phần ăn do lipid. Có 2 mức độ là: - Có sử dụng nhiều thực phẩm chứa lipid Nguồn cung cấp năng lượng của khẩu phần ăn do lipid nhiều là có chế độ ăn thường xuyên trên 25% lipid/ngày và trên 7% mỡ bảo hòa hay trên 300 gam/ người/ tháng, thường xuyên ăn mỡ động vật, chất béo trên 4 ngày/tuần. Ước lượng theo bàn tay Zimbabwe lượng mỡ ăn vào trong một bữa ăn nhiều hơn một lượng bằng đầu ngón tay cái [113]. Không có sử dụng nhiều thực phẩm chứa lipid là không ăn hoặc ăn lượng ít không đạt tiêu chuẩn trên. + Ăn, uống nhiều đường. Có 2 mức độ là: Ăn uống nhiều đường là ăn uống thường xuyên trên 60% glucid/ngày hay ăn trên 10 gam đường/ngày. Một muỗng cafe tương tương 4,2 gam đường [79]. Thường xuyên ăn chè, bánh ngọt, cho đường vào chế biến thức ăn hoặc uống nước có vị ngọt hoặc cho từ 2,5 muỗng café đường vào nước uống/ngày, trên 4 ngày/tuần. Không ăn uống nhiều đường là không có những tiêu chuẩn trên. + Ăn nhiều rau quả, giàu chất xơ. Có 2 mức độ là: Có chế độ ăn thường xuyên có rau, quả, giàu chất xơ, ăn trên 300 gam/người/ngày và trên 4 ngày/tuần. Ước lượng theo bàn tay Zimbabwe mỗi bữa ăn lượng rau cầm hơn 2 bàn tay [79]. Không ăn hoặc không đạt các yếu tố trên. + Ăn đêm. Có hai giá trị có/không. Có ăn đêm là ăn sau 20h, trên 4 ngày/tuần. Không là không có các yếu tố trên. + Vận động thể lực. Có 2 giá trị: Có đi bộ hoặc vận động thể lực từ 30 phút/ngày trở lên, trên 4 ngày/tuần; tương đương 150 phút/tuần. Không vận động thể lực hoặc vận động thể lực không đạt các yếu tố trên. - Biến số về các chỉ số sức khỏe trung gian. + Tăng huyết áp. Có hai giá trị là có/không. Có tăng huyết áp khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau: Đang uống thuốc hạ huyết áp Tiền sử tăng huyết áp, có xác nhận chỉ số đo tăng huyết áp Huyết áp đo được đủ tiêu chuẩn chẩn đoán của JNC VII. Dựa theo phân loại của JNC VII chia thành 2 cấp độ tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên hoặc tăng cả hai chỉ số tâm thu và tâm trương và chỉ số huyết áp bình thường [124]. + Béo phì dạng nam. Có hai mức độ là có/không. Sử dụng tiêu chuẩn vòng bụng áp dụng cho người Châu Á [25], [129]: Vòng bụng < 90cm (nam) hoặc < 80 cm (nữ): Bình thường, không có béo phì dạng nam; Vòng bụng  90 cm (nam) hoặc  80 cm (nữ): Vòng bụng to, có béo phì dạng nam. + Phân loại thể trạng theo chỉ số khối cơ thể (BMI.) Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá BMI dành cho người Châu Á (APG) [24]. Sử dụng 3 giá trị: thừa cân/béo phì khi BMI từ 23 kg/m2 trở lên, bình thường khi BMI từ 18,5 kg/m2 đến dưới 23 kg/m2 và gầy khi BMI dưới 18,5 kg/m2 . Công thức tính BMI = cân nặng/(chiều cao)2 + Mức mỡ nội tạng. Chỉ sử dụng hai giá trị cao và không cao theo Hội Béo phì Nhật. Có 2 cấp độ là mức mỡ nội tạng bình thường từ 1 đến 9, mức mỡ nội tạng cao là trên 9. + Tỷ lệ mỡ cơ thể. Theo tiêu chuẩn của Lohman và Nagmine. [115] Tiêu chuẩn phân loại: Thấp : nam < 10, nữ < 20 Bình thường : 10 < nam < 20, 20 < nữ < 30 Cao : nam ≥ 20, nữ ≥ 30 Tiêu chuẩn loại trừ không tính BMI, tỷ lệ mỡ cơ thể và mức mỡ nội tạng là đối tượng bị run tay chân, khuyết tật chi không cân, đo được. - Biến số về các chỉ số trực tiếp Bảng 2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các rối loạn đường huyết theo WHO – IDF 2008 cập nhật 2010 và theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA/WHO năm 2010 Chẩn đoán Thời điểm lấy máu Glucose máu lúc đói Đái tháo đường Nồng độ glucose huyết tương  7 mmol/l (126 mg/dl) Glucose máu bất kỳ hoặc sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose  11,1 mmol/ Hoặc nồng độ HbA1c 6,5% (200 mg/dl l ) Hoặc bệnh nhân đã được chẩn đoán và đang điều trị ĐTĐ Giảm dung nạp glucose Tiền đái (IGT) tháo Rối loạn đường glucose máu lúc đói (IFG) Bình thường Glucose máu lúc đói và/ hoặc 5,6 - <7mmol/l và (100 < 126 mg/dl) Hoặc glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose 7,8 - < 11,1mmol/l (140 - < 200 mg/dl) Glucose máu lúc đói 5,6 - <7mmol/l và/ hoặc glucose máu sau 2 giờ làm và/ hoặc dưới nghiệm pháp dung nạp glucose 7,8mmol/l Hoặc nồng độ HbA1c từ 5,7% -< 6,5%. Glucose máu lúc đói < 5,6 mmol/l 2.4.2.3. Tổ chức thực hiện điều tra cắt ngang . - Chuẩn bị Thành lập nhóm nghiên cứu Tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế, các cộng tác viên tham gia nghiên cứu. Tổ chức hội nghị đồng thuận và triển khai thực hiện nghiên cứu cho các đối tượng là lãnh đạo Trung tâm y tế các huyện, Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân, trưởng trạm y tế xã tại địa bàn nghiên cứu. Lập danh sách người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên tại 6 xã được chọn nghiên cứu ngang, chọn ngẫu nhiên số người đưa vào mẫu của từng xã (danh sách mời tăng thêm 15% so với mẫu để tránh thiếu mẫu do các đối tượng không đến khám vì nhiều lý do). Cộng tác viên tại các xã viết và gửi thư mời hoặc đến mời trực tiếp tại nhà đến các đối tượng được chọn vào danh sách theo lịch khám. Tổ chức đoàn điều tra thu thập số liệu gồm: 2 cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn quy trình khám, 2 cán bộ y tế đo huyết áp, 2 cán bộ đo chiều cao, cân nặng, 2 kỹ thuật viên xét nghiệm máu, 4 bác sĩ khám phỏng vấn và tư vấn về phòng, chống bệnh đái tháo đường, 1 cán bộ dược cấp phát thuốc. Số lượng khám mỗi ngày: Tùy theo số lượng đối tượng nghiên cứu của từng xã để phân chia lịch khám trung bình mỗi ngày từ 50 – 60 người. Thực hiện hết xã này đến xã khác. Địa điểm tổ chức khám và phỏng vấn tại trạm y tế các phường, xã hoặc tại một nhà dân tại xã nghiên cứu, các trang thiết bị được vận chuyển đến từng Trạm y tế hoặc tại nhà dân đã được chọn trước để thực hiện tại chỗ. Những người được chẩn đoán tiền đái tháo đường, đái tháo đường sẽ được kiểm tra lại bằng máu tĩnh mạch tại các bệnh viện huyện đang nghiên cứu Thời gian điều tra từ tháng 9/2011, tất cả các ngày trong tuần. - Thực hiện điều tra Phỏng vấn trực tiếp. Phỏng vấn trực tiếp để thu thập các số liệu về năm sinh, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình, tiền sử bệnh và sử dụng thuốc, tiền sử bệnh của gia đình, thói quen tập thể dục, hút thuốc lá, uống rượu bia và kiến thức, thái độ, thực hành đối với phòng, chống bệnh đái tháo đường. Quan sát. Khám và phát hiện bệnh, số liệu được thu thập qua thăm khám được tiến hành do một nhóm cố định các bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và đã được tập huấn nội dung, phương pháp cân đo, lấy số liệu, thu thập thông tin. Khám và phát hiện bệnh. + Chiều cao. Đo bằng thước đo chiều cao đứng Microtoise của UNICEF. + Xét nghiệm glucose máu mao mạch bằng máy Accu-Chek. + Đo huyết áp bằng máy đo huyết áp đồng hồ hiệu ALPKA 2 do Nhật Bản sản xuất, đã đối chiếu với máy đo huyết áp thủy ngân + Cân phân tích trở kháng điện sinh học + Thước dây không dãn đo vòng bụng, vòng mông. + Xét nghiệm HbA1c bằng phương pháp sắc ký tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang Máy thử đường huyết đã được đo thử nghiệm trên bệnh nhân đái tháo đường (có xét nghiệm lại bằng glucose máu tĩnh mạch) tại bệnh viện với kết quả máy đo phù hợp với tiêu chuẩn đo đường huyết mao mạch. Các công cụ còn lại đã chuẩn hoá theo tiêu chuẩn Việt Nam và được kiểm định Trung tâm Thẩm định Đo lường chất lượng Cần Thơ. Kết hợp chính quyền địa phương, trạm y tế các xã, được chọn, thông báo cho đối tượng nhịn ăn từ tối hôm trước (>12 giờ khi đến khám), 3 ngày trước khi xét nghiệm khuyên không uống rượu, bia. Thời gian làm việc mỗi cụm một buổi sáng nếu chưa đủ mẫu tiếp tục buổi sáng tiếp theo. Lấy mẫu tại điểm khám tại trạm y tế hoặc tại một nhà dân trong ấp dựa theo danh sách đã được chọn ngẫu nhiên trước Ghi lưu theo danh sách người dân được khám sức khỏe, các phiếu xét nghiệm được đánh mã số người dân tham gia nghiên cứu. - Kỹ thuật thu thập thông tin, số liệu và các trang thiết bị, phương tiện nghiên cứu Gồm các nội dung sau: + Điều tra ngang. Phỏng vấn trực tiếp người dân bằng bảng phỏng vấn, quan sát người dân thực hành các hoạt động chăm sóc sức khỏe phòng chống ĐTĐ tại hộ gia đình. Khám sức khỏe người dân phát hiện tiền ĐTĐ, bệnh ĐTĐ. Đo các chỉ số huyết áp, chiều cao, cân nặng, vòng bụng, xét nghiệm máu. + Can thiệp cộng đồng. Các tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe, tư vấn hướng dẫn thực hành các biện pháp về chế độ ăn uống thể dục, nâng cao kiến thức và các sổ sách, phương tiện quản lý khám, điều trị bệnh ĐTĐ Quan sát người dân thực hành các hoạt động chăm sóc sức khỏe phòng chống ĐTĐ tại nhà + Đo huyết áp. Đo ở tay, tư thế ngồi, tay để ngang tim, sau khi nghỉ ngơi tối thiểu 5 phút [43], để đảm bảo số đo huyết áp được chính xác, trước khi đo người bệnh không được hoạt động mạnh hoặc tắm, không uống cà phê, không hút thuốc lá, không dùng các loại thuốc kích thích giao cảm. Huyết áp được đo 2 lần cách nhau 3 - 5 phút theo khuyến cáo của TCYTTG. Bao hơi phải rộng ít nhất 13 cm và dài ít nhất 30 cm đối với người lớn, bờ dưới của bao hơi ở trên ngấn khuỷu tay 2 cm. Đánh giá kết quả. Huyết áp tâm thu là áp lực tương ứng với lúc nghe thấy tiếng đập động mạch đầu tiên, huyết áp tâm trương khi nghe tiếng đập mất hẳn. Trường hợp hạn hữu, tiếng đập động mạch đến trị số 0 mmHg vẫn còn nghe thấy thì lấy lúc đổi âm sắc là mốc huyết áp tâm trương [38],[62]. + Đo vòng bụng. Dùng thước vải pha nilông của thợ may có đối chiếu với thước kim loại. Đối tượng nghiên cứu đứng thẳng, hai chân dang rộng bằng chiều rộng ngang hai vai, tư thế đối xứng. Đo vòng bụng ngang qua rốn [129]. Vòng bụng được đo vào lúc thở ra nhẹ nhàng và tính bằng cm. + Đo tỷ lệ mỡ cơ thể và mức mỡ nội tạng. Đo bằng cân phân tích mỡ HBF-352 [115] Nguyên tắc. Phân tích trở kháng điện sinh học thông qua dụng cụ sử dụng là cân phân tích mỡ HBF-352, là phương pháp được dùng để đánh giá các thành phần mỡ cơ thể. Kỹ thuật tương đối đơn giản, nhanh, không xâm nhập. Dùng dòng điện rất yếu 50 kHz, 500µA đưa vào cơ thể và người được đo không cảm thấy kích thích điện, do đó phương pháp này an toàn[115]. Nhiều chương trình được dùng để đánh giá nước cơ thể toàn phần và khối mỡ tự do thông qua chức năng của trở kháng với trọng lượng, chiều cao, giới và tuổi đã được biết. Tuy vậy, cách tính toán mỡ cơ thể của một người có thể khác nhau đến 10% do sự khác biệt về máy, về phương pháp đo và thời gian đo. Do vậy ngày 12 - 14/12/1994 đã có một sự thống nhất chung giữa các nhà chuyên môn về vật lý, hóa học, y khoa để áp dụng tốt nhất việc phân tích mỡ cơ thể thông qua cân phân tích mỡ HBF-352. Các chỉ số có thể đo được từ cân này: ( Hình 2.1) Tỷ lệ % mỡ cơ thể, mức mỡ nội tạng, chuyển hoá cơ bản, chỉ số khối cơ thể. Cách đo. Ấn nút nhập dữ liệu tuổi, giới, chiều cao. Khi màn hình hiển thị 0,0kg, đối tượng nghiên cứu bước cả hai chân lên hai điện cực, hai tay nắm hai điện cực (nắm tay theo rãnh của điện cực). Khi màn hình hiển thị trọng lượng cơ thể và thông báo sẵn sàng đo, nắm chặt hai tay lại và đầu, lưng, hai đầu gối thẳng, hai cánh tay thẳng làm một góc 900 với cơ thể, nhìn thẳng về phía trước. Trong 5 giây máy tự động đo và màn hình hiển thị chỉ số tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP), mức mỡ nội tạng (VFL), việc đo hoàn tất, tiếp tục ấn nút thiết lập, sau 3 giây màn hình hiển thị chỉ số BMI, việc đo hoàn tất, đối tượng nghiên cứu bước xuống khỏi điện cực, cân tự động tắt nguồn. Khi lòng bàn tay, bàn chân khô, lau nhẹ bằng khăn ẩm rồi đo. Khi lòng bàn tay, bàn chân quá lạnh, làm ấm tay, chân rồi đo. Đối tượng trước khi đo không uống rượu, không uống nhiều nước. ( Hình 2.1) Tính tỷ lệ % mỡ cơ thể từ sự dẫn điện của cả hai tay và hai chân theo 5 mục. điện trở, chiều cao, trọng lượng, tuổi, giới và sử dụng công thức đã lập sẵn trong máy. Mỡ nội tạng 10 là bằng diện tích 100 cm2 mỡ nội tạng. Diện tích mỡ nội tạng được tính theo công thức đã lập trình sẵn. Có những trường hợp tỷ lệ mỡ cơ thể là thấp nhưng mỡ nội tạng là cao. Đôi khi tỷ lệ mỡ cơ thể là cao nhưng mức mỡ nội tạng là thấp. + Đo chỉ số khối cơ thể (Body mass index. BMI) Tính BMI bằng cân phân tích mỡ cơ thể HBF-352 theo công thức BMI = Trọng lượng (kg)/Chiều cao 2 (m2) đã lập trình sẵn thông qua dữ liệu chiều cao nhập vào và trọng lượng cơ thể do cân xác định. Đo trọng lượng cơ thể bằng cân phân tích mỡ cơ thể HBF-352. Người được đo bận quần áo mỏng nhẹ bỏ guốc dép đứng lên cân HBF-352 theo đúng vị trí, chỉ số trên màn hình sẽ báo trọng lượng cơ thể. Kết quả được ghi bằng kg và sai số không quá 100g. Đo chiều cao cơ thể dùng thước đo chiều cao gắn liền với cân. Đối tượng ở trong tư thế đứng thẳng thoải mái, mắt nhìn về phía trước, hai gót chân sát mặt sau của cân chụm lại thành hình chữ V, đi chân trần, không đội mũ, không cầm bất cứ vật gì, chỉ mặc quần áo mỏng, bảo đảm 4 điểm trên cơ thể chạm vào thước đo, đó là vùng chẩm, xương bả vai, mông và gót chân. Người đo kéo êke gắn sẵn trên thước đo lên cho quá đầu, hạ xuống đến chạm đỉnh đầu. Kết quả tính bằng đơn vị cm và sai số không quá 0,5cm. + Đo glucose máu Xét nghiệm glucose máu mao mạch bằng máy Accu-Chek ctive thế hệ 3 của hảng Roche sản xuất. Lấy máu làm xét nghiệm glucose lúc đói cho tất cả đối tượng nghiên cứu. Chọn máy Accu-Chek, máy D10 - BIO-RAD [66]. Vì đây là loại máy thế hệ thứ ba có trang bị công nghệ “fail – safe” có chức năng cảnh báo lỗi như que hết hạn dùng, lượng máu nhỏ, giúp hạn chế sai số khi đo. Ưu điểm của máy là kết quả xét nghiệm dù là máu mao mạch với một lượng máu nhỏ nhưng đã được nhà sản xuất hiệu chỉnh cho kết quả tương đương với nồng độ glucose huyết tương [66]. Làm nghiệm pháp dung nạp glucose cho những đối tượng có rối loạn glucose máu đói. Cho uống 200ml nước có pha 75gam đường trong vòng năm phút. Sau 2 giờ xét nghiệm lại lần 2. Nếu như sau làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường huyết trên 11,1mmol/l thì chẩn đoán đái tháo đường. Nếu dưới 11,1mmol/l ta tiến hành xét nghiệm HbA1c.(hình 2.1) Nguyên tắc. Lấy máu mao mạch ở cạnh ngón tay 3, hoặc 4, hoặc 5 xét nghiệm glucose máu đói và glucose máu sau làm nghiệm pháp dung nạp glucose. + Xét nghiệm HbA1c Lấy máu tĩnh mạch xét nghiệm HbA1c cho đối tượng có rối loạn glucose máu đói và rối loạn dung nạp glucose bằng phương pháp sắc ký tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang. Máu tĩnh mạch khi rút vào ống nghiệm được bảo quản ở nhiệt độ từ 00 c – 40 c, xét nghiệm bằng máy D – 10 HbA1c. Máy đã được kiểm định và thử nghiệm tại Mỹ. Đã được chứng nhận của Mỹ là kết quả xét nghiêm bảo đảm đúng như nông độ glucose huyết tương. (hình 2.2) Nguyên tắc. Lấy máu tĩnh mạch xét nghiệm HbA1c: thắt garo không quá một phút, lượng máu lấy khoảng 2mm Hình 2.1. Cân phân tích trở kháng điện Hình 2.2. Máy D10 - BIO-RAD xét sinh học nghiệm HbA1c 2.4.3. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng 2.4.3.1 Đối tượng can thiệp Người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên đang sống tại địa bàn nghiên cứu. 2.4.3.2. Thiết kế mô hình can thiệp. Điều tra ngang So sánh Can thiệp 2 xã can thiệp Chứng 2 xã chứng Hoạt động Phòng chống đái tháo đường trong cộng đồng Xây dựng mô hình can thiệp trạm y tế xã phòng chống đái tháo đường trong cộng đồng CAN THIỆP So sánh 1. Xây dựng mạng lưới phòng chống đái tháo đường tại xã, ấp. 2. Trạm y tế xã quản lý người bệnh tiền ĐTĐ,ĐTĐ 3. Theo dõi, điều trị, phát hiện bệnh sớm. 4. Tư vấn thay đổi hành vi 5. Truyền thông GDSK phòng chống ĐTĐ. Điều tra ngang Đánh giá CSHQ Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ, ĐTĐ Tỷ lệ có kiến thức đúng Tỷ lệ có thái độ đúng Tỷ lệ thực hành đúng Tỷ lệ người dân có thay đổi hành vi. Tỷ lệ người dân có thay đổi các chỉ số sức khỏe liên quan So sánh Đánh giá CSHQ Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ, ĐTĐ Tỷ lệ có kiến thức đúng Tỷ lệ có thái độ đúng Tỷ lệ thực hành đúng Tỷ lệ người dân có thay đổi hành vi Tỷ lệ người dân có thay đổi các chỉ số sức khỏe liên quan Sơ đồ 2.2. Sơ đồ mô hình can thiệp phòng chống bệnh ĐTĐ tỉnh Hậu Giang 2.4.3.3. Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng ở người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên + Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức kiểm định sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ [26]. Trong đó: - n: Cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi nhóm (nhóm can thiệp và nhóm đốichứng) - p1: Tỷ lệ ước đoán tiền ĐTĐ, ĐTĐ nhóm can thiệp là 0,2 ( theo Đõ Văn Bình năm 2011) [4]. - p2: Tỷ lệ ước đoán tiền ĐTĐ, ĐTĐ nhóm đối chứng là 0,2982 (Theo kết quả điều tra ngang trước can thiệp) - α: Mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy là 95% (α=0,05) - β: Xác suất của việc phạm phải sai lầm loại II. Chọn β=0,2 - Z² (α,β) = 7,9 Tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường mong muốn giảm 10% so với trước can thiệp (29,82%). Tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường sau can thiệp là 20 %. Vậy (P2) ước tính là 0,2982% , do tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường không thay đổi hoặc ít thay đổi. Thay vào công thức trên ta có cỡ mẫu tối thiểu là 302. Như vậy, cỡ mẫu điều tra sau 2 năm can thiệp tại 2 xã can thiệp được chọn n thấp nhất là 302 trong quần thể người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên. Tại 2 xã đối chứng cũng chọn cỡ mẫu thấp nhất là 369 để điều tra sau can thiệp. Chọn đơn vị mẫu : Chọn nhóm can thiệp và nhóm đối chứng. Dùng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên chọn hai xã Cái Tắc và Bảy Ngàn vào nhóm can thiệp và chọn hai xã: xã Vị Thủy, xã Vĩnh Trung vào nhóm đối chứng. Sau khi chọn nhóm can thiệp và tiêu chuẩn nhóm đối chứng có vị trí địa lý xa cách biệt nhau từ 20 km đến 25 km. Được sự đồng ý của chính quyền địa phương, Trung tâm Y tế của các huyện và các Trạm y tế xã. Tất cả đối tượng nghiên cứu ở nhóm can thiệp được quản lý tại cộng đồng, được theo dõi tư vấn hướng dẫn các biện pháp phòng chống đái tháo đường và phát hiện sớm căn bệnh đái tháo đường. Riêng nhóm người mắc tiền đái tháo đường và đái tháo đường của nhóm can thiệp được quản lý điều trị, tư vấn truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành để phòng chống đái tháo đường. 2.4.3.4 Cơ sở để xây dựng biện pháp can thiệp cộng đồng. Các văn bản qui phạm pháp luật để chỉ đạo, việc thực hiện công tác phòng chống bệnh đái tháo đường Mô hình bệnh tật trong cộng đồng nhận thấy tỷ lệ bệnh đái tháo đường ngày càng gia tăng. Thực trạng và khả năng thực hiện công tác phòng chống bệnh đái tháo đường tại các huyện, xã. Nhu cầu của xã hội cần nâng cao kiến thức của người dân hiểu biết về bệnh tật để họ tự phòng tránh. 2.4.3.5. Nguyên tắc thực hiện can thiệp. Hoạt động can thiệp với vai trò trách nhiệm của mỗi trạm y tế (Không làm thay) Can thiệp theo hướng dự phòng: Các hoạt động đáp ứng được nhu cầu thực tế đặc trưng của người dân về quản lý, theo dõi giám sát và chủ động thực hiện tập luyện thể dục, thay đổi các thói quen có hại cho sức khỏe để phòng bệnh tại hộ gia đình. Có đủ nguồn lực tối thiểu để thực hiện các hoạt động: Truyền thông tư vấn tại hộ gia đình, hướng dẫn tập luyện thể dục nâng cao sức khỏe tại thôn ấp, tại hộ gia đình. Phù hợp với năng lực và tinh thần trách nhiệm của cán bộ trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn, ấp và cộng tác viên. Cần có sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể về xã hội hoá công tác y tế. Các hoạt động của mô hình có tính khả thi và duy trì, nhân rộng mô hình cho các xã khác có cùng điều kiện. 2.4.3.6. Tổ chức can thiệp. Tổ chức “Trạm y tế xã phòng, chống đái tháo đường ở người Khmer” - Hoạt động can thiệp Gồm 5 hoạt động can thiệp cộng đồng phòng, chống tiền đái tháo đường, đái tháo đường như sau. + Xây dựng nguồn lực, mạng lưới tổ chức tại các trạm y tế xã thực hiện mô hình can thiệp. + Chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe. + Chương trình truyền thông thay đổi hành vi. + Chương trình rèn luyện thân thể nâng cao thể lực. + Chương trình quản lý khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, có phối hợp hỗ trợ của Trung tâm y tế huyện và Bệnh viện huyện. + Trạm y tế xã và phát hiện sớm tiền ĐTĐ và ĐTĐ. 2.4.3.7 Nội dung các hoạt động can thiệp (1) Xây dựng nguồn lực, triển khai thực hiện mô hình dự phòng và quản lý bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường + Tổ chức bộ máy của ngành y tế, cán bộ y tế, các cộng tác viên, thành viên ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe ở tuyến huyện, xã. Điều đáng quan tâm là phối hợp với các vị chức sắc của các chùa là người dân tộc Khmer và xây dựng được mạng lưới cộng tác viên là người dân tộc Khmer. + Nội dung và biện pháp thực hiện. Nguồn lực. Đầu tư phương tiện, thiết bị để tầm soát bệnh, máy xét nghiệm đường huyết, với thu phí giá rẻ cho các đối tượng. Tập huấn kiến thức về khám, phát hiện bệnh, biện pháp tầm soát bệnh, thảo luận nhóm về các biện pháp dự phòng, cách phát hiện sớm và điều trị đúng bệnh, tập huấn về giám sát và quản lý bệnh Xây dựng biện pháp can thiệp dự phòng và quản lý bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường tại cộng đồng, xây dựng hệ thống sàng lọc, phát hiện sớm và ghi nhận về bệnh . Điểm tư vấn tại phòng truyền thông giáo dục sức khỏe của trạm y tế xã (tại chỗ, qua điện thoại), thực hiện lồng ghép các hoạt động của các chương trình phòng chống các bệnh không lây nhiễm khác. Xây dựng các chính sách và cơ chế hoạt động trạm y tế, chế độ chăm sóc, thuốc điều trị qua hệ thống bảo hiểm y tế. Xây dựng cơ chế thực hiện các hoạt động của chương trình trong đó có sự tham gia của ban, ngành, đoàn thể ở địa phương, xã hội hóa công tác y tế. + Đánh giá kết quả Tất cả huyện có bố trí cán bộ y tế hoạt động trong phạm vi chương trình Tất cả các trạm y tế xã có bố trí cán bộ y tế làm công tác truyền thông, Triển khai và duy trì mô hình tầm soát và quản lý bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường tại xã (2) Truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng phòng chống tiền đái tháo đường, đái tháo đường tại cộng đồng. + Đối tượng Toàn thể người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên tại 2 xã can thiệp. +Nội dung và biện pháp thực hiện: Biên soạn các bản tin về bệnh và đăng trên bản tin của xã, tuyên truyền 3 tháng/ một lần. Biên soạn, in ấn các tờ rơi, cẩm nang, Pano tuyên truyền về bệnh ĐTĐ, lồng ghép, phối hợp hoạt động với các Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội nông dân, trường học, đài truyền hình tỉnh. Nguồn lực: Cán bộ y tế, phòng truyền thông giáo dục sức khỏe, trạm y tế và các cộng tác viên của chương trình. Kinh phí hoạt động thường xuyên và một phần kinh phí chương trình. + Đánh giá kết quả Tỷ lệ người dân hiểu biết về yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ tăng lên Tỷ lệ người dân hiểu biết về khám phát hiện bệnh ĐTĐ tăng lên Tỷ lệ người dân hiểu biết về phòng bệnh ĐTĐ tăng lên (3) Truyền thông thay đổi hành vi Đối tượng. người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên tại các xã can thiệp. Nội dung và biện pháp thực hiện Thực hiện theo dõi dọc theo thời gian sau 2 năm đánh giá các yếu tố nguy cơ của từng đối tượng nghiên cứu. Tư vấn, hướng dẫn về thực hiện lối sống lành mạnh, hành vi có lợi Thành lập và mời gọi tham gia câu lạc bộ người bệnh sinh hoạt hàng tháng với sự tư vấn và hướng dẫn của chuyên gia y tế Nguồn lực: Cán bộ y tế và cộng tác viên y tế và các vị chức sắc của các chùa trên địa bàn nghiên cứu. Kinh phí hỗ trợ của chương trình. + Đánh giá kết quả Người dân tham gia thực hành tốt hành vi có lợi cho sức khỏe tăng lên (4) Tập luyện thể dục, thể thao Đối tượng: người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên tại các xã can thiệp. Nội dung: Vận động người dân tham gia tập thể dục đều đặn hằng ngày hoặc chọn môn thể thao phù hợp sức khỏe và sở thích. Nguồn lực: Cán bộ y tế, cộng tác viên y tế và các vị chức sắc của các chùa trên địa bàn nghiên cứu. Kinh phí chương trình y tế Đánh giá kết quả: Tỷ lệ người dân tham gia tập thể dục thể thao phòng chống bệnh ĐTĐ tăng lên so với trước can thiệp . (5) Quản lý khám chữa bệnh tại trạm y tế xã và phát hiện sớm tiền đái tháo đường và bệnh đái tháo đường Đối tượng: Người dân tộc Khmer mắc tiền ĐTĐ và đái tháo đường từ 45 tuổi trở lên tại các xã can thiệp. Nội dung: Tuyên truyền vận động mọi người đến tại cơ sở y tế khám và chăm sóc điều trị đúng định kỳ để hạn chế tỷ lệ biến chứng và khống chế không cho tiền đái tháo đường trở thành đái tháo đường. Nguồn lực: Cán bộ y tế và kinh phí chương trình. Đánh giá kết quả Tỷ lệ người dân mắc đái tháo đường giảm hơn trước can thiệp Tỷ lệ người dân mắc tiền đái tháo đường ổn định và giảm 2.4.3.8 Về tổ chức thực hiện các biện pháp can thiệp cộng đồng. Gồm 5 nội dung sau: (1) Tổ chức bộ máy, xây dựng mạng lưới thực hiện chương trình: - Sở y tế tỉnh Hậu Giang có văn bản chỉ đạo và hướng dẫn các Trung tâm y tế các huyện về việc triển khai thực hiện chương trình phòng, chống bệnh tiền ĐTĐ, ĐTĐ trong cộng đồng. - Các huyện tham gia chương trình sẽ thành lập ban chủ nhiệm chương trình phòng, chống bệnh tiền ĐTĐ, ĐTĐ. Thành phần gồm: Đại diện Ban Giám đốc trung tâm y tế huyện; Phòng y tế; trưởng phòng kế hoạch-tài chính trung tâm y tế, trưởng phòng truyền thông giáo dục sức khỏe, cán bộ phụ trách chương trình chương phòng chống đái tháo đường trung tâm y tế và các vị chức sắc của các chùa trên địa bàn nghiên cứu. Nhiệm vụ của ban chỉ đạo là triển khai thực hiện chương trình đến các xã, theo dõi, đôn đốc các trạm y tế thực hiện các nội dung của chương trình, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả của chương trình phòng, chống bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường tại cộng đồng. - Các trạm y tế xã (nghiên cứu can thiệp) có phân công một cán bộ y tế làm công tác chuyên trách về phòng chống đái tháo đường và có ít nhất 4 cộng tác viên hỗ trợ cho các hoạt động của chương trình. Nhiệm vụ của trạm y tế các xã là tham mưu cho ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của chương trình tại địa phương. (2) Tổ chức thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng Phòng truyền thông giáo dục sức khỏe huyện phối hợp với ban, ngành đoàn thể tổ chức truyền thông cho các hội, đoàn Định kỳ 3 tháng/lần, cung cấp và phân phát bướm, tờ rơi… cho các trạm y tế xã thực hiện mỗi xã 2 pano tuyên truyền. Mỗi trạm y tế xã tổ chức truyền thông cho nhân dân các khu phố 1 lần/tháng, tham gia viết bài cho bản tin xã 3 tháng/lần. Tổ chức nhóm cộng tác viên thăm hộ gia đình, tư vấn trực tiếp đối tượng và lượng giá mỗi tháng/lần. (3) Tổ chức thực hiện tư vấn, hướng dẫn thay đổi hành vi Khảo sát về hành vi, lối sống của các đối tượng, phỏng vấn can thiệp dự phòng nhằm từ bỏ hành vi có hại như: hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, lười vận động làm cho bệnh đái tháo đường dễ phát triển. Khuyến khích thực hiện hành vi đúng như: Tăng cường vận động, từ bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh đái tháo đường. Các cán bộ y tế và cộng tác viên thăm hộ gia đình để tư vấn hoặc tại những cuộc truyền thông tại trạm, khảo sát và lượng giá mỗi tháng/lần. (4) Tổ chức thực hiện can thiệp bằng tập luyện nâng cao thể lực Cán bộ y tế và cộng tác viên tuyên truyền vận động về lợi ích của tập thể dục thể thao, tư vấn cho từng đối tượng chọn phương pháp tập cho phù hợp. Khuyến khích tập dưỡng sinh, đi bộ nhanh hàng ngày (ít nhất 30 phút/ngày), đạp xe, bơi lội… Phối hợp các hội, đoàn tổ chức thể dục, thể thao cho các thành viên câu lạc bộ người bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường ưu tiên tập dưỡng sinh. Cán bộ y tế và cộng tác viên sẽ phỏng vấn, giám sát hoạt động thể dục thể thao của các đối tượng và lượng giá 6 tháng/lần (5) Tổ chức quản lý điều trị tại trạm y tế Tổ chức tốt công tác khám điều trị tại trạm y tế xã, vận động bệnh nhân đến khám và điều trị đều đặn. Tổ chức quản lý đối tượng tiền đái tháo đường, đái tháo đường đánh giá kết quả sau điều trị với các nội dung thay đổi các chỉ số sức khỏe trung gian và các chỉ số trực tiếp Có kế hoạch phối hợp hỗ trợ của Trung tâm Y tế dự phòng huyện và Bệnh viện huyện về khám điều trị bệnh đái tháo đường. 