Tài liệu Thiết kế trang trí nội thất nhà ở

  • Số trang: 67 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 268 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Thiết kế trang trí nội thất nhà ở
THIẾT KẾ TRA G TRÍ ỘI THẤT HÀ Ở MỤC LỤC CHƯƠNG 1 :LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ...................................................................................1 CHƯƠNG 2 : Ý TƯỞNG THIẾT KẾ....................................................................................2 CHƯƠNG 3 : PHẦN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐÈ TÀI........................................3 3.1. Nghiên cứu không gian sống........................................................................................3 3.2. Giới thiệu về biệt thự: ................................................................................................15 3.3. Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công trình.........................................................27 CHƯƠNG 4 : HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHÍNH VÀ CỤ THỂ............................................45 CHƯƠNG 5 : PHÂN TÍCH HỒ SƠ ĐỀ TÀI.......................................................................47 CHƯƠNG 6 : XÂY DỰNG NHIỆM VỤ THIẾT KẾ ..........................................................53 6.1.Giới hạn đề tài ............................................................................................................53 6.2.Không gian nghiên cứu chính và đặc trưng riêng của từng không gian ........................53 CHƯƠNG 7 : PHÂN TÍCH Ý TƯỞNG CHO TỪNG KHÔNG GIAN CỤ THỂ .................54 CHƯƠNG 8 : KẾT LUẬN ..................................................................................................65 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................................65 CHƯƠNG 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Lý do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển thì chất lượng cuộc sống của con người ngày càng nâng cao ,các nền công nghệ thông tin tiến nhất điều được phát minh để phục vụ cho con người vì vậy đời sống con người ngày càng ấm no, sung túc nhưng bên cạnh đó thì áp lực công việc cùng với ô nhiễm môi trường đã làm cho con người trở nên căng thẳng và mệt mỏi hơn.Thế nên sau một ngày làm việc mệt mỏi thì ngôi nhà chính là nơi dừng chân lý tưởng nhất nó không chỉ là nơi để ở, nơi những người thân trong gia đình sum họp mà nó còn là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn,nơi lấy lại tinh thần sức lực sau những giờ làm việc mệt mỏi, nơi những người thân trong gia đình quây quần hạnh phúc bên nhau.Vì thế được sống trong một ngôi nhà không những đầy đủ tiện nghi mà còn gần gũi với thiên nhiên mang lại cảm giác thư giãn thoải mái là niềm ao ước của mỗi người. Công trình nhà ở biệt thự ra đời đã đáp ứng đầy đủ những điều kiện trên. Thiết kế nội thất nhà ở biệt thự không phải là việc đơn giản, công việc đòi hỏi sự tinh tế khéo léo của người thiết kế để mang lại sự thư giãn, thoải mái nhất cho chủ nhân ngôi nhà. Nhà đẹp phải mang lại cảm giác ấm áp dễ chịu và nói lên được tính cách của gia chủ. Vì những lí do trên Tác giả chọn trang trí nội thất nhà ở làm đề tài nghiên cứu và thiết kế cho đồ án tốt nghiệp của mình. Trang 1 CHƯƠNG 2 Ý TƯỞNG THIẾT KẾ Ý tưởng thiết kế Được lấy ý tưởng từ vẽ đẹp tự nhiên của hoa lá, gỗ, mây, gạch, đá…đặc biệt chất thô sơ giản dị của gỗ từ đó đã tạo cho không gian noi thất nhà ở không những sang trọng mà còn mộc mạc giản dị gần gủi với thiên nhiên. Cùng với những đường nét đơn giản không cầu kì trông không gian nội thất càng tôn lên được sự giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng mang lại sự gần gũi giữa con người với thiên nhiên và tôn vinh vẽ đẹp truyền thống nhưng không kém phần hiện đại,tiện nghi cho không gian nội thất nhà ở biệt thự Trong không gian chung các không gian nhỏ được thiết kế phù hợp với từng đối tượng khác nhau trong gia đình và từng không gian riêng lẻ. Trang 2 CHƯƠNG 3 PHẦN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 3.1 Nghiên cứu không gian sống