Tài liệu Thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi.

  • Số trang: 73 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 288 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ MINH LỘC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỂ DỤC THỂ THAO TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2018 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ MINH LỘC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỂ DỤC THỂ THAO TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VÕ XUÂN VINH HÀ NỘI, năm 2018 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nguồn nhân lực chất lượng cao là đòi hỏi tất yếu đối với tất cả các nước trong thời đại hội nhập khu vực và quốc tế. Do đó thực tiễn đòi hỏi nền giáo dục và toàn xã hội phải đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa của mỗi dân tộc cũng như của nền văn minh nhân loại. Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục đăng trên báo Cứu quốc (ngày 27/3/1946), Bác Hồ đã nêu rõ “Ngày ngày tập luyện thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ để giữ gìn dân chủ, xây dựng nhà nước, gây đời sống mới...”. Qua đó, ta thấy vai trò của TDTT rất quan trọng đối với quốc gia. Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 đã đề ra quan điểm phát triển TDTT của Đảng ta đến năm 2020: "Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân. Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác TDTT, bảo đảm cho sự nghiệp TDTT ngày càng phát triển." Đáp ứng yêu cầu trên, Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra những nhiệm vụ, bước đi cụ thể nhằm thể chế hóa quan điểm, 1 chủ trương của Đảng ta đối với sự nghiệp phát triển TDTT Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế trong 10 năm tới là cần thiết, góp phần tạo dựng đội ngũ nhân lực có đủ trí tuệ và sức lực đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đồng thời, xây dựng hướng tới 02 việc phát triển nền TDTT nước nhà để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp "Dân cường, Quốc thịnh", hội nhập và phát triển. Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã quán triệt, triển khai thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước về TDTT trên địa bàn tỉnh, qua đó, phong trào TDTT phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Hàng năm, các hoạt động thể dục thể thao quần chúng được tổ chức rộng khắp đến các xã, phường, thị trấn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo ở trong tỉnh. Bên cạnh các giải thể thao truyền thống được tổ chức như Giải Đua thuyền các xã ven biển huyện Bình Sơn, Giải Cờ tướng tại các huyện Tây Trà, Bình Sơn, Trà Bồng, Minh Long, Mộ Đức, Tư Nghĩa…Các giải thể thao khác cũng được tổ chức như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông... tiêu biểu như: Giải bóng chuyền truyền thống tại các huyện Nghĩa Hành, Bình Sơn, giải bóng chuyền huyện Ba Tơ, giải bóng đá Mini huyện Sơn Tây, giải bóng đá U14 thành phố Quảng Ngãi... Hiện toàn tỉnh đã tổ chức xong Đại hội Thể dục thể thao cấp xã, Đại hội thể dục thể thao cấp huyện và vào ngày 19/8/2018 tổ chức Đại hội TDTT cấp tỉnh. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện chính sách phát triển TDTT, vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế. Cơ sở vật chất (CSVC) tuy có đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nguyện vọng và yêu cầu tập luyện của quần chúng nhân dân nhất là ở cơ sở và cơ quan ban ngành (chỉ mới đầu tư cho Trung tâm TDTT các huyện, thành phố). Công tác phối hợp với các 2 ban ngành đoàn thể vẫn còn những hạn chế. Chính sách về chế độ đãi ngộ dành cho VĐV thể thao thành tích cao, có tài năng đặc biệt chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng “chảy máu” tài năng thể thao. Công tác quản lý đào tạo vẫn còn nhiều bất cập, làm thất thoát tài năng thể thao. Từ những thực tiễn trên học viên chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính sách công. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến TDTT ở Việt Nam nói chung và một số nội dung cụ thể của TDTT nói riêng không còn là vấn đề mới mẻ trong nghiên cứu khoa học về TDTT. Đã có một số công trình nghiên cứu về TDTT như: Luận văn Tiến sĩ: “Nghiên cứu giải pháp phát triển phong trào TDTT biển quần chúng ở miền Bắc Việt Nam” (2016) của Nguyễn Thị Thủy bàn về thể dục thể thao quần chúng, đặt biệt thể thể thao biển ở miền Bắc; qua đó, phân tích thực trạng phát triển phong trào TDTT biển quần chúng ở miền Bắc Việt Nam còn mang tính tự phát, thiếu sự quản lý và định hướng của Nhà nước, cũng như việc đầu tư cho phong trào TDTT biển quần chúng phát triển chưa được quan tâm đúng mức; trên cơ sở đó đề ra phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm phát triển phong trào TDTT biển quần chúng ở miền Bắc Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp phát triển phong trào TDTT Thành phố Phan Thiết – Tỉnh Bình Thuận” (2016) của Huỳnh Ngọc Tuấn nêu ra thực trạng phong trào TDTT quần chúng thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận. Luận văn đề xuất xây dựng và ứng dụng một số các giải pháp để nâng cao hiệu quả phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận qua 01 năm, sau đó đánh 3 giá hiệu quả việc ứng dụng 01 số giải pháp ngắn hạn trong định hướng phát triển thể dục thể thao quần chúng thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận sau 01 năm thực nghiệm. Luận văn Thạc sĩ “Phong trào TDTT trong một số Trường Đại học công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp quản lý của Nguyễn Phúc Nguyện (2006) nêu lên thực trạng của một số Trường Đại học trong việc phát triển TDTT và để ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng của việc phát triển TDTT của một số Trường Đại học của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Tác giả Vương Bích Thắng (2014) có bài viết“Phát triển thể dục thể thao Việt Nam trong tình hình mới” đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tác giả nêu ra quá trình hình thành và phát triển thể dục thể thao của Việt Nam, đánh giá kết quả, những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao Việt Nam sau Nghị quyết 08-NQ/TW được ban hành và nêu ra những giải pháp để phát triển thể dục thể thao Việt Nam trong tình hình mới. Các công trình nghiên cứu nói trên đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp nhằm phát phát triển một nội dung cụ thể của thể dục thể thao, tuy nhiên chưa có tài liệu nào nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển chính sách phát triển thể dục thể thao từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay. Do đó, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương phát triển chính sách về phát triển thể dục thể thao của tỉnh trong thời gian tới. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát 4 triển TDTT, luận văn đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển TDTT tại tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển TDTT trong thời gian tới ở tỉnh Quảng Ngãi. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn có 3 nhiệm vụ sau: - Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển TDTT. - Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển TDTT tại tỉnh Quảng Ngãi. - Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển TDTT tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển TDTT ở tỉnh Quảng Ngãi. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian nghiên cứu chính của luận văn là tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về chính sách phát triển thể thao nói chung ở Việt Nam, phạm vi không gian của đề tài bao gồm toàn bộ nước Việt Nam. Phạm vi thời gian chủ yếu của đề tài là 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2015 nhằm đánh giá kết quả đạt được và chưa đạt được để thấy rõ những thuận lợi, khó khăn của việc chưa ban hành chính sách và bước đầu tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển TDTT của tỉnh trong giai đoạn này. Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu định hướng thực hiện chính sách phát triển TDTT ở Quảng Ngãi đến năm 2025 là tìm ra nguyên nhân của kết quả để có các giải pháp định hướng phát triển chính sách phát triển TDTT của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến. 5 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách phát triển thể dục thể thao; các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi về thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao. Ngoài ra, luận văn sẽ vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội, trong đó cơ bản là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp liên ngành, đa ngành trong khoa học xã hội như chính sách công, xã hội học, chính trị học…với các phương pháp cụ thể như như phân tích, tổng hợp, so sánh 6. Ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận - Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn hiện nay. - Đề tài cung cấp những tư liệu thu thập được tại tỉnh Quảng Ngãi, qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Qua thực tiễn nghiên cứu thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao tại tỉnh Quảng Ngãi, luận văn sẽ chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho các Sở, ban, ngành, hội đoàn thể, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa 6 học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển Thể dục thể thao tại tỉnh Quảng Ngãi một cách hiệu quả hơn. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình, bảng và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 3 chương như sau: Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển TDTT. Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển TDTT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2005 - 2015. Chương 3. Mục tiêu, định hướng và giải pháp thực hiện chính sách phát triển TDTT tại tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025. 7 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỂ DỤC THỂ THAO 1.1. Một số khái niệm cơ bản Thể dục là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung. Nó có thể được thực hiện nhằm vài lý do khác nhau [35]. Thể thao là hình thức thi đấu đặc biệt chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận động thể lực nhằm phát huy khả năng chuyên biệt để đạt thành tích thể thao cao nhất [35]. Thể dục thể thao hay còn gọi là văn hóa thể chất là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể dục thể thao nhằm tăng cường thể chất và nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa, giáo dục và con người phát triển cân đối, hợp lý [35]. * Giáo dục thể chất (thể dục thể thao trường học): Giáo dục thể chất ở Việt Nam thường được gọi là thể dục thể thao trường học, nó là một bộ phận quan trọng cấu thành nên thể dục thể thao và cũng là một bộ phận quan trọng để cấu thành nên giáo dục ở trường học, đồng thời nó cũng là nền tảng của thể dục thể thao toàn dân. Thể dục thể thao trường học là một bộ phận của toàn bộ công tác giáo dục, là cơ sở phát triển nhân tài thể thao cho xã hội hiện đại [21]. * Thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang nhằm góp phần giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, giúp cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang nâng cao sức khỏe, tích cực học tập, rèn luyện thân thể phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 8 * Thể dục thể thao thành tích cao (thể thao thành tích cao): Thể dục thể thao thành tích cao được sinh ra trong thực tiễn của thể dục thể thao thao. Thể dục thể thao thành tích cao là sự phát huy, nâng cao giới hạn tìm lực tối đa của cá nhân và tập thể về hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, phẩm chất tâm lý, tố chức thể lực và kỹ chiến thuật để đạt thành tích xuất sắc của vận động viên để đạt được thành tích cao nhất trong thi đấu [21]. * Thể dục thể thao xã hội (thể dục thể thao quần chúng): Thể dục thể thao quần chúng bao gồm nhiều loại hình như thể dục thể thao giải trí, thẩm mỹ, thể dục thể hình, dưỡng sinh, thể dục thể thao trị liệu... Đối tượng của thể dục thể thao quần chúng là nhân dân, trong đó bao gồm có nam, nữ, già, trẻ, những người thương tật. Thể dục Thể thao quần chúng là một hoạt động tập luyện và vui chơi giải trí, thi đấu thể thao của các đối tượng nhân dân nhằm thỏa mãn nhu cầu giữ gìn sức khỏe, tăng cường thể chất và tinh thần của bản thân, tập luyện để thảo mãn như cầu của bản thân, bằng mọi phương tiện, bài tập, dưới mọi hình thức, ở mọi nơi, mọi lức, mọi hoàn cảnh [21]. Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế- xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước [6]. Điều 4, Luật TDTT năm 2006 quy định nội dung “Chính sách của Nhà nước về phát triển Thể dục, thể thao” như sau: - Phát triển sự nghiệp TDTT nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Tăng dần đầu tư ngân sách Nhà nước, dành quỹ đất và có chính 9 sách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TDTT, phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới. - Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp TDTT, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui chơi, giải trí của nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể thao công lập và tư nhân được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật. - Ưu tiên đầu tư phát triển TDTT ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. Với nhận thức trên đây, có thể xem chính sách phát triển TDTT là các quyết định của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề về phát triển TDTT nhằm đáp ứng những nhu cầu sống khỏe và sự phát triển toàn diện của con người. 1.2. Quan điểm, mục tiêu và nội dung của chính sách phát triển TDTT 1.2.1. Quan điểm chỉ đạo về chính sách phát triển TDTT Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng nền TDTT phát triển và tiến bộ, đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, bồi dưỡng và đào tạo tài năng thể thao gắn kết giữa các tuyến, các lớp kế cận, có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ 10 sở để phát triển thể thao phù hợp với trình độ phát triển KT - XH và truyền thống dân tộc, tăng cường hội nhập quốc tế, góp phần tích cực thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Ưu tiên đầu tư xây dựng CSVC TDTT và đào tạo vận động viên (VĐV) thể thao thành tích cao. Đồng thời, phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển TDTT. Đổi mới quản lý nhà nước về TDTT, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động TDTT. Giữ gìn, tôn vinh những giá trị TDTT dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển nền TDTT nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân văn và văn minh. [6]. 1.2.2. Mục tiêu của chính sách phát triển TDTT Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể lực của thanh niên. Phát triển mạnh TDTT, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao trong khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế. 1.2.3. Nội dung của chính sách phát triển TDTT Phát triển TDTT luôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Công tác TDTT, nâng cao sức khỏe cho nhân dân đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố Sắc lệnh số 38 thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, đánh dấu sự ra đời của nền TDTT cách mạng Việt Nam. Từ đó tới nay, dù gặp nhiều khó khăn nhưng TDTT nước ta vẫn liên tục có những bước 11 phát triển đáng ghi nhận, góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Chính sách của Nhà nước về phát triển thể dục, thể thao được quy định tại Luật Thể dục, Thể thao số 77/2006/QH11 của Quốc hội (2006) như sau: 1. Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng dần đầu tư ngân sách nhà nước, dành quỹ đất và có chính sách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao, phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới. 2. Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui chơi, giải trí của nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể thao công lập và tư nhân được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật. 3. Ưu tiên đầu tư phát triển thể dục, thể thao ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. - Ngoài ra, nội dung này còn được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định số 112/2007/NĐ-CP của Chính phủ như sau: 1. Ngân sách nhà nước chi cho thể dục, thể thao được bố trí tăng dần hàng năm; phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước và yêu cầu phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao. Việc lập dự toán, phân bổ và quản lý 12 Ngân sách nhà nước chi cho thể dục, thể thao được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách nhà nước. 2. Đất dành cho thể dục, thể thao: a) Quy hoạch đất dành cho thể dục, thể thao thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật về bình quân diện tích đất thể dục, thể thao trên đầu người tương ứng với từng khu vực, lãnh thổ cụ thể; b) Căn cứ vào điều kiện thực tiễn của từng địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho thể dục, thể thao trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Đất đai và pháp luật liên quan. 3. Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao; nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ thể dục, thể thao; thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai theo quy định của pháp luật có liên quan. 4. Ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư hỗ trợ phát triển thể dục, thể thao ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. a) Nội dung ưu tiên đầu tư: - Hỗ trợ tổ chức hoạt động thể dục, thể thao quần chúng; - Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên thể dục, thể thao; - Tuyên truyền, hướng dẫn tập luyện các môn thể thao; - Xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung tâm thể thao vùng hoặc khu vực; - Bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. b) Ủy ban Thể dục thể thao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định danh mục các môn thể thao dân tộc. - Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03/12/2010 Thủ tướng phê duyệt 13 Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020. Trong đó đặt ra mục tiêu của ngành TDTT Việt Nam là xây dựng và phát triển nền TDTT nước nhà, chú trọng đến các nội dung như TDTT quần chúng, giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao trong nhà trường, TDTT trong lực lượng vũ trang, thể thao thành tích cao và chuyên nghiệp, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển. - Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của ảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 cũng khẳng định: phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế. Quan điểm của Đảng ta luôn xác định việc đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước; việc giữ gìn, tôn vinh những giá trị TDTT dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại và phát triển nền TDTT nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân, văn minh, là những quan điểm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển. Với những quan điểm đó, Đảng, Nhà nước đã có những chính sách tăng tỷ lệ chi ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư xây dựng CSVC TDTT; đổi mới phương thức quản lý, phát huy mạnh mẽ chủ trương phân cấp, phân quyền và XHH trong quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động TDTT. Qua đó, sự nghiệp TDTT nước ta đã có những bước