Tài liệu Thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người ở Việt Nam hiện nay

  • Số trang: 175 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 561 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2017 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Mã số: 62 22 03 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN MINH HOÀN HÀ NỘI - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả Bùi Thị Phương Thùy MỤC LỤC MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người 1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người 1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát huy vai trò của thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người 1.4. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan và định hướng nghiên cứu của luận án Chương 2: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 2.1. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội 2.2. Phát triển con người 2.3. Vai trò của thực hiện công bằng xã hội đối với phát triển con người Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 3.1. Những thành tựu của thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 3.2. Những hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội đối với việc phát triển con người ở Việt Nam hiện nay Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để thực hiện tốt công bằng xã hội, phát triển con người 4.2. Hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội trong việc thực hiện công bằng xã hội đối với phát triển con người 4.3. Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị trong việc thực hiện công bằng xã hội, phát triển con người 4.4. Nâng cao nhận thức của người dân trong việc thực hiện công bằng xã hội cho phát triển con người KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Trang 1 5 5 17 23 26 29 29 47 61 74 74 93 116 116 120 134 144 149 151 153 165 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BHYT : Bảo hiểm y tế CBXH : Công bằng xã hội CNXH : Chủ nghĩa xã hội PTCN : Phát triển con người TLSX : Tư liệu sản xuất UNDP : Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc XHCN : Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lịch sử loài người là lịch sử các nền văn minh, văn hoá gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển con người (PTCN). Khái niệm PTCN đã được sử dụng từ lâu trong các ngôn ngữ khác nhau như một thuật ngữ thông dụng. Hơn 150 năm trước, khi khẳng định tiến trình lịch sử của loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, C.Mác đã nói tới sự phát triển toàn diện con người là thước đo chung cho sự phát triển kinh tế xã hội. Phấn đấu vì sự nghiệp PTCN đã trở thành mục tiêu chung của các Đảng Cộng sản trong quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vấn đề ở chỗ, mặc dù coi con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội và PTCN thường được nhiều quốc gia ưu tiên hàng đầu khi hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, nhưng trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng làm được điều này. Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những cơ hội to lớn cho các nước đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với các quá trình xã hội. Trên thế giới, người ta cũng đã đề cập nhiều đến sự phát triển không đồng đều giữa kinh tế và xã hội, giữa các vùng, khu vực, sự gia tăng của nạn nghèo khổ trong nhiều dân tộc, quốc gia, sự xa cách giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân v.v.. Một điều có thể khẳng định là, sự chênh lệch lớn giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền đã làm mất cơ hội phát triển của nhiều nhóm người, nhiều cộng đồng và chính điều này là nguyên nhân sâu xa của những vấn đề xã hội và sẽ làm tăng thêm gánh nặng của quốc gia, cộng đồng trong tương lai. Do đó, PTCN bền vững luôn đi liền với công bằng xã hội (CBXH). Ở Việt Nam, xuyên suốt lịch sử, con người luôn hiện ra như một giá trị nhân văn cao cả nhất. PTCN toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt trong mọi chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Để có thể PTCN toàn diện, mọi chủ trương, chính sách của 2 Đảng và Nhà nước ta đều hướng tới chăm lo đến tất cả các mặt liên quan đến đời sống con người: Từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần; từ vấn đề kinh tế đến vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội, trên cơ sở công bằng, bình đẳng: Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội [35, tr.13]. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta không những đề ra nội dung, phương thức thực hiện CBXH hội trên các mặt của đời sống xã hội, mà còn chỉ ra những điều kiện để thực hiện CBXH: “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ" [42, tr.101]. Quá trình thực hiện CBXH ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan góp phần quan trọng vào CBXH Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, sự chênh lệch về PTCN giữa các địa phương, dân tộc, tầng lớp xã hội, vấn đề đói nghèo, việc làm, v.v.. đang là một thách thức cho PTCN bền vững ở nước ta hiện nay. Để đạt được sự PTCN bền vững cần phải có sự phân bổ công bằng các giá trị do tăng trưởng mang lại, tạo cơ hội cho nhóm người thiệt thòi vươn lên. Muốn vậy, Nhà nước phải có những chính sách xã hội phù hợp, phải tạo dựng được bộ máy và các nguyên tắc làm việc minh bạch, làm công cụ để quản lý, tổ chức việc thực hiện CBXH. Cùng với đó, sự tham gia của người dân vào việc ban hành các quyết định và giám sát việc thực thi các quyết định đó là một đảm bảo cho chính sách PTCN được thực thi vì lợi ích người dân, hướng vào nhu cầu của người dân. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên đây, đồng thời, xét trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, đến nay, ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề thực hiện CBXH với việc PTCN dưới góc độ triết 3 học. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích của luận án Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN, luận án phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt CBXH nhằm PTCN ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ của luận án - Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án - Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về CBXH, thực hiện CBXH, PTCN và vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN. - Phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam từ đổi mới đến nay. - Đề xuất các giải pháp giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN ở nước ta hiện nay 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN ở Việt Nam dưới góc độ triết học. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cở sở lý luận Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về CBXH; đồng thời, luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu có giá trị của các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan. 4 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận án vận dụng tổng hợp các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử lôgic, so sánh, phân tích - tổng hợp v.v.. để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra. 5. Đóng góp mới của luận án - Luận án đã tiếp cận khái niệm CBXH, thực hiện CBXH dưới góc độ PTCN, chỉ ra và làm rõ những nội dung của thực hiện CBXH với việc PTCN. - Luận án đã đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện CBXH vì mục tiêu PTCN ở Việt Nam hiện nay. 6. Ý nghĩa của luận án Luận án có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu lý luận về CBXH, thực hiện CBXH và PTCN ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập triết học và các ngành khoa học xã hội nhân văn. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp người làm công tác quản lý xã hội xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo thực hiện CBXH, PTCN. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 13 tiết. 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 1.1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội * Các công trình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, vấn đề CBXH được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài luận án chủ yếu tập trung luận giải cơ sở lý thuyết của CBXH. Mặc dù, xuất phát từ những quan điểm, lập trường triết học khác nhau, song tất cả đều cho rằng, công bằng là một trong những phẩm hạnh của con người và CBXH là một trong những cái đích mà con người phải phấn đấu vươn tới bên cạnh những cái đích khác như tự do, dân chủ. Ngày nay, trên thế giới, người ta coi CBXH là một trong những đối tượng nghiên cứu của triết học chính trị, triết học xã hội liên quan đến các vấn đề quản lý và phát triển xã hội. Tác giả luận án chỉ điểm qua một số công trình cơ bản nhất có liên quan đến đề tài luận án. Trước hết, phải kể đến tác phẩm mang tính nền tảng về vấn đề này trong lịch sử triết học đó là Bàn về khế ước xã hội [129] của J.J Rousseau. Tư tưởng xuyên suốt trong tác phẩm là tự do, bình đẳng và sự cảm thông sâu sắc với thân phận con người. Theo J.J Rousseau, nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng trong xã hội do chế độ tư hữu và những lầm lạc của con người. Ông phê phán mạnh mẽ những người cam chịu, không dám đấu tranh, từ bỏ tự do của mình, bởi “Từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người” [126, tr.59]. J.J Rousseau đưa ra biện pháp để thiết lập tự do, bình đẳng giữa người với người đó là nhà nước phải được tổ chức cai trị bằng một khế ước xã hội, trong đó, mọi thành viên kết hợp với nhau thành một lực lượng chung, được điều khiển bằng một động cơ chung, một ý chí chung. Tư tưởng tiến bộ của J.J Rousseau đã góp phần đánh thức tinh thần đấu tranh vì tự do, bình đẳng của con người trong cách mạng tư sản Pháp 1789, đồng thời chứa đựng những luận điểm mà nhiều tác giả sau này bàn về CBXH đã tham khảo. 6 Tư tưởng về CBXH của J.J Rousseau đã được nhà triết học Mỹ J.Rawls tiếp nối và phát triển trong tác phẩm A theory of Justice [165]. J.Rawls đã đưa ra một quan niệm mới về CBXH: công lý như là công bằng và coi đây là khái niệm trung tâm trong cuốn sách. Theo ông, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng tham dự vào hợp tác xã hội để làm sao cho mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ. Vì thế, nếu thể chế của một xã hội là căn cứ để xác định được một nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp với lợi ích của mỗi cá nhân thì thể chế xã hội ấy là công bằng. Ông cho rằng, công bằng hay không công bằng trong một thể chế xã hội không phải khác nhau về xuất phát điểm của mỗi cá nhân mà chủ yếu ở chỗ, khi tham gia vào hợp tác xã hội, cho dù có sự bất bình đẳng do những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội nhưng có sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã hội chung thì đó vẫn là công bằng. Quan niệm của J.Rawls về CBXH đã thể hiện những cố gắng của ông trong việc đưa ra một cách nhìn mới về CBXH. Cũng với mục đích tìm ra các nguyên tắc để thực hiện CBXH, David Miller với cuốn sách Principles of social justice [161], cho rằng, CBXH là một phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của nó phải gắn liền với các điều kiện khác nhau của các cộng đồng xã hội khác nhau. Tác giả đã đưa ra ba thành phần chính trong hệ thống các nguyên tắc của CBXH cần phải được thực hiện và đảm bảo, đó là: công lao, nhu cầu và sự bình đẳng của con người. Cuốn sách làm rõ những cơ sở, điều kiện cũng như những khó khăn, thách thức nhằm thực hiện những nguyên tắc của CBXH trong thời đại ngày nay. Nếu J.Rawls tìm kiếm sự công bằng hoàn hảo thông qua việc xây dựng các định chế hoàn hảo thì A.Sen với cuốn sách The idea of justice [160] tiếp cận công bằng dựa trên bản thân cuộc sống, trên hiện thực hóa xã hội và tìm cách giảm bớt những bất công. A.Sen cho rằng, phải kiểm nghiệm lâu dài những tình trạng xã hội phát sinh trong thực tế để có thể so sánh những gì đã xảy ra rồi tìm những tiêu chuẩn công bằng, thay vì đề ra một lý thuyết chung. Theo A.Sen, điều quan trọng trong việc đạt đến công bằng là làm thế nào để xóa bỏ mọi chướng ngại cho cá nhân trong việc thực hiện tự do để mưu cầu hạnh phúc. Nỗ lực tối đa của cá nhân trong thể hiện tự do là chủ yếu, nhưng môi trường xã hội phù hợp cũng góp phần cho sự thành đạt. Cuốn sách của A.Sen giúp chúng ta hiểu đúng các vấn đề về công bằng, dân chủ trong mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn thế giới. 7 Cũng liên quan đến đề tài luận án phải kể đến cuốn sách Social work and social policy: advancing the principles of economic and social justice [162] của các tác giả Ira C.Colby, Catherine, Karen M.Sowers. Các giả đã coi công tác xã hội và chính sách phúc lợi xã hội toàn cầu như một nội dung chủ yếu để thực thi CBXH hiện nay, còn nhà nước như một công cụ quản lý và điều tiết chủ yếu nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội để thực thi công bằng và bình đẳng. Hiện nay, xã hội châu Á đang đứng trước những thách thức cơ bản trong việc thực thi CBXH: sự cọ sát giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong việc tìm kiếm những giải pháp thực thi CBXH trong nền kinh tế thị