Khái niệm nội thất và nội thất nhà ở Nội thất là bên trong của một công trình. Nội thất nhà ở là bên trong của một nơi để ở - không gian sống. Phân tích chức năng và các mối liên hệ của các không gian biệt thự. Chức năng nơi ở Nghỉ ngơi, thư giãn, nấu ăn, ăn uống, ngủ, vui chơi-học tập, vệ sinh, làm việc, giặt ủi, cất giữ. Các không gian Phòng khách: Tiếp khách, trò chuyện Phòng sinh hoạt chung Trò chuyện giữa các thành viên trong gia đình Xem tivi ,đọc sách báo Nghe nhạc , thư giản Phòng học tập, làm việc Phòng ngủ Phòng (chơi) trẻ em Bếp Phòng ăn Sơ đồ mối quan hệ không gian sống Trang 3 Sự thay đổi trong quan niệm thiết kế căn hộ ở Sự biến động về kinh tế xã hội, kỹ thuật dẫn tới nhu cầu thay đổi không gian kiến trúc căn hộ. Quy mô hộ gia đình có chiều hướng giảm sút vì những lý do như: Các gia đình ba thế hệ ngày càng ít vì con cái lấy vợ lấy chồng thường ra ở riêng. Nhận thức của người dân về vấn đề dân số ngày càng nâng cao nên các các hộ gia đình thường ít con cái. Nhiều hộ gia đình kiểu viên chức, tự phục vụ việc nhà, không có gia nhân như các nhà giàu xưa. Do giá đất đai ngày càng cao, quy mô các căn nhà có xu hứớng nhỏ lại. Nhu cầu giải trí trong căn hộ tăng lên: xem tivi và các hình thức giải trí ngày càng tăng, yêu cầu thời gian và không gian phải được đáp ứng. Nhu cầu về công năng và mỹ quan đã lần lượt yêu cầu về kết cấu chịu lực. Nhà ở thời trước bị ép giữa 2 bức tường chịu lực một cách cứng nhắc (đặc biệt là nhà lắp ghép kiểu tấm), ngày nay người ta sẵn sàng áp dụng các biện pháp kỹ thuật về kết cấu xây dựng mặt bằng căn hộ được tự do hơn. Nhu cầu giao tiếp: Khách khứa thăm tăng lên với sự xuất hiện của kinh tế thị trường. Quan niệm mới về phân khu chức năng trong nhà ở: Khác với ngày xưa thường phân chia căn hộ thành 3 khu vực ( khu nghỉ ngơi, khu sinh hoạt chung, khu phục vụ), ngày nay người ta có thể chia không gian ở thành 5 khu vực chính đó là: Khu vực sinh hoạt chung của nội bộ gia đình: Gồm phòng sinh hoạt chung gia đình, bếp – phòng hay nơi ăn nhỏ. Khu lễ tân: Gồm tiền phòng, phòng khách, phòng ăn chính. Khu vực riêng tư gần các phòng ngủ hay làm việc riêng. Khu phục vụ: garage, kho, và khu vệ sinh chung cho khách và các thành viên trong gia đình. Khu sân vườn ngoài trời. Nhu cầu về công năng và mỹ quan, cũng như thị hiếu kiểu dáng giao tiếp có thay đổi tăng lên, nhưng căn hộ vẫn phải chịu những hạn chế (ví dụ như diện tích ngày càng eo hẹp) vì vậy việc tổ hợp không gian trong thời kì hiện nay là một mâu thuNn. Khối sinh hoạt chung gia đình Gồm phòng sinh hoạt chung gia đình, bếp và phòng ăn nhỏ. Khu bếp Trang 4 Sự thay đổi trong chức năng và vai trò của bếp: Cuộc sống của chúng ta được duy trì do được đáp ứng một nhu cầu quan trọng nhất là ăn, uống (Nm thực). Đặc biệt khi xã hội ngày càng phát triển kéo theo cuộc sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu ăn không chỉ là“ Ăn để sống” mà còn là ăn để thưởng thức,để cảm nhận. Chính vì thế Nm thực(ăn, uống) đã trở thành bộ phận của văn hóa sinh hoạt gia đình và xã giao. Ở những vùng xa xôi, điều kiện giao thông kém cỏi (như vùng đồng bằng sông Cửu Long) khi các phương tiện giao thông và các hình thức giải trí còn hạn chế thì “Nm thực” là nhu cầu văn hóa hàng đầu. Điều này được phản ánh trên các phim ảnh (phim truyện) khi phần lớn các sự kiện gia đình được diễn tại bếp: đàm luận, tranh cãi giữa các nhân vật thường được diễn tả trong trạng thái vừa ăn vừa nói. Bữa ăn ngày càng có giá trị thưởng thức hơn là thuần túy để duy trì cuộc sống nên vai trò của hình thức sinh hoạt Nm thực trở nên là hình thức sinh hoạt đặc trưng của văn hoá gia đình. N gày nay với việc xuất hiện rộng rãi các trang thiết bị mới như bếp ga, lò viva,lò nướng,may hút khói…..phục vụ cho nhu cầu, chức năng của bếp đã góp phần nâng cao chức năng và tạo điều kiện kỹ thuật để thay đổi vai trò và tính thNm mỹ của bếp. (hững thay đổi đáng kể trong quan điểm thiết kế bếp gồm có: Bếp nên gắn liền hoặc chan hòa với phòng sinh hoạt chung gia đình. Việc gắn liền này có thể: + Trực tiếp: trong đó hai không gian này gắn liền nhau. + Gián tiếp: Sử dụng sân trong (patio) làm trung gian. Bếp phải có bàn ăn ngay tại chỗ, Phương Tây quan niệm đó là bàn ăn sáng. Trong khi các hoạt động giao tiếp xã hội tăng lên thì sự đoàn tụ gia đình lại giảm xuống, bữa ăn ngày càng không nhất thiết phải tề tựu đủ thành viên trong gia đình. Vì vậy một chỗ ăn gọn lại trở nên thông dụng. Có hai cách bố trí chỗ ăn này: + Kiểu độc lập hay kiểu đảo (island). + Kiểu bán đảo (peninsula) kiểu này được ưa thích hơn vì được gắn liền với bếp làm cho việc dọn ăn dễ dàng và an toàn hơn. Khối bếp và sinh hoạt chung thường được bố trí sao cho có thể tự kiểm soát ngôi nhà từ bên ngoài và sân vườn. N ếu kiểm soát được cả vườn trước lẫn vườn sau thì rất tốt, như vậy sẽ kiểm soát được lối ra vào nhà. N hưng nếu tình hình an ninh bảo đảm thì việc quan tâm nhiều về phía sân sau tạo sự riêng tư tốt hơn. Trang 5 Chất lượng thNm mỹ của bếp ngày càng nâng cao .N ó không còn là nơi kín đáo với các tủ đựng thức ăn, chén bát lỉnh kỉnh, mắm muối hôi hám mà trở nên là niềm tự hào của căn hộ. Một căn nhà đẹp cần trình diễn ( chứ không cần phải che chắn) vẻ đẹp duyên dáng của bếp cho người trong và người ngoài gia đình thưởng ngoạn. Từ chỗ là một bộ phận của khối phục vụ, bếp trở nên là một thành phần của khối sinh hoạt chung. Vì vậy nó là thành phần khó thiết kế nhất trong nhà. Bếp cần có quan hệ phức tạp với nhiều thành phần khác: + N ơi ăn nhỏ, có thể gắn liền hay nằm trong bếp. + Phòng sinh hoạt chung gia đình. + Phòng ăn chính. + N ơi ăn ngoài sân (terrace). + Lối vào từ sân. + Garage xe hơi. Bếp cần có quan hệ với các yếu tố thuộc mội trường thiên nhiên như: + Chiếu sáng. + Thông gió. N gày nay với các trang thiết bị tốt về chiếu sáng, hút khói (quạt, máy hút khói…) đã cho phép bếp không nhất thiết phải trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. N hưng khi điều kiện cho phép thì vẫn nên tận dụng tối đa mối quan hệ trực tiếp với các yếu tố thiên nhiên, không chỉ vì nhu cầu sinh lý, vật chất mà còn là vấn đề thNm mỹ, tâm lý. Tường và vật liệu mặt bàn bếp cần phải là vật liệu đẹp và có độ trơn láng cao để dể dàng lau chùi, các thiết bị cũng phải có tính thNm mỹ cao và sạch sẽ. + Bố cục không gian và thiết bị trong bếp. + Việc bố trí các quầy trong bếp phải được chú ý sao cho khoảng cách giữa các quầy cũng như khoảng cách giữa các thiết bị là hợp lý. Để tiện khai thác cho người sử dụng cũng như để các thiết bị không ảnh hưởng nhau (gồm có tủ lạnh, lò nấu, máy giặt, các ngăn kéo tủ chia thức ăn và dụng cụ bát đĩa nồi niêu). Cách bố trí các quầy bếp có thể là kiểu hai bàn song song hay chữ L hay chữ U hay chữ U hẹp, khoảng cách giữa 2 cạnh có thể chỉ 0,9m để với sang hai bên cho tiện lợi. + Các không gian cao thấp phải được tận dụng làm tủ bếp dưới gầm bàn, tủ treo, kho treo, … thậm chí để cả máy giặt để người làm bếp tiện vừa nấu ăn vừa giặt đồ. - Tam giác và tứ giác làm việc trong bếp nên có các cạnh đều nhau. Tam giác làm việc: Bếp gồm 3 thành phần chính là Chậu rửa – Tủ lạnh – Bếp lò. Chúng Trang 6 hình thành một tam giác làm việc (work triangle) các cạnh tam giác này không nên quá lớn, ở các phòng bếp sang trọng và lớn, chiều dài cạnh nói trên chỉ để khoảng 3000mm. sổ Cần giành ưu tiên cho đỉnh tam giác nơi có chậu rửa ở vị trì tường ngoài có cửa nhìn ra, còn 2 đỉnh kia (tủ lạnh, bếp) có thể có tường trong. Khi dùng bếp kiểu hòn đảo (island) hay xuất hiện trong các bếp hiện đại sẽ hình thành tứ giác làm việc thay cho tam giác. - Bố trí các thiết bị chính: Chậu rửa là vị trí quan trọng nhất ở bếp, được sử dụng trước khi nấu, trong khi nấu, khi ăn cũng như dọn bàn sau khi ăn. Đó là nơi người nội trợ dùng nhiều nhất trong bếp. Vì vậy vị trí người đứng trước chậu rửa là vị trí phải quan sát được các không gian có quan hệ nhất là bàn ăn (chú ý không được để các tủ treo che khuất) và không gian bên ngoài theo một trong hai phương thức: + Trực tiếp. + Gián tiếp. Mặt khác nó cần có quan hệ với các bộ phận liên quan bên trong như tủ chén bát, giỏ rác, bếp nấu. Cần chú ý để cánh của các bộ phận này không va vào nhau. Giỏ rác không chỉ có một, có thể phải dùng nhiều giỏ rác để phân chia rác ướt, rác khô và loại