Tài liệu Thi pháp truyện ngắn qua số tác phẩm của thạch lam và nam cao (2)

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 220 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Tham gia: 23/09/2015

Mô tả:

MÔN VĂN M CH M I M: V13 THI PHÁP TRUYỆN NGẮN QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO, THẠCH LAM Phần 1. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Trong quá trình phát triển lâu dài của văn học, loại thể là một yếu tố mà bên cạnh mặt biến động đổi thay lại có những yếu tố tương đối ổn định. Các tác phẩm của nhiều tác giả, ở nhiều thời đại, quốc gia đều khác nhau về nội dung, tư tưởng nhưng có những mặt gần gũi về điệu cảm xúc của tâm hồn, về ý thức biểu hiện thế giới nội tâm của nhà thơ. Những yếu tố tương đồng và tương đối ổn định đó trong văn học biểu hiện nhiều mặt và loại thể văn học là một yếu tố quan trọng. Loại thể văn học thuộc về ý thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể. Tác phẩm văn học tồn tại trong những hình thức của các loại thể văn học. Không có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của loại thể. Phân tích một tác phẩm về nội dung cũng như nghệ thuật không thể xem nhẹ đặc trưng loại thể. Dạy học theo đặc trưng thi pháp của từng loại thể là để từng bước bám sát việc đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu chung của trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, do văn học là lĩnh vực của sự sáng tạo nên ở mỗi nhà văn, thể loại văn học lại có những điểm sáng tạo mang tính cá nhân. Ở đây tôi xin được nhấn mạnh đặc trưng thi pháp của thể loại truyện ngắn qua một số tác phẩm của Nam Cao, Thạch Lam. 2. Mục đích yêu cầu: Khái quát những đặc điểu cơ bản và chính yếu của thi pháp truyện ngắn qua các tác phẩm của Nam Cao, Thạch Lam, nhằm tiếp cận các giá trị của tác phẩm Nam Cao, Thạch Lam một cách sâu sắc và mới mẻ, rút ra những vấn đề lí luận về thi pháp từ thực tiễn ngiên cứu và về phương pháp luận nghiên cứu văn chương theo góc độ thi pháp học. 3. Giới hạn vấn đề: Vận dụng lý thuyết thi pháp để nghiên cứu thi pháp truyện ngắn và thi pháp truyện ngắn của Nam Cao, Thạch Lam. Thi pháp truyện ngắn Nam Cao vừa là đối tượng tiếp cận vừa là giới hạn mục tiêu cần đạt được của đề tài. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Với sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu: – Phương pháp tiếp cận thi pháp học. – Phương pháp so sánh văn học. – Phương pháp thống kê. 5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm Dạy học các tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp loại thể không phải là vấn đề mới mẻ nhưng việc áp dụng nó một cách bài bản, có hiệu quả hay không lại cần cả một quá trình đánh giá của từng đơn vị, từng nhóm chuyên môn 1 của nhà trường. Bởi vậy trong phạm vi của bài viết mang tính kinh nghiệm này, chúng tôi chỉ đề xuất những giải pháp nhằm xác định rõ hơn những yêu cầu cơ bản khi giảng dạy tác phẩm truyện ngắn theo đặc trưng loại thể của nó: Dạy học theo đặc trưng thi pháp loại thể là chú ý hơn đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần ình Sử). Phương pháp chủ yếu của dạy học theo đặc trưng loại thể là chú trọng đến yếu tố hình thức “Phương pháp hình thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó” (Nguyễn Văn Dân). ây là điểm bổ sung thêm để kết hợp với cách dạy học trước đó là chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội của tác phẩm… Dạy học tác phẩm truyện theo đặc trưng loại thể là cách dạy học theo hướng cung cấp tri thức công cụ để học sinh tự lĩnh hội và khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm (thực ra là tạo điều kiện cho học sinh được thực hành những hiểu biết về loại thể để tìm hiểu văn bản), đó cũng là điều phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Với học sinh chuyên, việc thấy được những đặc trưng thi pháp truyện ngắn và những sáng tạo mới mẻ của từng nhà văn là một yêu cầu vô cùng quan trọng 6. Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm. Trong thực tế giảng dạy tại đơn vị, chúng tôi đã áp dụng những suy nghĩ trong bài viết này vào công việc soạn giảng và thấy có hiệu quả nhất định ở một số lĩnh vực: - Học sinh nắm chắc hơn cách đọc một tác phẩm truyện so với tác phẩm thơ, kịch. - Các em chú ý hơn tới các yếu tố thuộc về mặt hình thức nghệ thuật của tác phẩm như kết cấu, tình huống, nhân vật, chi tiết tiêu biểu… và không bị bất ngờ khi gặp những câu hỏi mới. - Thấy được những đổi mới của thi pháp truyện ngắn của Nam Cao và Thạch Lam. Phần 2. NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1. THI PHÁP. 1.1. Khái niệm thi pháp. Thi pháp học là bộ môn khoa học lâu đời, nó xuất hiện từ thời Hi Lạp cổ đại. Ở Việt Nam, Thi pháp học mới chỉ phổ biến sau năm 1986. “Từ điển tiếng Việt” có giải thích: “Thi pháp: Phương pháp, quy tắc làm thơ.”(Hoàng Phê; Từ điển tiếng Việt, Nxb, à Nẵng. 1998). Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, tác giả Lại Nguyên Ân có viết: “Thi học, thi pháp Ngành học thuật nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiên biểu hiện trong các tác phẩm văn học; một trong những bộ môn lâu đời nhất của nghiên cứu văn học… Trong nghĩa rộng “thi học” trùng với “lý luận văn học”; trong nghĩa hẹp, “thi học” trùng với một số các nghành của thi 2 học lý thuyết. Là một ngành của lý luận văn học, thi học nghiên cứu đặc trưng của các loại hình loại thể văn học, các trào lưu và khuynh hướng, các phong cách và phương pháp, nghiên cứu các quy luật liên hệ và quan hệ nội tại giữa các cấp độ khác nhau của chỉnh thể nghệ thuật”).(Lại Nguyên Ân; 150 thuật ngữ văn học, Nxb ại học quốc gia Hà Nội, H. 1999, tr.307-308). Cũng theo tác giả, tuỳ theo đối tượng nghiên cứu người ta chia ra thành: thi pháp chủ nghĩa lãng mạn, thi pháp tiểu thuyết(thi pháp của thể loại), thi pháp sáng tác của một nhà văn nào đó… Như vậy chúng ta có thể hiểu thi pháp là: hệ thống các yếu tố hình thức tạo nên tác phẩm, cách thức hoặc quy tắc sáng tác một tác phẩm văn học theo một loại thể nhất định. 1.2. Loại thể và dạy học bám sát đặc trƣng thi pháp loại thể Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể là việc dẫn dắt học sinh khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó. ây là một trong những phương pháp dạy học bổ sung hữu ích cho cách dạy học truyền thống là chú trọng tới các yếu tố bên ngoài tác phẩm nhiều hơn như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội. Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể cũng là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay. “Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể. ến với thơ không giống với tự sự hay kịch. ến với văn học dân gian không hoàn toàn giống như đến với văn học viết. Văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp nghiên cứu riêng. Với văn học dịch cũng cần có cách tiếp cận riêng.”(Phan Trọng Luận; Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương, trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12”, Nxb GD.H.2008). 2. ĐẶC TRƢNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN Truyện có những đặc trưng cơ bản: “tính khách quan trong sự phản ánh; cốt truyện được tổ chức một cách nghệ thuật; nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động gắn với hoàn cảnh; phạm vi miêu tả không bị hạn chế về không gian và thời gian; ngôn ngữ linh hoạt, gần với ngôn ngữ đời sống” (Sách giáo viên Ngữ văn 11 tập 1, Nxb GD, H. 2007. tr 152). 2.1. Hình tƣợng nhân vật: (là yếu tố quan trọng hàng đầu) Nhân vật là con người (có tên hoặc ko có tên, dù dưới hình thức loài vật hay cây cỏ). Hình tượng nhân vật là nhân vật được phản ánh một cách sinh động, toàn vẹn, là sản phẩm trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn. Hình tượng nhân vật được xem như là một phương tiện để chuyển tải những quan niệm , những suy nghĩ về con người và cuộc đời. 2.2.Cốt truyện Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, các biến cố xảy ra trong cuộc sống của nhân vật, có tác dụng bộc lộ số phận, tính cách nhân vật 2.3. Chi tiết là những biểu hiện nhỏ nhặt, nhưng lại cho chúng ta thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng thời thể hiện sự quan sát và NT kể chuyện của tác giả. Tác dụng: chi tiết có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhân vật, vừa tạo ra sự hấp dẫn thú vị, vừa bộc lộ ý nghĩa của chúng. 3 2.4.Sự miêu tả hoàn cảnh: Hoàn cảnh là toàn bộ các quan hệ xã hội, các điều kiện sống, tạo thành nền tảng khách quan của đời sống nhân vật. Tác dụng: Biểu hiện địa vị, tâm tình nhân vật, gây hứng thú cho người đọc. 2.5. Cốt truyện, kết cấu của truyện ngắn: Nếu tính thời điểm là nét thẩm mĩ đặc trưng của truyện ngắn được hầu hết các nhà văn công nhận, thì cốt truyện và cách kết thúc truyện ngắn lại là những vấn đề gây nhiều tranh cãi. Theo nguyên tắc lí thuyết, mỗi truyện ngắn là một câu chuyện; câu chuyện đó được xây dựng trên cơ sở một cốt truyện bao gồm "hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng tác phẩm" (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ại học Quốc gia Hà Nội, 1998, tr.81). Quan điểm truyền thống luôn đề cao vai trò cốt truyện, đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn. Thi hào Goeth thậm chí cho rằng "nếu thiếu cốt truyện thì cả nền lí luận nghệ thuật sẽ chả còn gì nữa". A. Tolstoi cũng khẳng định việc đầu tiên trước khi viết một truyện ngắn là "cần tìm cho được cốt truyện", và một truyện ngắn hay là một truyện ngắn có cốt truyện độc đáo. Trong năm thành phần của cốt truyện, nhiều nhà lí luận đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của thành phần "gỡ nút" trong truyện ngắn. Engel Vincent khẳng định "không có gỡ nút thì không gọi là truyện ngắn bởi chỉ riêng nó cũng đủ làm nên sự khác biệt của thể loại này" Cách tổ chức tác phẩm có tác dụng làm nổi bật ý nghĩa và gây hứng thú. 2.6. Lời kể: Thể hiện điểm nhìn của người kể trong việc hướng dẫn người đọc cảm thụ tác phẩm (ai kể, kể theo điểm nhìn của ai), thể hiện tính mới mẻ, sáng tạo, cá tính tác giả, mang giọng điệu riêng ọc kĩ lời kể của người kể chuyện. Qua các xưng gọi, cách miêu tả, điểm nhìn trần thuật, các biện pháp tu từ có thể nắm bắt thông tin về tình cảm, thái độ, khuynh hướng thẩm mĩ và phong cách độc đáo của nhà văn. 2.7. Về thời gian, không gian trong truyện ngắn: Trong nghệ thuật tự sự luôn tồn tại hai khái niệm: thời gian của câu chuyện được kể và thời gian kể chuyện. Nhịp độ nhanh chậm của câu chuyện phụ thuộc vào thủ pháp làm cô đọng hay giãn nở thời gian kể chuyện. ây cũng là một trong những yếu tố tạo sự khác biệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết. Hầu hết các nhà văn cho rằng "truyện ngắn là thời điểm, tiểu thuyết là thời gian" (Roger Grenier). Nếu tiểu thuyết luôn cố gắng thể hiện bề dày thời gian thì truyện ngắn chỉ dừng lại ở thời gian "sự kiện". Nếu tiểu thuyết là "một đoạn của dòng đời" thì truyện ngắn là "lát cắt của dòng đời". Theo cách nói của Hervé Bazin, truyện ngắn chỉ "quan tâm đến một khắc ngừng của thời gian", luôn biết cách "tóm lấy con người vào thời điểm đặc biệt ý nghĩa trong cuộc đời họ". Vì vậy, viết truyện ngắn, như A. Bragance nhận định, là viết về những "nút thời gian". 4 Về thủ pháp khai thác và xử lí thời gian trong truyện ngắn, ý kiến của các nhà văn cũng khá thống nhất. Hầu hết cho rằng nếu tiểu thuyết khai thác một quãng đời của nhân vật và biểu đạt thời gian theo "chiều nằm ngang", thì truyện ngắn lại khai thác phần "nổi trồi lên của một khoảnh khắc", và "bắt buộc phải theo chiều thẳng đứng, với tất cả độ cao và chiều sâu của nó". Truyện ngắn tập trung xoáy vào thời điểm đã lựa chọn, không dàn trải vào những gì xảy ra "trước" hoặc "sau" thời điểm đó. François Thibaux giải thích: "Mỗi truyện ngắn nói về một thời điểm xác định, thời điểm ở đó số phận của nhân vật tròng trành rồi định vị. Trong tiểu thuyết, tất cả đều có thể tán rộng ra, cho người đọc cái nhìn tổng thể về số phận của nhân vật. Ngược lại, truyện ngắn không nán lại ở những hệ quả mà thời điểm đó gây ra. [...] Khi số phận nhân vật bị chao đảo cũng là lúc truyện ngắn kết thúc". Có nhà văn còn so sánh truyện ngắn với những "điện áp nhỏ" chuyên thu bắt "những thời khắc đắt của cuộc sống". Tác giả truyện ngắn phải biết chọn trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất. ó là cái khoảnh khắc con người ta ở vào một tình thế buộc phải bộc lộ ra phần tâm can nhất, phần ẩn náu sâu kín nhất; đôi khi là một khoảnh khắc chứa cả một đời người, một quãng đời nhân loại. ây cũng chính là yếu tố làm nên nét độc đáo của truyện ngắn, một thể loại có thể "nêu được những điều cốt yếu chỉ từ một chi tiết nhỏ và chỉ với vài trang giấy". 2.8. Tình huống truyện: Ngoài những yếu tố như cốt truyện, lối trần thuật, ngôn ngữ... thì tình huống được xem là hạt nhân thể loại của truyện ngắn. Bởi thế, ở phần cốt yếu, có thể hình dung : truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó. Phát huy sở trường tư duy bằng hình ảnh hình tượng, có người sáng tác đã coi tình huống là "cái tình thế nảy ra truyện", là "lát cắt" của đời sống mà qua đó có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là "một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc", "khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, thậm chí cả một đời nhân loại" (Nguyễn Minh Châu). ịnh nghĩa như thế là xoáy vào nghịch lí thú vị sau đây của tình huống : qua cái ngắn mà thấy được cái dài, qua một khoảnh khắc ngắn ngủi mà thấy được diện mạo toàn thể. Nghĩa là tính "đặc biệt điển hình" của cái tình thế cuộc sống chứa đựng trong đó. ây là một tố chất thẩm mĩ tiềm ẩn của tình huống. Ở một chỗ khác Nguyễn Minh Châu có nói đến một khái niệm na ná là "tình thế". Nghĩa là một khoảnh khắc nào đó của đời sống mà ở đó một mối quan hệ (con người với con người, hoặc con người với ngoại vật) bị đẩy đến trước một tương quan éo le. Ông gọi là "cái tình thế nảy ra truyện". Như vậy, có khi tình huống bao chứa tình thế, lại có khi tình thế bao chứa tình huống. Tình huống là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn. Nghĩa là nó quyết định đến sự sống còn của một truyện ngắn. Hãy nhìn vào hai dạng biến động cơ bản về qui mô của truyện ngắn : a) dạng mở rộng : khi một truyện ngắn có đến hai sự kiện "tranh nhau" đóng vai trò hạt nhân, vai trò quán xuyến, thì truyện ngắn đang "vươn vai" thành truyện dài ; b) dạng giản lược : khi một truyện ngắn co mình lại trong một số chữ hạn định để thành truyện cực ngắn, 5 truyện mini, thì có thể thấy các thành tố khác của truyện như nhân vật, cảnh vật, lời trần thuật có thể giảm thiểu đến kiệt cùng, còn cái mà nó quyết giữ chính là tình huống. Mất "tình huống" nó có thể thành tản văn, thành tuỳ bút, thành thơ văn xuôi, thành kí, nghĩa là thành gì gì khác… chứ quyết không thể còn là truyện ngắn. Mất tình huống tức là mất tính cách truyện ngắn. . Chƣơng 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN TRONG CHƢƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, chúng tôi thấy việc dạy – học các tác phẩm, đoạn trích truyện trong chương trình tại đơn vị chưa thật bám sát đặc trưng thi pháp loại thể của truyện. iều đó, thể hiện ở những tồn tại chưa bám sát đặc trưng thể loại truyện ngắn khi dạy tác phẩm, chỉ chú trọng phân tích nội dung dẫn đến hiểu tác phẩm còn phiến diện. Chúng ta đều biết rằng, khi đọc – hiểu bất kì một tác phẩm thuộc thể loại nào cũng nên chú ý tới hoàn cảnh sáng tác, đây là yêu cầu quan trọng để thấy được tính lịch sử cụ thể của diễn biến đời sống được miêu tả trong truyện từ đó hiểu thêm ý nghĩa của truyện. ọc truyện cũng cần thiết phải rút ra ý nghĩa tư tưởng của nó thông qua cốt truyện và nhân vật. Nhà văn thường sáng tạo nhân vật để phát hiện những vấn đề của đời sống, gửi gắm tư tưởng, quan niệm của mình về cuộc đời. Tuy nhiên, tất cả những điều đó phải được rút ra từ việc phân tích kỹ càng các yếu tố nội tại của tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại. Nhưng trong thực tế, nhiều giáo viên cho học sinh tìm hiểu quá nhiều tới các yếu tố bên ngoài tác phẩm như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội của tác phẩm… rồi đưa ra những nhận định, đánh giá về nội dung mà bỏ qua hay rất ít đề cập tới các yếu tố hình thức nghệ thuật. iều đó không tránh khỏi cách hiểu và dạy học áp đặt. Chƣơng 3 THI PHÁP TRUYỆN NGẮN QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO, THẠCH LAM 1. Thi pháp truyện ngắn Nam Cao Truyện ngắn Chí Phèo là kiệt tác của đời văn Nam Cao ra đời năm 1941 và đã có mặt trong chương trình Ngữ văn THPT hàng chục năm nay. Giới nghiên cứu, giảng dạy đã có rất nhiều bài viết bàn luận về truyện ngắn bất hủ này, thế nhưng đến nay vẫn còn đó những vấn đề chưa được lí giải một cách thấu đáo. Tiếp nối những người đi trước, tác giả bài viết này xin được bàn thêm về giá trị tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này. 1.1. Kết cấu không đơn thuần là hình thức mà còn mang chức năng tạo nghĩa 1.1.1.Về phương diện cốt truyện, truyện ngắn truyền thống thường có kết cấu cốt truyện theo trình tự tuyến tính, sự kiện xảy ra trước kể trước, sự kiện xảy ra sau kể sau. Trong truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao sử dụng kiểu cốt truyện gấp khúc; trật tự chuyện kể bị đảo ngược, sự việc xảy ra trước được kể sau, sự việc xảy ra sau nhảy cóc lên trước, quan hệ nhân – quả không còn được duy trì. 6 Truyện được mở đầu bằng một trạng huống ở thì hiện tại, khi nhân vật trung tâm – Chí Phèo đã bị tha hóa và trở thành con quỹ dữ của làng Vũ ại. Việc đảo lộn trật tự sự kiện, đưa hình tượng Chí Phèo ở đỉnh điểm của sự tha hóa lên đầu truyện đã tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ nhất định. Thứ nhất, nhà văn muốn thể hiện ý đồ nhấn mạnh, khắc sâu bi kịch đời sống hiện tại của nhân vật Chí Phèo, hướng nhãn lực người đọc tập trung vào khám phá cuộc đời chí Phèo – nơi quy tụ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn trong truyện ngắn này. Thứ hai, nhà văn đã ngầm ý đặt ra cho người đọc một câu hỏi cần được giải đáp: vì sao Chí Phèo lại trở nên hư đốn như vậy? Thứ ba, hiện tại hết sức bi kịch của Chí Phèo được đặt trong quan hệ đối trọng với quá khứ hiền lương của nhân vật này sẽ giúp tác giả lên án sự tàn nhẫn của chế độ xã hội. Thứ tư, việc đảo lộn trật tự sự kiện trong cốt truyện có tác dụng hiện tại hóa những chuyện được kể. 1.1.2.Về kết cấu nhân vật, Nam Cao mở đầu cuộc đời Chí Phèo bằng hình ảnh đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái lò gạch cũ, và khi Chí Phèo chết, cái xuất xứ đau thương của Chí Phèo lại một lần nữa hiển hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn xuống bụng của mình và nghĩ đến hình ảnh cái lò gạh cũ bỏ không. Chí Phèo chết thì một Chí Phèo con lại sắp sửa ra đời. Nam cao đã nhìn thấy bi kịch của người nông dân nhưng ông vẫn chưa nhìn thấy hướng mở để giải phóng người nông dân ra khỏi bi kịch đó. Nếu so sánh truyện Chí Phèo của Nam Cao với Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) vàVợ nhặt (Kim Lân) chúng ta sẽ thấy rõ hơn sự bế tắc của người nông dân trong sáng tác của Nam Cao. Nếu Tô Hoài và Kim Lân bước đầu đã hé lộ đường thoát cho người nông dân bằng cách đi theo cách mạng, thì ở Chí Phèo người nông dân vẫn còn trong vùng luẩn quẩn. ó chính là hạn chế của thời đại được Nam cao phản ánh trong tác phẩm của mình. 1.1.3. Về kết cấu thời gian nghệ thuật, trong tác phẩm Chí Phèo, giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật có một độ chênh khá lớn. Thời gian được trần thuật là cả cuộc đời của Chí Phèo, còn thời gian trần thuật tính từ khi “Hắn vừa đi vừa chửi…” cho đến kết thúc truyện chỉ vẻn vẹn sáu ngày. Nếu thời gian trần thuật được Nam Cao bắt đầu từ chỗ “Hắn vừa đi vừa chửi” cho đến câu kết thúc truyện, thì thời gian được trần thuật lại có thể được người đọc chúng ta kể lại bắt đầu từ xuất xứ của Chí Phèocho đến lúc nhân vật này giết chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình. Nhịp độ thời gian trần thuật trong tác phẩm Chí Phèo thay đổi trong từng đoạn văn, từng tình huống. Những đoạn miêu tả cảnh Chí Phèo say rượu dưới trăng thì thời gian như được kéo dài ra. Cảnh Chí Phèo giết Bá Kiến lại được tác giả thể hiện với tốc độ cực nhanh. Những lúc tác giả miêu tả về hình dạng các nhân vật thì thời gian chậm lại, dường như là dừng lại (đoạn văn kể Chí Phèo ngay sau khi ở tù về). Những đoạn nói về quãng đời quá khứ của Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức thì tác giả lại lướt qua rất nhanh. Chẳng hạn như đoạn “Không biết tù mấy năm, nhưng hắn đi biệt tăm đến bảy tám năm, rồi một hôm hắn lại lù lù ở đâu trở về. Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá”. Trong trường hợp này tác giả đã dùng hình thức tĩnh lược, sự tĩnh lược này thể hiện một cách gián tiếp qua sự thay đổi của Chí Phèo so với lúc chưa đi ở tù. Chỉ cần vài câu ngắn gọn thế nhưng Nam Cao đó giúp người đọc hình dung được cả một quãng đời của Chí Phèo, đồng thời cũng đã thể hiện được sự nghiệt 7 ngã của xã hội đã đẩy con người đến cảnh bị tha hoá. ọc Chí Phèo chúng ta thấy có một chi tiết rất thú vị, đó là đoạn văn: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Nếu đứng ở thời điểm sau khi Chí đã ở tù về thì đó là thời gian quá khứ. Nếu đứng ở thời điểm Chí còn làm canh điền cho nhà Bá Kiến thì đó là tương lai, là mơ ước của Chí Phèo. Hay đoạn văn kết thúc truyện: “…thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn ngay xuống bụng… ột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua”. Trong cả hai đoạn văn vừa trích dẫn, quá khứ - hiện tại và tương lai như hoà nhập làm một. ến đây, chúng ta có thể thấy rõ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật có một độ chênh khá lớn. ể đạt được điều đó, Nam Cao đã theo nguyên tắc liên tưởng, hồi tưởng, và cả theo quy luật tương đồng, tương phản (tương phản giữa quá khứ - hiện tại của Chí Phèo, tương phản giữa ước mơ cuộc sống yên bình trong quá khứ với hiện tại tối tăm trong cuộc đời Chí). Sự tương phản này thể hiện sự biến đổi, tha hoá của Chí Phèo, đồng thời cũng thể hiện cách nhìn và thái độ của nhà văn trước hiện thực cuộc sống. Tương đồng ở chỗ quá khứ, hiện tại và tương lai nhiều lúc như hoà làm một. iều này càng làm cho sức khái quát cuộc sống của tác phẩm cao hơn. Nhịp điệu thời gian trong tác phẩm rất hấp dẫn. Những đoạn kể về quá khứ của nhân vật thì thời gian lướt qua rất nhanh, những đoạn kể về thời điểm hiện tại thì thời gian như bị cô đặc lại, ông chú ý kể một cách cụ thể, sinh động và sâu sắc về cuộc sống ở thời điểm hiện tại của nhân vật. Có thể hình dung nhịp điệu thời gian trong truyện Chí Phèo theo cấu trúc: căng dần - đỉnh điểm - chùng dần - căng dần. Nguyễn Thái Hoà - tác giả cuốn sáchNhững vấn đề thi pháp của truyện gọi đó là “cấu trúc làn sóng”. 1.1.4. Về cách kết thúc truyện, Nam cao đã không đi theo lỗi mòn xưa cũ, không chọn một cái kết có hậu, nhưng vì thế mà truyện ngắn này lại có giá trị hiện thực sâu sắc và chân thực hơn, khách quan hơn. Trong truyện ngắn Chí Phèocó ba nhân vật chính. Bên cạnh Chí Phèo là nhân vật trung tâm còn có hai nhân vật có quan hệ trực tiếp với Chí Phèo là bá Kiến và Thị Nở. Chí Phèo kết thúc cuộc đời khốn khổ khốn nạn bằng chính lưỡi dao của mình. Bá Kiến nổi danh với bản chất tham lam và tàn nhẫn với đầy mưu ma chước quỷ cuối cùng cũng bị tiêu giệt bởi Chí Phèo – sản phẩm do chính Bá Kiến trực tiếp tạo ra; còn Thị Nở - người đàn bà có ngoại hình xấu xí nhưng tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc cũng có kết cục bất hạnh. ọc lại một số truyện ngắn khác của Nam Cao cũng không thấy có một nhân vật nào được hạnh phúc tròn vẹn cả. Truyện của ông không một kết thúc có hậu, không một mảnh đời yên lành, không một cuộc tình êm ả, không có gì tròn trịa, nguyên vẹn. Chỉ có cái chết và sự tàn lụi mà thôi. Nam Cao từng quan niệm: “cuộc đời là một tấm áo cũ bị xé rách tả tơi”, kết cục bi kịch của ba nhân vật này là một minh chứng rõ ràng cho quan niệm đó. 1.2 Nhân vật của những định kiến và nhân vật biến thể Hầu hết những nhân vật hữu hình, xấu xí về nhân hình , xấu xa về nhân tính trong tác phẩm của Nam Cao đều được dựng lên bằng điểm nhìn của nhân 8 vật vô hình định kiến xã hội làng Vũ Đại, một điểm nhìn đầy thành kiến, đầy ác cảm. 1.2.1. Những nhân hình xấu xí và những nhân tính xấu xa Nam Cao có một loạt nhân vật xấu xí về nhân hình, xấu xí đến mức ghê tởm, khác hẳn lối mô tả nhân vật xấu xí truyền thống. iểm mới căn bản ở Nam Cao so với các nhà văn khác khi miêu tả nhân vật là ở chỗ ông không miêu tả nhân vật bằng con mắt trực diện của mình mà bằng điểm nhìn của chính nhân vật, bằng quan điểm lập trường của chủ thể khác, tách khỏi chủ thể người dẫn truyện. Bằng tầm nhìn của chủ thể khác tách khỏi nhà văn, độc lập với nhà văn, hình tượng nhân vật hiện lên trong cái thiện, ác cảm của tầm nhìn trực diện ấy . Nam Cao đã mô tả cái xấu của Chí Phèo, Thị Nở, Trương Rự, Lang Rận trong tầm nhìn định kiến của làng Vũ ại. Nhân vật định kiến xã hội làng Vũ ại như một bóng ma luôn luôn ám ảnh con người, bóng ma nếp mòn lưu cữu của tệ định kiến và thành kiến của xã hội tồn tại dai dẳng hàng nghìn năm trong xã hội phong kiến Việt Nam. Con người không chỉ bị thoái hoá về nhân hình mà còn bị thoái hoá về nhân tính với những mức độ khác nhau, nhưng tính chất thoái hoá cực kỳ gay găt nghiêm trọng. Loại nhân vật này cũng được tác giả mô tả qua cái nhìn định kiến của dư luận xã hội. Những nhân vật thoái hoá về nhân hình và nhân tính là bi kịch thảm khốc về quá trình vật hoá của con người. Bi kịch của sự phi nhân tính hoá. Với Nam Cao, con người bị phi nhân tính hoá là một thực thể phổ biến, và là một quá trình quyết liệt, dai dẳng, tàn khốc. Có những con người, ngay lúc mới lọt lòng đã bị khai trừ ra khỏi xã hội, lớn lên tiếp tục bị xua đuổi, cuối cùng phải tự sát, hoặc hoá điên. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm bi kịch này chính là tệ nạn áp bức bóc lột của chế độ người bóc lột người, gián tiếp là cuộc sống cơ cực, tống khổ về vật chất, mù tối về tinh thần truyền kiếp tưởng như là định mệnh, nó chính là hậu quả của chế độ người bóc lột người gây ra. Tuy bị dồn đuổi, nhưng con người với sức đề kháng của bản năng nhân tính tiềm tàng của mình, không hắn tất cả đều bị đẩy vào tình trạng phi nhân tính hoá và hoàn toàn gục ngã. Lòng nhân ái của Thị Nở, lòng tự trọng của Lang Rận, sự thèm khát lương thiện của Chí Phèo... là sự khẳng định điều đó. Nhân vật Những biến thể. Lời nói là hiện thực trực tiếp của tư duy, do đó có thể nói trong văn chương, nếu nhà văn có ý thức sâu sắc về đặc trưng phương tiện nghệ thuật của mình, thì mỗi nhân vật của họ là "một nhà tư tưởng". Nam Cao đã sáng tạo ra những nhân vật thiên về suy ngẫm, có dáng dấp của các "nhà tư tưởng". Biến thể nhân vật trí thức. Nam Cao bộc lộ rõ khát vọng không miêu tả người trí thức nghèo mà miêu tả tự ý thức về mình của người trí thức nghèo theo kiểu ôstôiepski. Xây dựng nhân vật trí thức, Nam Cao thường ít miêu tả ngoại hình. Trong tất cả các truyện về người trí thức, Nam Cao chỉ tập trung bút lực miêu tả nhân vật chỉ để giải đáp câu hỏi "nó là ai", "nó là gì" mà còn để trả lời câu hỏi" nó ý thức về mình như thế nào". Nhân vật của Nam Cao thường ít khi là nhân vật của thị giác mà là nhân vật của tư duy. Nhân vật hiện lên bằng những trăn trở, băn khoăn, 9 cắn rứt, ngẫm nghĩ triền miên; theo kiểu mỗi nhân vật là một tấn bi kịch nội tâm. Xây dựng những bi kịch tự ý thức của người trí thức, Nam Cao luôn luôn có ý thức tạo ra từng cặp ý thức nhân vật đối thoại với nhau. Các ý thức nhân vật không chỉ là những tấm kính phẳng soi vào nhau, mà còn là những tấm lăng kính để cho nhân vật khác khúc xạ. Do đó nhân vật có nhiều khuôn mặt. Biến thể những loại nhân vật khác Những loại nhân vật khác ngoài nhân vật trí thức, Nam Cao cũng có xu hướng xây dựng thành những nhân vật ý thức. Có những nhân vật, tác giả hoàn toàn không mô tả ngoại hình, chỉ tập trung mô tả ý thức. Nhân vật bà phó Thụ, nhân vật bá Kiến chẳng hạn. Bá Kiến hiện lên một cách sắc nét hơn bất kì nhân vật nghị, bá nào trong văn chương hiện thực, bằng chính ngôn ngữ của mình mà chủ yếu là ngôn ngữ thầm, ngôn ngữ đối thoại nội tâm: những suy nghĩ đầy mưu mô, mánh lới. Nhân vật những đứa trẻ vào đời sớm như Hồng, ật...đều là nhân vật tâm trạng. Lại có nhân vật "rất ngoại hình" như Chí Phèo. Nhưng nhân vật Chí Phèo vẫn là nhân vật đặc sắc ở nội tâm. Biến thể Chí phèo nội tâm, lấn át thực thể Chí Phèo ngoại hình. 1.3. Thời gian và không gian ý thức Nam Cao là một trong số ít nhà văn không mô tả thời gian và không gian của nhân vật như một thực tại khách quan theo cách nhìn của mình, mà mo tả ự tự thức của nhân vật về thực tại khách quan đó. Nghĩa là, Nam Cao đã truyền cái thế giới bao quanh nhân vật vốn nằm trong tầm nhìn tác giả sang tầm nhìn của nhân vật. 1.3.1. Thời gian kiếp người Người ta chỉ có thể nhận biết thì gian qua sự vận động của các sư vật và hiện tượng. Nhưng hình thức tioonf tại cụ thể của thời gian lại chính là ý thức của con người về thời gian. Ý niệm về đơn vị thời gian của nhân vật. Qua Nam Cao, ta nhận ra rằng: ý niệm về thời gian của mọi con người khốn cùng, dù là nông daan hay trí thức đều gắn chặt với miếng ăn. Có thể nói, thời gian trong truyện ngắn Nam Cao được hiện hình lên bằng sự lụi tàn quanh miếng cơm, manh áo của cả một đời người, kiếp người. Các khái niệm đo lường thời gian như buổi, ngày, tháng, mùa, năm, đời người, ddeuf gắn chặt với miếng ăn.Nếu cuộc đời cn người là sống và phát triển, thì cuộc đời con người trong tuyện ngắn Nam Cao: sống là có cái để mà ăn, là được ăn; phát triển là sự đắp đổi để qua đi của từng bữa ăn. Thời gian huỷ diệt con người. Cỗ xe thời gian kiếp người ấy cứ lê thê, ì ạch dịch chuyển một cách nặng nề trên ộ trình không đích đến. Thể hiện thời gian ấy, Nam Cao chọn một vài thời điểm điển hình rồi nhét vào dấy thật đầy, thật chặt hành động nhân vật, àm cho thời gian dường như bị kéo căng ra một cách tức tối, khiến cho cái không khí đời sống vốn ngột ngạt, bế tắc ấy chực muốn nổ tung ra, và thực sự đã nổ tung ra. Hầu hết thời gian trong truyện ngắn Nam Cao, vì vậy, nổi đậm lên tính chất vận hành chậm chạp nặng nề, căng thẳng. Các bình diện thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai trong sáng tác của Nam Cao luôn được soi chiếu vào nhau và trên thời điểm hiện tại.Nhân vật đứng 10 trên thời điểm hiện tại, xót xa cho hiện tại, nuối tiếc quá khứ, lo sợ tương lai. Qua khứ dầu thật tồi tệ thì so với cái hiện tại xám xịt kia vẫn cứ là" vàng son", còn tương lai thì hoàn toàn mù mịt. Con người không hi vọng gì vào tương lai cả. Trên thời điểm hiện tại, họ ngoái về quá khứ, thương tiếc thời gian đã mất. Thời gian có sức huỷ diệt cuộc sống thật là khủng khiếp. Con người mòn mỏi, quy phục dần theo thời gian do phải chống chọi với đói khổ và bệnh tật. Thời gian đã tàn phá triệt để từ nhân hình đến nhân tính, từ thể xác đến tâm hồn con người. Nam Cao không dừng lại ở chỗ miêu tả thời gian. Ông miêu tả để giải thích, nhưng là sự giải thích chủ động. Mỗi nhan vật tìm lấy lời giải đáp cho mình. 1.3.2. Không gian thù địch con người. Không gian trong văn chương gắn chặt với chỗ đứng, cách nhìn, tầm nhìn của tác giả. Trong truyện ngắn Nam Cao, không gian không hiện ra trực diện qua con mắt của nhà văn mà hầy hết hiện ra trong tầm nhìn của nhân vật, qua con mắt nhân vật. ối tượng miêu tả không gian của Nam Cao chủ yếu là ở chỗ: nhân vật của mình ý thức thế nào về không gian. Không gian tự nhiên đối lập với con người. Không gian vũ trụ " Trời" trong truyện ngắn Nam Cao chỉ là mọt khái niệm " Trời" trừu tượng. Trời là đấng quyền năng vô hình đang bám sát và thít chặt cuộc sống của người lao động, mà thực chất nó là hiện thân của chế độ xã hội áp bức bất công. Không gian phong cảnh thiên nhiên có thể tương hợp, có thể tương phản với tâm trạng nhân vật, nhưng đều là một thứ phong cảnh thiên nhiên phân tích tâm lý nhân vật. Không gian địa lý - xã hội nô dịch con người. Hầu hết làng quê trong văn Nam Cao đều có cái không khí chung là vắng lặng hoang vu đến ghê người. Lại cũng có lúc náo động trong những âm thanh nhức nhối, man dại. Thành thị là ảo ảnh về một lối thoát cho cuộc sống cùng quẫn ở làng quê, nhưng cũng là một hiện thực xót xa bóp chết mọi ước mơ của những ai đi tìm kiếm sự sống, và hất trả lại họ về nơi họ đã ra đi. "Phương xa" là một miền đất không hề hứa. Bao nhiêu người ra đi đều bị hất trở về mới một hành trang ốm đau bệnh tật về thể chất cũng như về tâm tính. Gia đình là nạn nhân của xã hội. Tất cả mọi gia đình trong truyện Nam Cao đều trong trạng thái tan rã: đã, đang và sẽ tan rã. Gia đình không chỉ là nạn nhân của xã hội, mà gia đình còn là nạn nhân của chính nó. Gắn liền với không gia gia đình là không gian "nhà ở, căn buồng". Nếu Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng tung các nhân vật của mình ra ngoài không gian xã hội, để khai thác con người giai cấp, thì Nam Cao lại "đóng khung" nhân vật mình trong không gian nhà ở, căn buồng để khai thác con người đời tư, khai thác không gian tâm tưởng. Con người trong tác phẩm Nam Cao chủ yếu hiện lên bằng thế giới nội tâm, bằng độc thoại, đối thoại nội tâm. Ít thấy những con người hành động. Tóm lại: Có thể nói thời gian và không gian nghệ thuật của Nam Cao không phải là những hình tượng khách thể rắn chắc của hiện thực, mà nó là thời gian, không gian trong tầm nhìn của ý thức nhân vật, không gian thời gian ý thức. Trong tầm nhìn nhân vật, thời gian và không gian là kẻ thù. Thời gian và 11 không gian đã hợp sức với nhau tạo ra một sức công phá đặc biệt dữ dội đối với con người. Thời gian tàn phá nhân hình đến nhân tính con người. Không gian tù đọng, oi bức vây bọc giam hãm làm cho những kiếp người cứ "mốc lên", "gỉ đi", "mòn" và "mục ra". 1.4. Ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của một tác phẩm, nhất là thể loại truyện. Nó là phương tiện cơ bản để nhà văn bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, để trội bật lên tính cách của nhân vật và thuyết phục người đọc đồng tình với mình về cách đánh giá đối với những hiện tượng và con người được miêu tả. Như Gorki đã từng nói "Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học". Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ như một thức chất liệu phương riêng miêu tả, Nam Cao là một trong số ít nhà văn có ý thức sâu sắc xem ngôn ngữ là đối tượng miêu tả của mình. Nam cao tỏ ra đã làm chủ và phát huy triệt để phương diện đối tượng miêu tả của ngôn ngữ văn chương. Nam Cao đã tạo ra trong truyện ngắn của mình một thứ ngôn ngữ đa thanh với một sự phức hợp các loại giọng, các chất giọng. Cấu trúc đối thoại buộc nhà văn thể hiện lời trần thuật là một loại lời của một ý thức bình đẳng với các ý thức khác. Thậm chí lời trần thuật nhiều khi mờ nhạt "ít tin cậy" bị lấn lướt bởi giọng người khác, nhân vật khác. Chính do vậy mà đọc văn Nam Cao nhân vật không thụ động. Nam Cao có lẽ có dụng ý nghệ thuật khi mở đầu truyện ngắn "Chí Phèo" như thế này: "Hắn vừa đi… không ai biết". Mặc dù chỉ có một đoạn văn ngắn nhưng Nam Cao đã thể hiện tư tưởng của tác phẩm và đặc biệt ông bộc lộ tài năng bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ một cách nghệ thuật. Xét trong kết cấu một truyện ngắn, đoạn văn mở đầu của truyện phải giới thiệu dược hoàn cảnh của nhân vật hoặc của cảnh được miêu tả, nó chỉ mang tín hiệu gợi mở rất nhẹ nhàng để người đọc hình dung và theo dõi truyện. Chính vì vậy mà đoạn đầu của truyện dễ mà khó bởi nó rất khó hay, để tạo được sự hấp dẫn cho người đọc không phải là một việc dễ lại đối với nhà văn. " ầu có xuôi thì đuôi mới lọt", ta đã có câu nói như vậy. "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam mở đầu là cảnh thiên nhiên lúc chiều tối "tiêng trông thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang xa xa để gọi buổi chiều, Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại, cắt hình rõ rệt trên nền trời". oạn mở đầu này đơn thuần chỉ dựng lên không gian của phố huyện và tín hiệu về thời gian, người đọc chỉ có ấn tượng về thiên nhiên trong những câu văn ấy. Nội dung của truyện chưa được gợi mở nhiều lắm. Hay trong "Chữ người tử tù", Nguyễn Tuân mở đầu truyện bằng cách giới thiệu hoàn cảnh xuất hiện của nhân vật Huấn Cáo qua các câu văn đối thoại giữa viên quan quản ngục và thầy thơ lại. Có lẽ như thế đã tạo được ấn tượng cho truyện rồi mặc dù nó mang giọng đều đều..\ 12 Khi đọc "Chí Phèo", người đọc dường như bị bất ngờ bởi Nam Cao không đi theo những cách mở thông thường. ây là đoạn mở đầu mới mẻ, sáng tạo độc đáo của nhà văn. Bước vào tác phẩm ngay từ đoạn mở đầu, người đọc như bị nhúng mình vào bầu không khí âm ỉ, quyết liệt, trả thù. Và chủ đề tư tưởng của tác phẩm được bộc lộ khá rõ nét. oạn văn thể hiện cái cô đơn đến hư vô, trơ trụi của Chí Phèo. Chí Phèo chửi là một cách muốn giao lưu, giao tiếp với con người nhưng không được bởi thế giới giao tiếp bị bịt kín. Trong đoạn văn chủ yếu là ngôn ngữ. của người kể chuyện nhưng khi có ngôn ngữ của nhận vật thì ta rất khó phân biệt, tách bạch. ầu tiên là một câu thông báo: "Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi…". Song đây cũng không phải chỉ đơn thuần là mang ý nghĩa thông báo khách quan thuần túy mà đã bao hàm một sự đánh giá, bình luận. Ngôn ngữ kể chuyện bằng cách này đã góp phần định hình một kiểu người như Chí Phèo. Cách chửi của Chí Phèo rất bài bản, từ cao đến thấp, từ nhiều đến ít, từ không cụ thể đến cụ thể: chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ ại, chửi cha đứa nào không chửi với hắn, chửi mẹ đứa nào đã đẻ ra thân hắn, nhưng hóa ra toàn chửi vào chỗ trông, chửi "đổng", trừu tượng, vu vơ. Nhà văn đã xác định được hoàn cảnh của Chí Phèo vừa cô đơn giữa đời người vừa hư vô giữa cuộc đời mà tự ngôn ngữ tác giả tạo ra với nhiều lối diễn đạt có ngôn ngữ trần thuật, có ngôn ngữ kể, có ngôn ngữ bình luận "có hề gì", "thế cũng chẳng sao", "không ai ra điều"… ây (có thể) là một đoạn văn đa giọng điệu của truyện. Cách trần thuật gián tiếp xen lẫn với những đoạn văn nửa trực tiếp nửa gián tiếp tô đậm một nét của nhận vật: "Ớ thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất!… Mẹ kiếp! Thế này thì có phí rượu không?… Người kể vừa có định hướng cho người dọc, hướng dẫn người đọc là vừa nhập thân vào nhân vật. iều đó là diều khiến cho ta không nhận ra được đâu là ngôn ngữ tác giả, đâu là ngôn ngữ nhân vật. Hai mà là một, một là hai vậy. Chí Phèo bị cô lập ngay từ khi ra tù hơn mười năm trời. Người ta coi Chí Phèo không phải là người mà là con vật. Con người phải được giao tiếp. Chí Phèo muốn được giao tiếp thì phải chửi nhưng không có ai đáp lại, cô đơn đến cùng cực vì sống giữa con người mà như sống giữa đảo hoang, cô đơn giữa cuộc đời Chí Phèo là con người hư vô. Dường như cứ một câu chửi lại nhấn thêm vào nỗi đau của Chí Phèo. oạn văn sử dụng hàng loạt những câu văn ngắn, rất ngắn tạo nên nhịp điệu nhanh, dồn dập và tạo nên kịch tính cho truyện. Nỗi đau cứ lần lượt bị trần trụi ra, nỗi đau cứ ngày một bị nhấn thêm một bậc nữa. "Tức mình", rồi "tức thật! Thế này thì tức thật. Tức chêt đi mất", "mẹ kiếp",, "nghiến răng mà chửi". Nhưng câu văn ngắn đã cho ta cảm nhận được trực tiếp nỗi đau của Chí. Chí tìm mọi cách bật ra nồi cô lập của bản thân nhưng đều không được và hiện lên trong đoạn văn là hình ảnh Chí Phèo đang vật vã, đang quằn quại trong nỗi đau khổ, trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người củamình. Ngữ điệu của những câu văn thay đổi rất linh hoạt và các cung bậc của bài chửi – các cung bậc của nỗi đau cũng được bộc lộ từ đó.; Những từ ngữ cảm thán mang sắc thái bình luận sử dụng với mật độ dày đặc "Có hề gì?", "Tức thật", "Ờ thế này thì tức thật!"