Tài liệu Thế giới quan của nguyễn bỉnh khiêm qua tác phẩm bạch vân am thi tập và bạch vân quốc ngữ thi tập

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 290 |
  • Lượt tải: 2
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

0 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3 NỘI DUNG.................................................................................................... 11 Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM ..................................................... 11 1.1. Khái niệm về thế giới quan.............................................................. 11 1.2. Điều kiện lịch sử xã hội, kinh tế, văn hóa Việt Nam thế kỷ XV XVI................................................................................................................ 15 1.2.1. Một số biến động chính trị - xã hội ................................................ 15 1.2.2. Điều kiện kinh tế ............................................................................ 19 1.2.3. Tình hình văn hóa .......................................................................... 20 1.3. Một số tiền đề tư tưởng cho sự hình thành thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. ................................................................................... 23 1.3.1. Tư tưởng Nho giáo ......................................................................... 23 1.3.2. Tư tưởng Đạo gia ........................................................................... 30 1.3.3. Tư tưởng Phật giáo......................................................................... 32 1.3.4. Truyền thống văn hóa của dân tộc ................................................. 34 1.4. Nguyễn Bỉnh Khiêm và các tác phẩm ............................................ 35 1.4.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm .......................... 35 1.4.2. Tác phẩm Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập .... 39 Tiểu kết chương 1 .................................................................................... 40 2.1. Vũ trụ quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm............................................ 41 2.1.1. Quan niệm về sự hình thành của vũ trụ ......................................... 41 2.1.2. Quan niệm về sự biến chuyển của vũ trụ ....................................... 43 2.2. Quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về con người ....................... 46 2.2.1. Quan niệm về con người trong mối quan hệ với tự nhiên ............. 46 2.2.2. Quan hệ của con người với con người trong xã hội ...................... 48 2.3. Một số nhận định, đánh giá về Thế giới quan Nguyễn Bỉnh Khiêm ....................................................................................................................... 64 2.3.1. Những giá trị của thế giới quan Nguyễn Bỉnh Khiêm ...................... 64 2.3.2. Một số hạn chế trong thế giới quan Nguyễn Bỉnh Khiêm ................ 67 Tiểu kết chương 2 .................................................................................... 73 KẾT LUẬN ................................................................................................... 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 77 2 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Lịch sử Việt Nam đã và đang trải qua những bước thăng trầm ở những chặng đường lịch sử khác nhau. Những giai đoạn lịch sử khác nhau đã phản ánh chân thực mọi mặt đời sống của con người Việt Nam về kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng. Sự phản ánh được đó được ghi lại trong các cuốn sách, trong các áng văn, thơ, các tập truyện, ca dao, tục ngữ… và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, việc nghiên cứu lịch sử nói chung và lịch sử tư tưởng dân tộc nói riêng thông qua các sự nghiệp sáng tác của các nhà văn, thà thơ là một trong những khía cạnh nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng, giúp ta biết được quá trình vận động và phát triển của lịch sử dân tộc diễn ra như thế nào. Ở mỗi thời kì lịch sử thường xuất hiện những nhà tư tưởng tiêu biểu. Họ đều ít nhiều có ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử dân tộc. Vì thế, nghiên cứu về quan điểm, tư tưởng của các nhà tư tưởng này để thấy được sự ảnh hưởng của họ đến lịch sử cũng như lịch sử tư tưởng dân tộc. Đồng thời, việc tìm hiểu về lịch sử tư tưởng của dân tộc là cũng cơ sở để khẳng định những giá trị mà các bậc tư tưởng tiền bối đã để lại. Ngày nay, xã hội đang có những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa,... Bên cạnh việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì việc tìm lại giá trị của những quan niệm, quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử là rất quan trọng, trong đó có những tư tưởng của các nho sĩ phong kiến. Điều này giúp ta có thể học hỏi được ở các tư tưởng đó những yếu tố tích cực, hợp lí để phục vụ cho quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay như: khẳng định nền tảng tư tưởng Việt Nam gắn liền với lịch sử tư tưởng dân tộc; giữ gìn những giá trị tư tưởng trong quá trình 3 xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; trên cơ sở đường lối chính trị, xã hội tích cực của các nhà tư tưởng đi trước, ta kế thừa, phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Hơn nữa, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng đã giúp cho việc trả lời những câu hỏi xoay quanh vấn đề “Việt Nam có triết học hay không?”. Trong lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam ở thế kỉ XVI, ta không thể không kể đến nhà tư tưởng lớn, một người thầy lỗi lạc – Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng những giai thoại về ông đã trở thành di sản, tư tưởng của ông vẫn tỏa sáng trong lịch sử tư tưởng dân tộc, những âm vang về con người ấy vẫn còn vang vọng mãi. Tư tưởng của ông được thể hiện trong các tác phẩm văn thơ, qua phong cách, lối sống mà chính ông đã trải nghiệm. Trong hệ thống tư tưởng của ông chứa đựng những tư tưởng triết học sâu sắc với một vũ trụ quan, một quan niệm nhân sinh theo lẽ tự nhiên chứa đựng nhiều yếu tố nhân văn, tích cực. Tư tưởng về thế giới, về con người của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá nổi bật được thể hiện thông qua các tập thơ, những lời sấm ký, trong đó phải kể đến hai tập thơ lớn của ông là “Bạch Vân Am thi tập” và “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập”. Việc tìm hiểu về những tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu những giá trị tư tưởng mà ông để lại trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Trên cơ sở đó mà ta có thể thấy được ý nghĩa của những tư tưởng đó trong xã hội Việt Nam hiện nay đã và đang có nhiều thay đổi. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua tác phẩm Bạch Vân Am thi tập và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập”. 2. Tình hình nghiên cứu * Các tác phẩm nghiên cứu về thế giới quan triết học phương Đông 4 Phương Đông là một trong những cái nôi triết học của nhân loại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về triết học phương Đông. Tuy nhiên, chưa có công trình nào cụ thể tìm hiểu về thế giới quan triết học của phương Đông nhưng đã có công trình nghiên cứu về thế giới quan triết học của Trung Quốc, như: Luận án tiến sĩ “Thế giới quan trong triết học Trung Quốc cổ đại” (2002) của Nguyễn Văn Vịnh. Công trình nghiên cứu thế giới quan của triết học Trung Quốc bao gồm vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan. Tác giả đã nghiên cứu một số học thuyết tiêu biểu làm nên đặc trưng của thế giới quan triết học Trung Quốc, trên cơ sở đó so sánh và nêu rõ sự khác nhau về đặc trưng của thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại với thế giới quan của các nền triết học cổ đại khác. Công trình đã có vai trò khái quát chung nhất về về thế giới quan triết học Trung Quốc. Những nội dung về thế giới quan của Phật giáo được trình bày trong một số cuốn sách lịch sử Triết học: “Lịch sử Triết học” (2004) do Nguyễn Hữu Vui chủ biên, sách “Lịch sử tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại” (2003) của Doãn Chính chủ biên,… Ở những tác phẩm trên đã nêu khái quát về triết học Ấn Độ, trong đó có khái quát nội dung tư tưởng triết học của Phật giáo, còn nội dung về thế giới quan trong triết học Phật giáo được điểm qua một vài nét chính. * Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, đã có các cuốn sách viết về lịch sử tư tưởng Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử như: Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1 (1993) của tác giả Nguyễn Tài Thư, Đại cương lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1 (2002) của Nguyễn Hùng Hậu… Trong các tác phẩm có bao gồm phần lịch sử tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XVI – XVIII và trong đó cũng đã nhắc đến nhà tư tưởng nổi bật của thời kỳ này là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về lịch sử tư tưởng Việt Nam ở giai đoạn lịch sử này. 5 * Có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở những khía cạnh khác nhau như: văn học, văn hóa, đạo đức, tư tưởng... Trong lĩnh vực tư tưởng, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra tư tưởng triết học sâu sắc của ông. Một số tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm: Tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Nhà thơ triết lí” (1957) của đồng tác giả là Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà. Tác phẩm không đi vào chỉ rõ tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế giới quan, nhưng các tác giả đã chỉ ra được một số khía cạnh nội dung triết lí sâu sắc, những biểu hiện sơ khai của tư tưởng triết học qua thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 1985, nhân kỉ niệm 400 năm ngày mất của ông, một cuộc hội thảo khoa học về “Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm” đã được tổ chức tại Hải Phòng. Tại đây, có nhiều tư tưởng của ông được đánh giá lại, được xem xét trên cơ sở khoa học hơn. Tuy nhiên, ở cuộc hội thảo này chưa có tác giả nào có công trình nghiên cứu sâu về thế giới quan trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 1991, Hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 500 năm ngày sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử văn hóa dân tộc”. Hội thảo chủ yếu làm sáng rõ hơn những vấn đề mà Hội thảo khoa học năm 1985 đã đặt ra. Mặc dù vậy, cũng như cuộc hội thảo trước, những tư tưởng về thế giới quan cũng được các tác giả trình bày ở một số luận điểm, luận cứ trong bài viết của mình chứ chưa có bài viết nào nghiên cứu công phu về những quan niệm về thế giới quan trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Công trình nghiên cứu khá đồ sộ về Nguyễn Bỉnh Khiêm là cuốn “Nguyễn Bỉnh Khiêm, về tác gia và tác phẩm” (2001) do Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh chủ biên. Cuốn sách tổng hợp phần lớn những bài viết, bài nghiên cứu về tư tưởng của ông ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: cuộc đời và sự nghiệp, đặc biệt là sự nghiệp thơ văn của ông, chứ không đi vào 6 khai thác sâu những tư tưởng thế giới quan trong tư tưởng của Người. Tác phẩm đã nêu những cơ sở cho sự hình thành tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong đó, những biểu hiện về thế giới quan của ông đã được đề cập ở những nội dung nhất định. Luận án tiến sĩ với tên đề tài “Vấn đề con người và giáo dục con người trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm” (2011) của Nguyễn Bá Cường có đề cập đến nội dung trong thế giới quan triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là vấn đề con người và giáo dục con người. Công trình nghiên cứu về “Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ “tự nhiên – con người – xã hội” và ý nghĩa của nó đối với đạo đức của con người Việt Nam hiện nay” (2010) của Nguyễn Hữu Phước đã nghiên cứu những điều kiện khách và chủ quan cho sự ra đời tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đồng thời, công trình này đã nghiên cứu quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về quan hệ chỉnh thể “Tự nhiên - con người - xã hội”, phân tích những giá trị tích cực và hạn chế của nó, làm rõ ý nghĩa tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về mối quan hệ chỉnh thể “Tự nhiên – con người – xã hội” đối với việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam từ góc độ sinh thái nhân văn trong tình hình hiện nay. Công trình này cũng chỉ ra được một phần nội dung trong thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bên cạnh đó còn có công trình dự thi nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2006) với