rác còn có thể tái sinh (bán để tăng thu nhập). N gày nay ở các nhà có diện tích rộng rãi, người ta có thể bố trí riêng chậu rửa cho bộ phận soạn ăn (Salad sink). Tủ lạnh: Được một số tác giả coi là có tầm quan trọng thứ hai. Khi bố trí một tủ lạnh, cần cân nhắc không gian cần thiết để tiếp cận tủ đồng thời khi mở cánh cửa tủ không bị vướn mắc. Tủ lạnh được dùng tới nhiều, trong khi nấu, soạn ăn, khi ăn, sau khi ăn cũng như dùng tới trong những lúc giải trí, nghỉ ngơi khác. Vì vậy việc bố trí tủ lạnh cần được coi trọng. Không gian bên ngoài còn rất cần thiết khi cần gia công thức ăn (rửa rau, làm thức ăn) ở sân ướt phía sau. Bếp lò: Ở nước ta bếp lò đã được cải thiện rất nhiều từ khi gas đốt được bán rộng rãi tại Việt N am. Bếp gas và lò viba ngày càng ưa dùng tại vì tính thiện lợi và sạch sẽ. Bếp phải bố trí phía có tường đặc kín gió (không có cửa sổ) cũng như cần tránh các luồng gió thổi bạc làm tắt các lửa bếp. - Bàn ăn gia đình: Ở các căn hộ nhỏ, đó chỉ là cái bàn (có khi chỉ là bàn xếp) bố trí trong bếp.N hưng ở các căn hộ lớn hơn, nên bố trí thành chỗ ăn đàng hoàng nhưng vẫn liên hệ trực tiếp với bếp mà không bị cản trở. Trang 7 - Có 3 giải pháp chính: Kiểu bán đảo đưa ra từ bếp , kiểu đảo (độc lập) và kiểu bố trí ở một ngách riêng. Cần chú ý đến mối giao tiếp giữa bếp và bàn ăn nội bộ để người đang nấu bếp và người đang ăn có thể nói chuyện với nhau. Các thiết kế của phương Tây gần đây ưa dùng loại bàn ăn hay quầy kiểu bán đảo tạo sự liên hệ gần gũi giữa người nấu và người ăn. Không nên ngăn cản tầm nhìn từ bếp sang bàn ăn nội bộ. - Mối liên hệ giao tiếp giữa bếp và không gian bên ngoài: Bếp cần có cửa ra sân để phục vụ các bữa ăn ngoài trời mà không phải đi qua khu bàn ăn bên trong, đó là bàn ăn ngoài sân. Ở Việt N am do thức ăn tươi sống còn chiếm tỷ lệ cao, việc liên hệ với sân trước là cần thiết để làm nơi gia công thô. Phòng sinh hoạt chung gia đình Phòng sinh hoạt chung gia đình được biết tới từ lâu, nhưng vì điều kiện kinh tế eo hẹp, phần lớn các căn hộ trung bình đều bố trí phòng này chung với phòng khách.Vì vậy việc nghiên cứu lý luận thiết kế phòng này còn quá ít ỏi. Là nơi các thành viên trong gia đình tụ họp trong trạng thái thư giãn sau một ngày làm việc căng thẳng.Phòng sinh hoạt chung ngày nay với sự xuất hiện của nhiều máy móc giải trí với giá bình dân có vẻ hoá dần thành phòng giải trí đa phương tiện. Vì vậy cần bố trí sao cho có một bức vách “đa phương tiện” có một tủ hay giá(kệ) bố trí các trang thiết bị nghe nhìn tại nhà như TV, Video, VCD, dàn nhạc, loa… - N hiều phòng sinh hoạt chung hình thành khu riêng kiểu rạp hát ở nhà, ngày nay các thiết bị nghe nhìn ngày càng rẻ hơn và phổ biến ở các gia đình hơn. - Phòng sinh hoạt chung còn nên gắn liền với phòng ngủ để dễ dàng ,tiện lợi cho việc tiếp xúc,giải trí của các thành viên trong gia đình. - Một số nhà phương Tây muốn giữ truyền thống cũ vẫn bố trí một nơi đốt lửa sưởi mặc dù ngày nay không mấy ai đốt củi ở Việt N am, trừ các nhà vùng núi lạnh lẽo có lẽ nên duy trì truyền thống này. - Phòng sinh hoạt chung, khi có điều kiện cũng nên tạo mối liên hệ với nơi giải trí ngoài sân và tạo mối tiếp xúc với thiên nhiên qua các cửa sổ, cửa trời với nhiều cây cối hoa lá, kể cả các chậu cây đặt hay treo. Các không gian nhỏ Bổ sung và xen kẻ vào 3 không gian sinh hoạt chung bên trong nhà là các ngách làm cho không gian sinh hoạt chung thêm phong phú về hình thức cũng như công năng. Các ngách nhỏ này chứa đựng các hoạt động cá nhân riêng rẽ như máy tính, bàn đọc sách, bàn thiết kế, nơi các thành viên trong gia đình vừa làm việc riêng vừa vẫn nghe và tham gia các hoạt động chung của gia đình. Trang 8 Quan hệ giữa bếp, nơi ăn nhỏ và phòng sinh hoạt chung nên theo hình tam giác, củng cố tam giác này sẽ góp phần tăng cường và củng cố mối giao tiếp trong nhà. N hận xét: 3 bộ phận chính thuộc khu sinh hoạt chung gia đình cần có quan hệ không gian tiếp xúc với nhau mà thường hình thành dưới dạng tam giác. Sự thay đổi vai trò của bếp từ một bộ phận của khu phục vụ trở thành một phần của khối sinh hoạt chung khiến việc thiết kế không gian cũng như trang