…, "Mẹ kiếp", "thế có phí rượu không? Thế thì cổ khổ hắn không?" "A ha!", "có 13 trời mà biết!" một mặt đã làm sinh động thêm cho câu văn, một mặt bộc lộ được sắc thái tình cảm của nhân vật, bộc lộ thái độ bình luận của người kể chuyện. Trong đoạn văn, tác giả sử dụng rất nhiều hình thức phủ định: "chẳng sao", "chẳng là ai", "trừ", "không ai lên tiếng","không chửi nhau với hắn", "không ai ra điều", "cổ phí rượu không", "cố khổ hắn không?", "không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn…", "cổ trời mà biết", "hắn không biết", "cả làng Vũ ại không ai biết". Dù là trực tiếp phủ định hay dùng hình thức hỏi để phủ định nhưng nó đều nhằm một mục đích phủ định có một Chí Phèo trên cuộc đời này, khẳng định cái sự hư vô, cô đợn, trông trụi của Chí Phèo. Dù là có cô" gắng giao tiếp với loài người nhưng Chí vẫn là con số không, không bè bạn, không có những cử chỉ bình thường đối với hắn như một con người; duy chỉ có trong hắn một cái mang hình hài hài rõ rệt: đó là khối cô đơn ngày càng kết tụ sâu sắc, gay gắt, xót xa. Về phương thức sử dụng ngôn từ thì đoạn văn không phải là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ của riêng Nam Cao nhưng cái độc đáo là ở sự chân xác trong cách chọn ngôn từ phù hợp với tình cảm của nhân vật. Chí Phèo muôn giao tiếp với cuộc đời nhưng lại phải giao tiếp ở điều kiện không bình thường là trong cơn say, trong lúc đầy uất ức, hận đời, có đối tượng cụ thể mà chưa có cách nào hướng trực tiếp vào nó. Ngôn ngữ của Nam Cao chính xác bởi nhà văn đã có sự nhập thân vào nhân vật, hiểu hết tâm lí của nhân vật. Phải hiểu và thông cảm thì Nam Cao mới viết được những câu văn tràn đầy tâm trạng, nỗi lòng trăn trở như vậy. Cách kể của Nam Cao cứ tăng dần nhịp điệu phù hợp với sự vận động của tâm trạng, hành động của nhân vật; chỉ bằng một đoạn văn ngắn mà đã định hình được một con người với nhiều sắc thái tình cảm, tâm trạng. Ngôn ngữ đã tái họa nhân vật sống động mà có người từng phải thốt lên: Chí Phèo đã ngật ngưỡng bước ra ngoài đời với tiếng chửi cô đơn ấy. Cách xưng hô của Nam Cao rất lạ: "hắn". Nếu chỉ xét bề ngoài của ngôn ngữ thì dường như nhà văn "khinh miệt" Chí Phèo, lạnh lùng, tàn nhẫn với nhân vật nhưng phải thật tinh tế ta mới nhận ra được những điều ẩn chứa đằng sau câu chữ. Nhà văn xưng hô như vậy là để đảm bảo được sự khách quan, người đọc từ đó mà .cảm nhận cũng thật khách quan điều mà tác giả miêu tả có lẽ khi nhà văn viết những dòng này thì ông cũng phải đau đớn khổ tâm, dằn vật nhiều lắm bởi cái cô đơn của Chí. Ngòi bút của Nam Cao dữ dội nhưng cái tình của ông gửi gắm ở ngôn ngữ lại thật đằm thắm, thiết tha. Một niềm trắc ẩn, mênh mang tình người… Say, chửi để rồi chờ đợi tín hiệu giao tiếp nhưng thế giới ấy đã bị bịt kín, chờ đợi đến độ tuyệt vọng chờ đợi đến mức cuồng nộ, cay đắng, bi phẫn. Dường như mỗi lần Chí bị nhấn sâu vào nỗi cô đơn trông trụi ấy thì Nam Cao lại thêm một lần oằn minh trở trăn, đau nỗi đau tận cùng của nhân vật. Phải rất đau khổ khi Nam Cao viết những dòng bi phẫn như thế. Hành vi chửi của Chí Phèo còn được lặp đi lặp lại nhiều lần trong toàn truyện, mỗi lần chửi là mỗi lần tủi nhục, xót xa của Chí và cả cuộc đời Chí là sự kiếm tìm thế giới giao tiếp tưởng chừng như bình thường ấy. Xét trong kết cấu truyện thì đây là điểm sáng nghệ thuật quan trọng. 14 Như vậy là ngay trong đoạn mở đầu của tác phẩm, người đọc đã được tiếp xúc trực tiếp với nhân vật, với cả một thế giới tâm trạng phong phú đa sắc thái tiếp xúc với sinh khí của truyện, để rồi mở ra tự tưởng của tác giả. Chỉ trong một đoạn văn ngắn, chân dung của nhân vật trung tâm đã hiện lên với hai tầng. Tầng thứ nhất là chân dung cua một kẻ lưu manh,du côn, say rồi chửi, tầng thứ hai là chân dung của một nạn nhân đạu khổ mang trong mình nỗi cô đơn hư vô, trống rỗng, bị cự tuyệt quyền làm người. Hình ảnh Chí vật vã, quằn quại trong nồi đau khổ của mình đã ám ảnh người đọc cho nện truyện đã tạo được ấn tượng mạnh mẽ, dữ dội trong người đọc. Sức nặng của ngôn ngữ là yếu tố chính để tạo nên sức ám gợi của hình ảnh giàu chất tự sự, đa giọng điệu… ó chính là những đóng góp độc đáo sáng tạo của Nam Cao. Có thể xem truyện có kết cấu hình tròn liên hoàn bởi hành vị chửi đoạn mở đầu của truyện cũng được lặp lại ở những đoạn giữa và cuối của truyện. iều đó tăng thêm tính lôgic và tính kịch cho truyện, ở những truyện ngắn của các nhà văn khác không có điều này. oạn mở đầu của truyện chỉ là một phép mở thông thường để viết tiếp những vấn đề tư tưởng. Những ở Nam Cao, ở truyện ngắn "Chí Phèo", ông nhấn mạnh hành vi chửi và đặt nó ngay ở mở đầu của truyện. Nó là một hành vi diễn ra thường xuyên và mở đầu bằng một lần chửi như bao lần chửi khác đã tạo ra tín hiệu tiếp nhận cho người đọc. Tính cách, tâm trạng của nhân vật, thái độ của hgười kể chuyện được thể hiện, tạo sự hấp dẫn cho người đọc. Ta không thể không đọc tiếp truyện khi đã đọc đoạn mở đầu này. Kết cấu vòng tròn có thể cho ta liên hệ tới cuộc đời Chí Phèo – một cái vòng tròn luẩn quẩn bế tắc. óng góp mới mẻ của Nam Cao trong sáng tạo đoạn mở đầu này có thể xem là một sáng tạo mang tính đơn nhất. Bởi ta dám chắc rằng trước Nam Cao hoặc sau Nam Cao sẽ không có truyện nào có mở đầu đa thanh,đa giọng, đa từ như vậy, sẽ không có truyện nào có mở đầu ấn tượng như vậy. Có lẽ với một mở đầu truyện như vậy sẽ còn nhiều kiến giải mới, phát hiện mới của người đọc. 2. Thi pháp truyện ngắn Thạch Lam 2.1 Thi pháp nhân vật: Trong truyện “Hai đứa trẻ” nhà văn dụng ý xây dựng nhân vật là hai chị em Liên và An cùng với những bọn trẻ trong khu phố nghèo. Từ cách đặt tên nhân vật “Liên”, “An”, cách gọi tên nhân vật: bác Siêu, chị Tý, ông giáo, chị Thi, Cụ, Liên, An cũng mang nhiều ý nghĩa. “Hai đứa trẻ” (bọn trẻ) - là mầm sống của tương lai, là chủ nhân tương lai của đất nước. áng lẽ phải được sống trong sự thương yêu, che chở, đùm bọc của gia đình, của người lớn và của toàn xã hội; phải được hưởng những gì tốt đẹp nhất như: học tập, vui chơi, giải trí. Nhưng ngược lại, hình tượng trẻ em trong tác phẩm của Thạch Lam thì hoàn toàn khác hẳn, thậm chí lại còn tệ hại hơn. Trẻ em phải tự kiếm sống trong môi trường tối tâm, ẩm thấp và ô nhiễm của tiếng muỗi kêu vo ve, của gió lạnh về đêm, của hơi đất âm ẩm, thời gian mà đáng lẽ phải được nghĩ ngơi “Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu vang ngoài đồng ruộng”, “muỗi bắt đầu vo ve”, “Một mùi âm ấp bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá”, “ Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. 