2.4.3.9 Tổ chức quản lý hoạt động và giám sát can thiệp. + Định kỳ 3 tháng cộng tác viên và cán bộ y tế tại địa bàn nghiên cứu phỏng vấn, ghi nhận dữ liệu. Có 2 hình thức can thiệp, thu thập số liệu, phỏng vấn trực tiếp tại nhà, mời đến hội trường trạm y tế, lượng giá trực tiếp (Báo cáo viên là nghiên cứu sinh hoặc chuyên gia y tế của chương trình của tỉnh). + Định kỳ 3 tháng trạm y tế xã báo cáo kết quả hoạt động cho ban chủ nhiệm chương trình của huyện. + Cán bộ nghiên cứu sẽ giám sát các hoạt động can thiệp và thu thập số liệu, phân tích và điều chỉnh sai sót trong quá trình can thiệp. + Định kỳ 6 tháng cán bộ nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng thực hiện chương trình là ban chủ nhiệm chương trình các huyện, cán bộ y tế xã, ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân xã, cộng tác viên. + Có sự giám sát hỗ trợ của Trung tâm Y tế dự phòng huyện và Bệnh viện huyện về khám điều trị bệnh đái tháo đường. 2.4.3.10 Thời gian can thiệp. Nghiên cứu can thiệp là 02 năm (tháng 9/2011 đến tháng 9/ 2013). 2.4.3.11 Tổ chức thu thập dữ liệu sau can thiệp. + Tổ chức đoàn điều tra như nghiên cứu ngang tại 2 xã can thiệp và 2 xã đối chứng. Số đối tượng điều tra là những đối tượng can thiệp và đối chứng sau 02 năm can thiệp. Lập danh sách những người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên đã được chọn vào nhóm xã can thiệp và nhóm đối chứng . + Nội dung điều tra bao gồm. Xét nghiệm đường huyết (cùng một máy sử dụng điều tra ngang trước can thiệp), những đối tượng được chẩn đoán tiền đái tháo đường, đái tháo đường cũ và mới phát hiện sau 2 năm can thiệp sẽ được xét nghiệm máu tĩnh mạch kiểm tra lại. Điều tra kiến thức, thái độ và thực hành của đối tượng (thay đổi lối sống, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, chế độ ăn hợp lý). 2.4.3.12. Chỉ số đánh giá hiệu quả can thiệp công tác tổ chức quản lý thực hiện biện pháp can thiệp - Số lần họp/năm họp ban chăm sóc sức khỏe nhân dân xã / năm - Số lần/năm tập huấn trạm y tế xã và nhân viên y tế thôn ấp - Số lần phòng truyền thông giáo dục sức khỏe huyện phối hợp với ban, ngành đoàn thể tổ chức truyền thông cho các hội, đoàn. - Số lần cung cấp và phân phát bướm, tờ rơi… cho các trạm y tế xã/năm - Số lần mỗi trạm y tế xã tổ chức truyền thông tại các khu vực 1 lần/tháng, - Số bài viết cho bản tin xã 3 tháng lần/năm - Số lần/năm cộng tác viên thăm hộ gia đình tư vấn trực tiếp đối tượng và lượng giá mỗi 3 tháng/lần. - Số lần cán bộ y tế và cộng tác viên tuyên truyền vận động về lợi ích của tập thể dục thể thao, tư vấn cho từng đối tượng chọn phương pháp tập phù hợp. - Khuyến khích tập dưỡng sinh, đi bộ nhanh hàng ngày (ít nhất 30 phút/ngày), đạp xe, bơi lội… - Số lần phối hợp các hội, đoàn tổ chức thể dục, thể thao cho các thành viên. - Số lần câu lạc bộ người bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường ưu tiên tập dưỡng sinh. Cán bộ y tế và cộng tác viên sẽ phỏng vấn, - Số lần giám sát hoạt động thể dục thể thao và lượng giá 6 tháng/lần - Số lần khám và điều trị. Tổ chức xét nghiệm đánh giá mỗi 6 tháng 1 lần. - Số lần báo cáo/ năm định kỳ 3 tháng, trạm y tế xã báo cáo kết quả hoạt động cho ban chủ nhiệm chương trình của huyện. Định kỳ 6 tháng ban chủ nhiệm chương trình báo cáo cho chủ nhiệm đề tài nghiên cứu. - Số lần cán bộ nghiên cứu giám sát các hoạt động can thiệp và thu thập số liệu, phân tích và điều chỉnh sai sót trong quá trình can thiệp. - Số lần cán bộ phỏng vấn sâu các đối tượng thực hiện chương trình/ năm 2.4.3.13. Chỉ số hiệu quả can thiệp cộng đồng (1) Chương trình truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức người dân về tiền đái tháo đường, đái tháo đường. So sánh trước và sau can thiệp tại các xã can thiệp, tại các xã đối chứng: Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về khám phát hiện bệnh ĐTĐ Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống bệnh ĐTĐ Hiệu quả can thiệp về kiến thức của người dân về bệnh ĐTĐ (2) Chương trình truyền thông thay đổi hành vi. So sánh trước và sau can thiệp tại các xã can thiệp, tại các xã đối chứng. Tỷ lệ người dân thay đổi về chế độ ăn đường Tỷ lệ người dân thay đổi về chế độ ăn mỡ Tỷ lệ người dân thay đổi về chế độ ăn ăn tối sau 20 giờ Tỷ lệ người dân thay đổi về chế độ ăn ít trái cây Tỷ lệ người dân thay đổi về lạm dụng rượu Tỷ lệ người dân thay đổi về lạm dụng thuốc lá Hiệu quả can thiệp về thay đổi lối sống của các người dân. - Tỷ lệ người dân thay đổi các chỉ số sức khỏe trung gian trước và sau can thiệp . Tỷ lệ người dân có sự thay đổi về chỉ số vòng eo Tỷ lệ người dân có sự thay đổi về chỉ số BMI Tỷ lệ người dân có sự thay đổi về chỉ số huyết áp Tỷ lệ người dân có sự thay đổi về chỉ số mỡ nội tạng Tỷ lệ người dân có sự thay đổi về chỉ số mỡ cơ thể . (3) Chương trình luyện tập thể dục thể thao nâng cao thể lực. So sánh trước và sau can thiệp tại các xã can thiệp, tại các xã đối chứng. Tỷ lệ người dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên trước và sau can thiệp tại các xã can thiệp, tại các xã đối chứng. Hiệu quả can thiệp về tỷ lệ tham gia tập thể dục thể thao. (4) Quản lý khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, phối hợp hỗ trợ Trung tâm y tế dự phòng huyện và bệnh viện huyện Tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường được phát hiện sớm Tỷ lệ tiền đái tháo đường có sự thay đổi sau khi quản lý điều trị. Tỷ lệ đái tháo đường có sự thay đổi sau khi quản lý điều trị. 2.4.3.14 Chỉ số hiệu quả trên người dân tiền đái tháo đường, đái tháo đường - Có sự thay đổi theo các chỉ số sức khỏe trung gian trước và sau can thiệp . Tỷ lệ bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ có sự thay đổi về chỉ số vòng bụng Tỷ lệ bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ có sự thay đổi về chỉ số BMI Tỷ lệ bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ có sự thay đổi về chỉ số huyết áp Tỷ lệ bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ thay đổi về chỉ số mỡ nội tạng Tỷ lệ bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ có sự thay đổi về chỉ số mỡ cơ thể Hiệu quả can thiệp tiền ĐTĐ, ĐTĐ về các chỉ số sức khỏe trung gian. - Có sự thay đổi theo các chỉ số sức khỏe trực tiếp trước và sau can thiệp . Tỷ lệ tiền đái tháo đường Tỷ lệ đái tháo đường Hiệu quả can thiệp người tiền đái tháo đường, bệnh nhân đái tháo đường 2.4.3.15. Nội dung đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp - Chỉ số hiệu quả (CSHQ) ( Tỷ lệ %) CSHQ Với. = │p1 – p2│ │p1│ x 100 - p1 là tỷ lệ chỉ số cần đánh giá ở thời điểm trước can thiệp. - p2 là tỷ lệ chỉ số cần đánh giá ở thời điểm sau can thiệp. - Hiệu quả can thiệp (HQCT) ( Tỷ lệ %) HQCT = CSHQ can thiệp – CSHQ đối chứng - Nội dung đánh giá So sánh trước can thiệp. Xã can thiệp - Xã chứng So sánh trước – sau can thiệp. Xã can thiệp So sánh trước – sau can thiệp. Xã chứng So sánh sau can thiệp. Xã can thiệp - Xã chứng - Chỉ số đánh giá Tỷ lệ người dân có kiến thức tốt Tỷ lệ người dân có thay đổi các chỉ số về hành vi có lợi Tỷ lệ người dân có thay đổi các chỉ số sức khỏe trung gian Tỷ lệ tiền đái tháo đường, đái tháo đường được phát hiện sớm Tỷ lệ người dân mắc tiền ĐTĐ Tỷ lệ người dân đái tháo đường 2.5. PHÂN TÍCH XỬ LÝ SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU Các số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê y học . Sử dụng phần mềm Epi-Info 6.0, Excel 2003, Epi Mô tả mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ và bệnh đái tháo đường bằng testχ2, OR, phân tích hồi qui đa biến, giá trị p chọn ngưỡng p < 0,05. Thiết lập đường cong ROC bằng phần mềm SPSS 16.0 khảo sát các yếu tố nguy cơ trong và ngoài thang điểm FINDRISC trên đối tượng tiền mắc đái tháo đường và người bình thường. Diện tích dưới đường biểu diễn ROC được đánh giá như sau: Tốt (0,90 – 1,00); Khá (0,80 – 0,90 ); Trung bình (0,70 – 0,80 ); Kém (0,60 – 0,70 ); Không có giá trị (< 0,60). 2.6. KHỐNG CHẾ SAI SỐ - Thành lập đoàn giám sát kiểm tra; - Kiểm soát sai số do chọn mẫu. Tuân thủ theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên; kế hoạch; qui trình thực hiện. - Kiểm soát sai số do điều tra viên, chọn điều tra viên có cùng trình độ, tập huấn cho những người tham gia. - Kiểm soát sai số do hóa chất, dụng cụ, máy móc, bảo quản máu, hóa chất đúng qui định, máy đo HA, cân được hiệu chỉnh sau mỗi ngày làm việc. - Kiểm soát thông tin trên phiếu điều tra ngay sau mỗi ngày điều tra, số liệu nghi ngờ phải xác minh ngay. - Các số liệu được phân tầng, chuẩn hóa trước khi xử lý để khử các yếu tố nhiễu như tuổi, dân tộc, giới tính. - Đối tượng bỏ cuộc, không có mặt tại địa phương: Biện pháp khắc phục: Tổ chức địa điểm khám phù hợp. Ngày hôm trước cộng tác viên và cán bộ nghiên cứu đến từng nhà đối tượng nghiên cứu để phát thư mời đồng thời giải thích nội dung, các yêu cầu nghiên cứu, vận động đối tượng tham gia nghiên cứu. Trường hợp đối tượng nghiên cứu không có mặt tại địa phương sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu và sẽ chọn lại trường hợp khác đồng tuổi giới. Trong ngày nghiên cứu những trường hợp nào chưa đến thì cộng tác viên có nhiệm vụ đến nhà tiếp tục vận động họ tham gia nghiên cứu. - Sai số do thu thập thông tin sai số do các dụng cụ đo, dụng cụ xét nghiệm: Biện pháp khắc phục: Chúng tôi sử dụng cán bộ phỏng vấn là cán bộ của trung tâm y tế thị xã Ngã Bảy. Chúng tôi tập huấn kỹ điều tra viên, giải thích từng vấn đề cụ thể, điều tra được tiến hành nghiên cứu thử trên 50 đối tượng để rút kinh nghiệm trước khi vào nghiên cứu chính thức. Máy đo huyết áp, cân, thước dây, máy thử glucose, đều được trung tâm thẩm định đo lường chất lượng Cần thơ kiểm định. Trong quá trình xét nghiệm luôn test thử trước khi đưa vào xét nghiệm chính thức. Tất cả các trường hợp glucose cao hơn bình thường đều được xét nghiệm 2 hoặc 3 lần. Các thông tin được kiểm tra lại sau khi kết thúc mỗi trường hợp nghiên cứu. 2.7. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu. Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có thể chấm dứt nghiên cứu trong bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu. Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu. Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận. Khi phát hiện đối tượng nghiên cứu bị bệnh, người nghiên cứu sẽ tư vấn sức khoẻ cho đối tượng nghiên cứu và giới thiệu đến cơ sở y tế phù hợp. Nghiên cứu được sự chấp thuận của Sở Y tế, Trung tâm y tế thị xã và Trạm y tế xã. Kết thúc nghiên cứu sẽ có báo cáo phản hồi kết quả cho địa phương. 2.8. CÁN BỘ THAM GIA NGHIÊN CỨU Lực lượng tham gia. Nghiên cứu sinh, Lãnh đạo Sở y tế, Lãnh đạo trung tâm y tế, Phòng y tế Cán bộ phụ trách chương trình phòng chống đái tháo đường trung tâm y tế huyện, Trưởng trạm y tế xã, cán bộ phụ trách chương trình phòng chống đái tháo đường xã, cộng tác viên y tế ấp và các vị chức sắc trong các chùa trên địa bàn nghiên cứu. Tổ chức thực hiện. Phối hợp với Sở y tế, Phòng y tế, Trung tâm y tế huyện, Bệnh viện huyện tổ chức thực hiện. Nghiên cứu sinh là chủ nhiệm đề tài, trực tiếp điều hành các hoạt động của đề tài theo kế hoạch. Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. TỶ LỆ MẮC TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 3.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu. Bảng 3.1.Tỷ lệ người dân tộc Khmer theo tuổi, giới, địa dư, nghề nghiệp và học vấn Yếu tố Nhóm tuổi Giới tính Địa dư Trình độ học vấn Nghề nghiệp Kinh tế gia đình Số lượng ( n=1100) Tỷ lệ (%) 45 – 54 519 47,2 55 – 64 333 30,3 ≥ 65 248 22,5 Nam 458 41,6 Nữ 642 58,4 Thành thị 291 26,5 Nông thôn 809 75,5 Mù chữ 384 34,9 Tiểu học 550 50,0 PTCS – PTTH 145 13,2 Cao đẳng – đại học 21 1,9 Nông dân 626 56,9 Công nhân viên 61 5,5 Buôn bán 142 12,9 Làm thuế 271 24,6 Khá, đủ ăn 291 26,5 Nghèo, cận nghèo 809 75,5 Trong tổng số 1100 người dân, nhóm tuổi từ 45 – 54 tỷ lệ 47,2%; ở nông thôn (73,5%). Về học vấn, tiểu học có tỷ lệ cao (50,0%); về nghề nông 56,9%. 3.1.2. Tỷ lệ ngưòi Khmer hiện mắc tiền đái tháo đường, bệnh đái tháo đường. Bảng 3.2. Tỷ lệ ngưòi Khmer hiện mắc tiền đái tháo đường, bệnh đái tháo đường Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%) Không mắc bệnh ĐTĐ 772 70,18 Tiền đái tháo đường 197 17,91 Đái tháo đường, 131 11,91 Trong đó Đã phát hiện trước 28 2,5 21,4 Phát hiện mới 103 9,4 78,6 Tổng cộng 1100 100 Qua điều tra 1100 người dân, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường là 11,91%, trong đó tỷ lệ mới phát hiện 78,6% trên tổng số bệnh nhân Bảng 3.3. Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường theo mức độ đường huyết . Đường huyết lúc đói Số lượng Tỷ lệ (%) 7 - 7,5mmol/l 13 46,43 7,6 – 8mmol/l 9 32,14 >8mmol/l 6 21,43 Tổng cộng 28 100 7 - 7,5mmol/l 27 26,21 7,6 – 8mmol/l 33 32,04 Đái tháo đường đã phát hiện trước (n= 28) Đái tháo đường phát hiện mới (n=103) >8mmol/l Tổng cộng 43 41,75 103 100 Nhóm bệnh mức độ đường huyết từ 7 – 7,5mmo/l đã được phát hiện trước đó tỷ lệ là 46,43%, nhóm bệnh mới phát hiện là 26,21% Bảng 3.4. Tỷ lệ người bệnh nhân đái tháo đường theo đặc điểm dân số học Yếu tố dân số học Giới tính Nam Số mắc ĐTĐ (n=1100) 52 Tỷ lệ % 4,7 Nhóm tuổi Địa bàn cư trú Nghề nghiệp Trình dộ Nữ 79 7,2 45 – 54 53 4,8 55 – 64 37 3,4 ≥ 65 41 3,7 Khu vực chợ 28 2,5 Nông thôn 103 9,4 Nông dân 82 7,4 Công nhân viên 1 0,1 Buôn bán 12 1,1 Làm thuê,… 36 3,3 Mù chữ 72 6,5 Tiểu học 41 3,7 THCS, THPT 18 1,6 Khá – đủ ăn 32 2,9 Nghèo – cận nghèo 99 9,0 học vấn Kinh tế Tỷ lệ nữ mắc bệnh là 7,2%, nhóm tuổi từ 45 – 54 là 4,8%; Người nông dân mắc bệnh là 7,4%. Người nghèo – cận nghèo là 9% 3.1.2.1.Kiến thức về phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tộc Khmer Bảng 3.5. Tỷ lệ người Khmer có kiến thức về phòng chống bệnh đái tháo đường. Kiến thức về Đúng bệnh đái tháo đường (n=1100) SL Không đúng TL% (n=1100) SL TL% Về triệu chứng bệnh 452 41,1 648 58,9 Về các yếu tố nguy cơ gây bệnh 419 38,1 681 61,9 Về hậu quả của bệnh 595 54,1 505 45,9 Về các biện pháp phòng bệnh 505 45,9 595 54,1 Về cách phát hiện bệnh 452 41,1 648 58,9 60 54,1 50 45,9 41,1 40 Về triệu chứng bệnh 41,1 38,1 Về các yếu tố nguy cơ gây bệnh Về hậu quả của bệnh 30 Về các biện pháp phòng bệnh 20 Về cách phát hiện bệnh 10 0 Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ người Khmer có kiến thức đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường. Người dân có kiến thức đúng về triệu chứng của bệnh 41,1%, về yếu tố nguy cơ gây bệnh 38,1%, hậu quả của bệnh có tỷ lệ cao 54,1%; về các biện pháp phòng bệnh là 45,9% và biết về khám phát hiện là 41,1% 3.1.2.2. Thái độ phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tộc Khmer Bảng 3.6. Tỷ lệ người Khmer có thái độ đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường Số lượng (n= 1100) Tỷ lệ % Tốt 419 38,1 Chưa tốt 681 61,9 Thái độ Người dân có thái độ chưa tốt về phòng chống bệnh đái tháo đường 61,9% 3.1.1.4. Thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tộc Khmer Bảng 3.7. Tỷ lệ người Khmer thực hành về phòng chống bệnh đái tháo đường Thực hành phòng, chống đái tháo đường Đúng Không đúng (n=1100) (n=1100) SL TL% SL TL% Vận động, tập thể dục, thể thao 358 32,5 742 67,5 Thực hiện dinh dưỡng đúng trong bữa ăn 387 35,2 713 64,8 Kiểm tra sức khỏe định kỳ 358 32,5 742 67,5 Tiếp thu những tư vấn, truyền thông sức khỏe 387 35,2 713 64,8 Không lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá 41,1 648 58,9 45 40 35 30 25 20 15 10 5 0 452 41,1 32,5 35,2 32,5 35,2 Vận động, tập thể dục, thể thao Thực hiện dinh dưỡng đúng trong bữa ăn Kiểm tra sức khỏe định kỳ Tiếp thu những tư vấn, truyền thông sức khỏe Không lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ người dân thực hành đúng phòng chống đái tháo đường Người dân thực hành đúng về vận động thể dục thể thao là 32,5%, về dinh dưỡng đúng trong bữa ăn hàng ngày 35,2%, thực hành tốt việc kiểm tra sức khỏe định kỳ 32,5% và không lạm dụng rượu bia, thuốc lá 41,1% Bảng 3.8. Tỷ lệ người dân tộc Khmer thực hành vận động, tập thể dục thể thao, dinh dưỡng, hút thuốc lá, uống rượu/ bia Thực hành Có nhiều Ít, không có (n=1000) (n=1000) SL TL% SL TL% 302 27,5 798 72,5 672 61,1 713 44,8 Ăn ngọt 589 53,5 511 46,5 Ăn chất béo 713 64,8 387 35,2 Ăn trái cây 592 53,8 508 46,2 Ăn tối sau 20 giờ 421 38,3 679 61,7 Hút thuốc lá 372 33,8 728 66,2 Uống rượu/bia 510 46,4 590 53,6 Có hút thuốc lá và uống rượu bia 648 58,9 452 41,1 Có đi bộ, xe đạp trên 10 phút/ ngày Có hoạt động mức trung bình hoặc nặng với thời gian trên 150 phút/tuần Tỷ lệ người dân tham gia đi bộ, xe đạp 27,5%; tham gia hoạt động thể lực là 61,1%, tỷ lệ ăn ngọt là 53,5%, ăn nhiều chất béo tỷ lệ cao 64,8%; ăn trái cây 53,8%, ăn tối sau 20 giờ là 38,3% hút thuốc là 33,8% uống rượu bia là 46,4% Bảng 3.9. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tộc Khmer trên 45 tuổi . Thực hành đúng Tổng Tần số Tỷ lệ% cộng Nam 153 33,4 458 χ2=0,2 Nữ 205 31,9 642 p >0,05 45 – 54 200 38,5 519 55 – 64 104 31,2 333 ≥ 65 54 21,8 248 Nông dân 171 27,3 626 Công nhân 43 70,5 61 χ 2=48,3 Buôn bán 60 42,3 142 p <0,05 xe ôm, làm thuê 84 31,0 271 Khu vực chợ 127 43,6 291 χ 2=22,1 Nông thôn 231 28,6 809 p <0,05 Mù chữ 90 23,4 384 Tiểu học 181 32,9 550 χ2=50,5 PTCS, PTTH 71 49,0 145 p <0,05 Cao đẳng, ĐH 16 76,2 21 Có tiếp cận với Có tiếp cận 233 35,4 659 χ2=5,9 nhân viên y tế Không tiếp cận 125 28,3 441 P< 0,05 Có khám bệnh Có khám bệnh 164 40,8 402 χ2=19,6 về ĐTĐ, THA 194 27,8 698 p < 0,05 358 32,5 1100 Yếu tố liên quan Giới tính Nhóm tuổi Nghề nghiệp Địa dư Học vấn Tổng cộng Không có χ2 , p χ2=87,7 p <0,05 Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành đúng với tuổi, nghề nghiệp, địa dư, học vấn, có tiếp cận với nhân viên y tế, có khám bệnh về ĐTĐ, tăng HA ( p<0,05). 3.1.3. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở người dân tộc Khmer 3.1.3.1. Liên quan về dân số học đến bệnh đái tháo đường Bảng 3.10. Liên quan về tuổi, giới, địa lý, nghề nghiệp đến bệnh đái tháo đường người dân tộc Khmer. 11,4 χ2 P χ2= 22 79 12,3 <0,05 519 53 10,2 55 – 64 333 37 11,1 ≥ 65 248 41 16,5 Địa bàn cư Khu vực chợ 291 28 9,6 χ2=1,9 trú Nông thôn 809 103 12,7 >0,05 Nghề Nông dân 626 82 13,1 nghiệp Công nhân viên 61 1 1,6 χ2= 7,2 Buôn bán 142 12 8,5 <0,05 Làm thuê,… 271 36 13,3 Trình độ Mù chữ 384 72 18,8 học vấn Tiểu học 550 41 7,5 THCS, THPT, CĐ 166 18 10,8 Khá – đủ ăn 295 32 10,8 χ2=0,4 Nghèo – cận nghèo 805 99 12,3 >0,05 Nam 458 Số mắc ĐTĐ 52 Nữ 642 45 – 54 Dân số học Giới tính Nhóm tuổi Kinh tế Tổng số Tỷ lệ % χ2=19,2 <0,05 χ2=31,2 <0,05 Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê, (p<0,05) về các yếu tố sau: Tỷ lệ nam mắc đái tháo đường ở nam giới là 11,4% thấp hơn tỷ lệ nữ mắc đái tháo đường là 12,3%,. Nhóm tuổi có tỷ lệ đái tháo đường thấp nhất là nhóm 45 – 54 tuổi là 10,2%, nhóm mắc cao nhất là nhóm trên 65 tuổi 16,5 %. Người ở nông thôn có tỷ lệ mắc bệnh là 12,7 %. Tỷ lệ mắc đái tháo đường thấp nhất ở nhóm nông dân là 13,1%. Người dân mù chữ mắc bệnh đái tháo đường 18,8%; học vấn trung học 12,4% 3.1.3.2. Mối liên quan thói quen cuộc sống với bệnh đái tháo đường người dân Bảng 3.11.Một số thói quen liên quan đến mắc bệnh đái tháo đường của người Khmer Thói quen độ Số mắc ĐTĐ Tỷ lệ % OR 95% CI Ăn ít 511 37 7,2 2,4 đường Ăn nhiều 589 94 16,0 1,6-3,6 Chế độ ăn mỡ Ăn ít mỡ 687 81 11,8 1,03 Ăn nhiều 413 50 12,1 0,7-1,5 Ăn đêm sau 20 Không ăn 679 66 9,7 1,7 giờ Có ăn 421 65 15,4 1,1 – 2,4 Hoạt động thể Có hoạt động 798 75 9,4 2,1 lực Ít hoạt động 302 56 18,5 1,5-3,1 Hút thuốc lá Không hút 728 83 11,4 1,1 Có 372 48 12,9 0,7-1,6 510 59 11,6 0,9 590 72 12,2 0,6-1,3 Chế Uống trong ngày ăn Tổng số rượu Không có, ít Có uống Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và chế độ ăn đường với p<0,05. Người có chế độ ăn nhiều đường có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 2,4 lần so với người có chế độ ăn ít đường với KTC 95% là 1,6-3,6. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và ăn sau 20 giờ với p<0,05. Người ăn sau 20 giờ có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 1,7 lần so với người không ăn với KTC 95% là 1,1-2,4. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và hoạt động thể lực với p<0,05. Người ít hoạt động thể lực có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 2,1 lần so với người có hoạt động thể lực với KTC 95% là 1,5-3,1. Không có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ với chế độ ăn mỡ, hút thuốc lá và uống rượu trong ngày với p>0,05. Bảng 3.12. Mối liên quan đến mắc bệnh đái tháo đường giữa tiền sử gia đình và cá nhân của người Khmer Số mắc Tiền sử Tổng số OR Tỷ lệ % 95% CI ĐTĐ Tiền sử gia đình Không 971 88 9,1 Có 129 43 33,3 Không 611 72 11,8 Có 31 7 22,6 0,9-5,2 Không 520 51 9,8 2,7 Có 122 28 23,0 1,6-4,5 5,0 có người mắc ĐTĐ Rối loạn đường 3,2-7,6 2,1 huyết lúc mang thai Sinh con to Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ với p<0,05. Người có tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 5,0 lần so với người không có tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ với KTC 95% là 3,2-7,6. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và sinh con to với p<0,05. Người sinh con to có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 2,7 lần so với người không sinh con to với KTC 95% là 1,6-4,5. Vậy sinh con to làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ với rối loạn đường huyết lúc mang thai với p>0,05. 3.1.3.3. Mối liên quan giữa các chỉ số sức khỏe trung gian với bệnh đái tháo đường người dân Bảng 3.13. Mối liên quan đến bệnh đái tháo đường với các chỉ số sức khỏe trung gian của người Khmer Số mắc Chỉ số sức khỏe Tổng số OR Tỷ lệ % 95% CI ĐTĐ Vòng eo BMI Mỡ cơ thể Mỡ nội tạng Tăng huyết áp WHR Bình thường 918 105 11,4 1,2 Cao 182 26 14,3 0,8 – 2,0 < 23 691 51 7,4 3,05 > = 23 409 80 19,6 2,09 – 4,4 Bình thường 507 35 6,9 2,6 Cao 593 96 16,2 1,7 – 3,9 Bình thường 853 72 8,4 3,4 Cao 247 59 23,9 2,3 – 4,9 Bình thường 672 55 8,2 2,4 Cao 428 76 17,8 1,6 – 3,5 Bình thường 787 84 10,7 1,4 Cao 313 47 15 1,01 – 2,1 Vòng eo to mắc đái tháo đường gấp 1,2 lần. Tuy nhiên chưa chứng minh được mối liên quan giữa số đo vòng eo và tình trạng mắc bệnh ĐTĐ. BMI trên 23 có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao gấp 3 lần so với BMI <23 (p<0,05) Mỡ cơ thể cao mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 2,6 lần người bình thường. (p<0,05) . Mỡ nội tạng cao mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 3,4 lần người bình thường. (p<0,05) Người dân mắc tăng huyết áp và mắc ĐTĐ cao gấp 2,4 lần người không tăng huyết áp. (p<0,05). Người có tỷ lệ vòng eo/vòng mông cao mắc ĐTĐ cao gấp 1,4 lần người bình thường. (p<0,05) . 