Tài liệu Thị trường xuất khẩu nông sản việt nam– thực trạng và giải pháp phát triển

  • Số trang: 45 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 873 |
  • Lượt tải: 1
trancongdua

Đã đăng 1751 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................................... .......................................................................................................................... 1 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN ..................................................................................................... 3 1. Khái niệm và lợi ích của xuất khẩu nông sản đối với Việt Nam................................ 3 1.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa........................................................................... 3 1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu đối với Việt Nam. ................................................ 6 2. Đặc điểm của mặt hàng nông sản. .................................................................................. 7 2.1. Nông sản chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên: ................................... 7 2.2. Nông sản mang tính thời vụ:.................................................................................... 7 2.3. Nông sản mang tính phân tán:................................................................................. 8 2.4. Các mặt hàng nông sản có tính tươi sống:.............................................................. 8 2.5. Nông sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người: ...................................... 8 2.6. Nông sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng: ...................... 9 3. Đặc điểm thị trường hàng nông sản thế giới. ................................................................ 9 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM .... 13 1. Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây. ... 13 1.1. Kết quả xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây............. 13 1.2. Kết quả xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam sau khi gia nhập WTO ................................................................................................................................ 19 2. Cơ hội và thách thức với xuất khẩu nông sản Việt Nam. ........................................... 28 2.1. Cơ hội ....................................................................................................................... 28 2.2. Thách thức ............................................................................................................... 31 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM ............................................. 34 1. Định hướng phát triển trong thời gian tới ................................................................. 34 2. Giải pháp xúc tiến phát triển hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam ................ 37 KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 43 LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia khai thác được lợi thế của mình trong phân công lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đặc biệt là tạo công ăn, việc làm cho người lao động. Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa nền kinh tế thì Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam xây dựng và phát triển thị trường trong nước, hoà nhập thị trường thế giới để khai thác nguồn lực thị trường toàn diện cả trong và ngoài nước. Đặc biệt Việt Nam hiện là một nước trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, 80% dân số làm nông nghiệp nên các sản phẩm nông nghiệp khá dồi dào. Nếu các doanh Việt Nam nghiệp kinh doanh xuất khẩu thực hiện tốt việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ra thị trường thế giới sẽ góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho các vùng sản xuất nông nghiệp tạo nhiều công ăn việc làm và làm lành mạnh hoá cán cân thanh toán của nền kinh tế tạo cơ hội cho nền kinh tế tăng trưởng toàn diện . Từ đặc điểm có nền kinh tế của một nước nông nghiệp với dân số chủ yếu tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, Việt Nam đã xác định nông sản là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhằm tạo nguồn thu ban đầu rất cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước. Chính vì vậy, nhà nước đã tạo 1 điều kiện thuận lợi khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế nhất định. Vì vậy, em xin được lựa chọn đề tài : “ Thị trường xuất khẩu nông sản Việt Nam– thực trạng và giải pháp phát triển” Đề tài này đã tổng kết được những lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu, phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp cơ bản để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam. Kết cấu đề án ngoài mở đầu và kết luận gồm 3 chương: Chương I : Những vấn đề cơ bản về thị trường xuất khẩu hàng nông sản. Chương II : Thực trạng xuất khẩu nông sản ở Việt Nam . Chương III : giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam. 2 CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 1. Khái niệm và lợi ích của xuất khẩu nông sản đối với Việt Nam. 1.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Hoặc đưa vào khu vực dặc biệt nằm trên lãnh thồ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Theo quan niệm của các doanh nghiệp thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa, sản vật ra thị trường nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nước ngoài. Như vậy có thể hiểu xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài dựa trên lợi thế so sánh của mình nhằm mục đích kiếm lợi. Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho các quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ có thể là ngoại tệ với một hoặc cả hai quốc gia. Hàng hóa xuất khẩu: Là hàng hóa sản xuất để đưa ra thị trường , mua bán trao đổi trên thị trường nhưng là thị trường nước ngoài . Hàng hóa này phải di chuyển qua biên giới của quốc gia. Đồng thời cũng phải đáp ứng được tiêu chuẩn, chất lượng mà thị trường nhập khẩu đó đòi hỏi. Như vậy so với hàng hóa sản xuất để bán trên thị trường nội địa nó phức tạp hơn nhiều. Giá cả xuất khẩu: Là mức giá của hàng hóa xuất khẩu, nó được đưa ra dựa trên mức giá quốc tế và có sự chấp nhận của cả hai bên xuất nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu: Được hiểu là tổng giá trị hàng hjóa xuất khẩu của một doanh nghiệp, một đơn vị kinh tế hay một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. 3 Hạn ngạch xuất khẩu: Là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, được hiểu là quy định của nhà nước về sản lượng hay giá trị của một mặt hàng, hay nhóm mặt hàng sang một thị trường nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép xuất khẩu ( Quota xuất khẩu ). Hợp đồng xuất khẩu: Là hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài. Các chủ thể của hợp đồng là ngừơi mua, người bán phải có trụ sở đăng kí kinh doanh tại các nước khác nhau, thông thừơng là có quốc tịch khác nhau. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện rất lâu và ngày càng phát triển. Nó diễn ra trên tất mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện. Từ lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng cho đến lĩnh vực công nghệ khoa học. Dù ở lĩnh vực nào nó cũng nhằm đem lại lợi ích cho các quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rộng cả về không gian và rhời gian. Nó có thể diễn ra trong thời ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm. Nó có thể được tiến hành trên phạm vi lãn thổ của một quốc gia hoặc nhiều quốc gia khác nhau. Các hình thức xuất khẩu: Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới các khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình mà không cần qua các tổ chức trung gian. Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là các doanh nghiệp có thể liên hệ trực tế với nhau, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng để có thể chủ động trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hình rhức này giúp các doanh nghiệp giảm được khoản chi phí trung gian. Xuất khẩu ủy thác: Đơn vị xuất khẩu (bên nhận ủy thác) nhận xuất khẩu một lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình và được hưởng một khoản theo thỏa thuận với đơn vị có hàng xuất khẩu (bên ủy thác). Đơn vị có hàng 4 xuất khẩu khong phải bỏ ra một khoản vốn lớn để đầu tư vào vircj bán hàng ra nước ngoài nên rủi ro kinh doanh không cao, nhưng họ không trực tiếp liên hệ với khách hàng và thị trường nước ngoài nên không thể chủ động sản xuất hàng hóa. Buôn bán đối lưu: Là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, bên bán hàng đồng thời là bên mua hàng và lượng hàng hóa mang ra trao đổi thường có giá trị tương đương nhau. Mục đích xuất khẩu không nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà là nhằm mục đích có được một lô hàng có giá trị tương đương với lô hàng xuất khẩu. Giúp doanh nghiệp tránh được những biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối đồng thời có lợi khi doanh nghiệp không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình. Xuất khẩu theo nghị định thư: Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu của nhà nước một hoặc một số hàng hóa nhất định cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã được kí giữa 2 chính phủ. Cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, và thường không có rủi ro trong thanh thư. Xuất khẩu tại chỗ: Là hình thức kinh doanh mà hàng hóa xuất khẩu không cần vượt qua biên giới quốc gia khách hàng vẫn có thể mua được. Doanh nghiệp xuất khẩu không cần phải đích thân ra nước ngoài đàm phán với người mua mà chính người mua lại tìm đến với doanh nghiệp. Hình thức này thường được áp dụng với các quốc gia có thế mạnh về du lịch và có nhiều tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó. Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu trong đó có một một bên nhập nguyên liệu hoặc bán sản phẩm (bên nhận gia công) của bên khác (bên đặt gia công) dể chế tạo ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu 5 được một khoản lệ phí như thỏa thuận của cả 2 bên. Bên nhận gia công thường là các nước đang phát triển có lực lượg lao động dồi dào, có tài nguyên phong phú. Tái xuất khẩu: Với hình thức này một nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa đã nhập từ một nước khác sang nước thứ 3. Hình thức này được áp dụng khi có sự khó khăn trong quan hệ quốc tế giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu. Doanh nghiệp ở nước tái xuất khẩu có thể thu được một khoản lợi nhuận lớn mà không phải tổ chức kinh doanh. 1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu đối với Việt Nam. Việt Nam là nước nông nghiệp, với 80% dân số tham gia vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Có khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện rất tốt cho cây nông nghiệp và sản phẩm vùng nhiệt đới phát triển. Khi xuất khẩu các mặt hàng nông sản ra thị trường thế giới sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích. Về luận Việt Nam có thể hưởng được các kết quả trong lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối và học thuyết về sự cân đối giữa các yếu tố trong kinh doanh quốc tế. Như lao động rẻ, dồi dào, tỷ lệ lao động tham gia vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp lớn, có kinh nghiêm sản xuất lâu đời; có điều kiện tự nhiên thích hợp với sự sinh trưởng và phát riển của nhiều loại sản phẩm nông nghiệp… Liên kết các hoạt động kinh tế của Việt Nam với nền kinh tế thế giới vì hoạt động ngoại thương là bước đầu tiên để thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận với những tiến bộ của khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Giúp Việt Nam thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế Việt Nam. Tạo điều kiện để tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân. Thúc đẩy các ngành phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như nghành phân bón, 6 công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Qua xuất khẩu nông sản giúp cho Việt Nam thúc đẩy tiến bộ công nghệ khoa học trong sản xuất chế bíến và bảo quản các mặt hàng nông sản sau thu hoạch, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, thúc đẩy cuộc cách mạng đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi loại bỏ các sản phẩm kếm hiệu quả, chất lượng, thực hiện tốt yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về mặt thương mại sẽ giúp cho Việt Nam phát triển công nghệ kinh doanh, nắm bắt và làm quen với các thông lệ quốc tế đi đến thực hiện tốt các quan hệ thương mại quốc tế. 2. Đặc điểm của mặt hàng nông sản. 2.1. Nông sản chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên: Đất đai , khí hậu thời tiết, địa hình nguồn nước… hay nói một cách cụ thể hơn là các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng và phát triển của cây trồng. Từ đó tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng, giá cả, nguồn hàng nông nghiệp cho xuất khẩu. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì năng suất và chất lượng sẽ cao. Và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi thì năng xuất và chất lựng nông sản đều giảm và giá cao. 2.2. Nông sản mang tính thời vụ: Việc sản xuất thu hoạch nông sản thường được tiến hành theo mùa vụ rõ ràng, cụ thể với từng loại cây và từng khu vực nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện thời tiết ở nơi sản xuất. Năng suất, chất lượng, giá cả của nông sản có sự biến động tùy thuộc vào từng mùa vụ. Vào chính vụ sản lượng lớn, chất lượng đồng đều, phong phú về chủng loại, giá rẻ. Trái vụ hoặc thời tiết không thuận lợi thì sản lượng thấp, chất lượng không đồng đều, giá cao. 7 2.3. Nông sản mang tính phân tán: Mỗi loại cây khác nhau phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau. Do đó sẽ trồng và phát triển ở những vùng khác nhau như: chè phù hợp trồng ở vùng núi phía Bắc, cà phê phù hợp với các vùng đất ở Tây Nguyên, Đắc Lắc, Đắc Nông, gạo được trồng ở các vùng đồng bằng, trung du ( đồng bằng bắc bộ, đồng bằng sông cửu long,) … Nông sản phân tán ở các vùng nông thôn và trong tay hàng triệu nông dân, nhưng sức tiêu thụ lại tập trung ở thành phố và các khu công nghiệp. Phương thức lưu thông hàng nông sản là phân tán –tập trung, nông thôn-thành thị. Vì vậy việc bố trí thu mua, chế biến, vận chuyển phải phù hợp với các đặc điểm nói trên. 2.4. Các mặt hàng nông sản có tính tươi sống: Dễ bị hỏng, kém chất lượng. Hơn nữa chủng loại, số lượng, chất lượng cũng rất khác nhau. Vì vậy khi thu mua cần đặc biệt lưu phân lý loại, chế biến bảo quản, vận chuyển, có phương thức kinh doanh phù hợp với đặc điểm của từng loại. Thu mua nhanh chóng, kịp thời tránh hao tổn. Giá cả hàng nông sản xuất khẩu phụ thuộc vào chất lượng. chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản chế biến. Vì vậy các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến việc chế biến và bảo quản nông sản. 2.5. Nông sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người: Chất lượng hàng nông sản tác động trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Nên yêu cầu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đặc biệt coi trọng và được quy định chặt chẽ trong quá trình sản xuất chế biến, bảo quản. Ngày nay chất lượng trở thành công cụ cạnh tranh khá hiệu quả và để xâm nhập vào các thị trường khó tính thì đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết mà thị trường nhập khẩu đặt ra. 8 2.6. Nông sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng: Mỗi loại hàng khác nhau thì có điều kiện sinh trưởng, phát triển khác nhau, thu mua chế biến theo cách rỉêng. Vì vậy chất lượng không đồng đều . Ngay trong mỗi mặt hàng thì chất cũng đã được quy định rất nhiều loại khác nhau. Thói quen tiêu dùng và sự đánh giá trên về cùng một mặt hàng trên thị trường thế giới cũng rất khác nhau. VD: Đối với mặt hàng gạo hiện nay được chia làm 6 loại chính. Thị trường Châu Âu quen tiêu dùng gạo ngon, hạt dài. Thị trường Châu Á lại quen tiêu dùng loại gạo chất lượng trung bình hạt dài. Thị trường Châu Phi quen tiêu dùng gạo hấp (luộc sơ) có chất lượng không cao và không được chấp nhận ở các thị trường còn lại. Thị trường Trung Đông quen tiêu dùng gạo thơm. Thị trường Lào quen tiêu dùng gạo nếp… 3. Đặc điểm thị trường hàng nông sản thế giới. Hầu hết các mặt hàng nông sản phục vụ cho nhu cầu ăn, uống của con người. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhu cầu hàng nông sản có phẩm cấp cao ngày càng tăng, nhu cầu hàng có phẩm cấp thấp ngày càng giảm xuống. Tuy nhiên hàng nông sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người vẫn giữ vai trò quan trọng và không thể thiếu được đối với sự tồn tại của con người. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia xuất khẩu hàng nông sản. nhưng các nước đang phát triển là những nước xuất khẩu hàng nông sản chủ yếu. Tuy nhiên hàng nông sản được xuất khẩu từ các nước này chủ yếu là các mặt hàng thô hoặc mới chỉ qua sơ chế nên có gía trị xuất khẩu chưa cao. Những nước không có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp là những nước chính nhập khẩu hàng nông sản. Đây có thể là các nước chậm phát triển, đang phát triển hoặc phát triển. Tuy nhiên nhu cầu của mỗi nước đối với hàng nông sản rất khác nhau. Thông thường các nước chậm phát triển và đang phát triển có nhu cầu nhập khẩu một số lượng lớn sản phẩm lương 9 thực. Những sản phẩm này có yêu cầu về chất lượng không cao, giá rẻ và chỉ cần một sự thay đối nhỏ về giá cả sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn trong hành vi tiêu dùng của người dân tại các nước này. Ngược lại, tại các