15 Tên “Liên” nghĩa là sự hồi tưởng, nhớ lại một thời vàng son của tuổi thơ với biết bao hạnh phúc, mà nói đúng hơn là của tác giả chăng?. Liên rất phù hợp với diễn biến của truyện, mà như ta đã biết, trong truyện hai yếu tố đan xen vào nhau, hòa quyện vào nhau đó là sự hồi tưởng về quá khứ và mơ ước đến tương lai tốt đẹp hiện lên trong đôi mắt, trong tâm tưởng của bọn trẻ. Vậy là tên “An” lại được tác giả khéo léo vận dụng rất thành công và tên hai chị em trong tác phẩm gọp lại chẳng phải là: hồi tưởng về quá khứ tốt đẹp của dĩ vãng và mơ ước đến một tương lai bình an và hạnh phúc đó sao. Quả thật không sai. Những con người xuất hiện trong tác phẩm là ai, là những người đều có tên, có tuổi nhưng thân phận của họ thì như thế nào? iều này ai cũng điều rõ. Nhưng tại sao Thạch Lam lại gọi họ rất thân mật và trân trọng đến thế: là bác, là chị, là ông, là cụ và thân mật hơn là Liên, An. Chỉ thông qua cách gọi tên cũng đủ cho ta biết được tấm lòng nhân ái bao la của tác giả. Tác giả luôn trân trọng nâng niu và chia sẽ, cảm thông với họ, dù họ là những con người nghèo khổ. Sự đồng cảm sâu sắc của tác giả. Tất cả câu chuyện chỉ xoay quanh tâm trạng của một cô gái tên Liên - nhân vật chính trong tác phẩm, và em gái cô tên là An. Hình ảnh hai chị em Liên hầu như chẳng làm gì từ lúc hoàng hôn buông xuống đến tận đêm khuya. Nhưng cuộc sống nghèo nàn nơi phố huyện chỉ là cái nền để tác giả nói tới quan hệ giữa những người dân mộc mạc trong cảnh sống bình thường. Cái tình người chân chất cứ nhẹ nhàng thấm sâu khắp thiên truyện, nó tỏa ra trong mọi mối quan hệ : giữa chị em Liên với nhau; chị em Liên với những người xung quanh. Người đọc cảm thấy ấm lòng trước tình thương và sự cảm thông của những con người nơi đây. Khi miêu ta từng nhân vật, Thạch Lam không quan tâm đến ngoại hình, hành động mà ông tập trung chủ yếu vào thế giới nội tâm, cái hiện thực tâm hồn với những cảm giác, cảm xúc mong manh, mơ hồ. Bằng cách ấy, Thạch Lam đã khắc họa được những xao động trong tâm hồn Liên lúc chiều về trên phố huyện "lòng buồn man mác"; thấy mấy đứa trẻ lom khom nhặt nhạnh ở chợ mà "động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó"; Cả cái hãnh diện của Liên về chiếc xà tích có gắn chìa khóa "vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang"; cái ước mơ chập chờn „thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi".... Qua đó thức tỉnh những tâm hồn chán chưêng mòn mỏi lòng khát khao thoát khỏi số phận của mình ! Thạch Lam đã hiểu sâu sắc những con người bé nhỏ trong bóng tối này với những ước vọng đáng thương của họ. Sống trong bóng tối, trong yên lặng, trong buồn chán, đêm đêm chị em Liên cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua “tàu đến chị đánh thức em dậy nhé!”. Nghe lời dặn của bé An ta cảm thấy hai đứa trẻ tha thiết với chuyến tàu đêm đến biết chừng nào. Rồi đèn ghi ra. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vọng lại trong đêm khuya kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi. Và chỉ cần nghe chị Liên gọi: “Dậy đi An! Tàu đến rồi!” là Anh nhổm dậy dụi mắt và tỉnh hẳn. Rồi tiếng còi rít lên, đoàn tàu rầm rộ đi tới. Liên quan sát rất kĩ đoàn tàu, thèm khát như được nhìn một thế giới xa lạ “Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng”. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Chuyến tàu đã xáo trộn cả cõi yên tĩnh của phố huyện. Chuyến tàu 16 gợi cho Liên mơ tưởng: “Họ ở Hà nội về! Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Rõ ràng là Liên và An đợi tàu không phải để bán ít quà vặt cho khách đi đường mà là một nhu cầu bức xúc về tinh thần của hai đứa trẻ, muốn trong chốc lát được thoát ra khỏi cuộc sống buồn chán tối tăm này. “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên khác hẳn các vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu”. Dưới mắt hai đứa trẻ, chiếc tàu là hình ảnh của một thế giới văn minh, giàu sang, nhộn nhịp, huyên nào và đầy ánh sáng. Qua tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ, tác phẩm thể hiện một niền xót thương vô hạn đối với những kiếp người nhỏ bé vô danh không bao giờ được biết ánh sáng và hạnh phúc. Cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện và nói rộng ra trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ và đói nghèo. Qua tâm trạng Liên, tác giả đồng thời cũng muốn thức tỉnh tâm hồn uể oải đang lụi tắt ngọn lửa lòng khao khát được sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, khao khát thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang chôn vùi họ. 2.2. Cốt truyện: Câu chuyện dường như không có cốt truyện.Toàn bộ mạch truyện được dẫn dắt bởi suy nghĩ và tâm trạng của Liên, An. Mỗi ngày có một chuyến tầu từ Hà Nội sẽ qua phố huyện trong mấy phút. Mỗi đêm, hai đứa trẻ lại chờ đợi. Hẳn các em phải chờ chuyến tầu ấy qua suốt một ngày buồn tẻ. Nỗi chờ đợi càng trở nên khắc khoải hơn khi đêm đổ xuống : đèn thắp sáng ở các nhà xung quanh, ngọn đèn leo lét nơi hàng nưíc nhµ chị Tí, cái chấm lửa nhỏ của bác phở Siêu... đó chính là những điểm mốc, bước đi của thời gian làm cho chị em xích lại gần với chuyến tàu. Nên mặc dù đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai em vẫn cố gắng cho đến khi không thể chờ thể chờ đợi được nữa, An vẫn cố dặn chị : “tàu đến thì chị đánh thức em nhé”. Các em khao khát chờ đón đoàn tầu như chờ đón một sự cố trọng đại. Bởi chính chuyến tầu đêm đã mang một thế giới khác đến gợi cho các em nhớ lại một vùng sáng rực rỡ lấp lánh có nhiều thứ quà ngon lạ, uống cốc nước lạn xanh đỏ, mà giờ đây với các em đã là một thứ xa xỉ nhiều tiền không bao giờ mua đưîc . Chính oàn tàu gợi cho các em nhớ lại một hồi ức đẹp. Hồi ức đó, ước mơ đó như trong truyện cổ tích nhưng chẳng khác gì một ảo ảnh, vụt chớp sáng rồi vụt qua ngay, xa dần, xa dần để rồi ngày mai lại xuất hiện, lại hi vọng mơ hồ. oàn tàu còn là niềm an ủi nỗi khát khao mơ hồ, ước mơ không bao giờ tắt về cuộc sống tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày. oàn tàu qua, tiếng rầm rộ của đoàn tàu, tiếng ồn ào của hành khách, cả cái ánh đèn sáng trắng chiếu xuống đường làm phố huyện như bừng tỉnh trong chốc lát Chuyến tàu là niềm vui duy nhất giải toả tâm lí sau một ngày mệt mỏi buồn chán. Nhưng rồi chuyến tàu cũng nhanh chóng xa dần, khuất dần. Phố huyện hết sức náo động, chỉ có bóng đêm lồng với bóng người đi về. Chị Tí sửa soạn đồ đạc. Bác phở Siêu gánh hàng vào làng, vợ chồng bác Xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ. Liên như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ cũng ngập dần vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm trong phố huyện tịch mịch và 17 đầy bóng tối Sự xuất hiện của chuyến tàu đêm càng làm nổi bật cuộc sống buồn tẻ tù đọng đáng thuwong nơi phố huyện. Truyện được xây dựng theo kết cấu vũng trũn: “Chiều, đêm, khuya”. Nhịp sống lặp đi lặp lặp lại quẩn quanh uể oải đơn điệu buồn tẻ. Hàng loạt chi tiết gây cảm giác về sự lặp lại một cách đơn điệu buồn tẻ : “Chị Tí chiều nào cũng dọn hàng từ tối đến nửa đêm. Bác phở Siêu thổi lửa. Chị em Liên đêm nào cũng ra ngồi trên chiếc chõng tre dới gốc cây bàng trong bóng tối”. Tất cả phố xá trong huyện đều thu nhỏ nơi hàng nước của chị Tí. Và trong tác phẩm hình ảnh ngọn đèn con hàng nước nhà chị Tớ được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ngọn đốn con được nhắc lại 4 lần, tượng trưng cho những kiếp người nhỏ bộ vụ danh, vụ nghĩa sống leo lột trong đêm tối mênh mang của xã hội cũ. Họ sống khụng hạnh phỳc khụng tương lai, những kiếp người như cát bụi. "Chừng ấy con người trong búng tối mong đợi một cỏi gỡ tươi sáng". Với lối kết cấu vòng tròn, câu chuyện không có cốt truyện, xuất phát từ điểm nhìn của một tấm lòng nhân ái, tác giả giúp người đọc hình dung được cuộc sống, số phận của những con người bé nhỏ nơi phố huyện nghèo bế tắc, không có tương lai. Với giọng điệu tâm tình chứa đầy chất thơ, nhà văn Thạch Lam góp phần chuyên chở tấm lòng nhân đạo thấm thía của tác giả. Thông qua đó, nhà văn giúp người đọc hình dung được một bức tranh hiện thực của xã hội đương thời 2.3. Không gian nghệ thuật: Không gian cụ thể trong tác phẩm là làng quê nông thôn, phố huyện nghèo nàn xơ xác, tối tâm “ Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”, “Trời đã bắt đầu đêm, môt đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. ường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”. Không gian đó được nhìn dưới con mắt của Liên - Chị của An. Với cái nhìn của người trong cuộc làm cho bức tranh của phố huyện nghèo hiện lên càng chân thật hơn, bộc lộ được chiều sâu tâm trạng của nhân vật hơn, giúp cho người đọc càng thấm thía hơn với cuộc sống ở làng quê tiêu điều xơ xác và qua đó bộc lộ được những khát vọng về một tương lai tươi sáng hơn của những đứa trẻ tương lai còn