3.1.4 .Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với bệnh đái tháo đường người dân tộc Khmer sau phân tích hồi qui đa biến Bảng 3.14. Mối liên quan giữa các thói quen cuộc sống với bệnh đái tháo đường, qua phân tích hồi qui đa biến . Các biến số Tổng số Số mắc ĐTĐ Tỷ lệ % OR 95% CI Chế độ ăn Ăn ít 511 37 7,2 2,0 đường Ăn nhiều đường 589 94 16,0 1,30 -3,34 Chế độ ăn Ăn ít mỡ 687 81 11,8 0,6 mỡ Ăn nhiều mỡ 413 50 12,1 0,44 -1,08 Ăn sau 20 Không ăn 679 66 9,7 0,6 giờ Có ăn 421 65 15,4 0,40 -0,90 động Có hoạt động 798 75 9,4 1,7 Hoạt thể lực Ít hoạt động 302 56 18,5 1,16 -2,75 Hút thuốc lá Không 728 83 11,4 2,2 Có 372 48 12,9 1,16 -4,25 510 59 11,6 0,5 590 72 12,2 0,28 -0,98 Uống rượu Không có, ít trong ngày Có uống Sau phân tích hồi qui đa biến ta nhận thấy : Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và chế độ ăn đường với p<0,05. Người có chế độ ăn đường nhiều có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 2,0 lần so với người có chế độ ăn đường ít với KTC 95% là 1,30 – 3,34. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và ăn sau 20 giờ với p<0,05. Người có không ăn sau 20 giờ có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 0,6 lần so với người có ăn sau 20 giờ với KTC 95% là 0,40 – 0,90. Vậy ăn sau 20 giờ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và hoạt động thể lực với p<0,05. Người không có hoạt động thể lực có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 1,7 lần so với người có hoạt động thể lực với KTC 95% là 1,16 – 2,75. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và hút thuốc lá, uống rượu trong ngày với p<0,05. Người không có uống rượu trong ngày có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 0,5 lần so với người có uống rượu trong ngày Bảng 3.15. Mối liên quan giữa các chỉ số sức khỏe trung gian với bệnh đái tháo đường, qua phân tích hồi qui đa biến . Các biến số Vòng bụng Tổng số Số mắc ĐTĐ Tỷ lệ % OR 95% CI Bình thường 918 105 11,4 0,6 Cao 182 26 14,3 0,37-1,13 Mức mỡ nội Bình thường 853 72 8,4 3,4 tạng 247 59 23,9 2,33-4,97 Tỷ lệ mỡ cơ Bình thường 507 35 6,9 0,9 thể Cao 593 96 16,2 0,98 -1,00 Chỉ số WHR Bình thường 787 84 10,7 1,4 Cao 313 47 15 1,01-2,17 <23 691 51 7,4 2,3 ≥23 409 80 19,6 1,53 -3,62 Không tăng HA 672 55 8,2 1,7 Có tăng HA 428 76 17,8 1,14 -2,59 Chỉ số BMI Huyết áp Tăng cao Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và vòng bụng với p<0,05. Người có vòng bụng bình thường có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 0,6 lần so với người có vòng bụng cao với KTC 95% là 0,37 - 1,13. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và mức mỡ nội tạng với p<0,05. Người có mức mỡ nội tạng cao có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 3,4 lần so với người có mức mỡ nội tạng bình thường với KTC 95% là 2,33 – 4,97. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và chỉ số WHR với p<0,05. Người có chỉ số WHR cao có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 1,4 lần so với người có chỉ số WHR bình thường với KTC 95% là 1,01 – 2,17. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và chỉ số BMI với p<0,05. Người có chỉ số BMI >=23 có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 2,3 lần so với người có chỉ số BMI<2,3 với KTC 95% là 1,53 – 3,62. Có mối liên quan giữa tình trạng mắc bệnh ĐTĐ và huyết áp với p<0,05. Người có huyết áp cao có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 1,7 lần so với người có huyết áp bình thường với KTC 95% là 1,14 -2,59. 3.1.4. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường và các yếu tố liên quan trong và ngoài thang điểm FINDRISC. Bảng 3.16. Tình hình phân bố theo các yếu tố nguy cơ của người dân tộc Khmer Biến 1. Tuổi Phân độ < 45 Điểm Số lượng (n=1000) 0 - TL% - 45 – 54 2 519 47,2 55 – 64 3 333 30,3 ≥ 64 4 248 22,5 < 18,5 0 58 5,2 18,5 - < 23 1 633 57,5 ≥ 23 3 409 37,2 < 82 0 343 74,9 82 – 90 3 96 21,0 ≥ 90 4 19 4,1 < 72 0 230 35,8 72 – 80 3 249 38,8 ≥ 80 4 163 25,4 4. Hoạt động thể lực Có 0 798 72,5 hàng ngày > 30 phút 2 302 27,5 0 592 53,8 1 508 46,2 6. Đã có lần được kê Không 0 1022 92,9 toa thuốc hạ huyết áp 2 78 7,1 7. Đã có lần phát hiện Không 0 773 70,3 tăng đường huyết 2 327 29,7 8. Có thân nhân được Không 0 917 88,3 chẩn đoán ĐTĐ 3 43 3,9 2. BMI 3. Vòng Bụng Nam Nữ Không 5. Thường ăn rau, quả Mỗi ngày Không mỗi ngày Có Có Ông bà, chú, bác, cô,dì Có cha mẹ anh, chị, em 5 86 7,8 Nhận xét. Người dân, nhóm tuổi từ 45 – 54 tỷ lệ cao 47,2%. Nhóm người nam có vòng bụng < 82 cm tỷ lệ cao là 74,9% và nhóm nữ có vòng bụng từ 72 – 80cm có tỷ lệ cao nhất là 38,8%. Có thân nhân được chẩn đoán ĐTĐ tỷ lệ 11,7% Bảng 3.17. Một số yếu tố liên quan trên người dân tộc Khmer tiền đái tháo đường trong và ngoài thang điểm FINDRISC Thông số Diện tích KTC 95% Điểm cắt p Tuổi 0,74 0,69 – 0,78 53 <0,05 BMI 0,61 0,55 - 0,66 23 <0,05 Vòng bụng 0,78 0,74 – 0,82 77 <0,05 Tiền sử tăng HA 0,38 0,32 – 0,43 HA tâm thu 0,65 0,61 – 0,69 120 <0,05 HA tâm trương 0,63 0,58 – 0,68 80 <0,05 Tỷ lệ mở cơ thể 0,59 0,53 - 0,64 31 <0,05 Mức mỡ nội tạng 0,60 0,55 – 0,65 4 <0,05 Trong thang điểm <0,05 Ngoài thang điểm Tuổi, BMI và vòng bụng là ba yếu tố liên quan rõ nhất trong thang điểm FINDRISC trên đối tượng người dân tộc Khmer mắc tiền đái tháo đường. Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và mức mỡ nội tạng là các yếu tố liên quan rõ nhất bên ngoài thang điểm FINDRISC trên đối tượng tiền đái tháo đường. Diện tích dưới đường cong lần lượt là 0,65; 0,63 và 0,60. . Độ nhạy Tuổi BMI Vòng bụng Tăng đường huyết Thân nhân ĐTD Tiền sử tăng HA Ăn rau xanh Độ đặc hiệu Biểu đồ 3.3. Yếu tố liên quan ở người dân tiền đái tháo đường trong thang điểm FINDRISC Bảng 3.18. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường týp 2 trong 10 năm tới của người dân tộc Khmer bình thường Xếp loại Nguy cơ Số lượng Tỷ lệ % Ước tính tỷ lệ tiến triển ĐTĐ týp 2 (%) Thấp 20 2,6 0,03 Thấp nhẹ 427 55,3 0,21 Trung bình 261 33,8 5,63 Cao 64 8,3 2,76 772 100 8,26 Tổng Người dân ở nhóm xếp loại thấp nhẹ có tỷ lệ cao nhất 55,3% và ước tính tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 trong 10 năm sẽ tăng thêm là 8,26% năm 2021 Bảng 3.19. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường týp 2 trong 10 năm tới của người tiền đái tháo đường Xếp loại Nguy cơ Số lượng Tỷ lệ % Ước tính tỷ lệ tiến triển ĐTĐ týp 2 (%) Thấp 10 5,1 0,05 Thấp nhẹ 82 41,6 1,66 Trung bình 72 36,5 6,08 Cao 33 16,8 5,60 197 100,0 13,39 Tổng Tỷ lệ đối tượng ở nhóm xếp loại nguy cơ cao tỷ lệ 16,8%. Ước tính tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 trong 10 năm tới ở người dân tộc Khmer bị mắc tiền đái tháo đường là 13,39%. 45 41,6% 40 36,5% T hấp 35 T hấp nhẹ 30 25 Trung bình 20 16,8% Cao 15 10 5,1% 5 0 Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ mức độ nguy cơ trên người mắc tiền đái tháo đường. 3.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TẠI CỘNG ĐỒNG Mô hình can thiệp “ Trạm y tế xã phòng chống đái tháo đường” với kết quả sau: 3.2.1. Đánh giá chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức người dân về bệnh đái tháo đường. Bảng 3.20. So sánh kiến thức người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường. Biến số Nhóm kiến nghiên thức cứu Thời chứng phát hiện bệnh ĐTĐ Không đúng đúng gian SL Can Trước CT thiệp Về yếu (n=302) Sau CT tố nguy Chứng Trước CT cơ Về triệu Kiến thức % SL % 139 46,0 163 54,0 0,01 240 79,5 62 20,5 155 42,0 214 58,0 (n=369) Sau CT 200 54,2 169 45,8 Can Trước CT thiệp (n=302) Sau CT 154 51,0 148 49,0 243 80,5 59 19,5 Trước CT 140 37,9 229 62,1 Chứng (n=369) Sau CT 204 55,3 165 44,7 Trước CT 158 52,3 144 47,7 Sau CT 181 59,9 121 40,1 bệnh Trước CT 53 14,4 316 85,6 58 15,7 311 84,3 Chứng (n=369) Sau CT 72,8 43,8 0,01 29,0 0,01 57,8 11,9 0,01 45,9 Can thiệp phòng (n=302) Về cách ĐTĐ p CSHQ HQCT (%) (%) 0,01 14,5 0,06 9,0 5,5 Tỷ lệ hiểu biết yếu tố nguy cơ về bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp, trước can thiệp 46,0% sau can thiệp là 79,5% và chỉ số hiệu quả 72,8% (p <0,01). Tỷ lệ hiểu biết yếu tố nguy cơ về bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm đối chứng, trước can thiệp 42% sau can thiệp là 54,2% và chỉ số hiệu quả 29% (p <0,01). Hiệu quả can thiệp là 43,8% Tỷ lệ hiểu biết về khám phát hiện bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp, trước can thiệp 51,0% sau can thiệp là 80,05% và chỉ số hiệu quả 57,8% (p <0,01). Tỷ lệ hiểu biết về khám phát hiện bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng, thời điểm trước can thiệp 37,9%, sau can thiệp là 55,3% và chỉ số hiệu quả 45,9% (p <0,01). Hiệu quả can thiệp là 11,9% Tỷ lệ biết về cách phòng chống bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp, trước can thiệp 52,3% sau can thiệp là 59,9% và chỉ số hiệu quả 14,5% (p <0,05). Tỷ lệ biết về cách phòng chống bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm đối chứng ta thấy trước can thiệp 14,4% sau can thiệp là 15,7% và chỉ số hiệu quả 9% (p >0,05). Hiệu quả can thiệp là 5,5% Kiến thức về cách phòng bệnh ĐTĐ 59,9 Kiến thức về triệu chứng phát hiện bệnh 80,5 Kiến thức về yếu tố nguy cơ 79,5 0 20 40 60 80 100 Biểu đồ 3. 5 Kiến thức người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường Sau can thiệp kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ 59,95 , về phát hiện bệnh là 80,5%, về yếu tố nguy cơ là 79,9% 3.2.2. Đánh giá chương trình tư vấn thay đổi hành vi sức khỏe Bảng 3.21. So sánh tỷ lệ thay đổi thói quen ăn ngọt, ăn mỡ, chất béo, ăn rau, trái cây phòng bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp Biến số Nhóm nghiên gian Ăn nhiều SL % Can Trước CT 131 thiệp 85 Sau CT (n=302) Chứng Trước CT 208 43,4 171 56,6 28,1 217 71,9 56,4 161 43,6 (n=369) 219 59,3 150 40,7 86 28,5 216 71,5 49 16,2 253 83,8 144 39,0 225 61,0 156 42,3 213 57,7 Can Trước CT 83 thiệp 68 Sau CT (n=302) Chứng Trước CT 129 27,5 219 72,5 22,5 234 77,5 35,0 240 65,0 (n=369) 106 28,7 263 71,3 43,4 171 56,6 70,9 88 29,1 trái Can Trước CT 131 thiệp 214 Sau CT (n=302) Chứng Trước CT 208 56,4 161 43,6 cây (n=369) 46,9 196 53,1 ngọt Sau CT Can Trước CT thiệp Sau CT Ăn mỡ (n=302) Chứng Trước CT (n=369) Ăn chất béo Ăn rau, Sau CT Sau CT Sau CT SL Ăn bình thường % Ăn cứu Thời 173 p CSHQ HQCT (%) (%) 0,01 35,3 0,31 <0,0 0,01 35,3 43,2 43,2 0,23 <0,0 0,17 18,2 0,2 0,02 18,0 0,01 63,4 63,4 0,01 <0,0 So sánh tỷ lệ hạn chế ăn ngọt trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp và ở nhóm đối chứng, hiệu quả can thiệp là 35,3% So sánh tỷ lệ hạn chế ăn mỡ trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp và ở nhóm chứng, hiệu quả can thiệp là 43,2% So sánh tỷ lệ hạn chế ăn chất béo trước và sau can thiệp ở nhóm đối chứng, ta thấy trước can thiệp 35% sau can thiệp là 28,7% và hiệu quả 18% (p <0,05). So sánh tỷ lệ có ăn rau, trái cây trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 43,4% sau can thiệp là 70,9% và hiệu quả 63,4% (p <0,01) Bảng 3.22. So sánh tỷ lệ người dân ăn sau 20 giờ luyện tập thể dục, giảm rượu bia, thuốc lá phòng bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp . Biến số Nhóm Can Ăn thiệp đêm (n=302) sau 20 giờ Trước CT Sau CT SL % SL % 271 73,4 98 26,6 197 53,4 172 46,6 Trước CT 150 49,7 152 50,3 (n=369) Sau CT 218 72,2 84 27,8 Trước CT 220 72,8 82 27,2 258 85,4 44 14,6 thiệp tập thể (n=302) dục Thời gian Ít, không Chứng Can Luyện Có Sau CT Chứng Trước CT 279 75,6 90 24,4 (n=369) Sau CT 281 76,2 88 23,8 P CSHQ HQCT (%) (%) <0,01 27,2 27,7 <0,01 <0,0 <0,01 17,3 16,5 0,85 0,8 So sánh tỷ lệ hạn chế ăn sau 20 giờ trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 73,4% sau can thiệp là 53,4% và hiệu quả 27,2% (p<0,01) So sánh tỷ lệ hạn chế ăn sau 20 giờ trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 49,7% sau can thiệp là 72,2% và hiệu quả < 0 % (p<0,05); hiệu quả can thiệp 27,7% So sánh tỷ lệ có luyện tập nâng cao thể lực trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp, chỉ số hiệu quả 17,3% (p <0,01); nhóm chứng chỉ số hiệu quả 0,8% (p>0,05); hiệu quả can thiệp là 16,5%. 3.2.3. Đánh giá chương trình luyện tập nâng cao thể lực, giảm uống rượu, bia, thuốc lá Bảng 3.23. So sánh tỷ lệ người dân giảm rượu bia, thuốc lá phòng bệnh đái tháo đường trước và sau can thiệp . p Biến số Nhóm Can gian Trước CT thiệp Uống Có Thời Ít, không SL % SL % 141 46,7 161 53,3 34 11,3 268 88,7 CSHQ HQCT (%) (%) <0,01 75,8 Sau CT rượu, (n=302) bia Chứng 63,6 Trước CT 173 46,9 196 53,1 0,01 12,2 (n=369) Can Sau CT 152 41,2 217 58,8 Trước CT 96 31,8 206 68,2 49 16,2 253 83,8 thiệp Hút <0,01 49,1 Sau CT thuốc (n=302) lá Chứng 47,1 Trước CT 148 40,1 221 59,9 0,70 2,0 (n=369) Sau CT 145 39,3 224 60,7 So sánh tỷ lệ hạn chế sử dụng rượu trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp, chỉ số hiệu quả 75,8% (p<0,01); nhóm chỉ số hiệu quả 12,2% (p <0,01); hiệu quả can thiệp là 63,6% So sánh tỷ lệ hạn chế hút thuốc trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp chỉ số hiệu quả 49,1%(p <0,01); ở nhóm chứng và hiệu quả 2% (p > 0,05); hiệu quả can thiệp là 47,1%. 3.2.4. Đánh giá chương trình thay đổi chỉ số sức khỏe người dân tộc Khmer Bảng 3.24. So sánh tỷ lệ thay đổi mức độ vòng bụng, mỡ nội tạng, mỡ cơ thể trước và sau can thiệp Cao Biến số Vòng bụng Mỡ nội tạng Nhóm Bình thường p Thời gian SL % SL % Can Trước CT thiệp Sau CT (n=302) Chứng Trước CT 51 16,9 251 83,1 32 10,6 270 89,4 68 18,4 301 81,6 (n=369) 61 16,5 308 83,5 Can Trước CT thiệp Sau CT (n=302) Chứng Trước CT 220 72,8 81 22,0 227 75,2 160 43,4 288 78,0 81 22,0 (n=369) 209 56,6 160 43,4 183 60,6 119 39,4 85 28,1 217 71,9 198 53,7 171 151 218 59,1 151 40,9 Sau CT Sau CT Can Trước CT thiệp Sau CT (n=302) Mỡ cơ Chứng Trước CT thể (n=369) Sau CT 0,01 0,18 0,53 0,01 0,01 CSHQ HQCT (%) (%) 37,3 27,0 10,3 8,8 8,8 0,0 53,6 53,6 0,03 0,0 So sánh tỷ lệ có vòng bụng cao trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp chỉ số hiệu quả 37,3%; ở nhóm chứng chỉ số hiệu quả 10,3%; hiệu quả can thiệp là 27%. So sánh tỷ lệ mỡ cơ thể cao trước và sau can thiệp của nhóm can trước can thiệp 60,6% sau can thiệp là 28,1% và chỉ số hiệu quả 53,6%(p <0,01); So sánh tỷ lệ mỡ cơ thể cao trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy <0% (p <0,05); hiệu quả can thiệp là > 53,6% . Bảng 3.25. So sánh tỷ lệ thay đổi BMI, tăng huyết áp trước và sau can thiệp Biến số BMI Nhóm áp Bình thường SL % SL % 110 36,4 192 63,6 28,8 215 71,2 145 39,3 224 60,7 Sau CT 187 50,7 182 49,3 Trước Can CT thiệp (n=302) Sau CT 102 33,8 200 66,2 Chứng (n=369) Trước p CSHQ HQCT (%) <0,01 <0,01 20,9 CT Trước 0,0 <0,01 20,7 81 26,8 221 73,2 119 32,2 250 67,8 CT Sau CT (%) 20,9 87 (n=369) huyết gian Trước Can CT thiệp (n=302) Sau CT Chứng Tăng Cao Thời 9,8 0,04 10,9 106 28,7 263 71,3 So sánh tỷ lệ BMI > 23 trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 36,4% sau can thiệp là 28,8% và hiệu quả 20,9% (p <0,01). So sánh tỷ lệ BMI > 23 trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 39,3% sau can thiệp là 50,7% và chỉ số hiệu quả < 0% (p < 0,05); hiệu quả can thiệp là 20,9%. So sánh tỷ lệ có tăng huyết áp trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 33,8% sau can thiệp là 26,8% và chỉ số hiệu quả 20,7% (p<0,01). So sánh tỷ lệ có tăng huyết áp trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 32,2% sau can thiệp là 28,7% và chỉ số hiệu quả 10,9% (p < 0,05); hiệu quả can thiệp là 9,8%. 3.2.5. Tình hình quản lý khám chữa bệnh đái tháo đường tại trạm y tế xã Bảng 3.26. Tình hình người bệnh khám chữa bệnh đái tháo đường tại trạm y tế xã Nhóm Khám Khám bệnh Thời bệnh khác gian ĐTĐ Trước CT Can Tổng p CSHQ HQCT (%) số SL % SL % 246 2,4 9870 97,6 10116 (%) <0,05 54,2 Thiệp Sau CT 780 5,7 12970 94,3 13750 Trước CT 148 1,8 8462 98,2 8710 Sau CT 201 1,9 10566 98,1 10767 48,6 <0,05 Chứng 5,5 Nhóm can thiệp trước can thiệp người dân đến trạm khám phát hiện đái tháo đường 2,4%, sau can thiệp 5,7%. Nhóm đối chứng trước can thiệp người dân đến trạm khám phát hiện đái tháo đường 1,8%, sau can thiệp 1,9%. Bảng 3.27. Tình hình phát hiện người bệnh đái tháo đường tại trạm y tế xã Mắc đái Nhóm Can Thời gian tháo đường Trước CT Binh Tổng thường số SL % SL % 21 8,5 225 91,5 246 p CSHQ HQCT (%) (%) < 0,05 44,7 thiệp Sau CT 95 12,1 685 87,9 780 6,4 Trước CT 7 4,7 141 95,3 148 Chứng < 0,05 38,3 Sau CT 13 6,5 188 93,5 201 Trước can thiệp, nhóm can thiệp phát hiện 8,5% đái tháo đường, sau can thiệp 12,3%, nhóm đối chứng trước can thiệp 4,7% sau can thiệp là 6,5% Bảng 3.28. Tình hình phát hiện người Khmer tiền đái tháo đường tại trạm y tế xã Nhóm Can Thời Tiền đái tháo đường Bình thường Tổng gian SL % SL % số Trước CT 27 10,9 219 89,1 246 p CSHQ HQCT (%) (%) < 0,05 28,4 thiệp Sau CT 109 14,0 671 86,0 780 Trước CT 11 7,4 137 92,6 148 Chứng 13,6 < 0,05 14,8 Sau CT 17 8,5 184 91,5 201 Sau can thiệp nhóm can thiệp phát hiện tiền đái tháo đường là 14%. 3.2.6. Đánh giá hiệu quả can thiệp chỉ số sức khỏe người bệnh đái tháo đường Bảng 3.29. Các chỉ số sức khỏe của nhóm đái tháo đường trước và sau can thiệp Biến số Cao Bình thường SL % Tổng số p 0,12 14,2 0,98 0,0 Thời gian SL % Trước CT 7 18,9 30 81,1 37 6 16,2 31 83,8 37 Trước CT 13 32,5 27 67,5 40 Sau CT 13 32,5 27 67,5 40 Trước CT 34 91,9 3 8,1 37 19 51,3 18 48,7 37 Trước CT 24 60,0 16 40,0 40 Sau CT 32 80,0 8 20,0 40 Mỡ cơ Can Trước CT thể Thiệp Sau CT 22 59,5 15 40,5 37 20 54,1 17 45,9 37 Chứng Trước CT 15 37,5 25 62,5 40 14 35,0 26 65,0 40 Nhóm Can Vòng bụng Thiệp Sau CT CSH HQCT Q (%) (%) Chứng Mỡ nội tạng Can Thiệp Sau CT 14,2 0,01 44,1 0,03 33,3 0,01 13,3 0,01 4,0 10,8 Chứng Sau CT 9,3 So sánh tỷ lệ vòng bụng trên bệnh nhân đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp chỉ số hiệu quả 14,2% (p >0,05). So sánh tỷ lệ vòng bụng ở bệnh nhân đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 32,5% sau can thiệp là 32,5% và hiệu quả = 0%. Hiệu quả can thiệp là 14,2% So sánh tỷ lệ mỡ cơ thể trên bệnh nhân đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp chỉ số hiệu quả 13,3% (p <0,05). Ở nhóm đối chứng bình thường chỉ số hiệu quả 4,0 % (p <0,05). Hiệu quả can thiệp là 9,3%. Bảng.3.30. Các chỉ số sức khỏe của nhóm đái tháo đường trước sau can thiệp Biến Nhóm số gian Can Trước CT BMI Cao Thời Bình thường SL % SL % 26 70,3 11 29,7 Tổng Số CSH HQC p Q T (%) (%) 37 0,01 38,5 Thiệp Sau CT 16 43,2 21 56,8 37 Trước CT 23 57,5 17 42,5 40 Sau CT 29 72,5 11 27,5 40 20 54,1 17 45,9 37 Chứng Huyết áp 12,4 0,03 26 Can Trước CT 0,37 17,8 Thiệp Sau CT 17 45,9 20 54,1 37 2,5 Trước CT 27 67,5 13 32,5 40 Sau CT 25 62,5 15 37,5 40 0.07 15,3 Chứng So sánh tỷ lệ BMI trên bệnh nhân đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 70,3% sau can thiệp là 43,2% và hiệu quả 38,5% (p <0,05) So sánh tỷ lệ BMI ở bệnh nhân đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 57,5% sau can thiệp là 72,5% và hiệu quả 26% (p <0,05). Hiệu quả can thiệp là 12,4% So sánh tỷ lệ cao huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp hiệu quả 17,8% (p >0,05). Ở nhóm đối chứng chỉ số hiệu quả 15,3% (p >0,05). Hiệu quả can thiệp là 2,5%. 3.2.7. Đánh giá hiệu quả can thiệp về chỉ số sức khỏe trên người tiền đái tháo đường Bảng.3.31. Các chỉ số sức khỏe của nhóm tiền đái tháo đường trước, sau can thiệp Biến Nhóm số Vòng bụng Can Thời gian Cao Bình Tổng thường số % SL % 22 37,3 37 62,7 59 10 16,9 49 83,1 59 Trước CT 22 37,3 37 62,7 59 Sau CT 18 30,5 41 69,5 59 Trước CT 49 83,1 10 16,9 59 Thiệp Sau CT Chứng Mỡ nội tạng Can Thiệp Sau CT 41 69,4 18 30,6 Q 0,01 HQCT (%) 20,0 9,2 0,21 0,01 10,8 16,4 59 8,5 Trước CT 50 84,7 9 15,3 59 Sau CT 46 78,0 13 22,0 59 Trước CT 29 49,2 30 50,8 59 Thiệp Sau CT 25 42,4 34 57,6 59 Chứng Trước CT 31 52,5 28 47,5 59 Chứng Mỡ cơ thể p (%) SL Trước CT CSH Can 0,34 7,9 0,55 13,3 10,0 Sau CT 30 50,9 29 49,1 0,01 3,3 59 So sánh tỷ lệ vòng bụng trên bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 37,3% sau can thiệp là 16,9% và hiệu quả 20,0% (p <0,05). So sánh tỷ lệ vòng bụng ở bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 37,3% sau can thiệp là 30,5% và hiệu quả 10,8% (p >0,05). Vậy hiệu quả can thiệp là 9,2% So sánh tỷ lệ mức mỡ nội tạng trên bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 83,1% sau can thiệp là 69,4% và chỉ số hiệu quả 16,4% (p <0,05). So sánh tỷ lệ mức mỡ nội tạng ở bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 84,7% sau can thiệp là 78,0% và hiệu quả 7,91% (p >0,05); hiệu quả can thiệp là 8,5%. Bảng.3.32. Các chỉ số sức khỏe của nhóm tiền đái tháo đường trước sau can thiệp Biến số BMI Nhóm Can Cao Thời thường gian Trước CT Bình SL % SL % 53 89,8 6 10,2 CSH HQC Tổng số p Q T (%) (%) 59 0,01 15,1 Thiệp Sau CT 45 76,2 14 23,8 59 7,7 Trước CT 54 91,5 5 8,5 59 Sau CT 50 84,7 9 15,3 59 Trước CT 26 44,1 33 55.9 59 0,12 Chứng Can 7,4 0,01 23,3 Huyết Thiệp Sau CT 20 33,8 39 66,2 59 7,2 áp Trước CT 25 42,4 34 57,6 59 Chứng 0,34 16,0 Sau CT 21 35,6 38 64,4 59 So sánh tỷ lệ BMI trên bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 89,8% sau can thiệp là 76,2% và chỉ số hiệu quả 15,1% (p <0,05). So sánh tỷ lệ BMI ở bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 91,5% sau can thiệp là 84,7% và hiệu quả 7,4% (p >0,05). Vậy hiệu quả can thiệp là 7,7%. So sánh tỷ lệ cao huyết áp trên bệnh nhân tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp chỉ số hiệu quả 23,3% (p <0,05); ở nhóm chứng chỉ số hiệu quả 16,0 % (p >0,05); hiệu quả can thiệp là 7,2%. 