trí cho nó có sự đầu tư thích đáng. Khối lễ tân: giao tiếp đối ngoại Một số tài liệu gọi khối giao tiếp đối ngoại dưới cái tên: Khối lễ tân để ám chỉ đó là nơi dành cho các hoạt động đặc biệt như họp mặt gia đình, lễ, tiệc, giỗ, sinh nhật, tiếp đãi bạn bè,.. Khối lễ tân không được dùng thường xuyên nhưng khi dùng đến thì lại đóng vai trò rất quan trọng và đầy vẻ sang trọng. Khối lễ tân thường quay mặt về phía trước vì về mặt lí trí, đa số người mua nhà thích khối sinh hoạt chung gia đình quay về phía sân sau, còn khối lễ tân quay về phía sân trước. Khối lễ tân bao gồm 3 bộ phận chính: Lối vào và tiền phòng, phòng khách, phòng ăn chung. Trong 3 khối trên, tất nhiên phòng khách và phòng ăn chung có vẻ quan trọng hơn, nhưng chính lối vào lại mang nhiều kịch tính hơn cả. *Lối vào và tiền phòng: N ói lối vào mang nhiều kịch tính vì chính là ở đó gây ngay cảm giác ban đầu cho người khách về ngôi nhà hay chủ nhà. Có vẻ thân mật, mời mọc, hay lạnh lẽo, xua đuổi. Lối vào được bố trí ngay trọng tâm mặt tiền. *Khoảng không gian nơi lối vào: Cũng là nơi gây ấn tượng cuối cùng cho người khách mà thường đóng vai trò níu kéo (holding area) người khách dừng chân trao đổi vài câu, biết đâu câu kết luận hay quyết định lại bật ra vào lúc đó. *Thành phần của lối vào gồm có: + Cửa ra vào: Cần chú ý các điều sau: - Chú ý vị trí mở cánh cửa, không nên để vướng chỗ đứng của khách. - N ên tạo điều kiện để chủ nhà quan sát thấy khách đến (để chuNn bị tinh thần hay lí do an ninh). Vì vậy các ô kính trên cánh cửa hay việc dùng gạch kín xây hai khuôn cửa là rất có ích. Tiền phòng:Tiền phòng không chỉ là không gian đệm giữa trong và ngoài nhà mà còn là nút giao thông dẫn đến các phòng lễ tân cũng như vào phía trong nhà, lên gác.Vì vậy Trang 9 tiền phòng cũng là nơi mà khách, chủ cần có tầm nhìn ngang, lên trên tốt. Tuy nhiên những nơi lộn xộn (kho, garage) hay có tính nội bộ như bếp, sinh hoạt chung gia đình) không nên để thấy từ tiền phòng, không những thế một bộ phận gắn liền với tiền phòng là tủ treo áo và phòng vệ sinh cho khách cũng cần một vị trí tế nhị. + Phòng vệ sinh cho khách: - Phòng vệ sinh cho khách còn là phòng trang điểm trước khi ra đường. - Ở các căn hộ nhỏ, chỉ có 1-2 khu vệ sinh thì khách, chủ phải sử dụng chung. Trong trường hợp đó, khu vệ sinh không nên bố trí quá sâu vào phía trong, khiến cho khách khi cần dùng phải đi sâu vào khu sinh hoạt nội bộ. - Với các căn hộ lớn (nhà liên kế, biệt thự) cần có phòng vệ sinh ngay ở tiền phòng. N hư trên đã nói, khu này nên ở vị trí tế nhị vì không ai thích thấy mình vào phòng vệ sinh. - Phòng vệ sinh này còn là nơi khách chỉnh trang y phục, trang điểm lại nên còn gọi là phòng đánh phấn trang điểm. Kích thước tuy nhỏ nhưng cần đẹp và gọn gàng. + Phòng khách: - Là phòng giao tiếp chính thức của chủ nhân đối với khách khứa cũng có thể là nơi tổ chức tiệc trà. - Và với cuộc sống phát triển ngày nay thì không gian này ngày càng ít dùng tới, ngay cả khách không thân mật cũng vào khu bếp để trò chuyện với chủ nhà.N hưng phòng vẫn được tồn tại bởi lý do hết sức đơn giãn đó là cần có một nơi để tổ chức các nghi lễ giao tiếp sang trọng: tiếp khách, lễ tiệc … vì vậy nó vẫn được ưa chuộng dưới dạng phong cách cổ điển truyền thống. Tuy nhiên ngày nay đã có những xu hướng mới về quan niệm về phòng này: - Tạo một không gian mở, tự do, có thể chứa đựng các hoạt động lễ tân, thậm chí gắn liền với sân vườn, nơi chiêu đãi tiệc ngoài sân. Điều này lại trùng hợp với quan niệm truyền thống của Việt N am - Tạo không gian lưu thông, gắn liền với các phòng ăn, sinh hoạt chung thành một không gian đa chức năng. Đặc điểm mà phòng khách cần có: Bố trí bộ salông: Không gian bố trí bộ ghế salông ở tư thế trang trọng (nếu là đối xứng thường có cảm giác lễ tân hơn). Các ghế này thường bệ vệ, kích thước to lớn tạo nên sự trang trọng quý phái cho không gian phòng khách. - Có các bức tường đặc để trình bày các vật phNm trang trí: tranh, tượng, vật phNm đồ họa. Trang 10 - Đảm nhận chức năng là phòng lưu niệm của gia đình hoặc bảo tàng gia đình. N ơi đây treo ảnh các bậc tiền bối, trưng bày các vật phNm kỉ niệm. - Việc bố trí cửa sổ hay các khoảng mở ra ngoài sân cần được chú ý rằng khách nhìn ra ngoài với tư thế ngồi. Vì vậy nên có các cửa sổ thấp hay các cửa sổ đứng (kiểu cửa đi). Ở Hà lan người ta có tập quán mở rộng cửa sổ phòng khách để bên ngoài có thể nhìn thấy rõ bên trong nhà và cho rằng dấu diếm là điều không tốt.Trái lại, do hoàn cảnh an ninh và do cách suy nghĩ có khác, ở nước ta người ta tránh bên ngoài nhìn thẳng vào trong nhà qua cổng vào ngoài sân. -N gày nay phòng khách còn được bố trí có thể nhìn thấp thoáng qua phòng ăn tạo sự ấm cúng gần gũi cho khách không những thế còn phô trương được vẽ đẹp duyên dáng của phòng ăn tạo sự hào cho gia chủ. + Phòng ăn: - Cuộc sống hiện đại làm cho mỗi một thành viên gia đình theo đuổi những thời gian biểu khác nhau, trẻ em đi học thêm, người lớn cũng tranh thủ làm ngoài giờ hành chính, kinh doanh tư nhân đâu cần đúng giờ đúng giấc vì vậy ngày càng ít có những gia đình ăn uống đúng bữa để tề tựu đầy đủ. - Trước tình hình đó nhiều kiến trúc sư đã coi thường vai trò của phòng ăn và nhập nó vào một phòng đa chức năng cùng phòng sinh hoạt chung hay ăn nội bộ gia đình.Thế nhưng tiêu chuNn cuộc sống ngày càng được nâng cao, vai trò của phòng ăn lại càng được coi trọng. - Một khi đã có phòng ăn nhỏ gắn liền với bếp thì chức năng của phòng ăn thiên về phía lễ tân mặc dù vẫn phải đáp ứng yêu cầu “Nm thực”và được nâng cao để phục vụ cho một hình thức tỏ lòng hiếu khách cổ xưa nhất là mời khách dùng cơm. Vì vậy phòng ăn phải có tính thNm mỹ cao, sự sang trọng của nó thể hiện ở không gian, cửa sổ cùng chất liệu hoàn thiện và chất lượng vật liệu. Các đặc điểm yêu cầu phải có đối với nột phòng ăn là: - Có diện tích đủ để bộ bàn ăn, ít nhất là khoảng 15 m2, ngoài ra còn có các bàn soạn ăn, tủ ly chén. - Cần có đèn trang trí kiểu cách dùng bóng đèn dây tóc cho ánh sáng vàng (nên chiếu theo kiểu đèn ánh sáng gián tiếp) để thức ăn đươc ngon mắt hơn. - Cần chú ý đến tầm nhìn của khách ở tư thế ngồi. - Cần tránh các lối đi phải lượn quanh phòng ăn. - Có các mảng tường đặc cần thiết để bố trí tủ buffet hay trình bày ly chén, rượu, các dụng cụ ăn uống có tính thNm mỹ, chỗ treo tranh trên tường. Trang 11 - Phòng ăn thường dùng về ban chiều, ánh sáng của nó đóng góp phần trang trí cho cảnh quan nhìn từ ngoài vào nhà. - Cần có mối liên hệ giữa phòng ăn với bếp (yêu cầu thông lệ), nói chung không nên xa quá 3m. Không gian riêng tư Việc thiết kế một căn hộ cần phải chú ý đến tính cân bằng và hài hòa của các không gian riêng tư và cộng đồng giống như việc thiết kế trong toàn khu nhà ở, các hoạt động giao tiếp trong và riêng tư trong căn hộ gồm: - Gặp gỡ bạn bè. - Gặp gỡ các thành viên gia đình. - Hoạt động riêng của từng cá nhân Khu riêng tư không phải chỉ là không gian nghỉ ngơi mà còn là nơi làm việc cá nhân. + Phòng ngủ chủ: Phòng này được phân khu như sau: - Theo phòng: Phòng ngủ, Phòng vệ sinh thân thể, Kho tủ. - Theo khu vực: N ơi ngủ, N ơi ngồi chơi, làm việc, N ơi thay đồ, trang điểm và vệ sinh thân thể. Tuy nhiên có một số trường hợp người ta quan niệm khác đi, ví dụ như phân khu theo lối: ghép khu trang điểm vào khu ngồi chơi (có bàn phấn) ra khỏi khu vệ sinh, nhưng đều thống thất có 3 khu vực chính quan trọng hơn cả:Khu vực giường ngủ; khu vệ sinh thân thể; khu ghế ngồi. Việc bố cục 3 khu chức năng chính nói trên ngày nay cũng nên theo một sơ đồ tam giác mà các cạnh càng đều càng tốt. + Phòng ngủ: Chỗ ngủ nên chọn chỗ tối hơn, có bức tường đặc để đưa đầu giường vào, có chỗ trống hai bên để có chỗ đặt 2 bàn đầu giường. Không nên kê sát cửa sổ, khó đóng mở cửa và quá trực tiếp với các tác động bên ngoài (nắng mưa, tiếng ồn). + Khu ghế ngồi: Có 2 hay nhiều chỗ ngồi, có thể có salon, nên nhìn ra cửa sổ các căn hộ lớn có thể kèm theo một phòng ngồi chơi làm việc kế liền, có thư viện riêng. Có thể phân chia bằng các tủ lửng, cửa trượt, màn kéo,.. + Tủ kho: Các phòng ngủ không có tủ tường, kệ hay một số kho thiết kế không cNn thận làm cho phòng trở nên nghèo nàn. Các tủ tường có vai trò rất quan trọng: làm đẹp cả bản vẽ lẫn Trang 12 trong thực tế , tạo không gian cách ly tương đối, cách