phát triển mới. Phong trào TDTT quần chúng ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức đa dạng, tích cực, góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần của 14 nhân dân, tiêu biểu là phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Những hoạt động TDTT của người cao tuổi, người khuyết tật cũng được quan tâm hơn, thể hiện qua các hội thi được tổ chức đều đặn hằng năm. Công tác GDTC trong nhà trường cũng có những chuyển biến tích cực cả về hình thức lẫn nội dung. Thể thao thành tích cao đạt được nhiều kết quả, một số môn đã vươn đến trình độ châu Á và thế giới. Hợp tác quốc tế về thể thao được tăng cường, vị thế của thể thao Việt Nam được nâng cao, nhất là ở khu vực Đông Nam Á. Nhiều đề án phát triển, chiến lược đào tạo VĐV hay các chủ trương đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ của khoa học vào lĩnh vực TDTT cũng được triển khai có hiệu quả trong thời gian qua. Tóm lại có thể khẳng định, sau thời gian thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, dù còn tồn tại một số vấn đề bất cập, song TDTT Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị, xã hội và trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta thời gian vừa qua. 1.3. Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách phát triển TDTT 1.3.1. Thể chế chính sách phát triển TDTT Thể chế được hiểu là “Quy định chính thức, là khuôn khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi hình thành những giới hạn chính thức và phi chính thức giữa các bên tham gia tương tác, là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự và chia sẻ các chuẩn mực, giá trị chung”. Theo đó, thể chế chính sách phát triển TDTT là những quy định chính thức và quy tắc phi chính thức về việc quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện, đánh giá chính sách phát triển TDTT trong đó, các quy định về các bên tham gia, thủ tục, tổ chức, cách tiếp cận, phương pháp, quá trình ra quyết định có liên quan đến quá trình xây dựng và thực hiện chính sách phát triển TDTT; Thể chế chính sách phát triển TDTT gồm 3 yếu tố chính: 15 Hệ thống pháp luật và các quy định điều chỉnh các mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TDTT được pháp luật thừa nhận của một quốc gia. Các chủ thể chính sách phát TDTT gồm tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TDTT; tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động TDTT. Các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện. Tuy nhiên, thể chế chính sách phát triển TDTT còn nhiều bất cập trước yêu cầu ngày càng cao trong việc phát triển chiến lược con người, ổn định và phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội – an ninh quốc phòng phục vụ tích cực cho nhiệm vụ đối ngoại của cả nước. Do vậy, sự cần thiết thể chế chính sách phát triển TDTT theo hướng làm tốt chức năng kiến tạo xã hội của chính sách này nhằm đạt được sự mong đợi về chính sách phát triển TDTT bền vững và đạt kết quả cao hơn. 1.3.2. Các chủ thể ban hành triển khai thực hiện chính sách phát triển TDTT Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Chính sách phát triển TDTT là một trong những chính sách của Nhà nước. Vì thế chủ thể ban hành chính sách phát triển TDTT là (1) hệ thống cơ quan lập pháp ban hành và thực hiện gồm Quốc hội và Ủy ban chuyên trách; (2) hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước gồm Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, các Bộ, ngành liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; Bộ Y tế; chính quyền địa phương các tỉnh, thành, quận, huyện. Các cơ quan nhà nước tham gia vào quá trình thực hiện chính sách bao gồm: Chính phủ: Chính phủ với vai trò là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính 16 phủ vừa là cơ quan ban hành chính sách nhưng cũng đồng thời là cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách ở cấp Trung ương. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công, chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách do Quốc hội và Chính phủ ban hành có liên quan đến ngành, lĩnh vực phụ trách. Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước; UBND các cấp chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách phát triển TDTT, hệ thống các cơ quan Nhà nước tham gia vào quá trình thực hiện chính sách phát triển TDTT thực hiện công tác quản lý trên cơ sở sau: Xác định rõ các cơ quan tham gia vào quá trình triển khai thực hiện chính sách phát triển TDTT từ Trung ương tới địa phương; Xác định cơ quan giữ vai trò thống nhất quản lý trong phạm vi cả nước; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện chính sách từ Trung ương tới các địa phương; Cung cấp đầy đủ các điều kiện đảm bảo về mọi mặt cho các cơ quan trong quá trình triển khai thực hiện chính sách phát triển TDTT theo kế hoạch đã được phê duyệt; 17
- Xem thêm -