tên đề tài “Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về đạo làm người với vấn đề xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay” của Thân Thị Hạnh đã đi vào khai thác biểu hiện về thế giới quan trong quan niệm về con người của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả cũng đã chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng này đối với vấn đề xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, công trình này mới chỉ khai thác ở một khía cạnh thế giới quan của Nguyễn Bỉnh 7 Khiêm là “đạo làm người”, đồng thời, lĩnh vực tác động của nó là ở vấn đề xây dựng con người mới chứ chưa có độ khái quát toàn bộ thế giới quan trong tư tưởng của ông. Đề tài khóa luận tốt nghiệp của Tạ Thị Hoa (2012) “Tư tưởng của Nguyễn bỉnh Khiêm về Đạo” đã khái quát được những nội dung về Đạo cùng những biểu hiện của nó trong của tư tưởng Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nội dung tư tưởng này là một phần trong thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hiện nay, có nhiều bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm đăng trên các tạp chí Triết học, Văn học, Ngôn Ngữ... Các tác giả đã đề cập đến tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua nhiều khía cạnh. Trong đó, nhiều nội dung có liên quan đến thế giới quan trong tư tưởng của ông cùng những biểu hiện của nó đã được bàn đến như bài viết của tác giả Trần Nguyên Việt, Trần Lê Sáng, Nguyễn Tài Thư,... Tuy nhiên, các tác giả chưa khai thác sâu vào nội dung của vấn đề về thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Như vậy, có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm thì nhiều, đó có thể là những cơ sở để tác giả tham khảo cho luận văn của mình. Song cho đến nay vẫn chưa có một bài viết, một công trình nào tìm hiểu về thế giới quan của ông một cách hệ thống và sâu sắc. Đây là yêu cầu đặt ra đối với tác giả trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn của mình. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn: Hệ thống những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế giới, từ đó, khẳng định giá trị thế giới quan của ông trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau: - Luận văn phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự hình thình thành thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. 8 - Phân tích những nội dung cơ bản trong thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua hai tập thơ “Bạch Vân Am thi tập” và “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập”. - Chỉ ra một số nhận định, đánh giá về những giá trị và hạn chế của thế giới quan Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Đề tài dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng – duy vật lịch sử - Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, lôgic - lịch sử, khái quát hóa, so sánh đối chiếu… 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là th ế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. - Phạm vi nghiên cứu : Những tư tưởng trong các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm tập trung ở hai tập thơ Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập. 6. Đóng góp của luận văn Luận văn chỉ ra những yếu tố cơ bản đóng vai trò là điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói chung và thế giới quan của ông nói riêng. Luận văn đi vào nghiên cứu sâu hơn về thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ đó, khẳng định những giá trị của các tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng dân tộc. 7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn Về lý luận, luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung về thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm. 9 Về thực tiễn, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu cho sinh viên, học viên cao học và độc giả quan tâm đến lịch sử tư tưởng Việt Nam và tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiế t. 10 NỘI DUNG Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM 1.1. Khái niệm về thế giới quan Triết học là một trong những khoa học xuất hiện từ rất sớm, khi năng lực tư duy của con người đạt đến trình độ nhất định, tức là có thể sử dụng