ly âm, tăng cường vẻ đẹp trong trang trí nội thất. Tủ tường nên sâu lớn hơn hoặc bằng 600 để treo áo, để vali. Các hình thức tủ gồm có : - Tủ rời. - Tủ tường. - Tủ kiểu kho hay tủ đi vào trong được. N ếu trong tủ có cây treo áo cả ba phía thì không hiện quả bao nhiêu. Các cánh cửa tủ kiểu mở vẫn được thị trường ưa chuộng hơn các cửa trượt. Trong kho có thể có bóng đèn, chỉ sáng khi cánh cửa mở ra. Việc bố trí kho, tủ tường trong khu riêng tư cũng cần chú ý để khi lấy và thay quần áo không làm ướt phòng ngủ do việc đi qua khu vệ sinh tạo ra. Việc bố trí tủ tường và khu vệ sinh gần cửa ra vào kiểu khách sạn làm khu đệm là không cần thiết, trái lại có thể làm ướt lối vào. + N ơi trang điểm thay đồ: N ên gắn liền tủ áo. N ên dùng gương rộng để tăng vẻ rộng của phòng, cho thấy toàn cảnh: tỷ lệ con người với không gian xung quanh. Toàn khối này nên gắn với phòng tắm để khi tắm xong ra thay đồ ngay. Tất nhiên không nên đi qua phòng tắm để đến tủ áo thay đồ. + Phòng tắm – vệ sinh: Phòng tắm –vệ sinh là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong ngôi nhà từ xưa đến nay nhưng từ xưa ít ai quan tâm đến vấn đề thNm mỹ trong không gian này.N gày nay giá trị thNm mỹ của khối này được đề cao và chú trọng đôi khi có phần xa hoa. Trong khối tắm – vệ sinh có thể tạo ra sư ngăn cách tương đối bằng tường vách (gạch hay tường kính mờ) tạo sự tế nhị hơn. N gày nay có xu hướng dùng bồn tắm đứng nhiều hơn dùng bồn tắm nằm khi qũy thời gian của con người trở nên ít dư thừa hơn, kể cả thời gian họ rửa bồn. N hà tắm sang có cả 2 loại. Xu hướng sang trọng không bố trí lỗ thoát nước trên sàn nhà cho toàn khối vệ sinh tắm này mà chỉ bố trí trong bồn tắm. N gười ta tránh nước vãi ra sàn bằng cách dùng vách nhựa mờ hay treo màn vải chống thấm. Cũng có thể phân khu và cách ly khu ướt và khu khô. Việc dùng bàn treo lavabo bằng đá tự nhiên và nhân tạo là rất cần thiết. N goài việc tạo ra vẻ đẹp sang trọng, nó còn gia cố lavabo và là nơi để các loại mỹ phNm. Chính vì công năng đó mà nhiều nhà tắm có 2 lavabo riêng( gọi là his và hers tức là của chàng và của nàng riêng). Trang 13 Các phòng ngủ cho khách nên cách xa các phòng ngủ các thành viên trong khu gia đình. Thường nên để tại tầng trệt và gắn liền phòng đọc sách gia đình và gần khối vệ sinh – trang điểm của tầng trệt. N ên là phòng kết hợp chức năng thư viện gia đình càng tốt, vừa không lãng phí vừa cho khách thưởng thức. Các phòng ngủ không phải là phòng chủ có dùng khu tắm vệ chung cho căn hộ và có lối đi vào không ảnh hưởng lẫn nhau. Thường đó là phòng ngủ các con hay phòng ông bà khi là căn hộ nhiều thế hệ. + Vấn đề thông gió chiếu sáng: Quy phạm quy định phòng ngủ phải quan hệ trực tiếp với thiên nhiên. Trong thực tế nhiều KTS và gia chủ đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi tạo ra các phòng ngủ không có cửa sổ nhìn ra ngoài trời. Trong trường hợp căn hộ chung cư, khó có thể dành cho mỗi phòng mỗi một cửa sổ nhìn ra ngoài trời. Đối với phòng tắm, vệ sinh có được một cửa sổ trên cao là tốt, nhất là trong hoàn cảnh khí hậu nóng Nm của nước ta, nhưng quy phạm không bắt buộc phải thông gió và chiếu sáng trực tiếp, khi đó người ta dúng các ống gain để thông hơi và làm vệ sinh thật tốt. Việc bố trí lối vào cũng là một nghệ thuật. Thông thoáng nhưng kín đáo. Làm sao để gió có thể thổi ngang qua giường ngủ, tránh bố trí giường vào góc chết. Cánh cửa mở vào trong có phần kín đáo hơn mở ra ngoài. Trong khách sạn, chiều quay và bản lề cách cửa vào phòng có thể bố trí ngược lại với phòng ngủ trong căn hộ để cánh cửa khi mở hạn chế tầm nhìn vào phòng. + Bố cục chung của khu riêng tư: Các thiết kế cũ thường xếp các phòng ngủ gần nhau để cha mẹ dể quản lý con cái. N gược lại, xu hướng mới của phương Tây cách ly phòng cha mẹ và phòng con cái để đạt tính riêng tư tối đa. Có nhiều hộ bố trí cha mẹ ở tầng trệt để quản lý nhà, các con ở tầng trên. Tuy nhiên này phụ thuộc vào ý thích của chủ nhà. Phòng ngủ dành cho khách nên ở khu cách ly (trệt) có thể dùng làm phòng làm việc riêng vì mấy khi khách tới nghỉ trong căn hộ. N ói chung việc thiết kế phải căn cứ vào thị hiếu thị trường hay ý chủ.Quan niệm cũ thường tập trung các không gian riêng tư về một phía. Thiết Kế Khu Phục Vụ Các khu này thường bao gồm: kho, phòng giặt đồ, nhà để xe (garage) thường dành các không gian tận dụng trong nhà: tầng hầm, hầm mái,.. có thể là trong căn hộ nhỏ, đó là các ngóc ngách khó bố trí các không gian sử dụng chính. Các diện tích phụ tuy gọi là phụ Trang 14 do không đảm nhiệm chức năng chính nhưng trên quan điểm thương mại lại rất quan trọng. N gười mua nhà sẽ rất quan tâm nếu căn hộ có các thành phần gọi là phụ này, đặc biệt trong căn hộ chung cư cao tầng, người ta chú ý đến các kho để đồ tạp. - Phòng giặt: Ở các biệt thự, có thể để phòng giặt cạnh garage ở tầng trệt hay hầm, tiện đưa đồ ra phơi ngoài sân và ít ảnh hưởng đến các phòng khác do tiếng ồn của máy giặt. Ở các căn hộ nhỏ trong chung cư, có thể để máy giặt ngay trong bàn bếp để tiện làm nội trợ, vừa nấu bếp vừa theo dõi việc giặt đồ. N ếu có điều kiện nên bố trí thành phòng riêng có lavabô và bàn để là ủi đồ (bàn ủi có thể xếp được cơ động hoặc cố định). Có thể có cả tủ đồ vải (drap, khăn bàn) trong phòng giặt. - Kho: Cần vận dụng các không gian “ đầu thừa đuôi thẹo” hay bố trí hẳn những không gian có thể có để làm kho. Theo lối sống N hật Bản, người ta thường cất gần như toàn bộ đồ đạc vào tủ tạo ra cảm giác trống không rất ấn tượng. Quan niệm thương mại cũng đánh giá rất cao các căn hộ có kho. Không gian giao tiếp với xã hội bên ngoài Với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển đã thúc ép kiến trúc phải có những thay đổi đáng kể nhằm đáp ứng các yêu cầu tạo ra thu nhập cho người chủ căn nhà. Đó cũng là động lực thúc đNy việc hình thành các căn phố tiệm buôn. UN DP (cơ quan phát triển của Liên hiệp Quốc) cũng đã đề ra khNu hiệu: nhà ở cho dân nghèo đồng thời cũng là nguồn phát sinh thu nhập. Các chung cư ở miền Bắc cơi nới ra để có một tiệm buôn, trở nên rất phổ biến và rất tùy tiện, nảy sinh ra phải có những biện pháp về xã hội và biện pháp kĩ thuật để hướng dẫn sự phát triển này đi vào trật tự. Tóm lại: Sự phát triển của xã hội và công nghệ đã đem lại những thay đổi trong cuộc sống từ đó tạo ra những quan hệ giao tiếp khác bên trong căn hộ. Tuy nhiên đáng kể nhất là việc bếp từ chỗ là khu phục vụ đã trở thành trung tâm giao tiếp nội bộ gia đình và kết hợp không gian với các phòng khác đã làm cho việc thiết kế mặt bằng căn hộ trở nên dẽ dàng hơn. 3.2Giới thiệu về nhà ở biệt thự: Khái niệm N hà ở biệt thự là mô hình nhà ở đã có cách đây hàng trăm năm với những phong cách mang đậm dấu ấn văn hóa, khí hậu, địa lý riêng biệt. Trong thời kỳ Việt N am hội nhập, nhu cầu về biệt thự sẽ xuất hiện với nhiều phong cách là điều dễ hiểu. Trang 15 N hà ở biệt thự từ xưa đến nay luôn là mô hình nhà ở cao cấp với không gian công cộng cho cả gia đình, không gian riêng cho mỗi thành viên và những góc vườn giúp thư giãn, nghỉ ngơi.N hà ờ biệt thự được xây dựng trên khu đất đủ lớn để công trình không có mặt nào liền kề khu đất khác và thường có chiều cao từ 1 đến 3 tầng. Hình 2. Mô hình nhà ở biệt thự có thể nói là một trong những mô hình nhà ở lâu đời nhất thế giới (guồn: tư liệu trên mạng N hững ngôi biệt thự xưa không có gara để ô tô, xe máy như bây giờ. Thay vào đó là khu chuồng ngựa ở cạnh để “nhốt” phương tiện đi lại. N hững chiếc ti vi không thấy xuất hiện trong căn phòng. Không có điều hòa nhiệt độ và cũng chẳng có hệ thống trang âm, hệ thống báo cháy, báo khói… N gày nay, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, các nhà sản xuất liên tục cho ra đời loại vật liệu mới và trang thiết bị mới phục vụ xây dựng. Diện tích đất để xây dựng biệt thự không còn rộng nữa… Vì vậy kiến trúc của những ngôi biệt thự cũng thay đổi theo để phù hợp với nếp sống của con người thời đại mới. Trang 16 (guồn:tư liệu trên mạng Trang 17 (guồn:tư liệu trên mạng Mỗi dân tộc có một đường nét kiến trúc biệt thự khác nhau N goài những điều kiện của sự phát triển chung, phong cách thiết kế biệt thự cũng có ảnh hưởng theo quan niệm sống, mức sống và nét văn hóa của mỗi địa phương, mỗi dân tộc. Trang 18 N guồn:Tư liệu trên mạng Trang 19
- Xem thêm -