nước phát triển, người tiêu dùng chỉ chấp nhận sản phẩm có chất lượng cao mặc dù giá đắt. Thị trường nhập khẩu hàng nông sản đã và đang bị thu hẹp lại. Hiện tại các nước phát triển có nhu cầu nhập khẩu hàng nông sản lớn nhất thế giới. Tuy nhiên các nước này đã và đang thực hiện một cách phổ biến và sâu rộng chế độ trợ cấp cho sản xuất nông nghiệp ở mức độ cao, bảo hộ thị trường nông sản nội địa dưới nhiều hình thức. Chẳng hạn: Năm 1995,1996 số tiền trợ giá cho nông sản xuất khẩu chỉ riêng của EU đã bằng 80% tổng số tiền trợ giá của tất cả các thành viên thuộc WTO. Cơ chế trợ cấp và trợ giá quá cao cho hàng nông sản ở các nước đang phát triển đã gây sự bóp méo giá cả hàng nông sản xuất khẩu, hạn chế tác động của quy luật thị trường và giảm đi ưu thế cạnh tranh hàng nông sản của các nước đang phát triển vốn nhờ vào lao động rẻ. Cơ chế này không những làm tăng khả năng xuất khẩu hàng nông sản của các nước này mà còn hạn chế nhập khẩu nông sản của các nước này. Đây thực tế là một bất lợi lớn đối với sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu khẩu nông sản của các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam). Trước sức ép của xu hướng tự do hoá thương mại buộc các nước phát triển phải nhất trí sự cần thiết giảm trợ giá cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu, mở rộng tự do hoá thị trường nông sản thế giới ở một cuộc họp tại Mỹ vào tháng 11 năm 1999. Điều này dường như dẫn tới một tương lai sáng sủa hơn cho sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, giờ đây sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển lại phải đối mặt với những rào chắn khác, đó là những quy định chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái mà trong nhiều trường hợp người ta xem đó là hình thức bảo hộ trá hình nhằm 10 ngăn cản hàng nông sản của các nước đang phát triển tràn vào thị trường các nước phát triển. Các nước Châu Phi cũng có nhu cầu nông sản lớn nhưng khả năng thanh toán hạn hẹp. Trong khi đó Liên Hợp Quốc chỉ còn hỗ trợ nhập khẩu lương thực cho những nước có khủng hoảng chính trị. Tình hình trên làm cho thị trường nông sản bị thu hẹp trong khi nguồn cung cấp nông sản khá dồi dào ở các nước Châu á, Mỹ La Tinh, Tây Âu, Bắc Mỹ đã đẩy kinh doanh nông sản trên thị trường thế giới vào tình trạnh cạnh tranh quyết liệt khiến cho giá nông sản xuất khẩu trên thị trường thế giới giảm, gây bất lợi cho những người sản xuất nông nghiệp và cho những nước xuất khẩu nông sản. Theo như đã phân tích ở trên, thị trường nông sản thế giới đang bị thu hẹp, nguồn cung cấp hàng nông sản trên thị trường thế giới ngày càng dồi dào, cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu nông sản nguyên liệu diễn ra ngày càng gay gắt buộc các nước đang phát triển phải xuất khẩu nông sản nguyên liệu cho các nước phát triển với giá thấp (các nước đang phát triển sẽ chế biến lại để xuất khẩu). Mặt khác hàng nông sản chế biến sâu của các nước đang phát triển lại phải cạnh tranh với hàng nông sản xuất khẩu cùng loại của các nước phát triển ở thế yếu hơn do hạn chế về công nghệ chế biến và khả năng đầu tư cho công nghệ chế biến nông sản xuất khẩu. Trong những điều kiện này, ưu thế cạnh tranh trên thị trường thế giới thuộc về các nước phát triển. Các nước này đã trở thành người chi phối và chiếm ưu thế trong quan hệ buôn bán nông sản trên thị trường. Hiện tại thiệt thòi đang thuộc về các nước đang phát triển. Tuy nhiên theo đánh giá của tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc 11 (FAO) với tốc độ phát triển như hiện nay (dân số thế giới tăng trưởng với tốc độ cao nhưng đất đai sử dụng cho nông nghiệp lại giảm cùng với quá trình công nghiệp hoá làm cho tốc độ tăng bình quân nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn hơn tốc độ tăng bình quân sản lượng nông sản trên thị trường thế giới) thì đến năm 2010 cầu về hàng nông sản trên thị trường thế giới sẽ vượt xa cung. Điều này mở ra một cơ hội mới cho các nước đang phát triển xuất khẩu nông sản nói chung và Việt Nam nói riêng có thể đẩy mạnh xuất khẩu nông sản trong tương lai. 12 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM 1. Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây. 1.1. Kết quả xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau giữa các quốc gia. Sự độc lập phát triển của mỗi quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động xuất nhập khẩu là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Những năm qua, hoat động xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có những chuyển biếm tích cực như: Sự tăng lên về kim nghạch xuất khẩu, Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hóa, giảm tỷ trọng loại hàng hóa chưa qua chế biến tăng tỷ trọng hàng đã qua chế biến. Thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường. Sự thay đổi đó thể hiện rất rõ ở kết quả xuất khẩu nông sản cuả Việt Nam năm 2007, 2008, và những tháng đầu năm 2009. Trong những năm qua, hoat động xuất khẩu nông sản đã có những chuyển biếm tích cực như sự tăng lên về kim nghạch xuất khẩu, Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hóa, giảm tỷ trọng loại hàng hóa chưa qua chế biến tăng tỷ trọng hàng đã qua chế biến. 13 Thị trường xuất khẩu hàng húa của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường. Trong số các nước ở Châu Á như Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của ta sang các nước đó cũng đó thay đổi theo hướng giảm dần và tăng ở các nước khối EU và Châu Mỹ. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2007 là năm thành công trong xuất khẩu nông sản. Đến thời điểm 12/12/2007, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của cả nước đã đạt 11,5 tỷ USD, tăng 19,5% so cùng kỳ năm trước, vượt kế hoạch cả năm 5,6%. Trong đó, kim ngạch nông sản ước đạt khoảng 5,7 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 24%, thủy sản ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 11,8% so cùng kỳ và đạt 95% kế hoạch, lâm sản ước đạt trên 2,3 tỷ USD, tăng 20% so cùng kỳ và đạt 99% kế hoạch. Tính đến hết tháng 11/2007, các mặt hàng đều có kim ngạch xuất khẩu tăng so cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng tăng rất mạnh như cà phê tăng 1,7 lần, mặt hàng lạc, đường, dầu mỡ động thực vật tăng 2-3 lần. So kế hoạch năm, gạo, cà phê, điều và sản phẩm gỗ đã đạt và vượt kế hoạch năm cả về lượng và giá trị, một số mặt hàng khác khó đạt được mục tiêu kế hoạch là rau quả, cao su và lạc. Đặc biệt, đến hết tháng 11/2007, xuất khẩu gạo đã hoàn thành chỉ tiêu với sản lượng xuất khẩu xấp xỉ năm trước (4,5 triệu tấn) nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng 18% (kim ngạch 1,45 tỷ USD). Cà phê Việt Nam vượt ngưỡng xuất khẩu 1 triệu tấn với tổng giá trị kim ngạch 1,63 tỷ USD (cao hơn mức dự kiến xuất khẩu của cả năm là 26%). Như vậy, cà phê là mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất trong tất cả các mặt hàng nông lâm thủy sản so với dự kiến kế hoạch năm 2007. Hiện đã có tới 5 mặt hàng là thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, gạo và cao su đạt giá trị xuất khẩu từ 1-3 tỷ USD. 14 Kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong năm 2007 đã đạt được những kết quả tích cực cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Tổng kim nghạch xuất khẩu cả năm đạt 48,387 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006 ( kế hoạch của chínhnh phủ đề ra là 46,7 tỷ USD, tăng 17,4%). Trong đó tỷ trọng hàng húa chế biến, chế tạo, có hàm lượng công nghệ và chất xám cao tăng dần, tỷ trọng hàng hóa chưa qua chế biến giảm dần. Nông nghiệp Việt Nam vẫn phátt triển theo hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25%, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 19,8% GDP cả nước. Sau một năm gia nhập WTO, bức tranh xuất khẩu nông sản đẹp hơn bao giờ hết với tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 12,6 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đó vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 tới 1,5 tỷ USD. Tuy thị trường xuất khẩu năm 2008 có nhiều biến động, nhưng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2008 đạt 16,24 tỷ USD, tăng 22,7% so với năm 2007, đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay. Trong đó các mặt hàng nông sản ước 8,42 tỷ USD, tăng 34%; lâm sản và gỗ đạt 3,0 tỷ USD, tăng 13,4%; mặt hàng thuỷ sản 4,5 tỷ USD, tăng 19,6%. 6 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD cụ thể là: gạo 2,87 tỷ USD, cà phê 2,0 tỷ USD, cao su 1,6 tỷ USD, đồ gỗ 2,8 tỷ USD, tôm gần 1,5 tỷ USD, cá tra trên 1 tỷ USD. Đặc biệt, mặt hàng điều có kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, đạt trên 908 triệu USD, tăng 38,8% so với năm 2007. Hầu hết hàng nông sản năm nay đều xuất khẩu tăng mạnh với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên như thủy sản, gạo, cà phờ, cao su, sản phẩm gỗ. Nhưng Việt Nam vẫn bị thất bại trong việc tìm kiếm, trinh phục thị trường mới. Khó khăn ở cỏc thị trường truyền thống buộc doanh nghiệp phải tìm tòi, xâm nhập thị trường mới, nhưng kết quả khụng mấy lạc quan. Vỡ vậy các doanh nghiệp quyết định quay về các thị trường truyền thống như: Nga, Đông Âu, Tây Âu, Trung Đông và Ai Cập, Đài Loan, Mỹ. Nhật Bản… Tuy nhiờn khối lượng nhập khẩu vào các thị 15 trường nay cũng rất hạn chế. Theo ông William Troy, Công ty Thương mại Toàn cầu (Mỹ) cho biết, sỡ dĩ khả năng thâm nhập thị trường Mỹ của hàng nụng sản Việt Nam cũn hạn chế, chính là do năng lực cạnh tranh kém. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu hàng nụng sản của Việt Nam sang các nước thuộc khối ASEAN vẫn luụn phập phù, dao động từ 400 - 900 triệu USD/năm với mặt hàng chủ yếu là gạo Kết quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản năm 2008 Triệu USD STT Trị giá Số lượng 1 Thủy sản 2 Gạo 4,500 3 Cà phê 1,100 4 Rau quả 5 Cao su 730 2,000 780 6 Hạt tiêu 100 350 120 7 Nhân điều 170 940 190 8 Chè các loại 115 155 130 9 Mây, tre, cói & thảm 2,700 3,500 10 Sản phẩm gỗ 2,800 3,200 4,500 4,500 2,300 1,200 370 Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm năm 2009 đạt 3,47 tỷ USD, tăng 3,1% so với Quý I năm 2008. Trong đó, Các mặt hàng xuất khẩu chính như: gạo, xuất khẩu quý I đạt trên 1,7 triệu tấn, kim ngạch 785 triệu USD, tăng 71% về lượng và 76% về kim ngạch so cùng kỳ 16 năm ngoái. Tổng lượng cà phê xuất khẩu 419 nghìn tấn với giá trị 634 triệu USD, tăng 21,37 % về lượng. Cao su ước 115 ngàn tấn với trị giá 158 triệu USD. Sản phẩm chè với tổng xuất khẩu đạt 22 nghìnn tấn và 28 triệu USD, cả khối lượng và giá trị đều tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm 2008. Hạt điều xuất khẩu ước 29 nghìn tấn với trị giỏ 130 triệu USD. Hạt Tiêu xuất khẩu tháng 3 năm 2008 đạt 9 nghin tấn, đưa khối lượng tiêu xuất khẩu quý I lớn 24 nghìn tấn với giá trị trên 60 triệu USD, tăng 58% về lượng. Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản và đồ gỗ ước 572 triệu USD; trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ 527 triệu USD; sản phẩm mây tre, cuối tháng 42 triệu USD. Giá trị xuất khẩu thuỷ sản tháng 3 đạt 300 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu quý I lờn 744 triệu USD. Kế hoạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản năm 2009 STT Mặt hàng xuất khẩu Triệu USD Trị giá 1 Thủy sản Tr USD 4,500 2 Gạo 1000 T 2,850 4,500 3 Cà phê 1000 T 2,300 1,200 4 Rau quả Tr USD 370 5 Cao su 1000 T 2,000 780 6 Hạt tiêu 1000 T 350 120 7 Nhân điều 1000 T 940 190 8 Chè các loại 1000 T 155 130 9 Mây, tre, cói & thảm Tr USD 230 110 Sản phẩm gỗ Tr USD 2800 17 Số lượng Trong kế hoạch điều hành năm 2009, Bộ Công Thương Việt Nam dự kiến cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2009, như sau: Khu vực thị trường châu Á và châu Đại Dương: Dự báo xuất khẩu vào các thị trường chính như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan sẽ giảm so với năm 2008, đặc biệt là thị trường ASEAN do xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Kế hoạch năm 2009, xuất khẩu hàng hóa vào thị trường châu Á đạt 31,6 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2008; khu vực thị trường châu Đại Dương dự kiến giảm còn bằng 91,8% so với năm 2008 đạt 3,9 tỷ USD cũng bởi nguyên nhân xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước nêu trên, song do kim ngạch xuất khẩu vào ASEAN tăng chậm so với tốc độ tăng trưởng bình quân, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN tăng tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này tiếp tục tăng. Khu vực thị trường châu Âu: Năm 2009, xuất khẩu những hàng hóa chủ yếu vào thị trường EU dự báo sẽ giảm như dệt may, giày dép vì nhu cầu tiêu dùng giảm do khủng hoảng kinh tế các mặt hàng có khả năng tăng là sản phẩm nhựa, hàng điện tử, hàng thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 13,3 tỷ USD, tăng 15%. Khu vực thị trường châu Mỹ: Do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ nên tăng trưởng nhập khẩu của Hoa Kỳ năm 2009 dự báo sẽ giảm (trừ những nhóm hàng nhiên liệu và một số nông sản có thể vẫn tăng do vẫn có nhu cầu tiêu dùng và tăng giá) nhất là đối với các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như may mặc, giày dép, vali, túi xách, đồ gỗ, đồ điện tử, cáp điện, sản phẩm nhựa, hạt điều, cà phê. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt 18
- Xem thêm -