các khái niệm để diễn đạt nhận thức của mình về một vấn đề nào đó. Một trong những vấn đề mà triết học quan tâm nhiều nhất là vấn đề về vũ trụ xung quanh mình sinh ra từ đâu, nó tồn tại như thế nào và nó và biến chuyển ra sao? Bên cạnh đó, vấn đề thứ hai là vấn đề về chính bản thân con người. Vấn đề của con người được đặt ra với những nội dung về nguồn gốc của mình và sự tồn tại trong vũ trụ ấy và cùng với đó, con người cần thực hiện được nhiệm vụ nhận thức và cải tạo vũ trụ nhằm phục vụ nhu cầu và mục đích của mình. Với những vấn đề cơ bản đó, triết học được phân chia theo nội dung về thế giới quan và nhân sinh quan. Theo Nguyễn Văn Vịnh, thế giới quan đóng vai trò là yếu tố nền tảng của nhân sinh quan. Quan niệm về vũ trụ là tiền đề để đi đến những quan niệm về nhân sinh (nhân sinh quan), đây là trình tự cấu trúc chặt chẽ của triết học. Còn nhân sinh quan cũng phải lấy vũ trụ quan làm cơ sở căn bản để triển khai các luận điểm. Việc mở rộng các quan điểm nhân sinh quan ra môi trường cộng đồng, trong đó có con người là xã hội quan. Như vậy, toàn bộ thế giới sự vật, hiện tượng (trong đó bao gồm cả con người và xã hội) là một chỉnh thể thống nhất. Hệ thống các quan điểm về thế giới khách quan, đương nhiên phải gồm cả con người và xã hội. Đây cũng là cơ sở của việc trình bày về nội dung của thế giới quan triết học gồm: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan [58, tr. 19]. 11 Theo từ điển triết học (M.ro-den-tan và P.I-U-Din, NXB Sự thật, 1976): “Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh mình”… “Theo nghĩa tổng quát đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội, chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học… Các quan điểm triết học hợp thành hạt nhân chủ yếu của thế giới quan. Vấn đề cơ bản của triết học cũng là vấn đề chủ yếu của thế giới quan, đó là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức. Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản đó mà người ta có thể chia thế giới quan triết học thành duy vật hay duy tâm. Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người đạt được trong từng giai đoạn lịch sử. Như vậy thế giới quan mang tính lịch sử. Trong xã hội có phân chia giai cấp, thế giới quan tiêu biểu bao giờ cũng là thế giới quan của giai cấp thống trị xã hội đó” [60, tr. 906 - 907]. Theo quan niệm của các nhà Macxit: “Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó” [2, tr. 9]. Đây là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá giá trị tư tưởng của mỗi cá nhân cũng như của cộng đồng xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định. Thế giới quan triết học có một ý nghĩa không chỉ đơn thuần về mặt lý luận và nhận thức, mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn nữa, biểu hiện ở cách nhìn bao quát đối với vũ trụ, quyết định thái độ và là kim chỉ nam cho hành động của con người. Nhờ đã phát hiện ra các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội nên thế giới quan khoa học và tiến bộ đã hướng những hoạt động của con người đúng theo quy luật phát triển. Do đó, thế giới quan triết học đóng vai trò là phương pháp luận chung, định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn. Việc đưa ra những lý giải khác nhau về thế giới khách quan thể hiện thế giới quan phong phú của các ngành khoa học. Tuy nhiên giữa triết học và các ngành khoa học có một mối liên hệ 12 không thể tách rời trong đó bao gồm cả khoa học xã hội và nhân văn (khoa học về con người và xã hội loài người). Khoa học dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học để xây dựng lên những chân lý khoa học. Bênh cạnh đó, triết học đưa ra một cái nhìn tổng quan và khái quát dựa trên thành tựu của những ngành khoa học khác nhau. Mối liên hệ đó phản ánh tính đặc trưng của thế giới hiện thực khách quan là tính thống nhất giữa tự nhiên, xã hội và con người. Theo Nguyễn Tài Thư và nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam cho rằng Việt Nam trong lịch sử đã có tư tưởng triết học của riêng mình, đề cập đến các vấn đề: + Nội dung cơ bản của triết học với tư tưởng về thế giới: trời – người, tâm – vật, hữu – vô, lý – khí; phương pháp tư duy; tĩnh – động, thường – biến, thuận lẽ trời, lòng người, pháp