3.2.8. Đánh giá hiệu quả can thiệp các chỉ số trực tiếp Bảng 3.33. So sánh trước và sau can thiệp về tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường, tiền đái tháo đường của nhóm chứng và nhóm can thiệp Cao Biến số Thời Nhóm gian Can tháo Thiệp Sau CT đường Chứng thường SL Trước CT 37 Đái Bình 30 Trước CT 40 CSH HQC Tổng số % SL % 12,3 265 87,7 302 9,9 272 90,1 302 10,8 329 89,2 369 37 10,1 332 89,9 369 Trước CT 59 22,3 206 77,7 265 12,5 238 87,5 Sau CT Tiền Can đái Thiệp Sau CT p Q T (%) (%) 0,26 19,5 13,1 0,10 6,4 0,01 43,9 34 272 38,4 tháo đường Chứng Trước CT 59 17,9 270 82,1 329 Sau CT 16,9 264 83,1 318 54 0,10 5,5 So sánh tỷ lệ mắc đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 12,3% sau can thiệp là 9,9% và hiệu quả 19,5% (p >0,05). So sánh tỷ lệ mắc đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 10,8% sau can thiệp là 10,1% và chỉ số hiệu quả 6,4% (p >0,05); hiệu quả can thiệp là 13,1% . So sánh tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp ta thấy trước can thiệp 22,3% sau can thiệp là 12,5% và hiệu quả 43,9% (p<0,01) So sánh tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường trước và sau can thiệp ở nhóm chứng ta thấy trước can thiệp 17,9% sau can thiệp là 16,9% và chỉ số hiệu quả 5,5% (p>0,05).; hiệu quả can thiệp là 38,4%. Bảng 3.34. Tình hình người bệnh đái tháo đường thay đổi sau can thiệp tại trạm y tế xã Biến số Số lượng Tỷ lệ (%) 37 100 Đái tháo đường 29 78,38 Tiền đái tháo đường 5 13,51 Bình thường 3 8,11 Người bệnh đái tháo đường trước can thiệp Sau can thiêp, gồm: Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường chuyển sang tiền đái tháo đường là 13,51%, và có 8,11% người bệnh xét nghiệm đường huyết mức bình thường Bảng 3.35. Tình hình người tiền đái tháo đường thay đổi sau can thiệp tại trạm y tế xã. Biến số Số lượng Tỷ lệ (%) 59 100 Tiền đái tháo đường 29 49,15 Đái tháo đường 1 1,70 Bình thường 29 49,15 Người tiền đái tháo đường trước can thiệp Sau can thiêp, gồm: Tỷ lệ người tiền đái tháo đường chuyển sang bệnh đái tháo đường là 1,7%; Có 49,154% người tiền ĐTĐ sau can thiệp xét nghiệm đường huyết mức bình thường 3.2.9. Đánh giá hiệu quả can thiệp công tác tổ chức quản lý thực hiện biện pháp can thiệp Bảng 3.36. Tỷ lệ xã can thiệp tổ chức thực hiện truyền thông phòng chống bệnh đái tháo đường theo chỉ tiêu kế hoạch thực hiện nghiên cứu. Nội dung Số lần họp BCSSKND xã Số lần tập huấn nhân viên y tế xã ấp Số lần TT GDSK tại xã Số lần CTV. TT GDSK tại nhóm Số lược CTV thăm bênh nhân Số bài viết cho bản tin xã Xã can thiệp Chỉ tiêu/2 năm Thực hiện Tỷ lệ (%) Cái Tắc 8 8 100 Bảy Ngàn 8 8 100 Cái Tắc 4 3 75 Bảy Ngàn 4 4 100 Cái Tắc 8 8 100 Bảy Ngàn 8 9 112,5 Cái Tắc 24 23 95,83 Bảy Ngàn 24 24 100 Cái Tắc 192 185 96,35 Bảy Ngàn 252 244 98,82 Cái Tắc 8 8 100 Bảy Ngàn 8 8 100 Công tác tổ chức ban chỉ đạo để thực hiện công tác phòng chống đái tháo đường trong cộng đồng đạt rất cao như công tác hợp ban chỉ đạo đạt 100%, công tác tổ chức tập huấn cho cán bộ xã và ấp về công tác phòng chống đái tháo đường Trạm y tế Cái Tắc chỉ đạt 75%. Nhìn chung các biến số khác đạt từ 95% trở lên Bảng 3.37. Tình hình các xã can thiệp thực hiện các hoạt động phòng chống đái tháo đường Nội dung Hướng dẫn tập luyện thể dục Số lần phối hợp các hội, đoàn tổ chức thể dục, Số lần câu lạc bộ sinh. Số lần tổ chức khám và điều trị. Số lần báo cáo/ năm định kỳ 3 tháng, Số lần giám sát thu thập số liệu phỏng vấn tại hộ gia đình Xã can thiệp Chỉ tiêu/2 năm Thực hiện Tỷ lệ (%) ( số lần) ( số lần) Cái Tắc 12 12 100 Bảy Ngàn 12 11 91,66 Cái Tắc 4 4 100 Bảy Ngàn 4 4 100 Cái Tắc 24 22 91,66 Bảy Ngàn 24 23 95,58 Cái Tắc 8 8 100 Bảy Ngàn 8 8 100 Cái Tắc 8 8 100 Bảy Ngàn 8 8 100 Cái Tắc 8 8 100 Bảy Ngàn 8 8 100 Các nội dung về hướng dẫn và thực hành công tác phòng chống đái tháo đường chỉ có biến số hướng dẫn tập thể dục và sinh hoạt câu lạc bộ thì trạm y tế Cái Tắc thực hiện chỉ đạt 91,66 còn các biến số khác và xã khác đều đạt trên 95% . Tóm tắt, sau hai năm thực hiện nghiên cứu công đồng một số biện pháp của mô hình can thiệp: “Trạm y tế xã phòng chống đái tháo đường cho người Khmer” như sau: Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường ở nhóm can thiệp, so sánh trước và sau can thiệp. Tăng tỷ lệ biết yếu tố nguy cơ (46% so với 79,5%); về khám phát hiện sớm bệnh đái tháo đường (51% so với 80,5 %); về cách phòng chống bệnh (52,3% so với 59,9%). Về hành vi sức khỏe có hại ở nhóm can thiệp, so sánh trước và sau can thiệp. Giảm các tỷ lệ: ăn uống nhiều đường (43,4% so với 28,1 %); ăn nhiều mỡ (28,5% so với 16,2%); giảm uống rượu bia (46,7% so với 11,3%); hút thuốc lá (31,8% so với 16,2%); ăn tối (73,4% so với 53,4%); có rau quả, trái cây hàng ngày (43,4% so với 70,9%); có vận động thể lực (72,8% so với 85,4%). Người bệnh đái tháo đường: Thay đổi chỉ số sức khỏe trung gian ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng trước và sau can thiệp. Hiệu quả can thiệp về vòng bụng 14,2%; về mỡ nội tạng 10,8%; về tỷ lệ mỡ cơ thể 9,3%; về BMI 12,4%; về tăng huyết áp là 2,5%. Người tiền đái tháo đường: Thay đổi chỉ số sức khỏe trung gian ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng trước và sau can thiệp. Hiệu quả can thiệp về vòng bụng 9,2%; về mỡ nội tạng 8,5%; về tỷ lệ mỡ cơ thể 10,0%; về BMI 7,7%; về tăng huyết áp là 7,2%. Giảm tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường của nhóm can thiệp so sánh trước sau can thiệp (12,3% so với 9,9%) với chỉ số hiệu quả 19,5%. So nhóm chứng chỉ số hiệu quả 6,4% (p >0,05); hiệu quả can thiệp người bệnh đái tháo đường là 13,1% Giảm tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường của nhóm can thiệp so sánh trước sau can thiệp (22,3% so với 12,5%) với chỉ số hiệu quả can thiệp 43,9%; so nhóm chứng chỉ số hiệu quả 5,5% (p >0,05).; hiệu quả can thiệp người tiền đái tháo đường là 38,4%. Chương 4 BÀN LUẬN 4.1. TỶ LỆ HIỆN MẮC TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 4.1.1. Tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường và đái tháo đường người Khmer Để thực hiện nghiên cứu, tác giả chọn mẫu đại diện cho quần thể và tiến hành khảo sát trên mẫu. Từ kết quả khảo sát trên mẫu sẽ suy ra kết quả nghiên cứu trên quần thể. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở người dân tộc Khmer tại tỉnh Hậu Giang về bệnh tiền đái tháo đường, đái tháo đường tại cộng đồng. Nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc quy trình chọn mẫu và thu thập số liệu đảm bảo khách quan khoa học. Tính toán ban đầu số lượng người cần được thăm khám là 1.100 người, chúng tôi tiến hành lập danh sách người dân tộc Khmer tuổi từ 45 tuổi trở lên đủ số lượng theo số lượng mẫu. Tiến hành phỏng vấn, thăm khám và đo đường huyết mao mạch được 1.100 người ở 6 xã thuộc 3 huyện, tỉnh Hậu Giang. Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được chọn ngẫu nhiên, cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán và thực tế thu thập đủ đại diện cho khu vực chợ và nông thôn của 3 huyện trong tỉnh Hậu Giang. So sánh với nghiên cứu năm 2001 điều tra dịch tễ học đái tháo đường ở bốn thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh cỡ mẫu là 2394 người ở 23 phường của 4 thành phố. So với cỡ mẫu của chúng tôi tại một tỉnh nhỏ, điều tra 1100 người dân, tại 6 xã của 3 huyện, thể hiện tính đại diện và độ tin cậy của nghiên cứu. Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở người dân tộc Khmer là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp vì những yêu cầu về chẩn đoán khá nghiêm ngặt, đòi hỏi phải có nguồn kinh phí lớn về trang thiết bị và phương tiện thăm dò, các cán bộ tham gia công tác này cần được tập huấn kỹ và thường phải làm việc sớm. Tất cả các đối tượng được khám, phỏng vấn, đo đường máu, đo huyết áp, cân nặng chiều cao đúng qui trình. Nghiên cứu tiến hành vào các ngày trong tuần. Ngày hôm trước các đối tượng được cộng tác viên và điều tra viên đến từng nhà vận động đối tượng tham gia nghiên cứu. Thời gian tiến hành xét nghiệm glucose máu vào buổi sáng sớm nên không có đối tượng nào ăn sáng trước khi xét nghiệm. Huyết áp đều được đo 2 lần để tính toán giá trị trung bình. Các thông tin thu thập của từng đối tượng đều được kiểm tra và điều chỉnh tại chỗ nếu thiếu thông tin hoặc có sự sai sót. 4.1.1.1. Một số đặc điểm về dân số học Với 1.100 đối tượng tham gia vào nghiên cứu, qua điều tra, phỏng vấn tại trạm y tế ta thấy trong đối tượng nghiên cứu tỷ lệ nam giới (41,6%), nữ giới (58,4%); Có 26,5% các đối tượng ở khu vực chợ và 75,5% các đối tượng ở nông thôn. Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ tốt nghiệp PTTH thấp nhất trong tất cả các vùng khác trong cả nước.Tỉnh Hậu Giang là tỉnh nghèo mới chia tách tỉnh; theo nghiên cứu của chúng tôi, với đối tượng nghiên cứu trên người dân tộc Khmer, đa số học vấn tiểu học tỷ lệ 84,9%; tỷ lệ người dân tốt nghiệp PTTH là 13,2% và tốt nghiệp đại học rất thấp 1,9%. Theo tác giả Nguyễn Xuân Châu (2009), có 40,8% người dân tộc Khmer không biết chữ phổ thông và 62,4% người dân không biết chữ Khmer; có 55,4% người dân được nghe đài tiếng nói Việt Nam, trong số đó có 19,7% người được nghe chương trình tiếng dân tộc [12]. Nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (56,9% ) do đặc trưng của dân tộc Khmer và của tỉnh Hậu Giang rất nhiều hộ gia đình sống bằng nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), ngoài ra các nghề khác như cán bộ công chức tỷ lệ 5,5%, buôn bán là 12,9% và nghề nghiệp khác, nội trợ hoặc làm thuê là 24,6%. Theo Nguyễn Xuân Châu (2009), nghề nghiệp chính của người dân tộc Khmer chủ yếu là trồng lúa khoảng 53,5%, trồng trọt hoa màu 9,1%, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản khoảng 18,3%, buôn bán 2,5% và một bộ phận đồng bào khoảng 16,4% dân số dân tộc Khmer đi làm thuê, làm mướn [12]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tương đương so với các nghiên cứu khác. Về nhóm tuổi, tỷ lệ người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên từ 45 – 54 (47,2%), nhóm tuổi từ 55- 64 tuổi (30,3%) và nhóm từ 65 tuổi trở lên (22,5%). Nghiên cứu đã chọn nhóm tuổi từ 45 trở lên bởi vì nhóm tuổi này được Tổ chức Y tế thế giới cho là người trưởng thành, người già cần được theo dõi chăm sóc sức khỏe đặc biệt và tuổi từ 45 trở lên là một trong những nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2. Đồng thời, theo tác giả Trần Hữu Dàng (1996), tỷ lệ cao phát hiện mắc ĐTĐ sau tuổi 40 là 93,7% [16]. 4.1.1.2. Tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường týp 2 ở người dân tộc Khmer Điều tra 1.100 người dân tộc Khmer trên 45 tuổi đã phát hiện tỷ lệ bệnh đái tháo đường là 11,91% và tỷ lệ tiền đái tháo đường 17,91%. Tỷ lệ mắc cao hơn điều tra của Cao Mỹ Phượng tỉnh Trà Vinh năm 2011 là 9,6% [47], và cao so với điều tra của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật CDC Mỹ năm 2011, tỷ lệ đái tháo đường của người Mỹ có 8,3% và 11,3% người tuổi từ 20 trở lên [75]. Theo tác giả Trần Minh Long (2012), ĐTĐ týp 2 ở các đối tượng có nguy cơ cao nhóm tuổi từ 30 – 69 trong cộng đồng dân cư tỉnh Nghệ An là 9,39% [36]. Trong thời gian gần đây tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng rất nhanh, tăng theo sự phát triển kinh tế, điều đáng quan tâm là tỷ lệ người tiền ĐTĐ gần như gấp đôi tỷ lệ ĐTĐ trong cộng đồng. Theo tác giả Hoàng Kim Ước (2007), nghiên cứu tình hình ĐTĐ trên đối tượng từ 35 đến 75 tuổi ở Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ rối loạn glucose lúc đói là 16,1%, giảm dung nạp glucose là 10,4%, tỷ lệ ĐTĐ là 7,8%. Với nhóm từ 45 tuổi trở lên, tỷ lệ ĐTĐ trong nghiên cứu này là 8,7% (KTC 95%: 7,0 – 10,5%) [60]. tương đương với kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Có thể người dân tộc Khmer tại Hậu Giang và người dân ở Thái Nguyên có tương đồng về tình hình kinh tế, xã hội. Theo Ngô Thanh Nguyên (2009), nghiên cứu trên 1.000 đối tượng từ 30 tuổi trở lên ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai cho kết quả tỷ lệ ĐTĐ là 8,1%. Tỷ lệ ĐTĐ ở người từ 45 tuổi trở lên là 8,4% (KTC 95%: 6,7% - 10,3%) [39]. Trong nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tỷ lệ tiền đái tháo đường và đái tháo đường cao hơn nghiên cứu này. Có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đối tượng lớn tuổi hơn và thời gian nghiên cứu của chúng tôi sau nghiên cứu này gần ba năm do vậy cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. Theo tác giả Lê Anh Tuấn và cộng sự (2010) nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở đối tượng trên 45 tuổi tại huyện Hải Châu, Đà Nẵng với cỡ mẫu là 508 cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ là 26,4% ( KTC 95%: 22,6% - 30,4%). Tỷ lệ này bao gồm rối loạn glucose lúc đói và giảm dung nạp glucose [59]. Nghiên cứu này có cùng độ tuổi với nghiên cứu của chúng tôi, chỉ khác về dân tộc. Tuy nhiên kết quả tỷ lệ tiền ĐTĐ cao hơn nghiên cứu của chúng tôi. Điều này có thể do đặc điểm dân tộc và có thể mẫu nghiên cứu của nghiên cứu này ở vùng thành thị và đối tượng nghiên cứu không phải trong cộng đồng. Theo tác giả Phạm Hồng Phương, Lê Quang Tòa và cộng sự (2012), tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường là 21,4% (nam 20,5%, nữ 22,3%) [49]. Theo tác giả Ngô Thanh Nguyên, Phan Huy Anh Vũ, Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), Tỷ lệ mắc ĐTD người 30 trở lên là 8,1%, trong đó nữ là 51,9% và nam là 48,1%. [44]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu trước là tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 ở nam thấp hơn nữ. Năm 2010 có khoảng 1,9 triệu người Mỹ được lần đầu tiên chẩn đoán ĐTĐ, tiền ĐTĐ ảnh hưởng đến 35% người Mỹ từ 20 tuổi trở lên. Đồng thời hơn 50% người Mỹ trên 65 tuổi mắc tiền đái tháo đường [75]. Tiêu chuẩn chẩn đoán của tiền ĐTĐ, ĐTĐ thay đổi do đó tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ, ĐTĐ thay đổi nhiều theo từng nghiên cứu. Bởi vì tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo nồng độ glucose huyết tương lúc đói hạ từ 140 mg/dl xuống mức 126 mg/dl và tiêu chuẩn chẩn đoán giảm dung nạp glucose thay đổi từ 110 mg/dl đến 125 mg/dl. Bên cạnh đó, rối loạn glucose lúc đói và giảm dung nạp glucose tăng trong cộng đồng là phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội làm cuộc sống người dân ngày càng phát triển ít vận động thể lực bởi vì các việc nặng nhọc lao động chân tay được thay thế bởi công nghiệp hóa, đồng hành với hiện tượng già đi trong dân số. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ ĐTĐ đã phát hiện trước đó là 21,4% và tỷ lệ mới phát hiện là 78,6%. Nghiên cứu của này cho kết quả cao hơn một nghiên cứu tỷ lệ đái tháo đường ở đối tượng từ 40 – 69 tuổi năm 2009 tại Hậu Giang tỷ lệ mới phát hiện là 69,1% và tỷ lệ phát hiện trước đó là 30,9% [34]. Theo tác giả Nguyễn Thy Khuê, Trần Minh Triết (2012), Tỷ lệ ĐTĐ đã được chẩn đoán trước đó 51,8%, và 48,2% mới phát hiện ĐTĐ [33]. Qua đó nhận thấy trên người dân tộc Khmer, tỷ lệ bệnh đái tháo đường được phát hiện từ trước rất thấp, thể hiện kiến thức người dân về bệnh đái tháo đường còn thấp và y tế chưa quan tâm đến phát hiện bệnh cho người dân trong cộng đồng. Điều mà trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện được là kết hợp với các vị chức sắc trong chùa và nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của các vị chức sắc trong các chùa trên địa bàn nghiên cứu tích cực tuyên truyền vận động người dân đi khám phát hiện bệnh ĐTĐ từ đó kết quả khám phát hiện đạt cao. 4.1.1.3. Một số đặc điểm bệnh đái tháo đường týp 2 ở người dân tộc Khmer Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở nữ giới 7,2%, so với nam giới 4,7%. Theo tác giả Phạm Hồng Phương, Lê Quang Tòa và cộng sự (2012), điều tra người dân độ tuổi 30-69 tuổi, tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 là 5,5% (nam 5,9%; nữ 5,1%) [49]. Nghiên cứu của chúng tôi không đồng với nghiên cứu trên là vì có tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nữ cao hơn nam, có thể do nghiên cứu của chúng tôi đối tượng lớn tuổi hơn. Đặc biệt là đối với giới nữ tuổi trên 45 tuổi sẽ có nhiều thay đổi về nội tiết và khi lứa tuổi lớn thì hạn chế việc vận động là yếu tố thuận để bệnh ĐTĐ phát triển. Tuy nhiên nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Nhạn (2006) trên đối tượng 65 tuổi trở lên, tỷ lệ nữ mắc ĐTĐ nhiều hơn nam rõ gấp 2 lần [41]. Nghiên cứu năm 2005 ở thành phố Qui Nhơn của tác giả Trần Hữu Dàng, Hoàng Xuân Thuận và cộng sự cho kết quả mắc ĐTĐ ở nữ giới cao hơn nam giới (5,7% so với 2,9%) [17]. Nhìn chung theo những nghiên cứu gần đây, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ týp 2 nói riêng đã tăng lên ở nữ giới một cách rõ rệt. Điều này có thể giải thích có sự liên quan đến các yếu tố nguy cơ như béo phì ở nữ giới cũng như vấn đề ảnh hưởng của hormon nữ [1],[6]. Những đặc điểm trên có thể góp phần làm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở nữ giới cao hơn ở nam giới. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ nhóm tuổi từ 65 trở lên có tỷ lệ mắc đái tháo đường là 3,7% và nhóm từ 55 đến 64 tuổi có tỷ lệ mắc là 3,4% Điều này cũng có thể cho thấy tuổi càng lớn sẽ mắc đái tháo đường càng cao. Tính tỷ lệ mắc đái tháo đường riêng của từng nhóm tuổi thì ta thấy tuổi càng lớn có tỷ lệ mắc đái tháo đường càng cao, kết quả cũng tương tự như những nghiên cứu khác là tỷ lệ ĐTĐ tăng dần theo tuổi. Nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Dàng tại Huế năm 1996, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng dần theo tuổi, cao nhất ở tuổi 70 [16]. Nghiên cứu của tác giả Tô Văn Hải cho kết quả nhóm tuổi từ 60 đến 69 có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhất [22]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy (2012) cho thấy bệnh nhân tiền ĐTĐ có độ tuổi trung bình là 66,5 [24]. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trên là tỷ lệ mắc ĐTĐ cao ở đối tượng lớn tuổi. Điều đó phù hợp với thực tế bởi vì tuổi thọ ngày càng gia tăng đặc biệt ở các nước đang phát triển khi điều kiện dinh dưỡng được cải thiện, điều kiện vệ sinh tốt hơn, các bệnh lý nhiễm khuẩn được khống chế và có nhiều phương thức điều trị mới được áp dụng. Tại các nước phát triển, người dân sống lâu hơn, mức sinh ổn định làm cho dân số ngày càng già hóa, điều đó có nghĩa ngày càng tăng tỷ lệ người mắc đái tháo đường cao hơn [57]. Những nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng cho thấy có sự khác nhau giữa tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ ở nông thôn và thành thị. Kết quả nghiên cứu ở Hà Nội của tác giả Phan Sĩ Quốc và Lê Huy Liệu ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở nội thành là 1,4% và ngoại thành là 0,6%. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Dàng ở Huế (1996), tỷ lệ mắc ĐTĐ là 1,05% đối với người sống ở thành phố và 0,6% đối với người sống ở nông thôn [16]. Nghiên cứu năm 2005 ở thành phố Qui Nhơn của tác giả Hoàng Xuân Thuận cũng cho kết quả tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm sống nội thành (9,5%) cao hơn nhóm sống ở ngoại thành (2,1%) [17]. Hầu hết các nghiên cứu đều ghi nhận trong cùng một nước và cùng một chủng tộc, nhưng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ týp 2 ở thành phố cao hơn hẳn so với nông thôn. Tác giả Tạ Văn Bình và cộng sự (2007), nghiên cứu 997 đối tượng tại Hà Nội cho kết quả nhóm sống ở thành thị có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn rõ rệt so với nhóm sống ở ngoại thành (9,8% so với 3,9%) [10]. Nghiên cứu của Trần Minh Long, Nguyễn Văn Hoàn,… và cs (2012), về một số yếu tố liên quan đái tháo đường typ 2 ở đối tượng có nguy cơ cao nhóm tuổi từ 30 – 69 tại tỉnh Nghệ An năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở thành thị cao hơn nông thôn (9,9% và 8,8%) [36]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ chênh lệch không rõ giữa các đối tượng có nơi sinh sống ở hai vùng khác nhau là phố chợ và thôn quê. Bởi vì phố chợ ở đây là những khu vực chợ xã chứ không phải thành phố, có môi trường sống gần giống như nông thôn, khác với môi trường sống của nhóm dân cư ở chợ của các thành phố, cho nên mặc dù ở phố chợ nhưng nghề nghiệp cũng chủ yếu là nghề nông là đa số. Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tỷ lệ mắc đái tháo đường nông thôn là 9,4% cao hơn phố chợ là 2,5%. Bởi vì trong nghiên cứu này cỡ mẫu gần 80% là người sống ở nông thôn. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm đối tượng sống ở phố chợ và thôn quê. Điều này có thể so giữa phố chợ và thôn quê trong một nghiên cứu khác. Vì nghiên cứu này sự khác biệt về điều kiện kinh tế, phong tục tập quán và chăm sóc y tế cùng với những thói quen sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày chưa rõ ràng. Đối với nghề nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người có thể là do tính chất công việc hay mức độ căng thẳng của công việc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm nghề nông là 7,4% và kế đến là nhóm làm thuê, làm mướn là 3,3%; thể hiện đặc trưng dân số về người dân làm nghề nông khá cao. Đây cũng là vấn đề giúp cho các nhà hoạch định kế hoạch chăm sóc sức khỏe người dân cũng quan tâm đến bệnh đái tháo đường không chỉ xảy ra ở thành phố hay là những người có lối sống tỉnh tại không mà nó luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Về học vấn, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm người mù chữ cao nhất là 6,5%, nhóm tiểu học là 3,7% và nhóm phổ thông cơ sở và trung học là 1,6%. Tỷ lệ mắc bệnh giữa các nhóm có học vấn khác nhau rõ rệt, trình độ càng thấp tỷ lệ mắc bệnh càng cao. Theo tác giả Mehrotra R. (2000) phỏng vấn trực tiếp 793 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 nhận thấy học vấn và nghề nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết của bệnh nhân về việc phòng và điều trị bệnh đái tháo đường. Học vấn có ảnh hưởng tích cực đến mức hiểu biết về bệnh đái tháo đường, nhóm đối tượng có trình độ cao thì hiểu biết về phòng bệnh và chữa bệnh nên tỷ lệ mắc đái tháo đường ít hơn trình độ thấp [114]. Học vấn có mối liên quan với tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường. Điều này phù hợp với thực tế người có hiểu biết được các thông tin trong phòng và chữa bệnh có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh trong cộng đồng. Về kinh tế gia đình, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở nhóm nghèo cận nghèo cao nhất là 9% và nhóm khá, đủ ăn là 2,9%. Theo tác giả Cao Mỹ Phượng, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở nhóm có mức kinh tế gia đình trung bình trở lên, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm gia đình nghèo, cận nghèo. Tỷ lệ hiện mắc ở nhóm gia đình có mức kinh tế trung bình trở lên là 30,5% so với 26,2% [46]. Kết quả nghiên cứu tương đương với một số kết quả của nghiên cứu khác, tùy đặc điểm của vùng nghiên cứu mức kinh tế gia đình có hoặc không liên quan đến đái tháo đường. Điều này có thể do ảnh hưởng của một số yếu tố khác như chế độ ăn uống, lối sống tĩnh tại, kiến thức phòng bệnh của đối tượng nghiên cứu. Điều đáng quan tâm hơn là đối với đồng bào dân tộc Khmer là người nghèo có tỷ lệ cao hơn và người nghèo thiếu kiến thức về chăm sóc sức khỏe và ít quan tâm đến sức khỏe của họ từ đó tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. 4.1.1.4. Kiến thức của người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường. Qua điều tra, kiến thức người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường còn thấp: 58,9% người dân có kiến thức không đúng về triệu chứng bệnh đái tháo đường; về các yếu tố nguy cơ là 61,9%; về hậu quả của bệnh là 45,9%; về các biện pháp phòng bệnh phòng chống bệnh là 54,1% và kiến thức không đúng về cách phát hiện bệnh đái tháo đường là 58,9%. Theo Hoàng Kim Ước, năm 2007, trên một số vùng của cả nước và ở Kiên Giang có đến 85,8% người dân không biết các triệu chứng sớm của bệnh ĐTĐ; có 78,8% đối tượng không hiểu biết về yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường [61]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Trần Văn Nhật năm 2008, có 70,0% có biết ít nhất một cách phòng bệnh [42]. Nghiên cứu Hồ Thị Thùy Vương, trên 1092 đối tượng cán bộ công chức thành phố Huế năm 2008, tỷ lệ có tăng glucose máu 11,1%, trong đó ĐTĐ 3,9%; nhưng điều ngành y tế đáng quan tâm là tỷ lệ thấp dưới 30 % những cán bộ công chức thành phố có hiểu biết tốt về bệnh [64]. Theo nghiên cứu Cao Mỹ Phượng năm 2011 tại Trà Vinh, người dân hiểu biết đúng về triệu chứng bệnh 20,8%; hiểu biết về yếu tố nguy cơ gây bệnh 35,6%; về cách phát hiện bệnh 38,0% và biết ít nhất một cách phòng ngừa bệnh đái tháo đường là 26,6% [47]. Theo tác giả Lê Phong, Trần Văn Dũng, Hoàng Tiến Đoàn, Linh Quang Hòa (2012), điều tra kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh ĐTĐ ở Cao Bằng năm 2011 cho thấy tỷ lệ có kiến thức chung rất kém là 94%; tỷ lệ cao người có kiến thức loại kém về yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ là 98,7%; kiến thức loại kém về phòng và điều trị bệnh ĐTĐ 86,2%; và không có đối tượng nào có kiến thức tốt, cho thấy triển khai chương trình phòng chống đái tháo đường đến người dân ở khắp các vùng cộng đồng dân cư là thực sự cấp thiết [45]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu trước chứng tỏ số người dân có nhận thức tốt về cách phòng bệnh trong cộng đồng còn thấp, đây là cơ sở yêu cầu cho việc tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe đến tận người dân trong cộng đồng, đồng bào dân tộc Khmer thuộc tỉnh Hậu Giang, tỉnh mới chia tách tỉnh, có tốc độ phát triển về kinh tế văn hóa xã hội nhanh, cần được đồng thời quan tâm hơn về công tác truyền thông giáo dục sức khỏe làm tăng hiểu biết về bệnh cho cộng đồng dân cư. 4.1.1.5. Thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường. Theo Nguyễn Hải Thủy, vận động thể lực làm tăng nhạy cảm insulin và dung nạp glucose. Tập thể dục làm giảm nguy cơ ĐTĐ týp 2 ở cả người béo phì và không béo phì. Tập thể dục ít nhất 7 giờ trong một tuần làm giảm nguy cơ và phòng ngừa được sự khởi phát bệnh đến 39% [55]. Đồng thời với chế độ dinh dưỡng hợp lý, nhiều rau, trái cây, cá và ngũ cốc, làm giảm nguy cơ bệnh. Thức ăn có nhiều chất béo gây rối loạn chuyển hóa glucose bằng nhiều cơ chế khác nhau, gây rối loạn vận chuyển glucose và tích tụ triglyceride ở cơ vân [55]. Về đồng bào người dân tộc Khmer qua điều tra cho thấy đa số hoạt động thụ động do công việc; và qua khảo sát các yếu tố dự phòng bệnh đái tháo đường cho thấy người dân tham gia tập luyện thể dục như đi bộ hoặc đi xe đạp còn thấp 27,5%; và với những đặc trưng riêng của người dân miền Tây Nam bộ, có những hành vi nguy cơ cao như thói quen ăn thức ăn ngọt thường xuyên tỷ lệ cao 53,5%; ăn chất béo tỷ lệ 64,8%; và ăn đêm sau 20 giờ tỷ lệ 38,3%; tỷ lệ nhìn chung, cao hơn so với nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng năm 2011, điều tra cộng đồng tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, cho thấy người dân có thói quen ăn uống nhiều đường tỷ lệ 16,5%, ăn nhiều mỡ 14,9%, ăn đêm 14,4%; một số hành vi khuyến khích gia tăng như thói quen ăn rau quả hàng ngày 36,6%, vận động thể lực là 46% [47]. Do đó, cần vận động người dân tăng cường vận động thể lực, giảm lối sống tĩnh tại, chế độ dinh dưỡng hợp lý, góp phần vào làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Theo nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang và cs (2012), điều tra kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh đái tháo đường tại Việt Nam năm 2011, cho thấy về thực hành phòng, chống bệnh ĐTĐ: tỷ lệ người dân có thói quen không tốt (ăn mỡ động vật, đồ chiên, rán) là 27,4%; về ăn thức ăn giàu chất đạm là 61,3%; và thói quen ăn ít rau là 25,1% [53]. Theo y văn, tăng kháng insulin và kích thích hormon stress có liên quan với hút thuốc lá và là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2 ở nam và nữ; tăng nồng độ glucose máu và ảnh hưởng đến quy trình điều trị bệnh [97]. Hút thuốc lá tăng nguy cơ ĐTĐ týp 2 và ích lợi của việc ngừng hút thuốc lá đối với ĐTĐ cần một thời gian dài từ 5 năm đến 20 năm sau [125]; Uống nhiều rượu bia, làm giảm hấp thụ glucose và cũng tăng đề kháng insulin [93]. Qua điều tra cho thấy tỷ lệ 33,8% người Khmer có hút thuốc lá; 46,4% uống rượu bia; Người dân có cùng cả hai hành vi có hại này là 58,9 %. Nhưng tỷ lệ còn thấp với 32,5% số người dân có khám bệnh về đái tháo đường, tăng huyết áp. Cần tăng sự tiếp cận người dân với nhân viên y tế, tư vấn thay đổi hành vi sức khỏe có tác hại lâu dài này, để giảm nguy cơ dẫn đến bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch. Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy kiến thức, thái độ và thực hành để phòng bệnh ĐTĐ rất là hạn chế so với các nghiên cứu trước đây. Điều này cũng phù hợp bởi vì chúng tôi nghiên cứu trên người dân tộc Khmer có hoàn cảnh kinh tế, tập quán, lối sống khác so với các dân tộc khác. Điều đáng quan tâm là còn tỷ lệ một số người không nghe được tiếng việ; Trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện đạt kết quả cao là nhờ vào sự hỗ trợ của các chức sắc tôn giáo phiên dịch sang tiếng Khmer và các chức sắc này rất quan tâm đến sức khỏe của cộng đồng dân cư của họ. Do đó đây cũng là một cách để chúng ta biết cách thâm nhập vào cộng đồng dân tộc khmer để chăm sóc sức khỏe cho họ và tổ chức tuyên truyền để phòng bệnh cho dân tộc Khmer và cho cộng đồng xã hội. 4.1.1.6. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của đồng bào người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên. Tuổi người dân có liên quan đến vấn đề thực hành phòng chống ĐTĐ. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thực hành đúng phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tuổi 45-54 tỷ lệ là 38,5%; tuổi càng cao từ 65 tuổi trở lên có tỷ lệ thực hành đúng thấp hơn là 21,8% (p<0,05); Nghiên cứu của Tô Văn Hải, năm 2006 tại Hà Nội cho kết quả nhóm tuổi 60 – 69 có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhất so các nhóm tuổi khác và khuyến nghị cần quan tâm hơn nữa nhóm đối tượng người cao tuổi trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng [22]. Bởi vì người lớn tuổi khi kèm theo nhiều yếu tố nguy cơ như: Béo phì và lối sống tĩnh tại, tuổi càng cao, càng giảm dung nạp glucose [1]. Nhưng trong nghiên cứu này việc thực hành để phòng chống ĐTĐ ở người lớn tuổi quá thấp. Qua nghiên cứu này chúng tôi sẽ có kế hoạch chăm sóc tư vấn cho người lơn tuổi tốt hơn. Về thực hành phòng chống bệnh có tỷ lệ tương đương giữa nam giới thực hành đúng là 33,4% và nữ giới là 31,9% (p>0,05). Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Nhạn nghiên cứu năm 2006, trên đối tượng từ 65 tuổi trở lên tỷ lệ nữ mắc ĐTĐ và hiểu biết cao hơn nam gấp 2 lần [41]. Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi không tương đồng với nghiên cứu trên và không có ý nghĩa thống kê nhưng so với thực tế thì nghiên cứu này cho tỷ lệ nữ thực hành phòng chống ĐTĐ thấp phù hợp với tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ ở nữ cao. Tình trạng kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe cũng đã được nhiều tác giả đề cập đến; và trình độ học vấn cũng có thể liên quan đến sức khỏe do mức độ hiểu biết về những khái niệm phòng bệnh và chữa bệnh. Qua kết quả điều tra về các nội dung thực hành đúng phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân tộc Khmer có liên quan đến người dân có học vấn cao, công nhân so với nhóm người có học vấn thấp hơn, nông dân; có tiếp cận với nhân viên y tế, có khám bệnh về đái tháo đường, tăng huyết áp (p<0,05); do đó, cấp thiết cần có biện pháp hiệu quả quan tâm tư vấn phù hợp và hiệu quả hơn nữa đến nhóm người dân có học vấn thấp, làm nghề nông, người dân ít có cơ hội điều kiện tiếp cận với nhân viên, các cơ sở y tế. Qua nghiên cứu ta nhận thấy tỷ lệ người dân có thực hành đúng về phòng chống bệnh ĐTĐ ở các yếu tố liên quan về dân số học đều quá thấp. Điều này phù hợp với môi trường sống của người dân tộc và phù hợp với các họat động y tế cơ sở đặc biệt là công tác truyền thông giáo dục sức khỏe chưa mạnh. 4.1.2. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở đồng bào dân tộc khmer 4.1.2.1. Một số chỉ số dân số học liên quan đến bệnh đái tháo đường Theo những nghiên cứu gần đây, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ týp 2 nói riêng đã tăng lên ở giới nữ một cách rõ rệt và có sự liên quan đến béo phì ở nữ cũng như vấn đề ảnh hưởng của hormon [1],[6]; những đặc điểm trên có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở nữ giới cao hơn ở nam giới. Theo tác giả Ngô Thanh Nguyên, Phan Huy Anh Vũ, Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), nghiên cứu tình hình đái tháo đường tại thành phố Biên Hòa cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ người 30 tuổi trở lên là 8,1%, trong đó nữ là 51,9% và nam là 48,1% [44]. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ nhóm tuổi 45 đến 54 tuổi là 10,2%, nhóm từ 55 đến 64 tuổi là 11,1%. Tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi từ 65 trở lên là 16,5%, ta nhận thấy tuổi càng lớn tỷ lệ mắc đái tháo đường càng cao. Nghiên cứu của Mai Thế Trạch trên 5416 đối tượng ở thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ càng tăng [58]. Nghiên cứu của tác giả Tô Văn Hải cho kết quả nhóm tuổi từ 60 đến 69 có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhất [22]. Tuổi thọ tăng, khi điều kiện dinh dưỡng được cải thiện, điều kiện vệ sinh tốt hơn, dân số ngày càng già hóa và tăng các bệnh lý không lây nhiễm và ngày càng có nhiều người mắc đái tháo đường hơn [57]. Tuổi có liên quan đến sự thay đổi tế bào bêta của tụy tạng. Hậu quả của sự gia tăng tuổi là tăng tỷ lệ tự tiêu hủy và giảm khả năng tái sinh tế bào bêta và dẫn đến giảm dung nạp glucose [110] và tuổi liên quan đến tăng sự đề kháng insulin ngoại biên và càng tăng sự đề kháng khi người dân sống tĩnh tại và béo phì [1],[6]. Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ ở nông thôn là 12,7% cao hơn ở phố chợ là 9,6% (p<0,05); và nhóm người dân làm nghề nông cho thấy tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường là 13,1%, ở nhóm làm nghề tự do, làm thuê là 13,3% và nhóm buôn bán là 8,5% (p<0,05). Có thể do người nông dân thiếu kiến thức và ít có quan tâm đến chăm sóc sức khỏe, do đó tỷ lệ bệnh cao hơn các nghề khác. Đối với nghề nghiệp nhiều nghiên cứu cho thấy lao động chân tay thì tỷ lệ mắc ĐTĐ thấp hơn nhưng trong nghiên cứu này nghề nông và nghề làm thuê Về học vấn, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm mù chữ cao hơn nhóm người dân học vấn trung học và tiểu học, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số nghiên cứu khác và phù hợp với thực tế hiện nay. Do đó công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân cần phải tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với thông tin y học về tự chăm sóc sức khỏe nhằm làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng. 4.1.2.2. Liên quan đến bệnh đái tháo đường với các thói quen trong cuộc sống. Nghiên cứu cho thấy nhóm người có thói quen ăn uống nhiều đường thì có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường cao gấp 2,4 lần nhóm người dân không có thói quen này (OR= 2,4) mối liên quan có ý nghĩa thống kê; Qua phân tích hồi qui đa biến, hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ khác người dân ăn uống nhiều đường có nguy cơ mắc bệnh gấp 2 lần so với người không có thói quen ăn nhiều đường.(OR= 2), mối liên quan này có ý nghĩa thống kê. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, số lượng carbohydrate hàng ngày không quá 60% năng lượng. Ăn nhiều đường sẽ suy chức năng tế bào bêta, làm giảm tiết insulin dẫn đến bệnh đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, thói quen người nội trợ sử dụng đường nhiều trong chế biến thức ăn và thức uống đang gia tăng rất nhiều ở nước ta, đồng hành với tỷ lệ gia tăng béo phì, dẫn đến đề kháng insulin, rối loạn lipid máu và gần đây hơn là thiếu máu cơ tim và bệnh lý thận, các bệnh không lây nhiễm trong đó có bệnh đái tháo đường [78]. Theo Nguyễn Hải Thủy năm 2005, nghiên cứu trên 328 đối tượng trên 15 tuổi ăn chay trường tại Huế đã ghi nhận tỷ lệ tiền đái tháo đường là 17,6% và đái tháo đường là 9,75% cao hơn so với đối tượng có chế độ ăn uống bình thường [54]. Tuy nhiên, theo tác giả Tạ Văn Bình (2007) cho kết quả thói quen ăn uống đồ ngọt thường xuyên không có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ [11]. Khác với nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ này khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,05), điều này có thể do thói quen ăn uống nhiều đường, sử dụng đường trong việc chế biến thức ăn nhiều hơn ở người Khmer vùng nghiên cứu của chúng tôi và số lượng mẫu lớn hơn cho nên cho tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường cao hơn. Chế độ ăn uống có nhiều đường như những thức ăn, nước uống có nhiều đường có nhiều năng lượng, các loại thức uống nhẹ, nước trái cây, nước chanh và những thức uống khác có cho thêm đường sẽ dẫn đến tăng cân nặng và nguy cơ gia tăng sự đề kháng insulin dẫn đến đái tháo đường týp 2 [93],[94]. Gần đây sự hiểu biết về vai trò của Fructose trong rối loạn chuyển hóa có thể góp phần vào chiến lược phòng ngừa loại bỏ hành vi về chế độ ăn không hợp lý, góp phần vào việc làm giảm dân số đái tháo đường trên thế giới [81]. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số nghiên cứu khác là người ăn đường nhiều có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao hơn. Điều này cũng phù hợp với thực tế là người dân tộc Khmer thích ăn ngọt hơn và thực phẩm chính để nuôi sống chủ yếu là tinh bột, lúa gạo, ngô, củ… Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ đái tháo đường ở nhóm người có chế độ ăn nhiều mỡ cao hơn người ăn ít mỡ gấp 1,03 lần (OR = 1,03). Tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Qua phân tích hồi qui đa biến nhóm người có thói quen ăn nhiều mỡ mắc đái tháo đường cao hơn nhóm không có thói quen ăn nhiều mỡ OR = 0,6. Nhưng mối liên qua này chưa có ý nghĩa thống kê. Theo Cao Mỹ Phượng tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường ở nhóm có thói quen ăn nhiều mỡ cao hơn đáng kể so với nhóm không có thói quen ăn nhiều mỡ là 36,9% so với 27,6% (p<0,05) [47]. Nguyễn Hứa Quang, Nguyễn Hải Thủy đã nghiên cứu ở 101 đối tượng trên 40 tuổi là con của các bệnh nhân đái tháo đường nhận thấy trong nhóm người có thói quen ăn nhiều mỡ có chỉ số OR = 2,5 [51]. Nghiên cứu của Tạ Văn Bình (2007) cho kết quả nhóm có thói quen ăn mỡ thường xuyên có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 6 lần nhóm không có thói quen ăn mỡ thường xuyên [11]. Trong ăn uống nếu chế độ ăn uống được tiết chế đầy đủ và đúng về số lượng cũng như chất lượng và sự kết hợp các thành phần dinh dưỡng đúng cho sự phát triển của cơ thể thì góp phần vào việc hạn chế mắc bệnh. Chế độ tiết thực với tiêu thụ nhiều rau, trái cây, cá, thịt gia cầm và ngũ cốc, làm giảm nguy cơ đái tháo đường týp 2. Thức ăn có nhiều chất béo gây rối loạn chuyển hóa glucose bằng nhiều cơ chế khác nhau trong đó gia tăng axit béo tự do gây kháng insulin làm giảm hiệu quả insulin tác động vào thụ thể, gây rối loạn vận chuyển glucose [85]. Điều này có thể do thói quen ăn mỡ đã chuyển dần sang thói quen ăn dầu hiện nay trong cộng đồng nên số đối tượng ăn nhiều mỡ trong nghiên cứu này chưa đủ để có ý nghĩa thống kê. Bởi vì nếu giảm tiêu thụ lượng mỡ bão hòa thì những axit chuyển hóa chất béo và cholesterol giúp cải thiện lipid máu và tăng tác dụng của insulin dẫn đến khống chế được sự hình thành đái tháo đường týp 2. Chương trình Giáo dục Cholesterol Quốc gia của Mỹ (NCEP) khuyến cáo tổng lượng mỡ thu nạp mỗi ngày nên dưới 25%, tối đa 35% tổng năng lượng và mỡ bão hòa phải dưới 7% tổng năng lượng thu nhận. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường của nhóm đối tượng có thói quen ăn đêm sau 20 giờ là 15,4% cao hơn nhóm không có thói quen ăn sau 20 giờ gấp 1,7 lần (OR = 1,7) có ý nghĩa thống kê, p< 0,05. Qua phân tích hồi qui đa biến có hiệu chỉnh với một số yếu tố liên quan nhận thấy nhóm có thói quen ăn sau 20 giờ có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao hơn nhóm không có thói quen này (OR = 0,6) có ý nghĩa thống kê. Thói quen ăn tối sau 20 giờ là một đặc trưng của người dân miền Tây Nam bộ, lao động liên tục suốt ngày và đêm, trên đồng ruộng, sông nước, cần ăn đêm để lao đông tiếp tục suốt đêm, điều đó đã hình thành nếp sống, thói quen trong mỗi gia đình; nên việc tác động thay đổi hành vi thói quen của người dân cần phối hợp nhiều biện pháp tư vấn truyền thông phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của người dân mới cải thiện, mới từng bước thay đổi và duy trì được. Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả phù hợp với các nghiên cứu trước là nhóm người có thói quen ăn tối thì mắc đái tháo đường cao hơn. Về vận động thể lực theo nhiều nghiên cứu đã cho thấy vận động thể lực có tác dụng giúp cải thiện tình trạng đề kháng insulin và làm chậm tiến triển từ tiền đái tháo đường sang đái tháo đường. Người ít vận động thể lực mắc đái tháo đường 18,5% cao hơn người có hoạt động thể lực thường xuyên 9,4%; ít vận động thể lực sẽ mắc đái tháo đường cao gấp 2,1 lần người có vận động thể lực (OR = 2,1), mối liên quan có ý nghĩa thống kê, p< 0,05. Qua phân tích hồi qui đa biến có hiệu chỉnh với một số yếu tố nguy cơ ta thấy nhóm người ít vận động thể lực mắc ĐTĐ cao gấp 1,7 lần người có vận động thể lực (OR = 1,7) mối liên có ý nghĩa thống kê. Theo Cao Mỹ Phượng (2012), nhóm có thói quen ít vận động thể lực có tỷ lệ hiện mắc tiền ĐTĐ, đái tháo đường là 30,7% cao hơn so với nhóm không có thói quen này có tỷ lệ hiện mắc là 26,7%, p< 0,05 [47]. Một nghiên cứu về sức khỏe ở tại Mỹ, những phụ nữ có tham gia vận động thể lực thường xuyên thì tỷ lệ mắc đái tháo đường được điều chỉnh theo tuổi chỉ bằng 2/3 so với những phụ nữ ít vận động thể lực. Những người ít vận động thể lực là có nguy cao là bị bệnh đái tháo đường nếu có kèm theo những yếu tố nguy cơ khác như BMI cao, tăng huyết áp hay có cha mẹ mắc đái tháo đường thì tỷ lệ mắc đái tháo đường càng cao. Kết quả cũng tương tự ở nam giới, tỷ lệ mới mắc đái tháo đường tỷ lệ nghịch với mức độ vận động thể lực, nếu người ít vận động thể lực thì tỷ lệ mắc đái tháo đường sẽ cao hơn, nếu như ít vận động thể lực mà có kèm thêm các yếu tố nguy cơ như có BMI cao, cùng mức độ béo phì thì nguy cơ ĐTĐ càng cao hơn và tỷ lệ đái tháo đường sẽ giảm ở những người có mức vận động thể lực thường xuyên và liên tục [98]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy vận động thể lực ở cường độ cao làm cải thiện sự đề kháng insulin. Nghiên cứu của Mc. Auley và cộng sự cho thấy khi vận động thể lực ở cường độ cao sẽ cải thiện được sự đề kháng insulin ở những người đề kháng insulin có nồng độ glucose máu bình thường. Luyện tập cường độ cao đòi hỏi phải tập luyện thường xuyên 5 lần/ tuần, mỗi lần tối thiểu 20 phút đến khi nhịp tim đạt 80 – 90% nhịp tim ước lượng tối đa [87]. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đây do đó muốn khống chế được bệnh ĐTĐ trong cộng đồng cần phải tổ chức môi trương cho người dân tham gia các hoạt động thể dục thể thao để phòng tránh bệnh ĐTĐ. Nghiên cứu năm 2000 cho thấy hút thuốc lá có liên quan đến sự gia tăng các bệnh béo phì, tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường, góp phần làm gia tăng tỷ lệ tử vong [11]. Hút thuốc lá có liên quan đến sự đề kháng insulin, là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2. Theo Tạ Văn Bình (2007), nhóm có thói quen hút thuốc lá từ 10 điếu thuốc trở lên trong một ngày có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 3 lần nhóm không hút thuốc lá (p<0,05) [11]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm người có hút thuốc lá mắc đái tháo đường là 12,9%; nhóm không hút thuốc là 11,4%, (p> 0,05). Phân tích hồi qui đa biến ta nhận thấy nhóm có thói quen hút thuốc là đái tháo đường gấp 2,2 lần nhóm không hút thuốc lá ( OR = 2,2) có ý nghĩa thống kê. Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 cao hơn người không hút thuốc lá. Bởi vì chất nicotin trong thuốc lá làm tăng nồng độ đường huyết dẫn đến đề kháng insulin. Trong nghiên cứu nhận thấy nguy cơ đái tháo đường cao nhất ở người hút thuốc từ 20 gói năm trở lên [128]. Đồng thời trong một nghiên cứu khác cũng cho thấy ở những nước phát triển có khoảng 2,41 triệu người trưởng thành tử vong do bệnh tim mạch có sự đóng góp của thuốc lá [96]. Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng cho thấy tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm có uống nhiều rượu bia 33,2% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có uống rượu bia 27,9%, p<0,05. Tác giả Cullmann M. ở Thụy Sĩ, nghiên cứu tiêu thụ alcohol và nguy cơ tiền đái tháo đường, đái tháo đường týp 2. Cho kết quả tiêu thụ alcohol nhiều sẽ làm gia tăng nguy cơ đái tháo đường týp 2 ở nam ( OR = 1,42) nhưng lại giảm ở nữ ( OR = 0,41). Tác dụng độc của rượu trực tiếp lên tế bào của đảo tụy, làm ức chế sự tiết insulin và tăng đề kháng insulin do đó tiêu thụ lượng lớn alcohol sẽ làm giảm hấp thụ glucose qua trung gian insulin và gây giảm dung nạp glucose [93]. Uống nhiều rượu gia tăng dung nạp glucose bất thường ở nam. Đối với nữ nếu uống rượu bia ít hoặc trung bình sẽ làm giảm nguy cơ nhưng sẽ tăng nguy cơ khi uống nhiều [79]. Nghiên cứu Tạ Văn Bình và Nguyễn Thanh Hà (2004), nhóm có thói quen uống rượu bia có nguy cơ gấp 3,3 lần nhóm không có thói quen này [7] và nghiên cứu của Tạ Văn Bình (2007) cho kết quả nhóm có thói quen uống rượu bia có nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 2 lần nhóm không có thói quen uống rượu bia [11]. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước là rượu bia là yếu tố nguy cơ đưa đến đái tháo đường. Điều đáng quan tâm là người Khmer có thói quen uống rượu bia nhiều. Do đó chúng ta phải tổ chức công tác phòng chống đái tháo đường bằng cách tư vấn truyền thông thay đổi hành vi uống rượu để tham gia vào công tác phòng chống đái tháo đường. 4.1.2.3. Tiền sử gia đình và bản thân với bệnh đái tháo đường Theo Tổ chức Y tế thế giới, tiền sử gia đình là yếu tố nguy cơ cao của đái tháo đường týp 2. Nhóm người có tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ cao bị bệnh ở giai đoạn sớm. Trong mỗi gia đình, thường các thành viên có chung một môi trường sống, đặc biệt là chế độ ăn uống. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm người có tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường thì mắc bệnh cao hơn nhóm người không có tiền sử này gấp 5 lần (OR = 5) có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Theo Nguyễn Hứa Quang, Nguyễn Hải Thủy (2004 – 2005) nghiên cứu trên 101 đối tượng từ 40 tuổi trở lên là con của bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Các đối tượng được tiến hành làm nghiệm pháp dung nạp glucose ghi nhận tỷ lệ tăng glucose máu trong nhóm nghiên cứu là 36,6% trong đó đái tháo đường là 18,8% và giảm dung nạp glucose là 17,8%. Tỷ lệ này cao hơn trong các nghiên cứu trong cộng đồng cùng độ tuổi [51]. Tác giả Amini M. và Janghorbani (2007), nghiên cứu trên 2368 người ở Iran, từ 30 đến 60 tuổi, có thân nhân thế hệ thứ nhất mắc đái tháo đường theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Đái tháo đường Mỹ cho thấy tỷ lệ cao có rối loạn dung nạp glucose lúc đói là 19,5% và giảm dung nạp glucose là 17,3% [72]. Nghiên cứu của Farouq I.A. nghiên cứu trên 573 người Bahrain, từ 20 tuổi trở lên, tỷ lệ đái tháo đường là 41,7% trường hợp có tiền sử gia đình có người thân mắc bệnh đái tháo đường, trong khi đó ở nhóm người không mắc bệnh đái tháo đường tỷ lệ gia đình có tiền sử mắc đái tháo đường chỉ từ 16,0% đến 23,3% [83]. Tương tự, theo Cao Mỹ Phượng ở Trà Vinh, cho thấy nhóm đối tượng có tiền sử gia đình có người thân mắc bệnh, có tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường cao rất rõ so với nhóm không có tiền sử này 46,8% so với 28,2% [48]. Đối với nữ, tiền sử có sinh con từ 4.000 gam trở lên. Tiền sử có sinh con to từ 4000 gam trở lên là một yếu tố nguy cơ rất cao của bệnh đái tháo đường đã được nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm nữ có tiền sử sinh con to từ 4000 gam trở lên là 23,0% cao hơn so với nhóm nữ không có yếu tố nguy cơ sinh con to là 9,8% (p<0,05). Nhóm có tiền sử sinh con to mắc đái tháo đường gấp 2,7 lần nhóm không có tiền sử này. Nghiên cứu tại Hải Phòng của Vũ Huy Chiến (2007), trên 1880 đối tượng cho thấy rằng nhóm đối tượng có tiền sử sinh con từ 4000 gam trở lên có tỷ lệ mắc đái tháo đường 22,2% cao hơn nhóm không có yếu tố này 4,4% [14]. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Để khống chế sự gia tăng bệnh đái tháo đường trong cộng đồng cần phải có kế hoạch quản lý tư vấn các đối tượng có yếu tố nguy cơ này để theo dõi và hạn chế có các yếu tố nguy cơ kết hợp có như thế mới khống chế được sự gia tăng bệnh đái tháo đường trong cộng đồng. 4.1.2.4. Mối liên quan các chỉ số sức khỏe trung gian với bệnh đái tháo đường. - Vòng bụng: Vòng bụng to là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường; gọi chung là béo phì đặc biệt béo phì dạng nam gây đề kháng insulin. Tỷ lệ đề kháng insulin ở người béo phì dạng nam mà là thân nhân thế hệ I của bệnh nhân ĐTĐ týp 2 cao hơn người béo phì dạng nam mà không có tiền sử gia đình có người đái tháo đường. Béo phì dạng nam là yếu tố nguy cơ dẫn đến đái tháo đường týp 2. Nghiên của chúng tôi cho thấy nhóm có vòng eo to mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 1,2 lần nhóm không có vòng eo to. Tuy nhiên mối liên quan này chưa có ý nghĩa thống kê. Qua phân tích hồi qui đa biến đã hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ khác nhóm có vòng eo to mắc bệnh cao hơn nhóm không có vòng eo to là 0,6 lần và có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nhóm đối tượng có tỷ lệ vòng eo/vòng mông cao có khả năng mắc bệnh đái tháo đường gấp 1,4 lần nhóm không có tỷ lệ vòng eo/vòng mông cao (OR = 1,4). Theo tác giả Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng (2009) đã nghiên cứu và cho kết quả tỷ lệ tăng insulin ở người cao tuổi có béo phì dạng nam là 27,61%, tỷ lệ kháng insulin theo tỷ số HOMA (Homeostatic Model Assesment) ở nhóm đối tượng nghiên cứu là 35,9%. Kết quả này cho thấy người có béo phì dạng nam thì có tình trạng kháng insulin [40]. Tương tự, tác giả Tạ Văn Bình và cộng sự (2007), nghiên cứu 997 đối tượng tại Hà Nội cho kết quả nhóm có vòng bụng to có nguy cơ mắc đái tháo đường cao gấp 2 lần nhóm không có yếu tố này [10]. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước và cũng phù hợp với thực tế của địa phương qua thăm khám và điều trị bệnh cũng nhận thấy người có béo phì dạng nam dễ mắc đái tháo đường hơn. Do đó, cần có biện pháp can thiệp hợp lý giảm yếu tố nguy cơ này sẽ giảm được bệnh đái tháo đường cho cộng đồng. Theo các chức sắc của các chùa năm trên địa bàn nghiên cứu sẽ thành lập các câu lạc bộ thể dục thể thao, võ thuật truyền thống để góp phần giảm đối tượng có béo phì dạng nam nhằm giảm tỷ lệ đái tháo đường trong thời gian tới. - Chỉ số BMI: Tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường ở nhóm đối tượng có chỉ số BMI cao tăng gấp 3 lần nhóm có chỉ số BMI thấp (OR = 3) mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Sau phân tích hồi qui đa biến đã hiệu chỉnh với một số yếu tố nguy cơ khác, nhóm có chỉ số BMI cao mắc bệnh cao gấp 2,3 lần so với nhóm có chỉ số BMI bình thường. Béo phì đã tăng nhanh ở nhiều nhóm dân cư trong vài năm gần đây do tác động của rối loạn chuyển hóa, ít vận động thể lực, ăn quá nhiều so với nhu cầu [71]. Người dân ở các nước Châu Á có tỷ lệ thừa cân, béo phì thấp hơn ở Mỹ, nhưng tỷ lệ đái tháo đường tương đương hoặc cao hơn. Dân số Châu Á bắt đầu gia tăng nguy cơ đái tháo đường ở mức BMI thấp hơn dân số Châu Âu. Ngay cả khi tăng cân không đáng kể lúc trưởng thành cũng gia tăng nguy cơ đái tháo đường týp 2 ở người Châu Á [84],[130]. Theo Tạ Văn Bình (2007), nhóm có thừa cân- béo phì có nguy cơ mắc đái tháo đường cao gấp 2 lần nhóm không có yếu tố này [10]. Qua đó ta nhận thấy BMI đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bệh ĐTĐ. Đặc biệt đối với người châu Á chỉ số BMI chỉ ở mức cao nhẹ là nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ. Như vậy công tác phòng chống ĐTĐ phải tổ chức các biện pháp ngăn chặn các yếu tố gây thừa cân béo phì thì mới giảm được tỷ lệ bệnh ĐTĐ. -Mỡ cơ thể: Nhóm có tỷ lệ mỡ cơ thể cao sẽ có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao gấp 2,6 lần nhóm có tỷ lệ mỡ cơ thể bình thường (OR = 2,6) mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Sau phân tích hồi qui đa biến nhóm có mỡ cơ thể cao mắc ĐTĐ cao gấp 0,9 lần nhóm không có mỡ cơ thể cao và có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Theo Lê Nguyên và cs (2003), cho thấy rằng nhóm có chỉ số mỡ cơ thể cao thì có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường cao hơn 2,6 lần so với người có chỉ số mỡ cơ thể bình thường [104]. Kết quả tương đương với nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Vương, Nguyễn Hải Thủy (2009) tại thành phố Huế, ở nhóm có chỉ số mỡ cơ thể cao mắc bệnh 16,7% cao hơn so với nhóm có chỉ số mỡ cơ thể bình thường (3,3%) [64]. Theo nghiên cứu tại Huế của Hồ Thị Thùy Vương, Nguyễn Hải Thủy (2009) cho thấy tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường ở nhóm có mức mỡ nội tạng cao, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 40,2% cao hơn nhiều so với nhóm có mức mỡ nội tạng bình thường (4,6%) [64]. Gastaldelli A. và cộng sự (2002), nghiên cứu thuần tập trên bệnh nhân ĐTĐ có mức mỡ nội tạng cao thì dẫn đến tăng tỷ lệ HbA1c gấp đôi. Hơn nữa, yếu tố dân tộc, tuổi, giới, thời gian mắc ĐTĐ, béo phì chỉ giải thích được 25% thay đổi HbA1c; với ĐTĐ týp 2 mức mỡ nội tạng ảnh hưởng nhiều đến kiểm soát đường huyết qua sự nhạy cảm của insulin ngoại biên và làm tăng sản xuất glucose ở gan [83]. Nghiên cứu của chúng tôi nhóm có mức mỡ nội tạng cao mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 3,4 lần so với nhóm có mức mỡ nội tạng bình thường, mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Mỡ cơ thể, mức mỡ nội tạng cao gây đề kháng insulin dẫn đến bệnh ĐTĐ. Muốn giảm tỷ lệ ĐTĐ cần phải tổ chức thực hiện nhiều biện pháp như tiết chế ăn uống, hoạt động thể lực trong cộng đồng nhằm hạn chế tỷ lệ mỡ cơ thể cao giảm tỷ lệ mức mỡ nội tạng. - Về bệnh tăng huyết áp: Nhóm có bệnh tăng huyết áp có tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường là 17,8% cao hơn nhóm có chỉ số huyết áp bình thường là 8,2% và mắc bệnh đái tháo đường cao gấp 1,7 lần, có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Sau phân tích hồi qui đa biến nhóm có tăng huyết áp mắc bệnh gấp 1,7 lần so với nhóm có huyết áp bình thường, có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Theo Nguyễn Kim Lương và cs (2010) cho thấy ở bệnh nhân tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2, nồng độ insulin lúc đói là 10,5  1,9 mUI/I gấp 2 lần so với nhóm không cao huyết áp [37]. Nghiên cứu của Hà Thị Kim Hồng, Nguyễn Thy Khuê (2006), tỷ lệ tăng huyết áp ở người đái tháo đường là 71,2% [27]. Tác giả Tạ Văn Bình (2007), nghiên cứu 997 đối tượng tại Hà Nội cho kết quả nhóm tăng huyết áp có nguy cơ đái tháo đường cao gấp 4 lần nhóm không có tăng huyết áp [10]. Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ của đái tháo đường mà cũng là hậu quả của đái tháo đường. Qua các nghiên cứu, người dân tộc Khmer với tập quán sinh sống ăn ở khác, nhưng cũng cho các tỷ lệ phù hợp với các nghiên cứu trước. Do đó tăng huyết áp và bệnh ĐTĐ là một vòng xoắn khó điều trị khỏi. Cho nên chúng ta cần phải có kế hoạch phòng chống tăng huyết áp trong thời gian tới. 4.1.2.5. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường của người đồng bào dân tộc Khmer trong 10 năm tới Theo thang điểm FINDRISC gồm có 8 yếu tố nguy cơ cấu thành, qua bảng phân bố tỷ lệ yếu tố nguy cơ trên 1100 người, cho thấy người dân nhóm tuổi từ 45-54 tỷ lệ 47,2%; nhóm 55-64 tuổi tỷ lệ 30,3% và nhóm từ 65 tuổi trở lên là 22,5%. Nhóm người BMI dưới 18,5 có tỷ lệ là 62,8%; nhóm có BMI ≥ 23 là 37,2%. Nhóm nam có vòng bụng < 82 cm tỷ lệ cao là 74,9% và nhóm có vòng bụng ≥90cm tỷ lệ là 4,1%; nhóm nữ có vòng bụng từ 72 – 80cm tỷ lệ cao là 38,8% và nhóm ≥ 80cm tỷ lệ 25,4%. Người dân có hoạt động thể lực hàng ngày trên 30 phút tỷ lệ cao 72,5%; và thường ăn rau, quả hằng ngày tỷ lệ 53,8%; Tỷ lệ thấp 7,1% số người dân đã có lần được thầy thuốc kê toa thuốc hạ huyết. Có 29,7% người dân đã có lần phát hiện tăng đường huyết; và 11,7 % người dân có thân nhân được chẩn đoán ĐTĐ. Phân tích các yếu tố liên quan đến tiến triển đái tháo đường trong 10 năm tới trên cộng đồng theo thang điểm FINDRISC có điều chỉnh cho thấy nhóm người dân tộc Khmer mắc tiền ĐTĐ cho thấy tỷ lệ cao 41,6% ở mức nguy cơ thấp nhẹ; mức nguy cơ trung bình là 36,5% và số người dân ở mức nguy cơ cao tỷ lệ cao 16,8%. Ước tính sẽ có tỷ lệ 13,39% sẽ tiến triển thành đái tháo đường Về nhóm người dân tộc Khmer bình thường (không mắc ĐTĐ và không mắc tiền ĐTĐ) có trên 55,3% ở mức nguy cơ thấp nhẹ; mức nguy cơ trung bình là 33,8% và số người dân mức nguy cơ cao tỷ lệ là 8,3%. Ước tính cho thấy sẽ có tỷ lệ 8,26% sẽ mắc ĐTĐ. Theo Cao Mỹ Phượng điều tra 341 người dân tiền ĐTĐ tại Trà Vinh, cho thấy theo thang điểm FINDRISC dự báo đái tháo đường trong 10 năm tới, đối tượng có nguy cơ cao tiến triển thành bệnh ĐTĐ là 0,9%, thấp hơn nhiều so với nhóm có nguy cơ thấp. Theo dự báo, tỷ lệ ĐTĐ sẽ tăng 3,3% vào năm 2020 và tỷ lệ ĐTĐ ở người từ 45 tuổi trở lên cho quần thể nghiên cứu đến năm 2020 là 12,8%. Nếu điều chỉnh BMI và vòng bụng theo tiêu chuẩn Châu Á, tỷ lệ ĐTĐ dự kiến sẽ là 13,6% [48]. Qua nghiên cứu của Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy (2012) nghiên cứu trên 131 bệnh nhân trên 45 tuổi bị tiền đái tháo đường, cho thấy sự phân bố các yếu tố nguy cơ trên đối tượng nghiên cứu rõ ràng và phân chia tỷ lệ của từng yếu tố nguy cơ phù hợp với quá trình hình thành nên bệnh đái tháo đường và dự báo tỷ lệ mắc ĐTĐ là 8,74% trong 10 năm tới [25]. Theo Makrilakis K. và cộng sự (2010) nghiên cứu trên 869 đối tượng sống ở Athens, kết quả ghi nhận nghiệm pháp dung nạp glucose phát hiện 10,8% đái tháo đường không được chẩn đoán. Với thang điểm FINDRISC từ 15 điểm trở lên giúp phát hiện đái tháo đường chưa được chẩn đoán với độ nhạy là 81,9% và độ đặc hiệu là 59,7% [111]. Theo Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy (2012) nhận định các yếu tố trong thang điểm thì BMI, vòng bụng, thân nhân mắc bệnh đái tháo đường, tiền sử tăng huyết áp và sử dụng thuốc hạ huyết áp là các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất [24]. Theo Cao Mỹ Phượng qua khảo sát các yếu tố nguy cơ dựa vào điểm cắt của đường cong ROC trên đối tượng tiền ĐTĐ, kết quả ghi nhận rằng yếu tố BMI, chỉ số vòng bụng, tiền sử THA là ba yếu tố nguy cơ độc lập trong thang điểm FINDRISC, huyết áp tâm trương, chỉ số MCT, chỉ số MNT là ba yếu tố nguy cơ độc lập rõ ngoài thang điểm FINDRISC liên quan tiến triển tiền ĐTĐ thành ĐTĐ [48]. Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi, trên đối tượng tiền đái tháo đường, các yếu tố liên quan trong thang điểm FINDRISC dựa vào điểm cắt của đường cong ROC, yếu tố như : Tuổi, BMI và vòng bụng là ba yếu tố liên quan rõ nhất trong thang điểm FINDRISC trên đối tượng tiền đái tháo đường. Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và mỡ nội tạng là các yếu tố liên quan rõ nhất bên ngoài thang điểm FINDRISC trên đối tượng tiền đái tháo đường. Qua nghiên cứu nhận thấy việc áp dụng thang điểm FINDRISC có điều chỉnh để xác định yếu tố nguy cơ tiến triển đái tháo đường trong 10 năm tới trên đối tượng người dân tộc Khmer nhận nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ ước tính bệnh đái tháo đường sau 10 năm ở người dân tộc Khmer khá cao. Mặc dù là một ước tính sau 10 năm nhưng cũng là một bước ngoặc cho ta kiểm chứng sau 10 năm. Đồng thời dựa vào 8 yếu tố nguy cơ của thang điểm FINDRISC này chúng ta cũng có thể tổ chức can thiệp trên 8 yếu tố nguy cơ này để khống chế sự phát triển của bệnh đái tháo đường trong cộng đồng. 4.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 Ở NGƯỜI DÂN TỘC KHMER. Đã có rất nhiều nghiên cứu về tổ chức can thiệp phòng chống bệnh ĐTĐ trong cộng đồng. Theo nghiên cứu về phòng bệnh ĐTĐ ở Phần Lan (2003) [109], tác giả Sacks F.M ( 2009), và một nghiên cứu được Hội ĐTĐ Mỹ (2009) đã công bố hiệu quả của việc tổ chức can thiệp phòng chống ĐTĐ, sau 12 tháng nhận thấy được sự thay đổi nồng độ glucose trong máu do thay đổi chế độ ăn. Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vinh Quang, năm 2002 – 2004 cũng nhận định như các nghiên cứu trên [52]. Sau điều tra ngang 1100 người dân tộc Khmer thuộc 6 xã, trong 3 huyện của tỉnh Hậu Giang, chúng tôi chọn ngẫu nhiên ra 2 xã can thiệp và 2 xã chứng. Mẫu can thiệp là 302 người dân tộc Khmer sống tại hai xã Cái Tắc và Bảy Ngàn thuộc huyện Châu Thành A. Mẫu đối chứng là 369 người dân tộc Khmer sinh sống tại hai xã Vĩnh Trung và xã Vị Thủy huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Qua can thiệp một số biện pháp của “Trạm y tế xã phòng chống đái tháo đường týp 2 ở người dân tộc Khmer” kết quả sau: 4.2.1 Chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng - Kiến thức về yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường Kiến thức của con người đóng vai trò rất quan trọng. Khi kiến thức con người được nâng lên thì sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ sẽ được nâng lên, lúc này con người có ý thức trong việc phòng tránh bệnh ĐTĐ. Đồng thời sẽ hình thành những hành vi có lợi cho sức khỏe như: vận động thể lực, ăn rau qủa hàng ngày và giảm hoặc từ bỏ những yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, ăn nhiều mỡ, ăn uống nhiều đường, ăn đêm sau 20 giờ. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nhóm can thiệp: trước can thiệp sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ là 46%, sau can thiệp là 79,5% với p< 0,05. Nhóm đối chứng trước can thiệp là 42% sau can thiệp là 54,2% với p< 0,05. So sánh trước sau của nhóm đối chứng và nhóm can thiệp ta thấy mỗi nhóm sự hiểu biết đều có tăng lên và so sánh giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng, sau can thiệp cho thấy nhóm can thiệp tăng cao hơn nhóm đối chứng; hiệu quả can thiệp là 43,8%. Theo Cao Mỹ Phượng (2012) tỷ lệ hiểu biết đúng ít nhất một yếu tố nguy cơ tiền ĐTĐ, ĐTĐ của nhóm can thiệp khá cao so với nhóm đối chứng (p<0,05). Tỷ lệ có hiểu biết đúng ít nhất một yếu tố nguy cơ ở nhóm can thiệp là 35,6% và ở nhóm đối chứng là 7,7% [47]. Theo tác giả Nguyễn Vinh Quang (2007), tỷ lệ hiểu biết đúng về một số yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ týp 2 sau can thiệp tăng lên theo từng thời điểm nghiên cứu 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng [52]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước là sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ tăng lên rõ rệt sau can thiệp. Điều này chứng tỏ việc tổ chức can thiệp có hiệu quả cải thiện kiến thức rất cao. Nếu người dân có kiến tốt về yếu tố nguy cơ thì việc phòng tránh bệnh ĐTĐ sẽ có hiệu quả cao. Đạt được kết quả trên là nhờ sự phối hợp tốt các ban ngành đoàn thể, đặc biệt là nhờ các chức sắc trong đạo giáo. - Kiến thức về cách phát hiện bệnh đái tháo đường. Kết quả nghiên cứu nhóm can thiệp, kiến thức có tỷ lệ 80,5% tăng cao hơn, so nhóm đối chứng là 55,3%; hiệu quả can thiệp là 11,9%. Hiểu biết về cách phát hiện bệnh ĐTĐ giúp cho bệnh nhân ĐTĐ được phát hiện bệnh sớm góp phần cho công tác điều trị thành công và hạn chế tỷ lệ biến chứng do ĐTĐ. Theo Cao Mỹ Phượng (2012), tỷ lệ hiểu biết về cách phát hiện tiền ĐTĐ, ĐTĐ ở nhóm can thiệp cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p<0,05). Tỷ lệ hiểu biết đúng về cách phát hiện bệnh ở nhóm can thiệp là 38,0% và ở nhóm đối chứng là 7,6% [47]. Thời gian nghiên cứu 24 tháng can thiệp bằng biện pháp truyền thông giáo dục đã nâng cao tỷ lệ hiểu biết về cách phát hiện bệnh tiền ĐTĐ, ĐTĐ là xét nghiệm máu có tỷ lệ cao ở nhóm can thiệp. Đây là yếu tố quan trọng trong công tác phòng chống bệnh, tổ chức can thiệp giúp nâng cao kiến thức về khám phát hiện bệnh ĐTĐ trong cộng đồng sẽ giúp người dân tự phát hiện được bệnh góp phần vào việc phát hiện sớm được bệnh, hạn chế được biến chứng do ĐTĐ gây ra. - Kiến thức về cách phòng chống đái tháo đường. Nghiên cứu nhận thấy trước can thiệp ở nhóm chứng tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về cách phòng chống bệnh ĐTĐ rất thấp. So sánh kiến thức đúng về cách phòng chống bệnh ĐTĐ của từng nhóm can thiệp và nhóm đối chứng, ta thấy sau can thiệp tỷ lệ hiểu biết đúng của từng nhóm có tăng lên, trong đó nhóm can thiệp tăng cao hơn và có ý nghĩa thống kê (p<0,05), nhóm đối chứng tăng ít (p>0,05). Chỉ số hiệu quả nhóm can thiệp là 59,9% so với nhóm đối chứng 15,7%; hiệu quả can thiệp là 5,5%. Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng (2012) sau 12 tháng can thiệp cho thấy nhóm can thiệp có tỷ lệ hiểu biết về cách phòng chống bệnh ĐTĐ là 26,6% cao hơn so với nhóm đối chứng là 16,6% [47]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang (2007) sau can thiệp, kiến thức của người dân tăng lên rõ theo từng thời gian. Chúng tôi, có thời gian can thiệp là hai năm dài hơn nghiên cứu trên nên cho kết quả hiểu biết về cách phòng bệnh cao hơn, điều này chứng minh rằng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao kiến thức có tác dụng tốt cho công tác phòng chống bệnh trong cộng đồng. Đồng thời trong quá trình thực hiện công tác truyền thông được sự hỗ trợ tích cực của các vị chức sắc trong chùa do đó tỷ lệ thay đổi nhận thức của người dân đạt hiệu quả cao. 4.2.2 Tư vấn thay đổi hành vi sức khỏe liên quan bệnh đái tháo đường 4.2.2.1 Các nội dung tư vấn thay đổi hành vi sức khỏe Sự nhận thức của con người và yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh ĐTĐ. Vì vậy chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe cho con người sẽ hiệu quả hơn khi có sự thay đổi tích cực của môi trường và xã hội dẫn đến thay đổi hành vi thì việc tự chăm sóc sức khỏe của từng cá nhân sẽ được cải thiện. - Thay đổi thói quen ăn đường, nhiều mỡ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có thói quen ăn đường ở nhóm can thiệp và nhóm đối chứng đều rất cao. Tuy nhiên qua 2 năm tổ chức can thiệp thì nhóm can thiệp giảm đi rõ rệt từ tỷ lệ ăn nhiều đường trước can thiệp là 43,4%, giảm sau can thiệp còn 28,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, đối với nhóm đối chứng tỷ lệ ăn nhiều lại tăng lên, từ đó hiệu quả can thiệp là 35,3%. Đối với thói quen ăn nhiều mỡ ở nhóm can thiệp và nhóm đối chứng trước can thiệp đều cao, sau can thiệp nhóm can thiệp giảm nhiều và có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Chỉ số hiệu quả can thiệp 43,2%. Đây là những thói quen có hại, là yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ. Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng (2012) cho thấy sau can thiệp tỷ lệ thói quen ăn uống nhiều đường, ăn nhiều mỡ ở nhóm can thiệp thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p<0,05) [47]. Sacks F.M và cộng sự (2009) cho thấy rằng giảm cân xảy ra trong 6 tháng đầu khi sử dụng chế độ ăn giảm cân với những thành phần khác nhau gồm: chất béo, protein và carbohydrate, có thể giảm từ 0,5 kg cân nặng và 0,5 cm vòng bụng từ 6 tháng đến 2 năm. Kết quả của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trên chứng tỏ là tổ chức can thiệp các thói quen như thế này góp phần to lớn trong công tác phòng chống ĐTĐ trong cộng đồng. Thói quen ăn nhiều đường và nhiều mỡ là một thói quen cũng rất khó hạn chế. Tuy nhiên với sự vận động của các vị chức sắc tại các chùa thì việc thực hiện của cộng đồng người dân tộc Khmer rất tốt. - Thay đổi hành vi ăn đêm sau 20 giờ Ăn đêm sau 20 giờ, trong nghiên cứu của chúng tôi ở nhóm can thiệp trước can thiệp rất cao 73,4% sau can thiệp giảm còn 53,4%, có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nhóm đối chứng sau can thiệp ít thay đổi; Hiệu quả can thiệp là 27,7%. Thói quen ăn sau 20 giờ được xem là yếu tố thuận lợi làm tăng khả năng mắc bệnh ĐTĐ týp 2. Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng cho thấy cả hai nhóm trước và sau can thiệp có thói quen ăn đêm sau 20 giờ sau can thiệp cả hai nhóm đều không giảm cho thấy mối liên hệ này không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên đối với nghiên cứu của tác giả cho thấy hiệu quả sau can thiệp có ý nghĩa rất cao. Điều này cho thấy hiệu quả can thiệp đạt được có thể do thời gian can thiệp kéo dài hơn, bởi vì thời gian can thiệp của nghiên cứu chúng tôi dài hơn. - Thay đổi hành vi ăn rau quả, trái cây Ăn rau quả, trái cây nhiều góp phần trong việc phòng ngừa bệnh ĐTĐ týp 2. Trong nghiên cứu của chúng tôi so sánh tỷ lệ người có ăn nhiều trái cây ở nhóm can thiệp, sau can thiệp tăng lên một cách đáng kể, còn nhóm đối chứng ít có thay đổi. Theo Cao Mỹ Phượng thói quen ít ăn rau quả hàng ngày ở nhóm can thiệp thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p<0,05) [47] và phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang (2007) sau can thiệp thì các yếu tố nguy cơ này thay đổi thay đổi rất nhiều và thay đổi theo từng thời điểm 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng và có ý nghĩa thống kê [52]. - Thay đổi hành vi tăng cường hoạt động thể lực Hoạt động thể lực tránh lối sống tĩnh tại là mục tiêu chính trong chương trình phòng chống ĐTĐ trong cộng đồng. Tập thể dục nâng cao thể lực để làm giảm sự đề kháng của insulin dẫn đến giảm tỷ lệ mắc ĐTĐ. Nghiên cứu cho thấy sau can thiệp nhóm can thiệp tỷ lệ tham gia tập luyện thể lực tăng rất cao và có ý nghĩa thống kê (p<0,05), còn nhóm đối chứng có tăng ít, không có ý nghĩa thống kê (với p>0,05). Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng (2012), cho thấy sau can thiệp, tỷ lệ tham gia vận động thể lực ở nhóm can thiệp là 54,0%, cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng 37,8% với p<0,05 [47]. Nguyễn Vinh Quang (2007) cho rằng truyền thông giáo dục sức khỏe sẽ làm thay đổi hành vi của cộng đồng dẫn đến người dân có ý thức thực hiện các hành vi có lợi cho sức khỏe và hạn chế các hành vi có hại cho sức khỏe [52]. Nghiên cứu của chương trình phòng chống ĐTĐ của Mỹ cho thấy những người giảm dung nạp glucose mà thay đổi lối sống và thay đổi chế độ ăn uống, thể dục 30 phút trong ngày, thực hiện 5 ngày trong tuần sẽ làm chậm tiến triển sang ĐTĐ ít hơn 58% so với nhóm chứng và nhóm can thiệp giảm 5% - 7% cân nặng trong vòng 3 năm [118]. - Thay đổi hành vi về hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia Hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia là yếu tố nguy cơ tiến triển đến tiền ĐTĐ và ĐTĐ, do gây ra sự đề kháng insulin. Trong nghiên cứu chúng tôi, tỷ lệ hút thuốc lá và uống rượu mắc ĐTĐ cao hơn người không có thói quen này. Đồng thời trong 24 tháng tổ chức can thiệp làm thay đổi các hành vi có hại cho sức khỏe ta nhận thấy tỷ lệ hút thuốc và uống rượu sau can thiệp của nhóm can thiệp đã giảm rất nhiều và có ý nghĩa thống kê (với p< 0,05), còn nhóm đối chứng thì không có giảm (p> 0,05). Vì vậy so sánh giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng thì yếu tố này có thay đổi. Tuy nhiên, nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng (2012) cho thấy sau can thiệp tỷ lệ hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia khác nhau không có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p> 0,05). Điều này có thể do đối tượng nghiên cứu khác nhau, nghiên cứu của chúng tôi đối tượng là người dân tộc Khmer mặc dù có trình độ văn hóa thấp nhưng sự nhận thức và cải thiện của họ rất tốt họ rất tin tưởng vào thầy thuốc bởi vì họ ít được gặp thầy thuốc để được tư vấn hướng dẫn do đó sự thay đổi yếu tố nguy cơ này rất rõ. Đồng thời nghiên cứu của chúng tôi có thời gian can thiệp dài hơn gấp đôi nghiên cứu trước. Do đó việc tổ chức truyền thông thay đổi hành vi thời gian kéo dài đem lại hiệu quả thiết thực trong việc giảm các yếu tố nguy cơ từ đó sẽ giảm bệnh ĐTĐ trong cộng đồng. 4.2.2.2 Các chỉ số sức khỏe liên quan thay đổi hành vi. - Các chỉ số sức khỏe vòng bụng, BMI Vòng bụng to và BMI cao là yếu tố nguy cơ của tiền ĐTĐ, ĐTĐ. Có thể gọi chung là béo phì đặc biệt béo phì dạng nam gây đề kháng insulin, béo phì dạng nam là yếu tố nguy cơ dẫn đến ĐTĐ týp 2. Nghiên cứu cho thấy ở nhóm can thiệp, trước can thiệp tỷ lệ vòng eo cao 16,9%, sau can thiệp giảm xuống còn 10,6% với p< 0,05, nhóm đối chứng thì giảm không đáng kể p> 0,05. Đối với BMI cũng có sự thay đổi sau can thiệp tương tự là ở nhóm can thiệp, trước can thiệp tỷ lệ BMI của nhóm can thiệp đều cao, sau can thiệp đều giảm nhiều và có ý nghĩa thống kê, còn nhóm đối chứng có giảm nhưng không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng năm 2012, cho thấy sau can thiệp, tỷ lệ béo phì dạng nam ở nhóm can thiệp thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p<0,05) [47]. Theo Nguyễn Vinh Quang (2007), tỷ lệ vòng eo, BMI giảm sau thời gian can thiệp [52]. Nghiên cứu phòng ngừa ĐTĐ ở Phần Lan (2003) trên 522 người trung niên thừa cân có giảm dung nạp glucose; Nhóm đối chứng được áp dụng chế độ ăn tổng quát, vận động thể lực cơ bản, nhóm can thiệp được tư vấn trực tiếp bởi chuyên gia dinh dưỡng và được huấn luyện vận động thể lực tích cực. Kết quả có can thiệp đáng kể từng mục tiêu can thiệp sau 1 đến 3 năm [107],[108],[109]. Vậy tổ chức quản lý can thiệp hướng dẫn tập luyện thể lực và chế độ ăn uống làm giảm nguy cơ béo phì dạng nam là việc làm rất cần thiết để thực hiện công tác phòng chống ĐTĐ trong cộng đồng. - Chỉ số sức khỏe về mỡ nội tạng Mỡ trong máu tăng gây đề kháng insulin dẫn đến ĐTĐ cho nên trong chương trình phòng chống ĐTĐ luôn có kế hoạch tập luyện thể lực, điều chỉnh chế độ ăn uống để giảm béo phì cũng như giảm mỡ nội tạng và giảm mỡ cơ thể. Theo Cao Mỹ Phượng năm 2012 sau can thiệp, mức mỡ nội tạng cao, tỷ lệ mỡ cơ thể cao của nhóm can thiệp thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p<0,05). Qua nghiên cứu, cần tổ chức quản lý can thiệp chăm sóc sức khỏe sẽ làm giảm các yếu tố nguy cơ cho cộng đồng - Thay đổi hành vi về phòng chống tăng huyết áp Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh ĐTĐ. Trong thực tế điều trị bệnh cao huyết áp là một vấn đề rất là khó khăn, nhưng trong 8 yếu tố nguy cơ của FINDRISC có yếu tố tăng huyết áp, do đó để giảm mức độ bệnh ĐTĐ , đồng thời cần phải tổ chức can thiệp yếu tố tăng huyết áp trong cộng đồng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm can thiệp trước can thiệp tỷ lệ tăng huyết áp 33,8% sau can thiệp giảm còn 26,8%, có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Mặc dù điều trị khống chế huyết áp rất là khó nhưng nghiên cứu của tác giả có thời gian can thiệp dài hơn, qua theo dõi và tuân thủ điều trị tốt hơn nên tỷ lệ cao huyết áp giảm. Cần phải điều trị tăng huyết áp bằng thuốc lâu dài và bệnh nhân phải tuân thủ điều trị và cải thiện chế độ ăn uống, thay đổi lối sống cho đúng theo sự hướng dẫn của thầy thuốc. Như vậy công tác phòng chống cao huyết áp trong cộng đồng cần được quan tâm nhiều hơn mới góp phần vào công tác phòng chống ĐTĐ 4.2.3 Đánh giá chương trình quản lý chăm sóc điều trị tại trạm y tế xã Bệnh đái tháo đường là một bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ sử dụng thuốc để khống chế đường huyết ở mức bình thường, làm chậm hoặc không xuất hiện biến chứng. Tuy nhiên trong quản lý điều trị, việc điều chỉnh chế độ ăn uống và tập luyện thể lực có thể giảm đi sự đề kháng insulin sẽ khống chế được đường huyết ở mức bình thường. Chương trình quản lý chăm sóc điều trị tại trạm y tế xã, có sự phối hợp và hỗ trợ của Trung tâm y tế huyện và bệnh viện huyện, cho kết quả ở nhóm can thiệp, trước can thiệp tỷ lệ ĐTĐ 12,3% sau can thiệp tỷ lệ ĐTĐ giảm xuống còn 9,9% (p<0,05) và ở nhóm đối chứng trước can thiệp 10,8%, sau can thiệp 13,8% (p>0,05). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng, cho thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ của 2 nhóm có giảm hơn so trước can thiệp (9,5% và 7,2%), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05); thể hiện, việc quản lý điều trị khỏi bệnh ĐTĐ, phải đồng thời các biện pháp thay đổi hành vi. Tiền ĐTĐ là những người có đường huyết cao hơn người bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán là bệnh ĐTĐ nhưng nó có thể có các biến chứng sớm như thiếu máu cơ tim hay là bệnh mạch máu và thần kinh. Tiền ĐTĐ rất dễ tiến triển thành bệnh ĐTĐ nếu chúng ta không biết cách can thiệp và nếu chúng ta tổ chức can thiệp tốt thì bệnh sẽ khỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm can thiệp trước can thiệp có tỷ lệ tiền ĐTĐ 22,3% sau can thiệp tỷ lệ tiền ĐTĐ ở nhóm can thiệp 12,5% giảm hơn và có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Đối với nhóm chứng trước can thiệp 17,9% sau can thiệp tiền ĐTĐ là 21,1% (p>0,05). Phù hợp với nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng (2012) cho thấy sau can thiệp, tỷ lệ hiện mắc tiền ĐTĐ của nhóm can thiệp 14,2%, thấp hơn so với nhóm chứng 17,9%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng, không vận động thể lực và chế độ ăn nhiều mỡ, ít chất xơ là những yếu tố nguy cơ gây ĐTĐ týp 2. Nghiên cứu Da Qing cũng chứng minh rằng, tiết thực và can thiệp tập luyện làm giảm xảy ra ĐTĐ týp 2 khoảng 30% đến 40% trong số những người Trung Quốc với giảm dung nạp glucose được theo dõi trong 6 năm [116]. Nghiên cứu phòng ngừa ĐTĐ Mỹ cho thấy giảm 58% ĐTĐ týp 2 trung bình trong vòng 4 năm ở 265 người chăm sóc bình thường [108]. Nghiên cứu của tác giả cũng tương đồng với các nghiên cứu trên và cho thấy rằng việc tổ chức can thiệp cộng đồng dựa vào tính đặc thù của cộng đồng sẽ làm giảm tỷ lệ tiền ĐTĐ. Đặc biệt là tổ chức truyền thông tư vấn nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng sẽ làm thay đổi hành vi thì việc tự chăm sóc sức khỏe được nâng lên sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ tiền ĐTĐ và ĐTĐ trong cộng đồng. 4.2.4. Đánh giá hiệu quả can thiệp về các chỉ số sức khỏe trên người tiền đái tháo đường, đái tháo đường. - Người bệnh đái tháo đường Qua nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp trên bệnh nhân ĐTĐ được quản lý điều trị tại trạm tác giả nhận thấy các chỉ số sức khỏe ở nhóm can thiệp, sau can thiệp đều giảm; ở nhóm đối chứng thì tỷ lệ không giảm (p>0,05). Hiệu quả can thiệp về vòng bụng 14,2%; về mỡ nội tạng 10,8%; về tỷ lệ mỡ cơ thể 9,3%; về tăng huyết áp là 2,5%. Tuy nhiên trong số các chỉ số sức khỏe, chỉ số BMI, mức mỡ nội tạng và chỉ số mỡ cơ thể sau can thiệp giảm đáng kể và có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng tỏ việc tổ chức can thiệp trên đối tượng ĐTĐ có kết quả, đòi hỏi phải có thời gian dài và sự tham gia các hoạt động có lợi cho sức khỏe phải tích cực và thường xuyên. - Người dân tộc Khmer tiền đái tháo đường Đánh giá hiệu quả can thiệp dựa trên các chỉ số sức khỏe trung gian ở đối tượng tiền ĐTĐ được trạm y tế quản lý tư vấn về thực hành các biện pháp phòng chống bệnh, một số chỉ số có ý nghĩa thống kê sau can thiệp là huyết áp, vòng bụng, tỷ lệ vòng eo/vòng mông, BMI và mức mỡ nội tạng. Hiệu quả can thiệp về vòng bụng 9,2%; về mỡ nội tạng 8,5%; về tỷ lệ mỡ cơ thể 10,0%; về BMI 7,7%; về tăng huyết áp là 7,2%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu Tạ Văn Bình (2007), hiệu quả can thiệp về tư vấn chế độ ăn và luyện tập ở người nguy cơ cho thấy sau can thiệp đối với BMI có hiệu quả can thiệp là 24,3%; Thực tế, cho thấy can thiệp đồng thời bằng tư vấn, truyền thông và quản lý tại trạm y tế nếu được duy trì thường xuyên thì tỷ lệ bệnh trong cộng đồng sẽ giảm xuống, đồng thời sẽ khống chế được các biến chứng do ĐTĐ gây nên. 4.2.5. Đánh giá hiệu quả tổ chức thực hiện các biện pháp can thiệp Công tác thành lập ban chỉ đạo thực hiện chương trình phòng chống đái tháo đường, ban chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được thành lập 100% xã có ban chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc nhân dân. Các ban chăm sóc sức khỏe nhân dân từ xã đến ấp đều tổ chức phù hợp đúng định kỳ. Nhìn chung công tác tổ chức thực hiện rất tốt được các ban ngành đoàn thể tham gia đặc biệt là có sự tham gia của các chức sắc tôn giáo góp phần cho việc thực hiện công tác phòng chống đái tháo đường đạt hiệu quả. Tuy nhiên trong thực hiện còn có một số biến số đạt chưa cao như: Công tác tập huấn cho cán bộ y tế có một xã chỉ tập huấn đạt 75%; Các biến số về truyền thông nâng cao kiến thức và tổ chức hướng dẫn tập luyện thể lực cũng đạt cao trên 95% kế hoạch. Qua kết quả nghiên cứu ta nhận thấy hiệu quả can thiệp đạt cao. Đó là nhờ vào khâu tổ chức thực hiện chặt chẽ. Từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm trong khâu quản lý tư vấn điều trị và tư vấn truyền thông đóng vai trò rất quan trọng trong công tác tổ chức can thiệp cộng đồng. 4.3. Hạn chế của đề tài Một số người dân không biết tiếng Việt Nam nên việc tư vấn truyền thông gặp nhiều hạn chế. Điều kiện kinh tế còn nghèo, còn có các thói quen thực hiện các hành vi có hại cho sức khỏe, nên cần có sự tác động tích cực, thường xuyên, liên tục, từ các cán bộ y tế địa phương là người đồng bào dân tộc Khmer làm việc tại trạm y tế xã có uy tín Chỉ tầm soát đái tháo đường người từ 45 tuổi trở lên, bỏ sót đối tượng dưới 45 tuổi trong cộng đồng mắc đái tháo đường chưa được phát hiện. Đề tài chỉ nghiên cứu trên 6 xã của 3 huyện, mẫu nghiên cứu 1100 người và đánh giá thực hành đối tượng qua phỏng vấn và qua bảng kiểm theo dõi của nhân viên y tế ấp tại hộ gia đình. Tuy nhiên nhóm nghiên cứu quan sát hành động thực hành phòng chống đái tháo đường tại hộ gia đình chỉ mới ưu tiên ở một số cụm dân cư người bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường, chưa bao phủ toàn bộ người dân trong đối tượng nghiên cứu. KẾT LUẬN 1.Tỷ lệ người đan tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường và một số yếu tố liên quan Người Khmer từ 45 tuổi trở lên có tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường là 17,91%; bệnh đái tháo đường týp 2 ở là 11,91%; Trong đó tỷ lệ cao 78,6% số người bệnh mới phát hiện lần đầu. Tỷ lệ thấp người Khmer có kiến thức đúng về bệnh đái tháo đường như về triệu chứng, về các yếu tố nguy cơ gây bệnh; về cách phát hiện bệnh, về hậu quả của bệnh, về các biện pháp phòng bệnh Tỷ lệ thấp người Khmer thực hành đúng một số biện pháp phòng bệnh, như: tham gia đi bộ, đi xe đạp trên 10 phút/ngày rất thấp và tỷ lệ số người ăn không ngọt nhiều đường, số người không ăn chất béo nhiều và số người không ăn đêm sau 20 giờ. Đó là các hành vi có hại cho sức khỏe thì lại có tỷ lệ rất cao trong cộng đồng. Một số yếu tố có liên quan đến tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người dân tộc Khmer là: thói quen ăn nhiều đường số đo vòng bụng cao, người có chỉ số BMI từ 23 trở lên, ít vận động thể lực và tiền sử gia đình có người đái tháo đường (p<0,05). Trên người mắc tiền đái tháo đường các yếu tố liên quan rõ nhất trong và ngoài thang điểm FINDRISC là : tuổi, vòng bụng; mỡ nội tạng, BMI và huyết áp 2. Đánh gía hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng phòng chống đái tháo đường ở người dân tộc Khmer Sau hai năm thực hiện mô hình can thiệp: “Trạm y tế xã phòng chống đái tháo đường cho người dân tộc Khmer”: kết quả sau: Tăng kiến thức người Khmer về phòng chống bệnh. Giảm các hành vi có hại sức khỏe như: ăn uống nhiều đường, ăn nhiều mỡ; ăn đêm sau 20 giờ; ăn ít rau quả, trái cây; it vận động thể lực, hoặc uống rượu bia; Thay đổi được một số chỉ số sức khỏe trung gian với hiệu quả can thiệp: Trên người bệnh đái tháo đường về vòng bụng là 14,2%; về mỡ nội tạng 10,8%; về tỷ lệ mỡ cơ thể 9,3%; về BMI 12,4%; về tăng huyết áp là 2,5%. Trên người tiền đái tháo đường: về vòng bụng là 9,2%; về mỡ nội tạng 8,5%; về tỷ lệ mỡ cơ thể 10,0%; về BMI 7,7%; về tăng huyết áp là 7,2%. -Giảm tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường của nhóm can thiệp (12,3% giảm xuống 9,9%); So nhóm chứng, hiệu quả can thiệp là 13,1% -Giảm tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường của nhóm can thiệp (22,3% giảm xuống 12,5%); So nhóm chứng, hiệu quả can thiệp là 38,4%. Trạm y tế xã có khả năng thực hiện có kết quả phòng chống đái tháo đường cho người dân tộc Khmer, với nguồn lực huy động tại cộng đồng. KIẾN NGHỊ Qua kết quả nghiên cứu trên chúng tôi có một số kiến nghị sau. 1.Cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về biện pháp phòng bệnh và phát hiện sớm bệnh đái tháo đường. Tăng cường hoạt động khám phát hiện sớm bệnh, nhằm quản lý, điều trị kịp thời, giảm biến chứng bệnh đái tháo đường trong cộng đồng. 2.Nên áp dụng mô hình can thiệp trên cộng đồng vì nguy cơ bệnh đái tháo đường týp 2 đang lan rộng. Mô hình can thiệp trên cộng đồng phải huy động nguồn lực tại địa phương. Đặc biệt vai trò của cộng tác viên dân tộc Khmer địa phương và các chức sắc tôn giáo. 3.Nhằm hạn chế tiền đái tháo đường tiến triển thành đái tháo đường týp 2, nên can thiệp nhằm vào một số yếu tố trong và ngoài thang điểm FINDRISC, gồm: chỉ số khối cơ thể, vòng bụng và tiền sử tăng huyết áp; tỷ lệ mỡ cơ thể và mức mỡ nội tạng, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nguyễn Văn Lành, Nguyễn Văn Tập.“Tình hình bệnh đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ở đồng bào dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên tại tỉnh Hậu Giang”, tạp chí Y học dự phòng, tập XXIII, số 6( 143)2013, tr 142 - 157 2. Nguyễn Văn Lành, Nguyễn Văn Tâp, Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Thị Thùy Dương, Trần Thị Giáng Hương, Phan Trọng Lân “Dự báo nguy cơ đái tháo đường theo thang điểm FINDRISC ở đồng bào người dân tộc Khmer tại tỉnh Hậu Giang”. Hội nghị khoa học nghiên cứu sinh Viện Vệ Sinh Dịch Tể Trung Ương năm 2013, tạp chí Y học dự phòng, tập XXIII, số đặc biệt (143) 20013 ,tr 82- 86 3. Nguyễn Văn Lành , Nguyễn Văn Tập , Nguyễn Thị Thùy Dương, Phan Trọng Lân “Hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng phòng, chống đái tháo đường ở người Khmer từ 45 tuổi trở lên tại tỉnh Hậu Giang năm 2012 – 2013”, tạp chí Y học dự phòng, tập XXIV, số 1(149)năm 2014. TÀI LIỆU THAM KHẢO TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Lê Văn Bàng (2008), “ Tiền đái tháo đường”, Kỷ yếu Hội nghị Nội tiết Đái tháo đường Miền Trung lần thứ VI, Tạp chí Y học thực hành, số 616 – 617, tr. 79. 2. Đặng Quốc Bảo (2004), “Chế độ ăn uống và tập luyện phòng chữa bệnh tim mạch”. Nhà xuất bản Thể dục Thể thao, Hà Nội 3. Tạ Văn Bình (2008), “ Hội chứng chuyển hóa”, Chuyên đề nội tiết chuyển hóa, NXB Y học, Hà Nội, tr. 360. 4. Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Thị Tô Nga, (2012), “Tình hình bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở Quảng Bình năm 2011”, Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Q 1. Số 6. 2012,tr.33-37 5. Tạ Văn Bình (2004), “Thực trạng bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ ở 4 thành phố lớn ở Việt Nam”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần II, NXB Y học, tr.512. 6. Tạ Văn Bình và cộng sự (2004), “Đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người bệnh đái tháo đường trước và sau khi giáo dục tự chăm sóc”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần II, NXB Y học, tr. 292. 7. Tạ Văn Bình (2004), “Nghiên cứu ảnh hưởng thói quen ăn uống và chế độ ăn với bệnh đái tháo đường”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần II, NXB Y học, tr.280. 8. Tạ Văn Bình (2007), “Kết quả điều tra đái tháo đường và rối loạn dung nạp đường huyết ở đối tượng có nguy cơ cao ở Phú Thọ, Sơn la, Thanh Hóa và Nam Định năm 2003”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr.748. 9. Tạ Văn Bình (2007), Những nguyên lý nền tảng bệnh đái tháo đường –Tăng glucose máu, NXB Y học, tr.55, 707. 10. Tạ Văn Bình, Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cộng sự (2007), “Đánh giá tỷ lệ đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ tại một quận nội thành và một huyện ngoại thành Hà Nội”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 617 – 627. 11. Tạ Văn Bình, Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cộng sự (2007), “ Tìm hiểu mối liên quan về chế độ ăn và bệnh đái tháo đường”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, 12. 13. 14. 15. 16. 17. 18. 19. 20. 21. 22. 23. Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 633. Nguyễn Xuân Châu (2009), “Môi trường vùng đồng bào dân tộc Khmer thực trạng và thách thức”, Tạp chí lý luận của Ủy ban dân tộc, tr.29-32 Lê Văn Chi (2008), “Tần suất hiện mắc đái tháo đường và rối loạn glucose máu lúc đói ở người lớn trên 15 tuổi tại 7 phường của thành phố Huế”, Tạp chí y học thực hành, số 617 – 618, tr. 289. Vũ Huy Chiến và cộng sự (2007), “Tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 tại một số vùng dân cư tỉnh Thái Bình”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 490. Nguyễn Huy Cường, Nguyễn Quang Bảy, Tạ Văn Bình (2005), “Tỷ lệ bệnh đái tháo đường và giảm dung nạp glucose ở khu vực Hà Nội (lứa tuổi trên 15)”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần II, NXB Y học, tr. 490. Trần Hữu Dàng (1996), “Nghiên cứu về tình hình đặc điểm đái tháo đường ở Huế, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Hà Nội. 1996. Trần Hữu Dàng, Hoàng Xuân Thuận và cộng sự (2005), “Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở người từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Qui Nhơn năm 2005”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 648. Trần Hữu Dàng (2006), “ Leptin và chất tiết ra từ mô mỡ nguồn gốc bệnh tật do béo phì”, Tạp chí Y học thực hành, số 548, tr. 338 – 345. Trần Hữu Dàng (2008), Giáo trình sau Đại học chuyên ngành Nội tiết – Chuyển hóa, NXB Đại học Huế, tr. 221 – 246, 304. Trần Hữu Dàng (2010), “Tiền đái tháo đường”, Tạp chí Nội khoa, số 4, NXB Tổng hội Y Dược học Việt Nam, tr. 17. Trần Thị Minh Diễm, Đào Thị Dừa (2010), “Bệnh đái tháo đường týp 1”, Bệnh đái tháo đường týp 1 và Hội chứng đa nội tiết tự miễn, NXB Đại học Huế, tr.150. Tô Văn Hải, Ngô Mai Xuân và cộng sự (2006), “Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội”, Tạp chí Y học thực hành, số 548, tr. 93 – 94. Huỳnh Nhân Hải, Trần Hữu Dàng, Trần Thừa Nguyên (2012). “Tỷ lệ đái tháo đường typ 2 không được chẩn đoán tại thành phố Vĩnh Long”. Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Q 1. Số 6.2012,tr 349-353 24. Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy, (2012). Dự báo nguy cơ đái tháo đường týp 2 bằng thang điểm FINDRISC ở bệnh nhân tiền đái tháo đường từ 45 tuổi trở lên, Tạp chí Y Dược Học, Trường đại học Y Dược Huế, số 10, tr.20-29. 25. Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy (2012), “Tầm soát và dự báo tiền đái tháo đường và đái tháo đường chưa được chẩn đoán ở đối tượng trên 45 tuổi qua một số thang điểm”, Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Q 1. Số 6,tr. 58-749 26. Lưu Ngọc Hoạt (2012), Thống kê cơ bản trong sinh y học, NXB Y học, Bộ Y tế, tr. 67,68. 27. Hà Thị Kim Hồng, Nguyễn Thy Khuê (2006). “Tăng huyết áp và tiểu albumin vi lượng trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2”, tạp chí Y học thực hành, số 673 – 674, tr. 204 – 205. 28. Đinh Thanh Huề (2004), Phương pháp dịch tễ học, NXB Y học, tr. 74. 29. Nguyễn Kim Hưng và cs (2004), “Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành trên 15 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học Hội nghị Khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển hoá, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 499-511. 30. Hà Huy Khôi (2009), Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe, NXB Y học, tr. 55 – 56. 31. Nguyễn Thy Khuê (2007), “Bệnh đái tháo đường”, Nội tiết học đại cương, NXB Y học, tr. 373. 32. Nguyễn Thy Khuê và cộng sự (2009), “ Phân loại đái tháo đường”, Khuyến cáo về bệnh đái tháo đường, NXB Y học, tr. 15 – 17. 33. Nguyễn Thy Khuê, Trần Minh Triết (2012), “Tỉ lệ đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ ở nhóm công chức, viên chức quận 10 TP Hồ Chí Minh”. Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, Q 1. Số 6, tr. 333-341 34. Nguyễn Văn Lành (2011) “Tình hình đái tháo đường ở lứa tuổi 40 – 69 tại thị xã Ngã Bảy tỉnh Hậu Giang” Y học thực hành số 5/2011, tr 124 – 126 35. Tiêu Văn Linh (2005), “Khảo sát về bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ nhóm tuổi 36 – 64 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2005”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 723. 36. Trần Minh Long, Nguyễn Văn Hoàn (2012), “Một số yếu tố liên quan đái tháo đường typ 2 ở đối tượng có nguy cơ cao nhóm tuổi từ 30 – 69 tại tỉnh Nghệ An năm 2010”, Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI.Huế, Quyển 1. Số 6,tr.224-232 37. Nguyễn Kim Lương (2010), “Kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và bệnh nhân tăng huyết áp tiên phát”, Tạp chí Nội khoa, số 4, tr. 286. 38. Huỳnh Văn Minh (2006), “Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị, dự phòng tăng huyết áp ở người lớn”, Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006 – 2010, NXB Y học, tr. 3 – 5. 39. Ngô Thanh Nguyên (2010), “Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2009”, Tạp chí Nội khoa, số 4, NXB Tổng hội Y Dược học Việt Nam, tr. 534. 40. Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng (2009), “Tỷ lệ kháng insulin ở người cao tuổi béo phì dạng nam”, Tạp chí Y học thực hành, số: 673 – 674, NXB Bộ Y tế, tr. 87 – 88. 41. Nguyễn Thị Nhạn (2006), “Đái tháo đường ở người già”, Tạp chí Y học thực hành, số 548, tr. 80 – 81. 42. Trần Văn Nhật và cs (2008), “Thực trạng đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ở Đà Nẵng”, Tạp chí y học thực hành, số 616 – 617, NXB Bộ Y tế, tr. 319. 43. Phan Long Nhơn, Đặng Xuân Hào (2012), “Nghiên cứu thực trạng tiền đái tháo đường chưa được chẩn đoán tại BVĐKKV Bông Sơn Bình Định”, Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Quyển 1. Số 6, tr.22-27. 44. Ngô Thanh Nguyên, Phan Huy Anh Vũ (2012), “Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2011” Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI.Huế, 2012 Q 1. Số 6,tr.195-199 45. Lê Phong, Trần Văn Dũng (2012), “Điều tra kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh đái tháo đường tại tỉnh Cao Bằng năm 2011”. Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Q 1. Số 6, tr.116-122 46. Cao Mỹ Phượng và cs (2006), “Tình hình đái tháo đường týp 2 và đặc điểm khác nhau ĐTĐ týp 2 giữa dân tộc Kinh và Khmer tỉnh Trà Vinh năm 2004”, Hội nghị Hội Đái tháo đường và Nội tiết TP Hồ Chí Minh mở rộng lần IV, NXB Y học thực hành (616 – 617), tr. 69. 47. Cao Mỹ Phượng (2012) “Nghiên cứu kết quả can thiệp cộng đồng phòng chống tiền đái tháo đường – đái tháo đường týp 2 tại huyện Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh”, Luận án tiến sĩ học, Đại học Huế. 48. Cao Mỹ Phượng, Nguyễn Hải Thủy (2012), “Thang điểm FINDRISC và dự báo nguy cơ đái tháo đường trong 10 năm trong cộng đồng”, Tạp chí Nội tiết đái tháo 49. 50. 51. 52. 53. 54. 55. 56. 57. 58. 59. 60. đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Q 1. Số 6, tr.2-10. Phạm Hồng Phương, Lê Quang Tòa và cs (2012), “Thực trạng bệnh đái tháo đường týp 2, và tiền đái tháo đường tại tỉnh Quảng Ngãi năm 2011”, Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI. Huế, 2012 Q 1. Số 6,tr.48-57 Thái Hồng Quang (2008), “Dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh đái tháo đường týp 2”, Kỷ yếu Hội nghị Nội tiết Đái tháo đường Miền Trung lần thứ IV, Tạp chí Y học thực hành (616 – 617), tr. 69. Nguyễn Hứa Quang, Nguyễn Hải Thủy (2005), “Rối loạn glucose máu ở đối tượng con của bệnh nhân đái tháo đường thể 2”, Tạp chí Y học thực hành, số 521, tr. 440. Nguyễn Vinh Quang (2007), “Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh đái tháo đường và hiệu quả của biện pháp can thiệp cộng đồng tại Nam Định, Thái Bình (2002 – 2004)”, Luận án tiến sĩ học, Học viện Quân Y. Nguyễn Vinh Quang, Lê Phong và cs (2012), “Điều tra kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh đái tháo đường tại Việt Nam năm 2011”. Tạp chí Nội tiết đái tháo đường. Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI.Huế, 2012, số 6, Q 1, tr.180-186 Nguyễn Hải Thủy, Nguyễn Thọ Lịch (2005), “Khảo sát tăng đường máu ở đối tượng ăn chay trên 40 tuổi”, Tạp chí Y học thực hành (507 – 508), NXB Bộ Y tế, tr. 100. Nguyễn Hải Thủy (2006), “Đặc điểm kháng insulin trong bệnh nhân đái tháo đường”, Tạp chí Y học thực hành, số 548, tr. 17 – 18. Nguyễn Hải Thủy (2008), Bệnh tim mạch trong rối loạn nội tiết và chuyển hóa, NXB Đại học Huế, tr. 59. Nguyễn Hải Thủy (2009), Bệnh tim mạch trong đái tháo đường, NXB Đạị học Huế, tr. 25. Mai Thế Trạch (1993), “Dịch tễ học và điều tra cơ bản về bệnh đái tháo đường ở nội thành TP Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tr. 24. Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hải Thủy, Võ Văn Thắng (2010), “Tình hình bệnh đái tháo đường týp 2 ở đối tượng trên 45 tuổi tại bệnh viện Quận Hải Châu – Đà Nẵng”, Tạp chí Nội khoa, số 4, NXB Tổng hội Y Dược học Việt Nam, tr. 498. Hoàng Kim Ước và cs (2007), “ Thực trạng bệnh đái tháo đường và rối loạn dung nạp đường huyết ở các đối tượng có nguy cơ cao tại thành phố Thái Nguyên năm 2006”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 691 – 692. 61. Hoàng Kim Ước và cộng sự (2007), “Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường và yếu tố nguy cơ ở tỉnh Kiên Giang năm 2004”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị Khoa học ngành Nội tiết và Chuyển hóa Việt Nam lần III, NXB Y học, tr. 704 – 705. 62. Phạm Nguyễn Vinh (2006), “Bệnh tăng huyết áp: cơ chế, dịch tễ, lâm sàng và chẩn đoán”, Bệnh học tim mạch tập II, NXB Y học, tr. 233. 63. Hoàng Trung Vinh (2006), “Kháng insulin và chức năng tiết của tế bào bêta ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tuổi trên 60”, Tạp chí y học thực hành, số 616 – 617, tr. 252. 64. Hồ Thị Thùy Vương, Nguyễn Hải Thủy (2009), “Nghiên cứu tỷ lệ mỡ cơ thể và mức mỡ nội tạng trong giai đọan tiền đái tháo đường”, Tạp chí Nội khoa, Tổng hội Y Dược học Việt Nam, tr. 681. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 65. American Diabetes Association (2006). Diabetes care. 2006; 29 (suppl 1): pp. S43 – S 48. 66. Accu – Chek Inform System (2007), “Total Quality Management Policies and Procedures and In-Service Program”, Roche Diagnostics, p. 21. 67. American Diabetes Association (2008), “Standards of Medical Care in Diabetes – 2008”, Diabetes Care, Vol. 31 (1), pp. S 13, 14, 20. 68. American Diabetes Association (2009), “Standards of Medical Care in Diabetes – 2009”, Diabetes Care, Vol. 32, Supplement 1, 11/2009, pp. 17 – 41. 69. American Diabetes Association (2010), “Standards of Medical Care in Diabetes – 2010”, Diabetes Care, Vol. 33 (1), pp. S11 – S61 70. American Diabetes Association (2010), “Diagnosis and Classification of Diabetes Mellitus”, Diabetes Care, Vol. 33, pp. S62 – S66 71. American Diabetes Association (2011), “Standards of Medical Care in Diabetes – 2011”, Diabetes Care, Vol. 34 (1), p. S13 72. Amini M., Janghorbni M. (2007), “Diabetes and impaired glucose regulation in first degree relatives of patients with type 2 diabetes in Isfahan, Iran: prevalence and risk factors”, Review Diabetes Study, Vol. 3(4), p. 169. 73. Barclay L. (2008), “New AACE. Guidelines for Prediabetes Management”, Medscape, Medical News, 25/09/2008 74. Bennett P.H., Knowler W.C. (2006), “Definition, Diagnosis, and Classification of Diabetes Mellitus and Glucose Homeostasis”, Joslin’s Diabetes Mellitus, 14th, Lippincott Williams & Wilkins, pp. 110. 75. Center for Disease Control and Prevention, National Diabetes Fact Sheet (2011), “Fast Facts on Diabetes”, CDC – Info Atlanta, GA 30341 – 3717. USA, pp.11. 76. Center for Disease Control and Prevention, National Diabetes Fact Sheet (2011), “Diagnosed and undiagnosed Diabetes in the United States, all ages, 2010”, CDC – Info, Atlanta, GA 30333, USA, 23/5/2011. 77. Center for Disease Control and Prevention (2011), “Get the Facts on Diabetes”, CDC – Info, Atlanta, GA 30333, USA, 26/01/2011. 78. Collino M. (2011), “High dietary fructose intake: Sweet or Bitter Life”, World Journal of Diabetes: WJD, Vol. 2(6), pp. 79 – 80, 15/01/2011. 79. Cullmann M., Hilding A., Ostenson C.G. (2011), “Alcohol consumption and risk of pre-diabetes and type 2 diabetes development in a Swedish population”, A Journal of the British Diabetic Association, DOI: 10.1111/j.1464, 9/2011. 80. Dean L, King H, Keuky L. et al (2005), Diabetes and associated disorders in Cambodia: two epidemiological surveys The Lancet, 2005; 366(9497):1633-1639. 81. Dean L., McEntyre J.(2004), “The Genetic Landscape of Diabetes”, US National Library of Medicine – National Institute of Health, Bookshelf ID. NBK. 1671, 7/7/2004. 82. Diabetes Atlas (2009),“National Diabetes Programmes”, International Diabetes Federation Report, Belgium, 08/03/2009. 83. Farouq I. Al Zurba and Ahmad Al Garf (1996), “Prevalence of diabetes mellitus among Bahrainis attending primary health care centres”, The Eastern Mediterranean Health Journal, Vol.2 (2), pp. 274. 84. Frank B. (2011), “Globlization of Diabetes: The role of diet, lifestyle, and genes”, Diabetes Care, Vol. 34, pp. 1249 – 1255, 6/2011. 85. Garber A.J., Handelsman Y. (2008), “American College of Endocrinology Consensus Statement on the Diagnosis and Management of Pre-diabetes in the Continuum of Hyperglycemia. When do the risk diabetes begin?”, American College of Endocrinology, Task force on Prediabetes, 23/6/2008. 86. Goldstein B.J., Muller – Wieland D. (2007), “Epidemiology of Type 2 Diabetes”, Type 2 Diabetes, Information Health Care 2nd, New York – London, pp.3. 87. Green L.M., Kreuter M.W. (2005), Health Program Planning: An Educational and Ecological Approach 4th, NY. McGraw – Hill Higher Education. 88. Grundy SM et al (2005), “Insulin Resistance and Pre-diabetes: Diagnosis and Management of the Metabolic Syndrome”, Circulation, Vol.112, pp. 2735. 89. Hippisley – Cox J. (2009), “Predicting risk of type diabetes in England and Wales: Prospective derivation and validation of QDScore”, BMJ, 338 – b880, 17/3/2009. 90. Harvard School of Public Health (2009), “The Nutrition Source: How Sweet is it?”, http://www.hsph.harvard.edu/nutritionsource 28/09/2011. 91. Harvard School of Public Health (2009), “The Nutrition Source: Balancing Risks and Benefits”, http://www.hsph.harvard.edu/nutritionsource 28/09/2011. 92. Harvard School of Public Health (2011), “The Nutrition Source: Sugary Drinks or Diet Drinks: What’s the Best Choice?”, http://www. hsph.harvard. edu/nutritionsource 28/09/2011. 93. Harvard School of Public Health (2011), “The Nutrition Source: Is Wine Fine, or Beer Better?”, http://www.hsph.harvard.edu/nutritionsource 28/09/2011. 94. Harvard School of Public Health (2011), “The Nutrition Source: Healthy Beverage Guidelines, http://www.hsph.harvard.edu/nutritionsource 28/09/2011. 95. Heikes K.E. et al (2008 ), “Diabetes risks calculator. A simple tool for detecting undiagnosed diabetes and pre – diabetes”, Diabetes Care, Vol.31, pp. 1040 – 1045. 96. Hien T. Nghiem (2010), “Cutting Intake of Sugar – Sweetened Drinks Lowers BP in Obeservational Study CME”, Medscape CME, 06/01/2010. 97. Hossain P. et al (2007), “Obesity and Diabetes in the Developing World – A Growing Challenge”, The New England Journal of Medicine, Vol.356, pp. 21, 18/01/2007. 98. Haffner S.M. (1997), “The Prediabetic Problem: Development of non – insulin – dependent diabetes mellitus and related abnormalities”, Journal of Diabetes and Its Complications, Vol.11 (2), pp.69. 99. Haffner S.M. (2006), “Abdominal obesity, insulin resistance, and cardiovascular risk in pre-diabetes and type 2 diabetes”, Eur Heart J Suppl, Vol.8 (suppul B), pp. B20 – B25. 100. Hales C.N., Barker D.J.P (2001) “The Thrifty Phenotype Hypothesis Type 2 Diabetes”, Oxford Journal, British Medical Bulletin, Vol.60 (1), pp.13. 101. International Diabetes Federation, (IDF), http:// www. Diabetessatlas.org/ content /what- is-diabetes. Accessed 25th January 2010. 102. Khardori R (2011), “Type 2 Diabetes Mellitus”, Medscape, Illinois University School of Medicine, Medscape 117853, 14/9/2011. 103. Kraft S. (2011), “Mystery Diabetes Type 3 Hybrid; Alzheimer’s Drug May Help”, Medical New Today, 17/3/2011. 104. Le Nguyen T.D.S., Tran T.M.H., Kusama K., Ichikawa Y., Nguyen T.K., Yamamoto S. (2003), “Vietnamese type 2 diabetes subjects with normal BMI but high body fat”, Diabetes Care, Vol.26, pp. 1946 – 1947. 105. Lindstrom J. et al (2003), “The Finnish Diabetes Prevention Study (DPS)”, Diabetes Care, Vol. 26 (12), pp. 3236, 12/2003. 106. Lindstrom J. and Tuomilehto J. (2003), “The Diabetes Risk Score, A practical tool to predict type 2 diabetes risk”, Diabetes Care, Vol. 26, pp. 725. 107. Lindstrom J. et al (2006), “Sustained reduction in the incidence of type 2 diabetes by lifestyle intervention: Follow-up of the Finnish Diabetes Prevention Study”, The Lancet, Vol. 368, pp. 1673, 11/11/2006. 108. Lindstrom J. (2009), “The Finnish Diabetes Prevention Study (DPS). Lifestyle intervention and 3-year results on diet and physical activity. Diabetes Care 10.2337/diacare.26.12.3230 Diabetes Care. 11/ 2003 vol. 26 no. 12 3230-3236 109. Li J. (2008), “A more simplified Finnish diabetes risk score for opportunistic Screening of undiagnosed type 2 diabetes in a German population with a family history of the metabolic syndrome”, Pubmed, Vol. 41(2), pp. 98 – 103, 2/2009. 110. Maj M. et al (2011), “Age related changes in pancreatic beta cells: A putative extra – cerebral site of Alzheimer’s pathology”, World Journal of Diabetes, Vol.2 (4), pp.49, 15/4/2011. 111. Makrilakis K., Liatis S., Grammatikou S. et al (2011), “Validation of the Finnish Diabetes Risk Score (FINDRISC) questionnaire for screening for undiagnosed type 2 diabetes, dysglycemia and the metabolic syndrome in Greece”, Pubmed, Diabetes Metab., Vol.37 (2), pp. 144, 151. 112. Manjeet S., Naresh K., Sushma S. et al (2010), “The History of Diabetes Mellitus”, Australasian Medical Journal – AMJ, Vol.3 (13), pp.860. 113. Mawji K (2008), “Calculating portion size for an active day”, University of Regina Press. pp.124 114. Mehrotra R., Bajaj S., Kumar D. et al (2000), “Influence of education and occupation on knowledge about diabetes control”, Motilal Nehru Medical College, Allahabad 211002, Uttar Pradesh, India, Vol.13(6), pp. 293. 115. Omron (2011), “Instruction Manual: Fat Analyser Scale Model HBF-356”, Omron Health Care co. Ltd, Japan, pp. 1 – 5. 116. Pan XR. et al (2003), “Effects of diet and exercise in preventing NIDDM in people with impaired glucose tolerance. The Da Qing IGT and Diabetes Study”, Med Journal, Vol 178 (7), pp.367. 117. Polyzos, Stergios A., Kountouras. et al (2011), “The Potential Adverse Role of Leptin Resistance in Nonalcoholic Fatty Liver Disease: A Hypothesis Based on Critical Review of the Literature”, Journal of Clinical Gastroenterology, Vol. 45 (1), pp.50. 118. Powers A.C., (2008), “Diabetes Mellitus”, The Principles of Harrison’s Internal Medicine, McGraw Hill Medical, 17th, pp. 2280 – 2282. 119. Pratley R.E., Glenn M. (2007), “Prediabetes clinical relevance and therapeutic approach”, The British Journal of Diabetes and Vascular Disease, Vol. 7, pp. 120. 120. Ramachandran A. et al (2010), “Diabetes in Asia”, The Lancet, Vol. 375 (9712), pp. 408. 121. Schwarz PE., Li J., Linstrom J. et al (2009), “Tool for predicting the risk of type 2 diabetes in daily practice”, Pubmed 19021089, pp.86, 2/2009. 122. Su H., Lau WB., Ma XL. (2011), “Hypoadiponectinemia in Type 2 Diabetes: Molecular Mechanisms and Clinical Significance”, Thomas Jefferson University, Philadelphia, USA, Pubmed, 21916932, 14/9/2011. 123. UNICEF (2009), “What Works for Children in South Asia New Born Care: An Overview”, The United Nations Children’s Fund, pp. 14 – 15. 124. U.S Department of Health and Human Service (2004), “The Seventh Report of the Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation and Treatment of High Blood Pressure”, NIH Publication, No.4 – 5230, pp. 11, 8/2004. 125. Virginia Department of Health (2011), “Smoking and Diabetes”, Office of Family Health Services, Tobacco Use Control Project, 21/6/2011. 126. WHO Expert Consultation (2004), “Appropriate Body Mass index for Asian Populations and Its implications for policy and intervention strategies”, The Lancet, Vol. 363, 10/01/2004, pp. 161. 127. World Health Organization/International Diabetes Federation (2006), “Definition and Diagnosis of Diabetes Mellitus and Intermediate Hyperglycemia”, Report of a WHO/IDF Consultation. 128. World Health Organization/International Diabetes Federation (2007), “Definition, Diagnosis and Classification of Diabetes Mellitus and Its Complications”, Report of a WHO/IDF Consultation, pp. 1 – 3. 129. World Health Organization (2008), “Waist Circumference and Waist – Hip Ratio”, Report of a WHO Expert Consultation, Geneva, 8 – 11/12/2008, pp. 20 – 21. 130. Yoon K.H., Lee J.H., Kim J.W., et al (2006), “Epidemic Obesity and Diabetes Type 2 in Asia”, The Lancet, Vol. 368, pp. 1681. PHỤ LỤC 1 Mã số:…………../xã, phường, TT:…………Ngày điều tra:……/………/………………... Người điều tra: ……………………………. PHIẾU ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG NGƯỜI DÂN TỘC KHMER ≥ 45 TUỔI TẠI TỈNH HẬU GIANG NĂM 2011 I. Thông tin cá nhân: Họ tên:………………………………………Nam/nữ Điện thoại liên lạc của người được phỏng vấn…………………..................................... Qua nghe và hiểu được tầm quan trọng của việc tầm soát bệnh đái tháo đường trong cộng đồng bản thân tôi tự nguyện tham gia nghiên cứu này và cam kết sẽ thực hiện đúng theo sự hướng dẫn của người nghiên cứu Thông tin về dân số học cơ bản Cột mã số trả lời C1 C2 C3 Giới tính (Ghi nhận nam/nữ qua quan sát bên Nam 1 ngoài Nữ 2 Bạn bao nhiêu tuổi Tính theo năm …………………….. Trình độ học vấn của bạn? Nghề nghiệp C4 Khu vực C5 Mù chữ 1 Tiểu học 2 PTCS – PTTH 3 Cao đẳng/ ĐH 4 Nông dân 1 Công nhân viên 2 Buôn bán 3 Khác (ghi rõ) 4 Nông thôn 1 Khu vực chợ 2 Sử dụng thuốc lá (Phần S) Trả lời Cột mã hóa Neáu nhôù Chuyeån qua S3 S1 S2a S2b S3 S4 S4a Hiện nay bạn có hút thuốc không? Chẳng Có 1 hạn như thuốc điếu, hút xì gà hay thuốc lào. Không 2 Khi bắt đầu hút thuốc lá mỗi ngày, bạn bao Tuổi (năm) ……………….. nhiêu tuổi? Không nhớ 77 Nếu S2a=77: Tính bằng năm Năm…………. Bạn đã hút thuốc lá bao lâu rồi? (chọn 1 Hoặc bằng tháng Tháng……….. trong 3, mã 77 nếu không nhớ) Hoặc bằng tuần Tuần……….... Trung bình, bạn hút bao nhiêu thuốc trong Thuốc điếu ………………… một ngày? Thuốc vấn tay ………………… (Ghi nhận cho mỗi loại) Thuốc lào ………………… (Mã 88 nếu không áp dụng được) Khác (ghi rõ) ………. Trước đây, bạn có bao giờ hút thuốc mỗi Có 1 ngày không? Không 2 Nếu có Tuổi (năm) ……………... Bạn bao nhiêu tuổi khi bạn bắt đầu hút Không nhớ 77 Nếu S4a =77: Tính bằng năm Năm………….. Bạn đã hút thuốc lá trong bao lâu? Hoặc bằng tháng Tháng………... (Chọn 1 trong 3, mã 77 nếu không nhớ) Hoặc bằng tuần Tuần…………. Bạn bao nhiêu tuổi khi bạn ngưng hút thuốc Tuổi (năm) ……………….. mỗi ngày? Không nhớ 77 Đã bao lâu rồi từ khi bạn ngưng hút thuốc Tính bằng năm Năm…………. mỗi ngày? Hoặc bằng tháng Tháng……....... Hoặc bằng tuần Tuần………..... Trả lời Bạn có bao giờ uống rượu/bia không? (Kể cả Có Cột mã hóa 1 rượu trái cây) 2 thuốc lá hàng ngày? S4b S5a S5b Neáu khoâng, Chuyeån qua phần A Neáu nhôù, Chuyeån qua S5a Lượng rượu tiêu thụ (phần A) A1a Không Neáu khoâng, Chuyeån qua Phaàn P (SỬ DỤNG THẺ HÌNH MINH HỌA HOẶC THÍ DỤ MINH HỌA) A1b A2 A3 A4 Trong 12 tháng qua bạn có uống rượu/bia Có 1 không? Không 2 Trong 12 tháng qua, mức độ thường xuyên ≥5 ngày/tuần 1 mà bạn uống ít nhất 1 ly rượu/bia ? 1-4 ngày/tuần 2 (ĐỌC CÁC CÂU TRẢ LỜI SỬ DỤNG 1-3 ngày/tháng 3 THẺ MINH HỌA) <1 lần/một tháng 4 Trong ngày uống rượu, trung bình bạn uống …………….. bao nhiêu ly? Không biết 77 Trong vòng 7 ngày qua, mỗi ngày bạn uống Thứ hai 1 bao nhiêu ly rượu/bia CHUẨN (Bất kỳ loại Thứ ba 2 nào)? Thứ tư 3 (GHI NHẬN CHO MỖI NGÀY SỬ DỤNG Thứ năm 4 THẺ MINH HỌA SỬ DỤNG LY CHUẨN Thứ sáu 5 TỪ LÚC NÀY) Thứ bảy 6 Chủ nhật 7 Trả lời Mã hóa Công việc của bạn có thường đòi hỏi ngồi Có 1 hoặc đứng một chổ (Với thời gian đi lại Không 2 Công việc của bạn liên quan đến hoạt động Có 1 nặng nhọc ít nhất 10 phút một lần? [ ví dụ Không 2 Hoạt động thể lực (phần P) P1 Số ly không quá 10 phút một lần)? P2 như: Nâng vật nặng, đào bới hoặc công việc xây dựng] SỬ DỤNG THẺ MINH HỌA P3a Trong một tuần điển hình, có bao nhiêu ngày Số ngày trong một ………………… bạn thực hiện các hoạt động nặng nhọc của tuần ……….. Tính bằng giờ và ……………. mình? P3b Trong một ngày làm việc điển hình, thời Neáu khoâng, Chuyeån qua Phaàn P4 gian bạn làm công việc nặng là bao nhiêu? phút …………….. HOẶC chỉ tính …………….. bằng phút P4 Công việc của bạn có liên quan đến hoạt Có 1 động với cường độ trung bình như là đi Không 2 nhanh [hoặc là manh vật nhẹ] ít nhất 10 phút Neáu khoâng, Chuyeån qua Phaàn P6 một lần không? ĐƯA THÊM THÍ DỤ VÀ TRÌNH BÀY THẺ MINH HỌA P5a Trong một tuần điển hình, có bao nhiêu ngày Số ngày trong tuần ………………… bạn phải làm công việc [của bạn] với cường ………. độ trung bình? P5b Trong một ngày điển hình mà bạn phải làm Tính bằng giờ việc với cường độ trung bình, thời gian bạn và phút làm việc công việc như vậy là bao nhiêu? Hoặc chỉ tính ………………… ………………… … bằng phút P6 P7 P8a Một ngày làm việc điển hình của bạn kéo dài Số giờ …………….. bao nhiêu? Bạn có đi bộ hay đi xe đạp liên tục từ 10 Có 1 phút trở lên? Không 2 Trong một tuần điển hình, có bao nhiêu ngày Tính bằng giờ ………………… đi bộ hoặc đi xe đạp liên tục từ 10 phút trở và phút ………………… lên Hoặc chỉ tính … bằng phút Trong một ngày điển hình, bạn đi bộ hoặc đi Tính bằng giờ ………………… và phút ………………… P8b xe đạp bao nhiêu lâu ? Hoặc chỉ tính ……………….. bằng phút Các câu kế tiếp hỏi về hoạt động của bạn trong thời gian rãnh rỗi. Hãy nghỉ tới các hoạt động giải trí, thể dục, thể thao (đưa thêm các mục phù hợp). Không đưa các hoạt động thể lực khi bạn làm việc hoặc đi lại dã được đề cập ở trên. P9 Trong thời gian rãnh rỗi, bạn có bất kỳ hoạt Có 1 động thể lực năng từ 10 phút trở lên một lần Không 2 không? [chạy bộ hoặc các môn thể thao gắng sức, cử tạ]. SỬ DỤNG THÍ DỤ VÀ THẺ MINH HOẠ Nếu có P10a Số ngày trong tuần ………………… Trong một tuần điển hình, hoạt động thể lục nặng trong lúc rãnh rỗi của bạn là bao nhiêu lâu? P10b P11 Trong một ngày điển hình, hoạt động thể lực Tính bằng giờ ………………… năng trong lúc rãnh rỗi của bạn là bao và phút ………………… nhiêu? Hoặc chỉ tính ………………… bằng phút ………………… Trong thời gian rãnh rỗi, bạn có hoạt động Có 1 nào với cường độ vừa phải, 1 lần từ 10 phút Không 2 trở lên không? [vd: đi nhanh, đạp xe hoặc bơi lội] SỬ DỤNG THÍ DỤ VÀ THẺ MINH HOẠ Nếu có: Trong một tuần điển hình, có bao P12a Số ngày trong tuần ………………… nhiêu ngày bạn có hoạt động với cường độ ………………… vừa phải [ trong lúc rãnh rỗi P12b Trong một ngày điển hình, hoạt động thể lục Tính bằng giờ nặng trong lúc rãnh rỗi của bạn là bao nhiêu và phút lâu? Hoặc chỉ tính ………………… ………………… .... bằng phút Tiền sử đối tượng nghiên cứu H1a H1b Trong vòng 12 tháng qua bạn có được đo Có 1 đường huyết không? Không 2 Có bao giờ bạn được bác sĩ hoặc nhân viên y Có 1 tế nói rằng bạn bị bệnh tiểu đường không Không 2 không? Lần gần đây nhất bạn được nhân viên y tế đo Trong vòng 12 1 huyết áp là khi nào? tháng 2 1-5 năm 3 H2a Không đo trong 5 năm H2b H3 Có bao giờ bạn được bác sĩ hoặc nhân viên y Có 1 tế nói rằng bạn cao huyết áp không? Không 2 Bạn có bao giờ nghe bs/cán bộ y tế nói là Có 1 bạn bị bệnh tim không (thí dụ đau thắt ngực, Không 2 (chỉ sử dụng cho nữ) Có 1 Từ trước đến nay bạn có lần nào mang thai Không 2 Trong những lần mang thai như vậy, có bao Có 1 giờ bạn được bác sĩ chẩn đoán tiểu đường Không 2 hoặc rối loạn đường huyế không? Không biết Có lần nào bạn sanh con nặng trên 4 kg Có 1 không? Không 2 Không biết 3 Gia đình bạn (ba mẹ, anh chị) có ai bị bệnh Có 1 tiểu đường không? Không 2 Không biết 3 nhồi máu cơ tim) H4a không? H4b H4c H5 Chiều cao và cân nặng BMI M1 Mã số < 18,5 1 18,5 -<23 2 ≥ 23 3 Vòng eo M2 Vòng eo (bằng centimet)……………….cm M3 Vòng mông (bằng centimet)……………….cm M4 WHR Huyết áp Cột mã số M4a M4b M5a M5b Đo lần 1 HA Tâm thu HA tâm trương Đo lần 2 HA tâm thu HA tâm trương Tâm thu mmHg Tâm trương mmHg Tâm thu mmHg Tâm trương mmHg Trong vòng 2 tuần nay, bạn có đang sử dụng Có thuốc để điều trị cao huyết áp không? Không Xét nghiệm Trong 12 giờ qua, ngoài uống nước bạn có Có M7 ăn hay uống bất kỳ gì khác nữa không? Không Thời gian lấy mâu trong ngày M8 (tính theo đồng hồ 24 tiếng) Đái tháo đường RLĐHLĐ M9 Đường huyết Bình thường Đo Đường huyết lần 2 (Làm nghiệm pháp Đái tháo đường dung nạp glucose nếu lần 1 RLĐHLĐ) RLDNG M10 Bình thường M6 M11 HbA1c (Khi xét nghiệm lần 1, lần 2 là RLĐHLĐ và RLDNG) Tốt Khá Kém 1 2 3 Nữ Cao ≥ 20% ≥ 30% Thấp < 10 < 20 B.Thường 10- < 20 20- < 30 Tỷ lệ mở nội tạng Cao >9 Bình thường (1 – 9) 1 2 Nguy cơ tiến triển bệnh ĐTĐ type 2 trong 10 năm Thấp Thấp nhẹ Trung bình Cao Rất cao 1 2 3 4 5 Cột mã hoá Ăn ngọt Ăn nhiều Ăn ít 1 2 Ăn mỡ Ăn nhiều Ăn ít 1 2 Tỷ lệ mở cơ thể M13 M14 Thoái quen T2 1 2 Cột mã hoá 1 2 …..giờ….. phút… 1 2 3 1 2 3 Nam M12 T1 < 5,7 5,7 – 6,5 ≥ 6,5 …………… ………….. …………… …………… T3 T4 Ăn chất béo Ăn tối T5 Ăn trái cây Kiến thức ( Đánh giá theo thẻ minh họa ) Kiến thức phòng đái tháo đường K1 Ăn nhiều Ăn ít Ăn trước 20 giờ Ăn sau 20 giờ Ăn nhiều Ăn ít 1 2 1 2 1 2 Cột mã hoá K4 Biết về yếu tố nguy cơ Tốt Khá Kém Tốt Khá Kém Tốt Khá Kém Biết Không K5 Biết phát hiện bệnh ĐTĐ Biết Không 1 2 Biết Không 1 2 Biết Không 1 2 Thái độ phòng chống bệnh đái tháo đường K2 Thực hành về phòng chống đái tháo đường K3 K6 K7 Biết cách phòng bệnh ĐTĐ Biết về hậu quả bệnh ĐTĐ 1 2 3 1 2 3 1 2 3 1 2 Người điều tra........................... Người điều tra........................... PHỤ LỤC 2 SỞ Y TẾ HẬU GIANG SỔ THEO DÕI CÁ NHÂN CÓ NGUY CƠ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Số hồ sơ:……………… Họ và tên:………………………………………………… Ngày tháng năm sinh: ……/……/………… Giới: Nam  Nữ  Nghề nghiệp:…………………………………………………………………………………………………………... Địa chỉ:……………………………………..Xã……………………….Huyện……………………………….. Điện thoại liên hệ:………………………………………………………… Tiền sử bản thân 1 Số cân khi nặng nhất………………….kg 2 Cân nặng của con khi sinh trên 3,5kg: ………lần 3 Cân nặng của con khi sinh dưới 2,6kg: ………lần 4 Hút thuốc lá: Có  Không  5 Uống rượu: Có  Không  Đã được chẩn đoán Nơi chẩn đoán 6 Tăng huyết áp Có  Không  7 Thiếu máu cơ tim cục bộ Có  Không  8 Đột quỵ Có  Không  9 ĐTĐ thai nghén Có  Không  Tiền sử gia đình (bố, mẹ, anh chị em ruột) 1 Béo phì Có  Không  4 Bệnh tim mạch Có  Không  2 Đái tháo đường Có  Không  5 Tăng huyết áp Có  Không  3 Rối loạn lipid máu Có  Không  6 Tiền ĐTĐ Có  Không  7 Bệnh khác: (ghi rõ)………………………………....... KẾT QUẢ KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM Lần thứ… Ngày…… Cân nặng (kg) Vòng bụng (cm) Chiều cao (cm) BMI (kg/m2) Huyết áp khi nghĩ Lần thứ… Ngày…… Lần thứ… Ngày…… Lần thứ… Ngày…… Lần thứ… Ngày…… Lần thứ… Ngày…… Lần thứ… Ngày…… (mmHg) Glucose máu lúc đói (mmol/l) HbA1c Mỡ cơ thể Mỡ nội tạng Kết quả thực hiện Uống rượu bia Hút thuốc Ăn mặn Ăn nhiều mỡ Vận động thể lực Ăn đường Ăn rau quả Ăn sau 20h TỰ ĐÁNH GIÁ XÁC NHẬN CTV Có Không Có Không Có Không Có Không Có Không Có Không Có Không PHỤ LỤC 3 Số người dân tộc Khmer từ 45 tuổi trở lên được chọn vào nghiên cứu . Huyện Xã Số người dân Số người từ Tỷ lệ (%) Mẫu tộc Khmer 45 tuổi chọn chọn Long Xã Phiên 3328 931 22,9 213 Mỹ Lương Nghĩa 3217 943 22,9 216 Vị Thủy 2570 799 22,9 183 Vĩnh Trung 2910 814 22,9 186 Cái Tắc 1820 642 22,9 147 Thành A Bảy Ngàn 1928 676 22,9 155 Tổng 06 16.573 4.805 22,9 1100 Vị Thủy Châu . Số đối tượng chọn vào mẫu can thiệp và đối chứng của các xã Xã chứng Mẫu chứng Xã can thiệp Mẫu can thiệp Vị Thủy 183 Cái Tắc 147 Vĩnh Trung 186 Bảy Ngàn 155 2 369 2 302 PHỤ LỤC 4 Thang điểm FINDRISC có điều chỉnh BMI và vòng bụng theo tiêu chuẩn Châu Á Biến số Phân độ Điểm < 45 0 45 – 54 2 1.Tuổi 55 – 64 3 ≥64 4 < 23 0 2.BMI 23 - < 27,5 1 ≥ 27,5 3 Nam Nữ < 82 < 72 0 3.Vòng bụng 82 – 90 72 – 80 3 ≥ 90 ≥80 4 Có 0 4.Vận động thể lực hàng ngày ≥ 30 phút Không 2 Mỗi ngày 0 5.Thường ăn rau, quả Không mỗi ngày 1 Không 0 6.Đã có lần được kê toa thuốc hạ huyết áp/ chẩn đoán THA Có 2 Không 0 7.Đã có lần phát hiện tăng đường huyết Có 2 Không 0 8.Có thân nhân được chẩn Có ông bà, chú, bác, cô, dì 3 đoán ĐTĐ Có cha mẹ, anh, chị, em ruột 5 Bảng Nguy cơ tiến triển bệnh đái tháo đường týp 2 trong 10 năm tới Tổng số điểm Mức độ nguy cơ Tỷ lệ ước tính sẽ tiến triển bệnh ĐTĐ týp 2 <7 Thấp 1/100 7 – 11 Thấp nhẹ 1/25 12 – 14 Trung bình 1/6 15 – 20 Cao 1/3 >20 Rất cao ½ Nguồn: Tuomilehto J.and Lindstrom J. (2003) PHỤ LỤC 5 TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN……………………… TRẠM Y TẾ ………………………. SỔ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC KHMER NĂM 2011 Cộng tác viên : ………………………………………… Thời gian từ ………………đến ………………………. XÃ: ………………………. ẤP : …………………….... CTV: ……………………… ST T HỌ TÊN NĂM SINH NAM NỮ ĐỊA CHỈ VH NGHỀ NGHIỆP GHI CHÚ …………………., Ngày….tháng…...năm 201 XÁC NHẬN TRẠM Y TẾ CỘNG TÁC VIÊN PHỤ LỤC 6 TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN…………………….. TRẠM Y TẾ…………………………… SỔ TƯ VẤN TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE PHÒNG CHỐNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG - ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TẠI CỘNG ĐỒNG Cộng tác viên : ……………………………………... Thời gian từ ………………đến……………………. XÃ: ………………………. ẤP : …………………….... CTV: ……………………… STT HỌ TÊN NĂM SINH Nam XÁC NHẬN TRẠM Y TẾ Nội dung GHI CHÚ Nữ …………………., Ngày….tháng…...năm 201 CỘNG TÁC VIÊN PHỤ LỤC 7 TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN…………………………….. TRẠM Y TẾ……………………………. SỔ TƯ VẤN TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE PHÒNG CHỐNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG - ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TẠI TRẠM Y TẾ THỜI GIAN TỪ ………..…ĐẾN ……………….. Tháng ……Năm 201… ST T HỌ TÊN NGƯỜI ĐƯỢC TƯ VẤN BỆNH TĐTĐ ĐTĐ XÁC NHẬN TRẠM Y TẾ NỘI DUNG TƯ VẤN NGÀY TƯ VẤN CHỬ KÝ …………………., Ngày….tháng…...năm 201…… CỘNG TÁC VIÊN PHỤ LỤC 8 BÁO CÁO KẾT QUẢ TƯ VẤN HỘ GIA ĐÌNH PHÒNG CHỐNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Tháng …..Năm 201… Stt Hoạt động can thiệp CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG Tư vấn nên giảm ăn đường, thức ăn ngọt, nhiều tinh 1 bột - Khi nấu ăn + Giảm dùng đường + Ngưng không dùng + Vẫn dùng như trước + Dùng nhiều hơn - Ăn vặt thức ăn ngọt + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn - Cơm, xôi, khoai lang, khoai mì, khoai tây, bắp,... + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn - Thức uống ngọt có đường + Giảm + Uống không đường + Vẫn uống như trước + Uống nhiều hơn Số hộ Số Số Số được hộ người/ người tư thực hộ ³ 45 thực vấn hiện tuổi hiện 2 Tư vấn nên giảm ăn mỡ, nhiều chất béo - Khi nấu ăn + Giảm dùng mỡ + Ngưng không dùng + Vẫn dùng như trước + Dùng nhiều hơn - Ăn vặt thức ăn béo, chiên + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn - Trong bữa ăn chính + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn 3 Tư vấn nên ăn cá nhiều hơn ăn thịt + Ăn nhiều hơn + Không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn ít hơn 4 Tư vấn nên ăn nhiều rau, trái cây ( ít ngọt) - Bửa ăn chính + Ăn nhiều rau hơn + Không ăn rau + Vẫn ăn như trước + Ăn ít hơn - Ăn trái cây ( ít đường) + Ăn nhiều hơn + Không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn ít hơn 5 Tư vấn không nên ăn đêm sau 20 giờ + Giảm ăn đêm + Không ăn đêm + Vẫn dùng như trước + Ăn đêm nhiều hơn 6 Tư vấn hạn chế rượu, bia + Giảm uống + Không uống + Vẫn dùng như trước + Uống nhiều hơn HÚT THUỐC LÁ 7 Tư vấn giảm thuốc lá + Giảm + Không hút + Vẫn dùng như trước + Hút nhiều hơn VẬN ĐỘNG THỂ LỰC 8 Đi bộ, chạy xe đạp + Đi nhiều hơn + Vẫn như trước + Thời gian đi 9 - 30 phút/ ngày - < 30 phút/ ngày - 5 ngày/ tuần - < 5 ngày/ tuần Lao động chân tay + Nhiều hơn + Không lao động + Vẫn như trước + Thời gian lao động 10 - 30 phút/ ngày - < 30 phút/ ngày - 5 ngày/ tuần - < 5 ngày/ tuần Tư vấn nên tập thể dục + Nhiều hơn + Không tập thể dục + Vẫn như trước + Thời gian 11 - 30 phút/ ngày - < 30 phút/ ngày - 5 ngày/ tuần - < 5 ngày/ tuần Tư vấn nên giảm cân + Giảm + Không giảm + Tăng cân Ngày …..Tháng …… Năm 201… TRẠM Y TẾ / THỊ TRẤN CỘNG TÁC VIÊN PHỤ LỤC 9 BÁO CÁO KẾT QUẢ TƯ VẤN ĐỐI TƯỢNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI TRẠM Y TẾ Tháng ... năm 201… Số hộ Số Số Số được hộ người/ người Stt Hoạt động can thiệp tư thực hộ ³ 45 thực vấn hiện tuổi hiện CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG Tư vấn nên giảm ăn đường, thức ăn ngọt, nhiều tinh bột 1 - Khi nấu ăn + Giảm dùng đường + Ngưng không dùng + Vẫn dùng như trước + Dùng nhiều hơn - Ăn vặt thức ăn ngọt + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn - Cơm, xôi, khoai lang, khoai mì, khoai tây, bắp,... + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn - Thức uống ngọt có đường + Giảm + Uống không đường + Vẫn uống như trước + Uống nhiều hơn Tư vấn nên giảm ăn mỡ, nhiều chất béo 2 - Khi nấu ăn + Giảm dùng mỡ + Ngưng không dùng + Vẫn dùng như trước + Dùng nhiều hơn 3 4 5 6 - Ăn vặt thức ăn béo, chiên + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn - Trong bữa ăn chính + Giảm + Ngưng, không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn nhiều hơn Tư vấn nên ăn cá nhiều hơn ăn thịt + Ăn nhiều hơn + Không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn ít hơn Tư vấn nên ăn nhiều rau, trái cây ( ít ngọt) - Bửa ăn chính + Ăn nhiều rau hơn + Không ăn rau + Vẫn ăn như trước + Ăn ít hơn - Ăn trái cây ( ít đường) + Ăn nhiều hơn + Không ăn + Vẫn ăn như trước + Ăn ít hơn Tư vấn không nên ăn đêm sau 20 giờ + Giảm ăn đêm + Không ăn đêm + Vẫn dùng như trước + Ăn đêm nhiều hơn Tư vấn hạn chế rượu, bia + Giảm uống + Không uống + Vẫn dùng như trước + Uống nhiều hơn HÚT THUỐC LÁ Tư vấn giảm thuốc lá 7 + Giảm + Không hút + Vẫn dùng như trước + Hút nhiều hơn VẬN ĐỘNG THỂ LỰC Đi bộ, chạy xe đạp 8 + Đi nhiều hơn + Vẫn như trước + Thời gian đi 9 10 30 phút/ ngày < 30 phút/ ngày 5 ngày/ tuần < 5 ngày/ tuần Lao động chân tay + Nhiều hơn + Không lao động + Vẫn như trước + Thời gian lao động 30 phút/ ngày < 30 phút/ ngày 5 ngày/ tuần < 5 ngày/ tuần Tư vấn nên tập thể dục + Nhiều hơn + Không tập thể dục + Vẫn như trước + Thời gian 30 phút/ ngày < 30 phút/ ngày 5 ngày/ tuần < 5 ngày/ tuần ĐỐI TƯỢNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, BÉO PHÌ 11 Tư vấn nên giảm cân + Giảm + Không giảm + Tăng cân 12 Tư vấn nên kiểm tra đường huyết 3 tháng/ lần - Có thực hiện - Không thực hiện - Sẽ thực hiện khi đến tháng 13 Tư vấn nên đi kiểm tra huyết áp mỗi tháng/ lần - Có thực hiện - Không thực hiện - Sẽ thực hiện khi đến tháng ĐỐI TƯỢNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 14 Tư vấn nên đi kiểm tra đường huyết mỗi tháng/ lần - Có thực hiện - Không thực hiện - Sẽ thực hiện khi đến tháng 15 Tư vấn nên đi kiểm tra HbA1c mỗi 03 tháng/ lần - Có thực hiện - Không thực hiện - Sẽ thực hiện khi đến tháng 16 Tư vấn nên đi kiểm tra huyết áp mỗi tháng/ lần - Có thực hiện - Không thực hiện - Sẽ thực hiện khi đến tháng 17 Tư vấn nên uống thuốc điều trị theo toa - Có thực hiện - Không thực hiện - Sẽ thực hiện khi đến tháng TRẠM Y TẾ XÃ / THỊ TRẤN Ngày ... Tháng ... Năm 201… CỘNG TÁC VIÊN PHỤ LỤC 10 DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU DANH SÁCH NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TỪ 45 TRỞ LÊN ĐƯỢC CHỌN VÀO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG BỆNH TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP NĂM 2011 - 2013 STT HỌ TÊN NĂM SINH NAM NỮ Xác nhận trạm y tê ĐỊA CHỈ TRÌNH ĐỘ NGHỀ NGHIỆP GHI CHÚ Người điều tra
- Xem thêm -