Tài liệu Thiết chế chính trị, xã hội và văn hoá truyền thống của người cao lan ở tuyên quang

  • Số trang: 121 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 56 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN MẠNH THẮNG THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ THÁI NGUYÊN, NĂM 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN MẠNH THẮNG THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Thị Thu Thuỷ THÁI NGUYÊN, NĂM 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC MỞ ĐẦU Trang 1. Lý do chọn đề tài………………………………………….. 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………… 2 3. Đối tượng, nhiệm vụ, mục đích và phạm vi nghiên cứu…… 3 4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu………………… 5 5. Đóng góp của luận văn……………………………………. 5 6. Cấu trúc luận văn………………………………………….. 6 NỘI DUNG Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TUYÊN QUANG 1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên…………………………….. 7 1.2. Địa bàn cư trú, nguồn gốc của người Cao Lan…………….. 11 Tiểu kết chương 1…………………………………………... 19 Chương 2. THIẾT CHẾ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG 2.1. Thiết chế chính trị………………………………………….. 20 2.2. Thiết chế xã hội……………………………………………. 29 2.3. Thiết chế chính trị - xã hội truyền thống trong đời sống của người Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay…………………… 38 Tiểu kết chương 2…………………………………………… 48 Chương 3. VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở TUYÊN QUANG 3.1. Tôn giáo, tín ngưỡng………………………………………. 50 3.2. Phong tục, tập quán………………………………………… 59 3.3. Văn học, nghệ thuật và lễ hội dân gian……………………. 76 Tiểu kết chương 3………………………………………….. 101 KẾT LUẬN………………………………………………… 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………….. 105 PHỤ LỤC 109 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong quá trình phát triển, các dân tộc luôn có ý thức đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để chinh phục tự nhiên, đấu tranh giữ nước và dựng nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ,Mường hay Mán, Gia-rai hay Ê-đê, Xơ-đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên, tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, ủng hộ chính phủ ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt.” ( trích trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam, Pleiku 19/4/1946). Tuyên Quang là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc nước ta, nơi hội tụ của 22 dân tộc anh em. Trong đó, dân tộc Cao Lan có số dân đông thứ 4 sau các dân tộc Kinh, Tày, Dao. Họ cư trú ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương. Trong quá trình chung sống, luôn tích cực giao lưu, hòa nhập với các dân tộc nhưng vẫn giữ gìn được những nét đặc trưng riêng của mình. Mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để tạo nên sự phong phú và đa dạng về cách thức, tổ chức đời sống nhưng cũng thống nhất trong sự phát triển chung của cả cộng đồng. Tìm hiểu về những nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc sẽ làm phong phú thêm nhận thức của mỗi người đối với từng tộc người. Do vậy, việc nghiên cứu về thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở Tuyên Quang là một vấn đề thiết thực, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Góp phần làm rõ sự tồn tại và vai trò của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 thiết chế chính trị, xã hội truyền thống trong đời sống kinh tế, văn hóa. Là cơ sở vững chắc vào việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí và chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc Cao Lan nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung ở Tuyên Quang. Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn thạc sỹ khoa học của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong quá trình nghiên cứu về tộc người Cao Lan, tác giả đề tài đã tiếp cận được với một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp tới đề tài như: “Du Man Cao Lan”, xuất bản năm 1905, của Bonifacy Monographie, tài liệu dịch của viện dân tộc học, đã làm rõ về nguồn gốc tộc người, tiếng nói và các phong tục, tập quán của người Cao Lan (ông còn chia ra thành các loại Mán khác nhau; Mán tiểu bản, Mán đại bản, Mán quần trắng, ..., trong đó có Mán Cao Lan) Cuốn “Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” do Ban Dân tộc học Tuyên Quang, xuất bản năm 1972, đã giới thiệu khái quát về đời sống kinh tế, xã hội và các phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang. “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, xuất bản năm 1978, Viện dân tộc học, đã giới thiệu khái quát về đời sống, xã hội của các dân tộc ở Việt Nam. “ Truyện cổ Cao Lan”, xuất bản năm 1983, của Lâm Quý đã giới thiệu cho chúng ta nhiều câu chuyện nói về sự tích ra đời cũng như tên sông, tên núi ...và giải thích những điều kiêng kị trong đời sống hàng ngày của người Cao Lan. Trong cuốn “ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang”, xuất bản năm 1995, đã giới thiệu một hệ thống các vấn đề lịch sử địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Tuyên Quang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 “ Văn hóa truyền thống Cao Lan”, xuất bản năm 1999, của Phù Ninh – Nguyễn Thịnh đã nghiên cứu lịch sử tộc người Cao Lan,cơ cấu xã hội, kinh tế và văn hóa vật chất, tinh thần của người Cao Lan. “ Văn hóa Cao Lan”, xuất bản năm 2004, của Lâm Quý đã nghiên cứu kĩ hơn về lịch sử hình thành, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Cao Lan, đồng thời tìm hiểu thêm về sự giao thoa của văn hóa này trong cộng đồng các dân tộc. “Đời sống văn hóa phi vật thể của người Cao Lan ở Tuyên Quang”, (2002-2006), khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm I Hà Nội, của Tống Thị Mỹ Hường, có viết về nguồn gốc tộc người, văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người Cao Lan ở Tuyên Quang. “Văn hóa làng Tuyên Quang”, xuất bản năm 2009, kỉ yếu hội thảo văn hóa làng Tuyên Quang, nói lên một số vấn đề nghiên cứu và đánh giá truyền thống văn hóa làng và một số biện pháp nhằm khuyến khích phong trào văn hóa cơ sở, làng, bản. “Lễ hội đình Giếng Tanh của đồng bào người Cao Lan tại thôn Giếng Tanh, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”, (2006-2010), khóa luận tốt nghiệp, Đại học Đà Lạt của Trần Thế Dương, viết về đời sống văn hóa truyền thống thông qua lễ hội đầu năm của người Cao Lan của thôn Giếng Tanh, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Những công trình đã được công bố trên là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này. 3. Đối tượng, nhiệm vụ, mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang. Về thiết chế chính trị bao gồm, cách thức xây dựng, tổ chức và vận hành bộ máy thống trị của dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 tộc Cao Lan. Thiết chế xã hội gồm có, các loại hình tổ chức, hình thức tập hợp và quy chế