đó với biết bao hi vọng và tươi đẹp. Tính chất của không gian đó là hẹp, tĩnh lặng mặc dù còn đó những sự sống. Không gian nghệ thuật còn là hình tượng con tàu, ánh sáng con tàu. Con tàu trong tác phẩm mang một ý nghĩa biểu tượng đối với nhân vật Liên. ối với những đứa trẻ khác cùng những con người trong khu phố nghèo, họ mong con tàu đến để có thể bán được một ít hàng, hay để nhìn thấy được ánh sáng của ngọn đèn điện. Còn đối với Liên, con tàu và ánh sáng của nó mang lai một thế giới khác hẳn nó như ngôi sao băng vút qua bầu trời, sáng cả không gian và tâm hồn con người. Ánh sáng cháy rực trong tiềm thức Liên, đó là ánh sáng của ước mơ, là quá khứ tốt đẹp của Liên “mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc”, con tàu đi qua làm liên sống lại những ngày tháng sống hạnh phúc với gia đình ở Hà Nội, Liên nhớ về tuổi thơ vui vẻ, hạnh phúc như bao đứa trẻ khác mỗi lần được nhìn thấy con tàu mang ánh sáng, mang cuộc 18 sống từ Hà Nội về “ Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chị được hưởng những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi Bờ Hồ,…”. Truyện được tạo dựng chủ yếu xuất phát từ điểm nhìn về mình của nhà văn, do vậy không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của ông cũng tuân theo điểm nhìn chủ quan, với những ẩn ức trong bản thân.Vì vậy, không gian nghệ thuật xuất hiện trong các truyện là không gian tâm tưởng, với chiều sâu dồn nén tâm lí. ể tạo lập không gian tâm tưởng, Thạch Lam chú trọng vào các tình thế trọng yếu gợi khoảng lặng nội tâm nhân vật, tạo nên những co giãn không gian giữa hai chiều: Không gian thực( Cái gợi ký ức) vào không gian chiều sâu tâm lý ( những giấc mơ: Giấc mơ thức và giấc mơ ngủ) tạo nên sự day dứt giữa hiện thực và tâm trạng con người. Không gian về một Hà Nội tráng lệ trong Hai đứa trẻ vẫn gợi lại những ẩn ức đứt quãng, chỉ còn là những hình ảnh mơ hồ chồng lớp hiện về trong tưởng tượng ( giấc mơ thức): Một “ Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo” được gửi về phố huyện trên con tàu đêm, để rồi khi con tàu đi qua không gian hiện thực trở lại với những cảm nhận mơ hồ nửa tỉnh nửa mê ( sự dai dẳng của Hà nội) trong hiện tại: “ An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông. Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ đầy bí mật, xa lạ và làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại cúi về mặt đất, về quãng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng chị Tý”. Với việc xây dựng một không gian như vậy là nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những ký ức về một không gian tươi sáng nơi Hà Thành đã ám ảnh, lùi sâu vào vô thức bọn trẻ, khiến đôi mắt buồn trũng muốn yên giấc nhưng vẫn không sao dập tắt cái khao khát được chứng kiến con tàu đêm của An. Bởi lẽ chỉ có chứng kiến con tàu đêm, với ánh sáng điện mới khỏa lấp những mong muốn đang trỗi dậy trong sâu thẳm tâm trí An và nó đòi hỏi phải được giải tỏa. Vì vậy mặc dù rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mơ nhưng An vẫn cố mở to đôi mắt trước khi chìm sâu vào vô thức của giấc mộng mà với dặn Liên: “ Tàu đến chị đánh thức em dạy nhé”. Không gian tâm tưởng trong truyện được Thạch Lam đặt cạnh không gian thực tại, gợi cảm giác hoài cổ về một nơi trong dĩ vãng . Ngoài ra trong tác phẩm có một không gian đặc biệt nữa xuất hiện nữa là không gian bóng tối, không gian bóng tối có một giá trị rất lớn trong việc tạo ấn tượng cho người đọc. Hình ảnh cuộc sống và con người cứ chìm dần, khuất hẳn trong bóng tối. Nó gợi sự xót xa và thương cảm của người đọc dành cho những con người, những cuộc đời, những không gian như thế. Bóng tối càng dày đặc, cảnh sống của con người càng thê lương theo cấp số cộng của cảnh đó thì lòng nhân đạo của nhà văn nhìn từ cảnh và người ấy cũng theo cấp số nhân mà phát triển lên. Bên cạnh đó, thỉnh thoảng ta cũng bắt gặp không gian của ánh sáng. Bảy lần nhà văn nhắc đến ánh sáng của các ngọn đèn “ Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách.” Nhưng ở đây không phải là ánh sáng xua tan đi bóng tối, mà đó là ánh sáng lẻ loi, đơn độc. Ánh sáng xuất hiện với mục đích là để làm nền cho bóng tối, làm cho bóng tối xuất hiện càng dày đặc hơn, bao trùm cả đất trời. iều này càng giúpcho người đọc hình dung, cảm nhận được số phận đáng thương của người dân trong phố nghèo khổ, bế tắc, không có tương 19 lai., càng giúp ta thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà văn đối với cuộc sống bất hạnh của con người. 2.4. Thời gian nghệ thuật: Thời gian trong truyện ngắn Hai đứa trẻ là một cảnh chiều tàn nơi phố huyện nghèo trôi đi rất chậm chạp, báo hiệu cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu của những con người nơi đây. Cấu trúc không gian lồng vào thời gian, dùng không gian để đo thời gian là một trong những thành công nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam, thể hiện tài năng của tác giả trong việc cảm nhận tinh tế từng bước chuyển của thời gian trong tác phẩm. Có thể dễ dàng nhận thấy nhịp điệu thời gian trong tác phẩm diễn ra khá chậm: tác giả đã sử dụng thời gian văn bản trải dài trong 10 trang giấy để nói về thời gian cốt truyện trong mấy tiếng đồng hồ ( khoảng 6, 7 giờ). Thời gian trong Hai đứa trẻ được đo và cảm nhận bằng rất nhiều phương tiện khác nhau cả âm thanh, hình ảnh, không gian. Ngay câu mở đầu tác phẩm thời gian buổi chiều tàn đã được cảm nhận bằng âm thanh của tiếng trống thu không “Tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”. Vậy là thời gian được đánh dấu bởi âm thanh của tiếng trống thu không “gọi” buổi chiều về. Và bước chuyển từ buổi chiều tà đến lúc chập choạng tối được báo hiệu bằng âm thanh quen thuộc của tiếng côn trùng kêu nơi phố huyện nghèo “văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng”, tiếng vo ve của muỗi trước thời khắc của ngày tàn. Thời khắc đó cũng được đo bằng những hình ảnh của “những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, và được lồng vào không gian “ phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rơ rệt trên nền trời”. Thời gian từ lúc hoàng hôn đến lúc sẩm tối và đêm khuya được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, xuất hiện xuyên suốt toàn bộ tác phẩm và được thể hiện nhiều nhất qua hình ảnh của ánh sáng và bóng tối. Thạch Lam đã khéo léo sử dụng hình ảnh ánh sáng phát ra từ những ánh đèn leo lét nơi phố huyện trong nhà bác phở Mĩ, đèn dây sáng xanh trong các hiệu khách, đèn từ gánh hàng của mẹ con chị Tí… làm phương tiện để thông báo thời gian. ối lập với ánh sáng là hình ảnh đêm tối giăng khắp toàn bộ tác phẩm. Chính hình ảnh bóng tối cũng được coi là một công cụ hữu dụng được nhà văn sử dụng khéo léo trong việc thể hiện thời gian trong tác phẩm. Như vậy có thể nhận thấy rằng thời gian cốt truyện của Hai đứa trẻ chỉ diễn ra trong vòng mấy tiếng đồng hồ từ lúc chiều tà đến khoảng 9 giờ tối nhưng Thạch Lam đã rất có ý thức trong việc sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau để thể hiện khoảng thời gian ngắn đó. Thời gian nơi phố huyện nghèo dường như ngưng đọng vì sự trôi đi hết sức chậm chạp của những âm thanh nơi vùng quê nghèo, âm thanh của tiếng trống thu không gọi buổi chiều về, âm thanh xao xác xa xôi của cảnh chợ tàn… tất cả những thứ đó khiến ta cảm nhận thời gian trong tác phẩm giống như một sinh thể già cỗi, đánh giấu sự tàn lụi, già nua. Khi mặt trời sắp tắt, đó là cái giờ khắc của ngày tàn. Khi chợ vãn, tức là lúc sự hoạt động của con người đã hết, cũng là khi đêm đã khuya. Ngay trong thế giới con người, âm thanh cũng ít ỏi chẳng kém gì. Khi chợ vãn thì những tiếng ồn ào cũng mất theo bước chân của con người. Lúc trời nhá nhem tối, tiếng ồn ào nơi chợ búa cũng mất. Người ta trao đổi với nhau, nhưng có lời ma không có tiếng. Có chăng là tiếng cười khanh khách của bà cụ Thi, một bà già hơi điên. 20
- Xem thêm -