trường, tính thiếu đồng bộ trong thể chế chính trị, pháp lý và hệ thống chính sách xã hội... Cuốn sách cũng đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện CBXH. Trên cơ sở khái quát lại các các tư tưởng về CBXH trong lịch sử, Báo cáo phát triển thế giới 2006: Công bằng và phát triển [117] của Ngân hàng Thế giới tập trung vào một số vấn đề như: Bất bình đẳng trong từng nước và giữa các nước; ý nghĩa quan trọng của công bằng; mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị như là không gian cho bình đẳng. Công bằng được hiểu là công bằng trong các cơ hội. Báo cáo nhấn mạnh, cơ hội đồng đều tức là sự thành đạt của một người phải do các nỗ lực, chọn lựa và tài năng của người ấy, chứ không do những hoàn cảnh có sẵn trước đó như chủng tộc, giới tính, nhóm xã hội, gốc gác gia đình và sinh quán của họ. Bên cạnh đó còn có các tác phẩm tiêu biểu khác liên quan đến vấn đề CBXH như: Justice and the politics of difference [163] của Iric Masion Young; A Metastructural Reinterpretation of the Rawlsian Theory: From Rawls to Machiavelli [164] của Jacques Bidet; bài “Distributive Justice” [166], v.v.. Trong khuôn khổ đề tài luận án, những nghiên cứu nêu ra ở đây không thể bao quát hết các công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới. Vấn CBXH và thực hiện CBXH được các tác giả nghiên cứu và luận giải chủ yếu dưới góc độ kinh tế, chính trị, liên quan đến nhiều vấn đề: tự do, bình đẳng, dân chủ, đoàn kết v.v.. Về cơ bản, các nghiên cứu chủ yếu tập trung luận giải cơ sở xã hội, cơ sở nhận thức của con người về CBXH; những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện CBXH trong thời đại ngày nay. Đồng thời, cũng tùy thuộc vào bối cảnh xã hội của mỗi quốc gia mà các nghiên cứu này gợi ý những phương án thực thi CBXH cụ thể. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu phục vụ tác giả luận án trong công tác nghiên cứu và tìm kiếm những giải pháp thực hiện CBXH. 8 * Các công trình nghiên cứu trong nước Về khái niệm công bằng xã hội Xung quanh khái niệm CBXH, có các công trình tiêu biểu: Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội [60]; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội [49]; Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay [147]; Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [71]; Triết học kinh tế trong “Lí thuyết về công lý” của nhà triết học Mỹ John Rawls [121] v.v;.., các bài báo, tạp chí: “Tư tưởng của C.Mác về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội” [135]; “Về vấn đề bình đẳng và công bằng xã hội” [154]; “Quan điểm của chủ nghĩa Mác về công bằng xã hội với tư cách thước đo trình độ giải phóng con người” [69], “Về khái niệm “công bằng xã hội” [112], v.v.. Các công trình đã cho chúng ta thấy được những quan niệm khác nhau về CBXH trong lịch sử triết học Đông và phương Tây cũng như các quan niệm hiện đại về CBXH, đặc trưng, bản chất và nội dung của CBXH. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, CBXH là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội không phải về mọi phương diện mà chủ yếu về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau [112, tr.8]. Công bằng xã hội ngoài nội dung phân phối theo lao động như đã đề cập ở trên, trong cuốn sách Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay [147], các tác giả bổ sung thêm nội dung phân phối thông qua phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và phải phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc. Theo đó, CBXH Là một khái niệm khoa học có tính chất tổng hòa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa... dùng để chỉ sự ngang bằng giữa người và người theo nguyên tắc phân phối lợi ích phù hợp giữa cống hiến và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi, thưởng và phạt… đồng thời còn thông qua phúc lợi xã hội và an sinh xã hội (cả về vật chất và tinh thần), CBXH “vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính đạo lý, phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc; là động lực của sự tiến bộ xã hội [147, tr.349]. Tiếp cận CBXH trên cơ sở nhấn mạnh hệ giá trị, tác giả Bùi Đại Dũng và Phạm Thu Phương [28] cho rằng, CBXH là tình trạng mà mọi quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên xã hội có và được thực hiện phù hợp với các giá trị xã hội 9 để khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân cho xã hội trong lâu dài. Đa phần các nhà khoa học đều khẳng định, CBXH là phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, có thể được xem xét ở nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức v.v... trong đó kinh tế là phương diện cơ bản nhất. Các tác giả cũng phân biệt rất rõ hai khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội. Về khái niệm thực hiện công bằng xã hội Có nhiều công trình nghiên cứu về thực hiện CBXH, tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung phân tích những kết quả và thực trạng việc thực hiện CBXH, còn vấn đề lý luận thực hiện CBXH gần như chưa có công trình nào đề cập đến. Trong cuốn sách Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay [147], các tác giả đã đưa ra những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản trong việc nhận thức và thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay: Nguyên tắc khách quan, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nguyên tắc toàn diện. Tiền đề để thực hiện CBXH là sự tiếp cận bình đẳng của mọi người với các điều kiện và nguồn lợi phát triển, và phụ thuộc vào trách nhiệm xã hội của quản lý Nhà nước trong việc điều hòa lợi ích xã hội theo hướng công bằng. Các tác giả cũng chỉ ra hai nội dung cơ bản của việc thực hiện CBXH: Phân phối công bằng và bình đẳng về cơ hội. Nghiên cứu thực hiện CBXH trong nền kinh tế thị trường, các tác giả của cuốn sách Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội [60] đã chỉ ra rằng, trong giới hạn của kinh tế thị trường đã bao hàm việc thực hiện CBXH, tuy nhiên, nó không thể thực hiện triệt để, rộng khắp và toàn diện. Thực hiện CBXH theo tác giả phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phân phối, ngoài việc phân phối theo cống hiến cần phân phối công bằng các nguồn lực phát triển cho các vùng, miền, ngành, nghề; thực hiện công bằng trong việc phân phối các thành quả của sự phát triển xã hội trên các phương diện như giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở, v.v.. nhằm đảm bảo cho mọi người có được cơ hội và điều kiện sống, lao động bình đẳng. Các tác giả cho rằng, việc thực hiện CBXH phải được tiến hành ngay trong mỗi bước phát triển, song song với tăng trưởng kinh tế. Ở đây, Nhà nước đóng vai trò điều tiết thu nhập, đảm bảo thực hiện CBXH. Đi sâu vào khía cạnh kinh tế, trong cuốn sách Thực hiện công bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay [78], các tác giả đã phân 10 tích, làm rõ nội dung của thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế bao gồm hai nội dung chủ yếu: Bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về cơ hội phát triển và bình đẳng trong phân chia lợi ích giữa các thành phần kinh tế. Thực chất của thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế là thực hiện hài hòa lợi ích giữa các thành phần kinh tế nói chung và các chủ thể kinh tế nói riêng thông qua hệ thống các chính sách và các cơ chế, hiện thực hóa các chính sách kinh tế - xã hội với các nội dung chính là đảm bảo sự bình đẳng về quyền tiếp cận các nguồn lực, quyền tham gia vào hoạt động kinh tế và quyền được chia sẻ (được phân phối công bằng) các thành quả của phát triển giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo động lực cho phát triển, góp phần ổn định xã hội. Ở đây, Nhà nước và thể chế với tư cách là những nhân tố đảm bảo cho thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế. Bàn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH có thể kể đến các công trình: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam [88]; Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp [115]; các bài viết: “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong trong xu thế hội nhập hiện nay” [89]; “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [110], “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [111],... Các tác giả đã đã nêu bật mối quan hệ khăng khít, hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH, coi đó là những mục tiêu không thể tách rời của sự phát triển bền vững xã hội ngày nay. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về công CBXH và thực hiện CBXH phong phú, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều thống nhất ở quan điểm coi CBXH là một giá trị định hướng con người sinh sống và phát triển, thực hiện CBXH là mục tiêu của các nhà nước dân chủ và tiến bộ. Thực hiện CBXH được thể hiện tập trung ở hai nội dung chính là đảm bảo công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội. Nhìn chung, ở nước ta hiện nay, các công trình chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ thực hiện CBXH trong phân phối. Những công trình trên sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tiếp thu, bổ sung và phát trển trong nghiên cứu của mình. 11 1.1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về phát triển con người và thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người Quan điểm PTCN từ lâu đã được biết đến như là một quan điểm triết học cơ bản, đặc biệt là trong triết học Mác và tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh. Đây cũng là nội dung xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Xung quanh vấn đề PTCN ở nước ta hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, sau đây là một số các công trình tiêu biểu. Cuốn sách Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen [125] đã tập trung nghiên cứu để tiếp tục làm sáng tỏ cơ sở lý luận đối với PTCN ở Việt Nam. Phần thứ nhất của cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống những luận điểm về con người và PTCN của C.Mác và Ph.Ăngghen: Con người là gì, bản chất con người, vấn đề giải phóng con người, đặc biệt những tư tưởng về con người tự nhiên, con người cá nhân, con người cá thể, những tư tưởng ở thời “Mác trẻ” - giai đoạn mà lâu nay ta ít khai thác. Tương ứng với các luận điểm đó là các trích dẫn tư tưởng của các ông đã đưa độc giả đi từ bao quát đến cụ thể để có thể nắm bắt vấn đề tốt hơn cũng như hiểu sâu hơn tư tưởng của các nhà kinh điển về vấn đề này. Phần thứ hai gồm bài viết của các tác giả khai thác di sản kinh điển theo cách nhìn từ thời đại ngày nay, ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với nhận thức và PTCN. Cuốn sách là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận phục vụ nghiên cứu vấn đề PTCN. Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng về PTCN của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh về PTCN là hệ thống những quan điểm sâu sắc, đã trở thành cơ sở lý luận đối với việc nghiên cứu con người ở Việt Nam trong những năm qua. Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người Việt Nam toàn diện [20], đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận, những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về PTCN toàn diện. PTCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phải tập trung phát triển tất cả các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể đó: Thể lực, trí tuệ, năng lực thẩm mỹ, đạo đức. Tác giả cũng trình bày quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa trong quá trình hình thành và PTCN, con đường hình thành và PTCN toàn diện. Theo tác giả, ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đang được đẩy mạnh, những biến chuyển trên thế giới ngày càng nhanh chóng và phức tạp, những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội ngày càng 12 nhiều, đòi hỏi con người phải sáng suốt, linh hoạt, có bản lĩnh để vượt qua thì việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về PTCN toàn diện trở thành nhiệm vụ cấp bách trong công tác chính trị, tư tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Ở Việt Nam, quan điểm PTCN được nghiên cứu một cách có hệ thống trong các công trình của tác giả Phạm Minh Hạc, chủ nhiệm của ba chương trình quốc gia “Con người - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã hội” (1991 - 1995); “Phát triển văn hóa, xây dựng con người toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996 - 200); “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001-2005). Tác giả cũng đã xuất bản nhiều cuốn sách liên quan đến PTCN, trong đó phải kể đến ba cuốn sách: Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [55], Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa [56], Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [57]. Theo tác giả, phát triển toàn diện con người là “khắc phục tình trạng tha hóa, phát triển toàn diện, hài hòa, cân đối trí lực và thể lực, đức và tài, phát triển cá tính và sự phong phú của con người, phát triển một cách tự do, đầy đủ và làm chủ, thích ứng với sự di động chức năng xã hội của con người” [57, tr.33]. Tác giả khẳng định vai trò của CBXH đối với việc PTCN. CBXH tạo ra động lực mạnh mẽ cho hoạt động của con người. Giải quyết vấn đề phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo chính là thực hiện CBXH vì mục tiêu PTCN. Cùng chủ đề này chúng ta còn phải kể đến các công trình nghiên cứu Về vấn đề xây dựng con người mới [24]; Tư tưởng triết học về con người [137]; Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện [31]; các bài viết của tác giả Đặng Hữu Toàn: “Phát triển vì con người trong quan niệm của Mác và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta hiện nay” [140]; “Phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là mục tiêu, động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [141]; “Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc” [142]; “Phát triển con người - thước đo nhân văn của tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay và trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam” [143] đã cung cấp cho tác giả luận án cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu con người và PTCN. 13 Ngoài những công trình nghiên cứu PTCN theo quan điểm mácxít trong những năm gần đây xuất hiện cách tiếp cận mới theo phương pháp lượng hóa PTCN, trong đó phải kể đến: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi mới và sự nghiệp phát triển con người ở Việt Nam [153]; Báo cáo phát triển con người Việt Nam 1999 - 2004: Những thay đổi và xu hướng chủ yếu [155]; Phát triển con người Việt Nam năm 2011 [149]; Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm - Tăng trưởng vì mọi người [150]. Báo cáo Phát triển con người Việt Nam năm 2011 đã xem xét những thách thức mà nhiều người Việt Nam đang phải đối mặt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Báo cáo cho thấy, gia tăng bất bình đẳng về kinh tế đi kèm với sự chênh lệch dai dẳng trong các chỉ tiêu về giáo dục và y tế cơ bản như thế nào. Báo cáo kết luận, nếu Việt Nam muốn tiếp tục đạt được mức PTCN cao hơn thì việc đảm bảo tiếp cận toàn dân và công bằng đối với dịch vụ y tế và giáo dục là vô cùng cần thiết. Còn Báo cáo Phát triển con người Việt Nam năm 2015 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của an sinh xã hội trong việc thúc đẩy tính công bằng, hiệu quả và sức chống chịu, đồng thời đưa ra đánh giá cơ bản về hệ thống này của Việt Nam. Hướng đến tương lai, Báo cáo tập trung khuyến nghị các chính sách thiết thực để mở rộng việc làm có năng suất, cải thiện hiệu quả và nâng cao tính công bằng của hệ thống giáo dục và y tế cũng như gia tăng diện bao phủ của hệ thống an sinh xã hội. Các phân tích trong Báo cáo cung cấp một cơ hội để cân nhắc xem làm thế nào xây dựng được một mô hình phát triển công bằng và toàn diện, có thể mở rộng các lựa chọn và tạo ra cơ hội cho mọi người. Bên cạnh báo cáo phát triển con người cấp quốc gia, nhiều tỉnh thành ở nước ta trong thời gian vừa qua cũng đã triển khai thực hiện nghiên cứu và tính toán chỉ số PTCN cấp địa phương, một số đã được xuất bản thành sách: Con người và phát triển con người ở Hòa Bình - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [158]; Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta [119]. Cũng có một số công trình đi vào nghiên cứu các khía cạnh xã hội khác nhau về PTCN (chính trị, y tế, giáo dục, văn hóa, chính sách xóa đói, giảm nghèo), từ đó đề ra những giải pháp cụ thể nhằm phục vụ các yêu cầu về phát triển con người: Dân chủ và phát triển con người [118]; Dân chủ tham gia với phát triển con người [139]; Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam [11]; Thực trạng phát triển con người Việt Nam về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ [83]; Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu [13], Chỉ số phát triển 14 giáo dục trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu [15] v.v... Các công trình đã cho thấy vai trò của kinh tế, chính trị, xã hội đối với PTCN, chỉ ra những vấn đề cần quan tâm trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa cho người nghèo ở Việt Nam. Mở rộng cơ hội tiếp cận ở đây cũng chính là góp phần thực hiện CBXH, PTCN. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề PTCN rất phong phú, đa dạng, tiếp cận dưới nhiều góc độ. PTCN bị quy định bởi nhiều yếu tố trong đó có CBXH. Các nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra được vai trò của việc thực hiện CBXH đối với việc PTCN. Đi sâu hơn vào vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN gần như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Theo chúng tôi được biết duy nhất có bài viết của tác giả Phạm Thành Nghị “Công bằng xã hội và phát triển con người bền vững” [49] đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa CBXH và PTCN. Vai trò của CBXH đối với PTCN được thể hiện qua các nội dung: thứ nhất, tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho phát triển năng lực thông qua các chính sách xã hội và chính sách kinh tế và các chương trình hướng tới sự hoàn thiện con người; thứ hai, sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực do tăng trưởng mang lại, tạo điều kiện để PTCN bền vững, liên quan đến xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế và chính sách xã hội; thứ ba, thông qua tăng cường sự bình đẳng về cơ hội tham gia; thứ tư: sự bình đẳng giữa các thế hệ. Tác giả khẳng định, bình đẳng tiếp cận và bình đẳng về cơ hội là các yếu tố cơ bản nhất tạo điều kiện cho PTCN bền vững. Đây là những gợi mở quan trọng để tác giả luận án có thể tiếp thu. Nhìn chung, vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN chủ yếu được đề cập gián tiếp thông qua vai trò của thực hiện CBXH với tiến bộ xã hội, với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự phát triển triển, do đó, phát triển kinh tế - xã hội cũng chính là để PTCN. Bàn về vai trò của thực hiện CBXH với tiến bộ xã hội, tác giả Nguyễn Minh Hoàn [71] cho rằng, vai trò của CBXH thể hiện ở 2 nội dung chính: là động lực của sự phát triển xã hội và là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội. Theo tác giả, động lực thúc đẩy con người hoạt động là lợi ích của chủ thể hoạt động. CBXH cũng là một nguyên tắc phân chia lợi ích, làm cho các thành viên tham gia vào quan hệ lợi ích không thấy bị thiệt thòi, hơn nữa còn kích thích họ 15 hoạt động một cách tích cực hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Với tư cách là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội, qua các hình thái kinh tế - xã hội đã có trong lịch sử, có thể thấy rõ mức bất công trong phân phối sản phẩm của lao động đã giảm dần và mức công bằng tăng dần. Tác giả Võ Thị Hoa và Nguyền Hồng Sơn [66] thông qua việc phân tích vai trò của thực hiện CBXH với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã chỉ ra vai trò của việc thực hiện CBXH với việc PTCN. Thực hiện CBXH trong kinh tế hướng tới đảm bảo lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân, tạo một không gian kinh tế lành mạnh, bình đẳng mà ở đó các chủ thể kinh tế được phát huy năng lực của mình, làm giàu cho cá nhân và xã hội. Dưới góc độ chính trị, thực hiện CBXH tạo điều kiện cho người lao động thực sự là chủ và làm chủ. Dưới góc độ văn hóa, xã hội, thực hiện CBXH đảm bảo cho các thành viên trong xã hội có quyền bình đẳng trong sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa - tinh thần, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội đảm bảo cho mọi tầng lớp xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục, y tế.... Thực hiện CBXH đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội không ngừng nâng cao mức sống và khẳng định mình, tạo sự đồng thận, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hà [53], CBXH là một nội dung quan trọng trong sự phát triển về mặt xã hội. Trong một xã hội có tình trạng bất công bằng, người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cực của mình, hơn nữa, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này không tránh khỏi bất ổn xã hội. CBXH luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam coi vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Để có được CBXH trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp mà Đảng ta đã đề ra. Để phát huy vai trò động lực của CBXH, theo tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện CBXH hiện đang còn tồn tại. Tiếp cận dưới góc độ vai trò của thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế, các tác giả cuốn sách Thực hiện công bằng đối với các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay [78] cho rằng, công bằng trong phân phối các nguồn lực xã hội sẽ thúc đẩy phát triển và làm lành mạnh hóa môi trường sản xuất kinh doanh. Phân phối công bằng tạo ra môi trường tương tác hài hòa giữa các chủ thể, tạo cho các chủ thể cơ hội phát triển ngang nhau và hưởng thụ sòng phẳng
- Xem thêm -