vận hành của hình thức đó. Từ đó nghiên cứu vai trò của thiết chế chính tri, xã hội đối với đời sống kinh tế, văn hóa. Về văn hóa, đề tài nghiên cứu những nét đặc trưng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang. Trong truyền thống và ảnh hưởng của nó trong thời kì hiện nay. 3.2 Nhiệm vụ của đề tài: - Khái quát về tỉnh Tuyên Quang: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, các thành phần dân tộc, nguồn gốc, địa bàn cư trú của người Cao Lan ở Tuyên Quang. - Nghiên cứu về thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở Tuyên Quang trước Cách Mạng tháng 8 năm 1945 và những giá trị của nó trong đời sống kinh tế văn hóa của tộc người này hiện nay. 3.3 Mục đích nghiên cứu: - Góp phần tái hiện lại một số hiện tượng lịch sử, chính tri, xã hội và văn hóa của người Cao Lan ở Tuyên Quang thời kì trước năm 1945 và những giá trị truyền thống còn lại cho đến ngày nay. - Làm rõ về thiết chế chịnh trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan – một tộc người thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta. 3.4 Phạm vi nghiên cứu: - Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang thời kì trước Cách Mạng tháng 8 năm 1945 và những giá trị văn hóa, lịch sử của nó được bảo lưu đến ngày nay. - Về không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung ở tỉnh Tuyên Quang, các địa bàn có số đông người Cao Lan sinh sống như các xã Kim Phú, Đội Bình (huyện Yên Sơn); Đại Phú, Đông Lợi (huyện Sơn Dương); Lưỡng Vượng, Đội Cấn (Thành phố Tuyên Quang); Đức Ninh, Thái Hòa (huyện Hàm Yên). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4.1 Nguồn tư liệu Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau: - Các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, lịch sử Đảng bộ các huyện: Huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên. Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu dân tộc học. - Các chỉ thị, nghị quyết của TW Đảng, Tỉnh ủy Tuyên Quang, Huyện ủy các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, bộ phận Lưu trữ Thông tin; Phòng lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang. - Nguồn tài liệu thu thập được qua công tác điều tra điền dã bao gồm, quan sát, tham dự, thống kê, phóng vấn sâu đối với những người Cao Lan hiểu biết, đặc biệt là các cụ già làng và vốn hiểu biết của mình về cuộc sống đồng bào dân tộc Cao Lan, trong quá trình tiếp xúc giao lưu và cùng chung sống trên cùng mảnh đất Tuyên Quang. 4.2 Phương pháp nghiên cứu Từ những nguồn tư trên, tôi đã tiến hành tập hợp các nguồn tư liệu có cùng nội dung, sau đó đem so sánh, đối chiếu, phân tích, thống kê và rút ra kết luận về vấn đề cần nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện tác giả đề tài sử dụng hai phương pháp chính lịch sử và lôgíc. Kết hợp với điền dã dân tộc học tại địa bàn nghiên cứu. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác như thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế. 5. Đóng góp của luận văn - Góp thêm nguồn tư liệu điền dã mới về đặc trưng riêng trong thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang. Hình thành trong thế hệ thanh niên người Cao Lan niềm tự hào và thái độ trân trọng đối với những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 - Trong thực tiễn giáo dục lịch sử hiện nay, việc dạy học lịch sử địa phương cũng như lịch sử về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về tư liệu. Do vậy, tìm hiểu thiết chế chính