cổ… + Tư tưởng chính trị - xã hội với quan niện về đường lối trị nước: thịnh - suy, quan hệ vua – dân, thành bại… +Quan niệm về con người với nội dung: đạo làm người, xây dựng con người, chuẩn mực đạo đức con người… Ba vấn đề tư tưởng này gắn bó với nhau, làm tiền đề tư tưởng cho nhau và hợp thành một hệ thống các quan điểm của truyền thống tư tưởng triết học Việt Nam. Những tư tưởng này giữ vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung gắn liền với sự hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử tư tưởng Việt Nam, nếu chủ nghĩa yêu nước xét trên bình diện lý luận, nếu xét phân loại thì chủ nghĩa yêu nước thuộc loại tư tưởng chính trị - xã hội, nếu xét vai trò thế giới quan của nó thì đó là quan điểm về triết học xã hội. Đó là hệ thống những quan điểm lý luận về đánh giặc giữ nước và phát triển đất nước [46, tr. 16 -18]. 13 Chúng tôi tiếp cận thế giới quan theo nội dung gồm vũ trụ quan, quan niệm về con người, xã hội và các mối quan hệ của con người. Vũ trụ quan là những tư tưởng, quan niệm của con người về sự hình thành, phát triển và tồn tại của vũ trụ. Có nhiều cách lý giải khác nhau của các nhà triết học, các nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây về vũ trụ. Mặc dù có sự khác nhau về nguồn gốc, bản chất của vũ trụ nhưng các triết gia phương Tây và Phương Đông đều thừa nhận sự vận động, biến đổi không ngừng của vũ trụ từ trạng thái này sang trạng thái khác, luôn tác động qua lại lẫn nhau. Hêraclit đã có kết luận về vật chất vận động: mọi vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái gì giữ nguyên tại chỗ, tất cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định. Ông khẳng định: không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì nước không ngừng chảy trên sông. Đối với các nhà triết học Trung Hoa cho rằng có một trong những nguyên lý quan trọng của vũ trụ là “biến dịch”, điều này được thể hiện trong tư tưởng về “Đạo” của Đạo gia, hay trong tác phẩm Kinh Dịch. Tư tưởng triết học của Phật giáo nguyên thủy cũng đã khẳng định tính tự thân, sinh thành, biến đổi của vạn vật, tuân theo tính tất định và phổ biến của luật nhân - quả, vô thường, vô ngã. Vũ trụ có mối quan hệ mật thiết với con người, bởi con người sống trong chính môi trường vũ trụ ấy và môi trường xã hội mà con người tạo nên. Từ việc nhận thức rõ mối quan hệ này mà con người có thể định hướng, quyết định cho hoạt động thực tiễn, phục vụ nhu cầu của mình. Đây là cơ sở cho sự thống nhất giữa vũ trụ quan và quan niệm về con người, cũng như các mối quan hệ xung quanh con người. Vấn đề về con người cũng là một trong những nội dung được nhiều ngành khoa học quan tâm, trong đó có triết học. Trong triết học luôn có những câu hỏi: con người được sinh ra từ đâu? Con người tồn tại và phát 14 triển như thế nào? Các mối quan hệ xung quanh con người diễn ra như thế nào, nó thể hiện bản chất gì của con người?... Mục đích của việc đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên là để thấy được vai trò, vị trí của con người trong thế giới hiện thực. Chính vì vậy, các nhà triết học của phương Đông và phương Tây đều đánh giá cao vai trò của con người, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, có mối quan hệ tác động qua lại với tự nhiên. 1.2. Điều kiện lịch sử xã hội, kinh tế, văn hóa Việt Nam thế kỷ XV - XVI 1.2.1. Một số biến động chính trị - xã hội Ngay từ những năm cuối thế kỷ XV, mô hình nhà nước cũng như các chính sách của triều Lê sơ đã bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn. Đến đời vua Lê Hiến Tông (1497 – 1505) còn kéo dài được 8 năm cái vẻ thịnh trị của thời Hồng Đức. Nhưng đến đời vua Lê Uy Mục, nhà Lê bắt đầu suy vong và cũng từ đấy xã hội phong kiến mất dần vai trò tích cực đối với xã hội, thậm chí trở thành chướng ngại vật cản trở sự phát triển của xã hội. Đất nước bắt đầu lâm vào sự trì trệ kéo dài qua nhiều thập kỷ. Chế độ này thường xuyên làm nảy sinh và tái sinh những mâu thuẫn xã hội khi thì tạm thời lắng xuống, khi thì bùng lên gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến áp bức, bóc lột với nhân dân ngày một đói khổ; mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền luôn luôn xung đột và chém giết lẫn nhau gây ra