trị, xã hội và văn hóa truyền thống của dân tộc Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang là nguồn tư liệu quan trọng để học sinh hiểu được đời sống của các dân tộc trong tỉnh. - Làm cơ sở khoa học cho hoạch định các chính sách về văn hóa, xã hội của các cơ quan văn hóa đối với việc gìn giữ, phát triển các giá trị truyền thống về chính trị, xã hội và văn hóa của dân tộc nói chung, người Cao Lan nói riêng ở tỉnh Tuyên Quang. Luận văn có giá trị khoa học, thực tiễn sâu sắc nghiên cứu về tộc người – dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc của nước ta. 6. Cấu trúc của luận văn: Luận văn bao gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung được chia làm 3 chương + Chương 1: Khái quát về tỉnh Tuyên Quang + Chương 2: Thiết chế chính trị, xã hội truyền thống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang + Chương 3: Văn hóa truyền thống của người Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TUYÊN QUANG 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Theo “ Dư địa chí ” của Nguyễn Trãi, Tuyên Quang xưa thuộc bộ Vũ Định của nhà nước Văn Lang. Dưới các triều đại Lý, Trần, Tuyên Quang nguyên là vùng đất thuộc xứ Thái, đến thế kỉ XIII chịu sự kiểm soát của triều đình phong kiến ở thời nhà Trần. Lúc đó, Tuyên Quang gọi là lộ Quốc Oai, sau đổi thành châu Tuyên Quang. Dưới thời Trần Hiến Tông châu Tuyên Quang đổi thành trấn Tuyên Quang, sau đó là phủ Tuyên Hóa ở thời thuộc Minh. Đến triều Lê, đời Lê Thánh Tông, Tuyên Quang gồm 1 phủ và 5 huyện và trở thành tỉnh Minh Quang. Ở thời vua Lê Trang Tông đổi thành doanh An Tại cho dòng họ Vũ người Thái làm doanh trưởng. Đầu thế kỉ XIX, Tuyên Quang gồm 1 phủ là Yên Bình, phủ này quản lý 1 huyện và 5 châu. Sau đó, vua Gia Long đổi thành trấn Tuyên Quang, rồi thành tỉnh Tuyên Quang dưới thời vua Minh Mang (sau cải cách hành chính), trong đó tên gọi Tuyên Quang là tương đối ổn định và lâu dài. Từ khi thực dân Pháp chiếm đóng Tuyên Quang( ngày 31.5.1884) đến đầu thế kỉ XX, Tuyên Quang bị chia cắt thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Tỉnh Tuyên Quang gồm sáu châu: Yên Sơn, Sơn Dương, Yên Bình, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang với 194 xã phân chia hành chính này được duy trì đến cách mạng tháng Tám năm 1945. Sau hòa bình lập lại ở Miền Bắc (1954), Tuyên Quang có một số thay đổi về hành chính. Tháng 7-1956, huyện Yên Bình đã tách khỏi Tuyên Quang sáp nhập vào tỉnh Yên Bái. Đến năm 1976, hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang sáp nhập lại thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991, tỉnh Hà Tuyên lại được chia thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang như ngày nay. Hiện nay, Tuyên Quang bao gồm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 Thành phố Tuyên Quang và 6 huyện (Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương)[ 1, tr. 16]. Tuyên Quang là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc của Việt Nam. Phía Đông giáp các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5870,4 km 2 . Trong đó đất nông nghiệp chiếm 11,96%, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 76,16%, còn lại là đất ở và đất chưa sử dụng. Phần lớn đất đai không thấm nước, dễ bị xói mòn, có đất sét và cấu thành Granit, nơi có vôi, đá xít, là các loại đất tương đối tốt có thể tạo ra những vùng chuyên canh trồng các loại cây như chè, mía, lạc.. cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến[ 2, tr. 13]. Địa hình Tuyên Quang bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu,chia làm 3 vùng như sau: Vùng núi cao Phía Bắc chiếm 50% diện tích toàn tỉnh, có độ cao trung bình là 600m so với mặt nước biển, bao gồm toàn bộ huyện Na Hang, huyện Lâm Bình, 11 xã thuộc huyện Chiêm Hóa, 2 xã thuộc huyện Hàm Yên, 3 xã thuộc huyện Yên Sơn ... Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của các đồng bào dân tộc ít người, dân cư thưa thớt, kinh tế chủ yếu là khoanh nuôi rừng tự nhiên, trồng rừng và phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc. Giao thông đi lại không thuận tiện, khó khăn cho việc giao lưu thông thương với các vùng khác [2, tr. 14-15]. Vùng đồi núi thấp phía Nam của các huyện Chiêm Hóa, Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương. Diện tích của khu vực này chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên của tỉnh, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực lại có hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưu với các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 vùng khác trong tỉnh. Đây là nơi các đồng bào dân tộc tập trung sống với số đông. Vùng thung lũng bao gồm 2 thung lũng lớn: Thung lũng Tuyên Quang và thung lũng Sơn Dương. Với diện tích khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh, đây là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, địa bàn trọng điểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế xã hội của tỉnh. Cư dân chủ yếu là người Kinh, Tày... Kinh tế của vùng là trồng cây lương thực, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi và khai thác khoáng sản (thiếc, kẽm, ăngtimoan...)[ 2, tr. 15]. Tuyên Quang có nhiều sông suối lớn như sông Lô, sông Gâm; Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc sau khi chảy dọc qua địa phận Hà Giang, chảy qua Tuyên Quang về Phú Thọ và hợp với sông Hồng ở Việt Trì, đây là đường thủy nối liền Tuyên Quang với Hà Giang, thủ đô Hà Nội và các tỉnh trung du đồng bằng Bắc Bộ. Sông Gâm cũng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Cao Bằng đến Hà Giang rồi chảy vào các huyện Na Hang, Chiêm Hóa hợp với sông Lô, đây là đường thủy nối liền các huyện với tỉnh và thành phố Tuyên Quang. Ngoài ra còn rất nhiều con sông, ngòi khác như; Sông Năng, sông Phó Đáy, ngòi Chinh, ngòi Cổ Linh...Tạo nên hệ thống sông ngòi dày đặc, đây cũng là nguồn thủy sinh không thể thiếu trong đời sống nhân dân, nó có giá trị kinh tế rất lớn, vừa là hệ thống giao thông, vừa cung cấp nước, thủy sản phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất và chứa đựng nhiều tiềm năng thủy điện, nhưng do độ dốc cao, lòng sông hẹp lắm thác ghềnh nên thường ngây lũ lụt vào mùa mưa[ 2, tr.16]. Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm từ 22 0 C đến 24 0 C và lượng mưa trung bình lớn, độ ẩm cao, lượng chiếu sáng lớn chia thành hai mùa rõ rệt v à thay đổi thất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 thường. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, điều kiện khí hậu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật phát triển nhanh , nhất là rừng, cây dược liệu và cây công nghiệp. Tuy nhiên, Tuyên Quang hay có lốc mạnh, lũ to, sương muối và ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, đây là một trong những nguyên nhân sinh ra các dịch bệnh như sốt rét, khớp, bướu cổ[ 2, tr. 16]. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Tuyên Quang có một nguồn tài nguyên, khoáng sản giàu có. Rừng Tuyên Quang có nhiều cây gỗ quý như: Trầm Hương, Nghiến, Lát Hoa, Tuế đá vôi, Hoàng Đàn, Pơ Mu, Đinh, Lim, Sến, Táu...; Nhiều cây dược liệu quý như: Sa Nhân, Ba Kích, Thục Sâm, và các loại đặc sản khác như Nấm Hương, Mộc Nhĩ, Mật Ong... Kết quả kiểm kê rừng năm 2005, độ che phủ của rừng là 63%, rừng gỗ chiếm 2,3 diện tích rừng toàn tỉnh, trữ lượng 16.116.000 m 3 [2, tr. 17]. Lòng đất Tuyên Quang chứa nhiều khoáng sản. Theo sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Tuyên Quang do Cục Địa chất Việt Nam – Bộ Công nghiệp biên soạn năm 1994, Tuyên Quang có 163 điểm mỏ với 27 loại khoáng sản khác nhau, được phân bố ở các huyện trong tỉnh. Trong đó đứng đầu về trữ lượng và chất lượng là quặng Sắt, Barít, Cao Lanh, Thiếc, Manggan, Chì Kẽm, Ăngtimoan.. Mỏ kim loại: Quặng Sắt đã phát hiện 17 điểm mỏ với tổng trữ lượng dự báo khoảng 7 triệu tấn, chủ yếu ở 2 huyện Yên Sơn và Hàm Yên. Quặng Thiếc có ở 12 điểm tập trung ở huyện Sơn Dương tổng trữ lượng cả quặng gốc và quặng sa khoáng đạt xấp xỉ 28.239 tấn. Quặng Mănggan có ở 8 điểm tập trung chủ yếu ở hai huyện Chiêm Hóa và Na Hang. Chì – Kẽm có ở 24 điểm mỏ tập trung ở Thành phố Tuyên Quang, Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hóa, Na Hang. Trong đó có 6 điểm mỏ được đánh giá trữ lượng ở cấp C2 – 195.927 tấn. Ăngtimoan đã phát hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 ở 15 điểm trong đó Chiêm Hóa có 10 điểm, Na Hang có 4 điểm, Yên Sơn 1 điểm. Mỏ không kim loại: Quặng Barít đã phát hiện ở 24 điểm thuộc các huyện Sơn Dương, Yên Sơn và Chiêm Hóa, có trữ lượng trên 2 triệu tấn. Đá vôi xây dựng, có rất nhiều điểm mỏ đá vôi đạt chất lượng tốt trong xây dựng, theo tài liệu địa chất đánh giá tại 9 điểm mỏ đá vôi (Tràng Đà, Thành phố Tuyên Quang) có tổng trữ lượng cấp P2 là 783 triệu m3. Mỏ Đá Trắng Bạch Mã ở huyện Hàm Yên có trữ lượng khoảng 100 triệu m 3. Cao lanh – Fenspat có nhiều điểm rải rác ở 3 huyện Yên Sơn, Sơn Dương và Hàm Yên. Nước khoáng – Nước nóng Có ở 2 điểm đáng chú ý là Bình Ca và Mỹ Lâm (thuộc huyện Yên Sơn)[2, tr. 18]. Nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú và đa dạng cho phép địa phương phát triển, làm giàu bằng các ngành công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng, đây là những thế mạnh của tỉnh để phát triển các ngành kinh tế phục vu đời sống nhân dân trong và ngoài tỉnh. 1.2 Địa bàn cư trú, nguồn gốc của người Cao Lan Theo số liệu điều tra 1/4/2009 dân số toàn tỉnh Tuyên Quang là 727. 505 người, với 22 dân tộc anh em cùng chung sống. Trong đó, dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm 44,82%; dân tộc Tày có 172.136 người, chiếm 23,66%; dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 10,59%; dân tộc Sán Chay (Cao Lan) có 54.095 người, chiếm 7,43%; dân tộc Mông có 14.658 người, chiếm 2,01%; dân tộc Nùng có 12.891 người, chiếm 1,77%; dân tộc Sán Dìu có 11.007 người, chiếm 1,52%; các dân tộc khác chiếm 8,2%. Ta có thể tổng kết thành phần dân tộc trên địa bàn tỉnh như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn BẢN ĐỒ ĐỊA BÀN CÁC HUYỆN CÓ NGƯỜI CAO LAN SINH SỐNG Ở TUYÊN QUANG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 Bảng 1.1 THỐNG KÊ CÁC THÀNH PHẦN DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG STT Dân tộc Số dân Tỷ lệ (%) (nghìn người) Ghi chú 1 Kinh 326.033 44,82 2 Tày 172.136 23,66 3 Dao 77.015 10,59 4 Cao Lan 54.095 7,43 5 Mông 14.658 2,01 6 Nùng 12.891 1,77 7 Sán Dìu 11.007 1,52 8 Các dân tộc khác 59.670 8,2 ( Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2009 ) Người Cao Lan sinh sống chủ yếu ở vùng Đông Bắc nước ta như: Tuyên Quang (54.095 người ); Thái Nguyên ( 29.229 người ); Bắc Giang ( 23.872 người); Quảng Ninh ( 11.766 người ); Yên Bái ( 7.665 người ); Cao Bằng ( 6.051 người ). Tại Tuyên Quang người Cao Lan cư trú ở 37 xã thuộc phía tây nam của các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên và một bộ phận ở ven Thành phố Tuyên Quang. Bảng 1.2 THỐNG KÊ VỀ TỘC NGƯỜI CAO LAN Ở CÁC HUYỆN STT Tên huyện Tổng dân số Số dân (nghìn Tỷ lệ Ghi người) (%) chú 1 Yên Sơn 167.000 31.025 18,58 2 Sơn Dương 179.846 17.893 9,95 3 Hàm Yên 109.000 3.781 3,47 4 TP T.Quang 110.119 946 0,86 (số liệu thống kê của các huyện năm 2009) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 Mức độ tập trung sinh sống của dân tộc Cao Lan ở các huyện là không đều nhau, họ sống chủ yếu ở 2 huyện Yên Sơn và Sơn Dương. Về nguồn gốc của dân tộc Cao Lan, tư liệu cho biết sớm nhất là: “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn. Khi viết về xứ Tuyên Quang, trong phần các giống người, ông cho thấy Cao Lan và Sơn Tử là 2 trong 7 chủng tộc Man: Sơn Trang, Sơn Tử, Cao Lan, Sơn Man, Sơn Bán, Sơn Miêu, Hán Văn và Bảo Toàn. Trong “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, xuất bản năm 1997, Sơn Tử, Cao Lan đều được coi như những nhóm Mán khác. Trong một số tư liệu khác như: “Phong thổ kí Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Thái Nguyên” đều coi Cao Lan là Mán như: Mán sơn đầu, Mán quần đen, Mán quần trắng, Mán đại bản, Mán tiểu bản.... Một số tác giả nước ngoài cũng có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá về nguồn gốc của người Cao Lan. Ví dụ, trong “Giản chí người Mán Cao Lan” A.Bonifacy người Pháp, xuất bản năm 1905 viết: Cao Lan vào nhóm Mán và coi Cao Lan như một ngành của Mán gọi là Mán Cao Lan. Tên tự gọi là Cao Lan hay Sơn Tử. Viết về nguồn gốc của người Cao Lan, A.Bonifacy đã ghi lại như sau: Khởi thủy, nước và đất đều không có nhưng đất và nước không rời nhau, dẫu vậy đã có Bàn Vương biết con đường thẳng. Bàn Vương xuống biển mượn và mang một con kì lân lên trời. Bằng hơi thở, ông đã làm ra 9 mặt trời bao quanh mặt đất, về sau Thích Ca tiêu diệt 7 mặt trời đủ để chiếu sáng mặt đất nhưng không đốt cháy. Năm Vĩnh Trinh thứ 3, nạn hồng thủy ngập trái đất, chỉ còn lại núi Côn Lôn nước không ngập đến, cây cối, người và vạn vật đều chết hết chỉ còn lại Phục Hy và cô em gái còn sống sót trong vỏ quả bầu, trốn lên núi này. Họ đi, đi mãi không tìm thấy người nào. Khi rùa đen hiện lên, bảo họ phải lấy nhau, hai người đánh chết con rùa và cắt thành từng mảnh, con rùa vẫn không chết và tiếp tục khuyên bảo họ, họ không nghe và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 tiếp tục đi, đi mãi. Lúc bấy giờ, có một cây hiện lên bảo họ phải lấy nhau, họ lấy dao chặt cây đốt thành hai đống lửa, khói của hai đống lửa bay lên trên mặt sông gặp nhau quấn quýt lấy nhau tạo thành hình trôn ốc. Từ đó hai người hiểu ngay rằng trời đã cho phép họ lấy nhau, sau một đêm người con gái có mang, sau 10 tháng trên đỉnh núi Côn Lôn cô gái đẻ ra một khối thịt hình mai rùa, khối thịt được phân thành 300 mảnh và trở thành các họ của loài người, có 50 mảnh trở thành các dòng họ chúa đất và thần thánh. Vậy, nên các vua chúa, thần thánh đều có cùng một nguồn gốc. Nhưng về sau có nhiều