những cuộc nội chiến, tạo ra cảnh tượng đất đai bị chia cắt, huynh đệ tương tàn. Tình hình chính trị xã hội với nhiều suy biến khủng hoảng trầm trọng đã tác động đến ý thức hệ tư tưởng của tầng lớp sĩ phu phong kiến thời kỳ này trong đó có người trí thức lỗi lạc Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sự suy yếu của chính quyền phong kiến nhà Lê bộc lộ ngày càng rõ rệt. Trong nội bộ giai cấp thống trị mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gây lên cuộc chiến liên miên để tranh giành quyền lợi và địa vị. Sau khi lên làm vua, 15 Lê Uy Mục lao vào con đường ăn chơi sa đọa, hoang dâm, giết người tùy ý. Bởi vậy, vị vua này bị người đương thời mệnh danh là “vua quỷ”. Lúc ấy triều chính hoàn toàn lọt vào tay bọn ngoại thích và hoạn quan. Nội tộc nhà vua bị giết hại hoặc phải bỏ trốn biệt tích. Năm 1509, Lê Tương Dực tiếp quản triều chính nhưng y cũng không hơn gì Lê Uy Mục, đi vào con đường ăn chơi trụy lạc, giết hại anh em, hoang dâm vô độ. Sứ thần nhà Minh nhận xét nhà vua: “tướng hiếu dâm như tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa” [27, tr. 338]. Các thế lực phong kiến đang chia rẽ, tan rã, hình thành các phe phái đối địch nhau, họ tìm mọi cách để tranh giành quyền lực, tìm cách phế bỏ, giết hại vua này, lập vua khác. Tình cảnh này đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng lầm than, họ là nạn nhân của các cuộc tranh chấp giữa các thế lực phong kiến. Nhân dân mất niềm tin vào vua quan triều Lê. Nhà nước phong kiến thời kỳ này bị mục ruỗng từ bên trong và khó có thể khắc phục được. Những kẻ đứng đầu đất nước vì tư lợi cá nhân mà đã đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, triều đình phong kiến lúc này đã trở thành trở lực cản trở tiến trình đi lên của đất nước. Chính sự tranh quyền đoạt vị, chém giết lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến đã diễn ra tại thời điểm lịch sử mà Nguyễn Bỉnh Khiêm có “cơ hội” được chứng kiến đã tác động đến sự hình thành tư tưởng, thế giới quan của ông. Trong đó có những tư tưởng nhân sinh sâu sắc về đạo đối với bậc quân vương, đạo làm người, đó cũng là mong ước trong tư tưởng của ông về một xã hội thái bình thịnh trị như thời Ngu, Chu. Phong trào nông dân nổi lên đấu tranh ở nhiều nơi để chống lại sự áp bức quá nặng nề, sự ngột ngạt của thời thế loạn li và họ mong một phần nào đó được thoát khổ. Trong các cuộc khởi nghĩa ấy, có sự tham gia của nhiều sĩ phu và quan lại cấp dưới. Những cuộc khởi nghĩa này cuối cùng đều bị thất bại. 16 Nhìn chung, những phong trào nông dân trong thế kỷ XVI đều mang khuyết điểm chung là rời rạc, thiếu thống nhất. Mặc dù, sự mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và phong kiến có sâu sắc nhưng không có một phong trào nào có quy mô rộng lớn có thể đánh đổ hẳn được chế độ phong kiến đang lung lay. Tuy nhiên, những phong trào ấy đã phản ánh được sự yếu kém của một chế độ phong kiến đang suy vong. Năm 1522, thế lực của nhà Lê ngày càng suy tàn. Dựa vào công lao của mình trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân và đánh bại các thế lực chống đối triều đình, dựa vào sự ủng hộ của một số quan tướng, Thái phó Nhân Quốc công Mạc Đăng Dung tự quyền phế Chiêu Tông, lập Lê Xuân (Cung Hoàng đế) lên làm vua. Năm 1527, nhận thấy sự bất lực của nhà Lê và mọi quyền lực đã nằm trọn trong tay, Mạc Đăng Dung bức vua Lê phải nhường ngôi, lập ra nhà Mạc, kết thúc 100 năm tồn tại của nhà Lê sơ. Mạc Đăng Dung thay thế nhà Lê đã gây ra phản ứng dữ dội trong một số con cháu, công thần nhà Lê và một số sĩ phu khoa bảng như Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Đàm Thận Huy, Nguyễn Duy Tường, Nguyễn Hữu Nghiêm… Sự phản ứng diễn ra dưới nhiều hình thức như: có kẻ khởi binh chống lại nhà Mạc, có kẻ chửi Mạc Đăng Dung, có kẻ tìm cái chết “khí tiết”… Đây là những phản ứng của các sĩ phu phong kiến theo kiểu “trung thần bất sự nhị quân”. Phản ứng đó mang dáng dấp của một nhân cách sĩ khí anh hùng từ thế kỷ trước còn “sót” lại, đó cũng là những phản ứng chung của sự hoài niệm về nhà Lê còn sâu sắc. Cũng là một sĩ phu ưu tú, từ việc nắm bắt những đổi thay của thời thế mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có lối xuất xử của riêng mình, thực hiện tư tưởng của một người trí thức luôn suy tư trước vận mệnh của dân tộc, của nhân dân. Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi thì ngay sau đó, một tập đoàn phong kiến khác lấy danh nghĩa là “phù Lê diệt Mạc”, tập hợp lực lượng nổi dậy ở 17 Thanh Hóa, thành lập triều đình mới gọi là triều Lê Trung Hưng. Một cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến lại xảy ra và đất nước lại lâm vào cảnh chiến tranh. Cuộc chiến lần này đã dẫn đến cảnh tượng đất nước bị chia cắt. Chính quyền họ Mạc thống trị vùng Bắc Bộ ngày nay, gọi là Bắc triều, chính quyền họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê quản lý vùng đất Thanh Hóa trở vào, gọi là Nam triều. Trong gần 50 năm (1546 – 1592) có 38 cuộc chiến lớn nhỏ xảy ra giữa Lê – Trịnh và Mạc. Năm 1592, Nam triều thắng Bắc triều, chiếm được kinh thành Thăng Long. Con cháu nhà Mạc chạy lên Cao Bằng. Sự phân chia Nam – Bắc triều cùng chiến tranh Lê – Trịnh và Mạc vừa chấm dứt thì lại xảy ra sự phân chia đất nước và chiến tranh Trịnh – Nguyễn. Mặc dù vậy, nhưng nhà Mạc đã ra sức xây dựng chính quyền, ổn định trật tự xã hội, củng cố kinh tế, đã có thời đất nước được tạm yên. Song nhà Mạc vẫn bị coi là “ngụy triều”, tồn tại trong thế chênh vênh, yếu đuối. Mạc Đăng Dung và các vua kế vị đã phải tìm cách hòa hoãn với nhà Minh, cắt 5 động ở Đông Bắc cho nhà Minh. Nhà Mạc làm như vậy với mong muốn được yên mạn Bắc để tập trung lực lượng đối phó với cựu thần nhà Lê ở mạn Nam. Bởi vậy, nhân dân và nhiều quan lại chán nản, phẫn nộ. Vì vậy, nhà Mạc dần rơi vào thế cô lập. Như vậy, nét nổi bật trong đời sống chính trị - xã hội của Việt Nam ở cuối thế kỷ XV và thế kỷ XVI là sự đứt gãy của các chính quyền phong kiến và sự phân chia phạm vi thống trị của các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn làm cho đời sống nhân dân vô cùng thống khổ, đất nước lâm vào tình cảnh khốn cùng. Tình hình này đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của người dân, nhất là đối với người trí thức lỗi lạc Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là người luôn hướng tầm mắt đến thời cuộc, luôn suy ngẫm về thế sự của đất nước hiện thời. Từ đó, người trí thức lỗi lạc ấy đã phản ánh kịp thời với một cách bao quát và trung thực nhất những biến đổi của tình hình chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ này. 18 1.2.2. Điều kiện kinh tế Nền sản xuất nông nghiệp bị sa sút nghiêm trọng. Sự phát triển của chế độ tư hữu lớn về ruộng đất ở đầu thế kỷ XVI đã dẫn đến sự phá sản của chính sách quân điền – một chính sách tiến bộ về phát triển nông nghiệp của thời phong kiến nhằm thể hiện sự gắn kết, quan tâm của chính quyền đối với nhân dân, khuyến khích nông dân tăng gia sản xuất. Ruộng đất công làng xã bị thu hẹp và cùng với đó là sự suy sụp, rời rạc của nông nghiệp. Bọn vua quan thì không hề chăm sóc, bảo vệ nông nghiệp; đê điều thì không được sửa sang, hàng năm hay bị vỡ; thủy lợi không được chú trọng…, hạn hán, mất mùa, đói kém xảy ra liên miên. Nhận thấy rõ sự yếu kém của triều đình phong kiến trong việc trị nước an dân, nhiều sĩ phu phong kiến tỏ ra bất mãn trước thời cuộc, không tham gia vào con đường công danh mà chọn cuộc sống ẩn dật. Tình hình thương nghiệp, thủ công nghiệp có sự phát triển nhất định trước những tác động của sự ăn chơi xa xỉ của vua chúa và ảnh hưởng của việc buôn bán với người nước ngoài nhất là người phương Tây. Tuy nhiên, sản xuất thủ công nghiệp và buôn bán còn mang tính lẻ tẻ, manh mún, tự phát và chịu sự ràng buộc của quy chế phường hội, các chế độ thuế khóa phiền hà. Mặc dù vậy, việc phát triển buôn bán, thông thương trong và ngoài nước cũng đã có một số ảnh hưởng cho nền thương nghiệp nước ta như: kinh tế buôn bán có những bước phát triển nhất định, tiền tệ được lưu thông dễ dàng, đô thị mọc nhiều lên, trong xã hội xuất hiện tầng lớp phú thương. Song tầng lớp phú thương này không có một tác động đáng kể trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên do chưa được chuẩn bị kỹ về ý thức hệ của một tầng lớp mới mà chỉ chú trọng đến tư lợi cá nhân. Do đó, họ không thể trở thành một lực lượng mới có tính chất cách mạng như ở các nước tư sản phương Tây thời kỳ này. 19
- Xem thêm -