đàn ông hơn đàn bà, họ không có quần áo, không có thắt lưng, không biết làm nhà, gieo hạt. Họ ăn sống nuốt tươi, không học hành gì, họ giao cấu bừa bãi với cả người thân thuộc. Rồi Phục Hy trở lại trái đất, dạy họ biết mặc quần áo, Lỗ Ban dạy họ làm nhà, Ngọc Hoàng dạy họ dùng lửa, Thần Nông dạy họ cày ruộng làm nương, Bàn Cổ cấp cho họ các giống lúa. Bàn Cổ có 2 con trai và 12 con gái, người con trai cả là tổ tiên của người Hán, con trai thứ là tổ tiên của người Kinh, còn 12 người con gái nhà vua không thể gả hết chồng được; Một trong số các cô con gái đó đã được gả lấy chồng chó, đây chính là tổ tiên của người Cao Lan, cho nên phụ nữ mặc áo thân hình thang trên bả vai, tượng trưng cho những vết chó cắn, dưới cánh tay khâu những miếng vải xanh trắng tượng trưng cho những vết chân chó. Những người Khạ ở Lào đến Hà Nội dự Đấu xảo, năm 1902 cũng có những bộ trang phục giống như trang phục nữ của người Cao Lan và họ cắt nghĩa nguyên nhân của bộ trang trí bằng những lí do tương tự. Căn cứ vào nội dung ghi chép trong gia phả của các dòng họ lớn người Cao Lan như Hoàng; Âu; Tiêu; Trần; Lâm;Vi; Phương, tổ tiên của người Cao Lan trước đây ở vùng phía Tây Hương Sơn thuộc tỉnh Quảng Đông. Thời Minh do chiến tranh loạn lạc họ rời bỏ quê hương đi đến Quảng Tây, từ Nam Ninh đi vào Việt Nam. Họ đến sinh cơ lập nghiệp ở Yên Sơn, Sơn Dương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 (Tuyên Quang), từ năm Giáp Thân năm 1705 đến năm Ất Dậu 1706. Như vậy, cách đây hơn 300 năm các cụ tổ của các dòng họ nói trên đã đến nơi đây sinh sống. Theo sử thi của người Dao quần trắng cho thấy họ có một sự nghiệp chung với người Cao Lan ở một thời kì xa xưa hơn những điều đã nói trên đây. Có những nơi khi người Cao Lan đến sinh sống và định cư (xã Kim Phú, huyện Yên Sơn), họ thường gọi mình với cái tên khác là người Sán Chấy – theo âm hán là Sơn Tử (người ở rừng), họ cũng gọi mình là Trại Cao để phân biệt với người Sán Dìu (Trại Đất) đây là cách gọi dựa trên sự phân biệt về nhà cửa. Trại Cao tức là dân tộc Trại ở nhà sàn, còn Trại Đất tức là dân tộc Trại ở nhà đất [ 7, tr. 11-12]. Tiếng nói người Cao Lan dùng thường ngày có nhiều đặc điểm giống với tiếng Tày – Nùng, những thanh niên nam nữ hát “sình ca” ( xướng ca) với nhau lại bằng tiếng dân tộc Sán Chỉ, cho nên người ta gọi dân tộc Cao Lan là dân tộc có hai ngôn ngữ, ngôn ngữ dùng hằng ngày và ngôn ngữ văn học. Có thể từ thời xa xưa người Cao Lan và người Sán Chỉ có chung một nguồn gốc, một dân tộc. Vì họ có tên gọi, ca hát giống nhau, sự kiêng kị, phong tục tập quán nói chung đều giống nhau, nhưng tách ra thành hai dân tộc. Một bộ phận tách ra chịu ảnh hưởng của tiếng Tày – Nùng mà sau này gọi là Cao Lan, còn một bộ phận khác tách ra chịu ảnh hưởng của tiếng Hán sau này gọi là Sán Chí, điều này cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa. Về tiếng nói của người Cao Lan, theo Bonifacy, sở dĩ Cao Lan là người Mán lại nói tiếng Tày là do họ quên tiếng nói của dân tộc mình và vay mượn tiếng của dân tộc láng giềng. Chúng ta có thể nói rằng, người Cao Lan ở các huyện trong tỉnh Tuyên Quang nói tiếng Tày, người ta gọi là Cao Lan hay Sán Chay, Sơn Tử đều được, không phân biệt Cao Lan với Sán Chay hay Sơn Tử. Dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu những nguồn tư liệu khác nhau, nhìn chung các tác giả thời phong kiến cũng như thời thuộc Pháp đều cho Cao Lan, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -