Tài liệu Thế giới hồi giáo

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 159 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 1 ) Hơn một tỷ người trên trái đất này gắn bó với niềm tin của đạo Hồi, tôn giáo sinh sau đẻ muộn nhất nhưng cũng phát triển nhanh nhất trong số ba tín ngưỡng chiếm địa vị hàng đầu trên thế giới là Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Phật giáo. MỘT TÔN GIÁO ĐA VĂN HÓA Khi nói đến đạo Hồi, người ta thường nghĩ ngay đến những người Arập sống trên sa mạc. Nhưng thực ra đạo Hồi ngày nay đã trở thành một tín ngưỡng đa văn hóa, là một cộng đồng tôn giáo bao trùm nhiều nền văn hóa trên thế giới. Trong số tín đồ Hồi giáo trên thế giới ngày nay thì những người dân của xứ Arập, quê hương của đạo Hồi, chỉ còn là thiểu số. Những người Hồi giáo có mặt trên mọi lục địa, nhưng họ tập trung đông đảo nhất ở Đông Á, Trung Đông và châu Phi. Nước có đông tín đồ Hồi giáo nhất là Inđônêxia với hơn một trăm triệu người. Những nước có tín đồ Hồi giáo chiếm đại đa số trong dân cư là các nước Arập, Trung Á, Pakistan, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, các nước Bắc Phi… Trên 5 triệu người Hồi giáo sinh sống ở Mỹ. Quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới là đất nước Inđônêxia ở vùng nhiệt đới, nơi niềm tin tôn giáo của Mohammed được đặt lơ lửng bên trên cái kiến trúc văn hóa Đông Nam Á. Ở Ấn Độ và Pakistan nhóm tín đồ Hồi giáo chiếm số lượng đông nhất là những người nông dân và thợ thủ công; còn tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran hay Mã Lai thì đó là những người buôn bán nhỏ và các cư dân thành thị; ở vùng cận sa mạc Sahara châu Phi, nơi đạo Hồi vẫn còn đang phát triển, thì đó là những người da đen còn đang ở một trình độ phát triển kinh tế tương đối thấp. Còn tại các quốc gia Arập, nơi khởi nguyên của đạo Hồi, thì các tín đồ Hồi giáo phần lớn là những cư dân thành thị hay những người nông dân với một nền nông nghiệp định cư thâm canh cao trên những dải đất màu mỡ, như các đồng bằng dọc hai bên bờ sông Nil hay ở vùng bình nguyên Lưỡng Hà. Mặc dù trải rộng trên nhiều cấp độ phát triển văn hóa, nhưng một tín đồ Hồi giáo tiêu biểu, nếu xét theo bình diện lịch sử, thì đó trước hết là những cư dân đô thị năng động, có nhãn quan thế giới, đã có thời là những kẻ đi chinh phục, nhưng thường hơn là các thương nhân thành thị. Và chính là qua những người này mà đạo Hồi lan rộng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác. SỰ THỐNG NHẤT CỦA THẾ GIỚI HỒI GIÁO Dù có những nét văn hóa đa dạng và rất khác nhau qua từng quốc gia, nhưng thế giới Hồi giáo nói chung vẫn có một sự đồng nhất khá rõ ràng. Từ Marốc ở Bắc Phi cho đến Java ở cực đông Đông Nam Á, ở đâu các thánh đường Hồi giáo cũng đều mang một bầu không khí rất dễ phân biệt. Chẳng có ai lại nhầm một thánh đường Hồi giáo với một nhà thờ Thiên Chúa giáo, một giáo đường Do thái giáo hay một ngôi chùa Phật giáo. Trong các thánh đường Hồi giáo, nơi cầu nguyện Allah, Đấng Chúa tể của đạo Hồi, không có tranh ảnh, không có bệ thờ, không có hoa hay các ngọn nến – chỉ có duy nhất một không gian trống trải rộng lớn, sạch sẽ, mát mẻ, khắc khổ, nhưng đẹp đẽ. Nền thánh đường đôi khi được trải những tấm thảm quí giá. Tường, trần nhà hay mái vòm thường được trang trí bằng những đường uốn lượn với các họa tiết trang trí kỳ lạ. Nhưng không ở đâu có sự hiện diện của những bức tranh hay tượng theo phong cách tả thực như trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo hay đền chùa Phật giáo. Chỉ có duy nhất một cái hốc ẩn trong bức tường để định hướng cho những người đang cầu nguyện quay về phía Mecca; chỉ có duy nhất một đồ vật khiêm tốn giống như một cái hộp để làm bục giảng kinh. Trên các đường phố của một nước Hồi giáo, người ta có thể cảm nhận được rất rõ ảnh hưởng bao trùm khắp nơi của tôn giáo này. Năm lần một ngày – vào lúc mặt trời mọc, giữa trưa, đầu giờ chiều, ngay sau lúc mặt trời lặn và khi trời tối hẳn – từ cái tháp (minaret) luôn được xây liền với tòa thánh đường, một người báo giờ gọi là muezzin kêu gọi các tín đồ cầu nguyện. Tiếng gọi của ông ta có một ý nghĩa tương tự như tiếng chuông nhà thờ đối với những người Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới. Rồi cảnh tượng các tín đồ cầu nguyện - trong các cửa hàng, các ngôi nhà, trên các đường phố… nghĩa là ở bất cứ nơi nào mà họ đang có mặt - cũng kính cẩn nghiêm trang y như họ đang ở trong thánh đường vậy. Ở các khu chợ không còn thấy nhiều phụ nữ mặc áo thụng kín mít như ngày trước, nhưng chiếc khăn trùm đầu thì vẫn là vật bất ly thân của những phụ nữ Hồi giáo ở khắp mọi nơi. Và mặc dù luật Hồi giáo cấm uống rượu không còn được người ta tuân thủ nghiêm ngặt nữa, nhưng vào buổi chiều tối, những người đàn ông vẫn thường tụ tập ở các tiệm cà phê và các quán trà hơn là trong các quán bar hay các câu lạc bộ. Cuối cùng, nếu ai không phải tín đồ Hồi giáo nhưng hiểu được ngôn ngữ địa phương thì người đó sẽ có nhiều dịp nghe thấy những lời cửa miệng “Theo ý Allah” trong các cuộc trò chuyện hàng ngày. TÍN NGƯỠNG HỒI GIÁO Tín ngưỡng của đạo Hồi có thể tóm tắt trong vài lời sau đây, đó cũng là lời cầu nguyện hàng ngày của các tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới: “Không có chúa trời nào khác ngoài Allah và Mohammed là Tiên tri của Ngài”. Allah không phải là tên của một vị thần, mà đó chỉ đơn giản có nghĩa là “Thượng đế” theo tiếng Arập – một Thượng đế tối cao và độc nhất. Thượng đế của người Hồi giáo cũng chính là Thượng đế của người Do Thái và người Thiên Chúa giáo. Các tín đồ Hồi giáo tin rằng những gì Thượng đế muốn đối với loài người đã được ghi lại gần như toàn bộ trong Kinh Koran, cuốn kinh Thánh của đạo Hồi. Các tín đồ Hồi giáo cũng tin vào một ngày Phán xét cuối cùng sẽ đến do thượng đẳng thiên thần Asrafil thổi kèn báo hiệu. Người Hồi giáo coi cuộc đời trên trái đất chỉ là cuộc sống tạm, một giai đoạn ngắn ngủi để đến với một cuộc sống vĩnh hằng sau khi chết. Cuộc sống vĩnh cửu này có thể tràn đầy niềm vui hạnh phúc hay đọa đầy thống khổ hoàn toàn tùy thuộc vào việc người đó sống cuộc đời trên trần thế này như thế nào. Nếu người ta sống theo những giáo huấn của Thượng đế tối cao ghi trong kinh Koran, thì họ sẽ được tưởng thưởng bằng cuộc sống vĩnh hằng trên Thiên đường trong lần Sáng thế thứ hai. Còn trái lại, họ sẽ phải chịu đựng những nỗi thống khổ nơi Địa ngục. Người Hồi giáo còn tin vào các thiên thần là sứ giả của Thượng đế, vào các vị tiên tri là những người nhận được thông điệp từ Thượng đế, và tin vào các cuốn sách thánh ghi lại những thông điệp này. Theo kinh Koran và Hadith (Sách Tiên tri) thì Thượng đế đã triệu gọi hai mươi tám vị tiên tri để truyền đi những thông điệp của Ngài, và Mohammed là vị tiên tri cuối cùng. Có hai mươi mốt vị tiên tri trong số đó đã được nhắc đến trong Thánh kinh của Thiên Chúa giáo. Những người Hồi giáo cũng tin Jesus là một tiên tri vĩ đại. Nhưng họ bác bỏ niềm tin của những người Thiên Chúa giáo rằng Jesus là con trai của Thượng đế, mà ông cũng chỉ là một trong số các tiên tri. Người Hồi giáo coi những ghi chép của Abraham, Torah (Cựu ước) của Moses, Thánh thi của David và Phúc âm của Tân ước đều là thần khải của Thượng đế, nhưng kinh Koran được khải thị bởi Mohammed mới là thông điệp tối hậu của Allah. Tuân phục ý chí và luật lệ của Allah là cốt lõi của đạo Hồi. Từ Islam – tên của đạo Hồi theo tiếng Arập - có nghĩa là “tuân phục” và cái tên đó cho chúng ta biết tư tưởng trung tâm của tôn giáo này chỉ đơn giản là tuân phục hoàn toàn và toàn tâm toàn ý với ý chí và luật lệ của Thượng đế; một người tuân phục Thượng đế như thế gọi là một muslim, tức người tuân phục - hay một tín đồ Hồi giáo. Trước đây, người Tây phương thường gọi đạo Hồi và những tín đồ Hồi giáo bằng cái tên đạo Mohammed và những tín đồ của đạo Mohammed, tương tự như cách người ta gọi đạo Phật và đạo Thiên Chúa. Nhưng các tín đồ Hồi giáo phản đối cách gọi này, và không bao giờ tự gọi mình bằng cái tên đó, vì họ không thờ phụng hay thần thánh hóa Mohammed, mà thay vì thế họ tuân phục ý chí của Thượng đế được khải thị qua các tiên tri của Ngài, trong đó Mohammed là vị Tiên tri cuối cùng và những khải thị của ông là sự thể hiện đích thực nhất ý chí của Thượng đế. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠO HỒI Những tín đồ đạo Hồi tin rằng tôn giáo của họ dựa trên những tuyên ngôn thần thánh, hay những thần khải từ Thượng đế. Vì thế đạo Hồi cũng là một tôn giáo thần khải giống như Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo. Những thông điệp thiêng liêng này được Thượng đế nhắn nhủ thông qua một loạt các tiên tri – đó là những người được Thượng đế lựa chọn để nói thay cho Ngài. Theo những người Hồi giáo thì những lời dạy của các tiên tri trước đây thường bị người đời sau diễn giải sai lệch hay xuyên tạc đi, cho đến khi xuất hiện Mohammed. Tín đồ Hồi giáo tin rằng những khải thị của Mohammed là trung thành nhất và đầy đủ nhất, rằng những thần khải mà Mohammed nhận được là những tuyên ngôn cuối cùng và tối thượng của Thượng đế. MOHAMMED Mohammed là người thành phố Mecca, miền trung tây Arập. Ông sinh năm 570, trong một gia đình thương nhân, thuộc bộ tộc Quraysh. Mặc dù Quraysh là một bộ tộc danh giá ở Mecca, nhưng gia đình Mohammed lại rất nghèo. Cha Mohammed đã mất từ trước khi ông ra đời. Mẹ ông cũng chết khi ông mới được sáu tuổi. Mohammed được ông nội, và sau đó là ông chú nuôi nấng. Ông không được học hành tử tế, và người ta nói rằng ông không biết đọc biết viết. Từ bé Mohammed đã phải làm việc trong nghề buôn bán, và theo thông lệ, ông trở thành một người điều khiển lạc đà. Có lẽ ông đã vài lần cùng thương đoàn lạc đà lên miền bắc Arập, đến Syria và Irắc. Đến năm hai mươi lăm tuổi, ông vào làm việc cho Khadija, một góa phụ giàu có lớn tuổi hơn ông nhiều. Bà đã sinh cho ông cô con gái Fatima trước khi ông chính thức lấy bà làm vợ. Kể từ đó, Mohammed đã có một cuộc sống dễ chịu hơn và ông có điều kiện để suy nghĩ nhiều hơn về các vấn đề của dân tộc ông. Hai người đã có với nhau sáu người con. Mohammed là một người lúc nào cũng nghiêm túc, hay suy nghĩ, không chan hòa với họ hàng. Trước năm 40 tuổi, cuộc đời của ông không có gì khác lạ so với các thương nhân của thành phố thiêng liêng này, chỉ trừ việc ông hay đi vào trong núi để đắm mình trong những suy tư trầm mặc. Từ khi mới lớn lên, Mohammed đã thấy bất mãn với tôn giáo của bộ tộc ông. Ông thấy họ quá mê mải với việc kiếm tiền. Ông thấy họ thường xuyên đánh lẫn nhau, căm thù nhau và làm những chuyện tàn bạo, ích kỷ. Ông phản ứng mạnh mẽ với những bất công xã hội và những tục lệ vô đạo đức mà tôn giáo đó cho phép người ta được làm. Dần dần ông kết luận rằng chính tôn giáo của bộ tộc ông phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi của họ. Nó cho phép họ thờ phụng đủ các loại thần thánh với những chuẩn mực đạo đức khác nhau, cũng như làm ngơ với các tục lệ vô đạo đức như bỏ cho chết những bé gái mới sinh. Ông cũng cực lực phản đối tất cả những hình thức cho vay lấy lãi và lợi dụng tôn giáo để kiếm tiền. Mohammed nghe nói người Do thái và người Thiên Chúa giáo chỉ tin vào một Thượng đế duy nhất. Ông bắt đầu tìm hiểu và nghiền ngẫm về các tôn giáo của người Do thái và người Thiên Chúa giáo đang sống thành nhiều nhóm nhỏ quanh Mecca. Dần dần ông tin theo họ rằng chỉ có một Thượng đế đích thực, duy nhất, đó là Thượng đế của người Do thái và người Thiên Chúa giáo. Ông cũng đã được nghe rằng vị Thượng đế đó đã thần khải về Ngài và những chân lý của Ngài cho người Do thái và Thiên Chúa giáo qua các tiên tri. XỨ Ả-RẬP ĐA THẦN GIÁO Arập khi đó còn là một xã hội bộ lạc và khá lạc hậu so với những vùng đất xung quanh. Hầu như mỗi bộ lạc Arập đều có những thần thánh của riêng mình, được thờ phụng dưới hình thức những pho tượng, những hòn đá và cái cây. Nhiều bộ tộc còn thờ cúng những vị thần của các bộ tộc khác mà họ tin tưởng. Thành phố Mecca của Mohammed là một trung tâm thương mại có vai trò rất quan trọng với người Arập. Thành phố này thu hút vô số những người hành hương, nó thiêng liêng thần thánh ở chỗ đây chính là nơi trú ngụ của rất nhiều vị thần đa thần giáo – thần Mặt trăng, các thần Sao và các vị thần của những ngày lễ trong năm – và đây cũng là nơi đặt hòn đá thiêng mà người ta cho là được mang từ trên trời xuống, có lẽ đó là một thiên thạch. Vùng đất xung quanh nơi thờ phụng thiêng liêng này là một vùng trung lập, tại đây các vị đại diện và các nhà buôn của những bộ tộc đang có chiến tranh với nhau có thể yên ổn gặp nhau trong hòa bình. Bộ tộc Quraysh của Mohammed sinh sống tập trung ở Mecca. Vì trong các đền thờ của bộ tộc có các tượng thần được cả người ở nơi khác thờ phụng, nên chúng trở thành cái đích hành hương của nhiều bộ tộc láng giềng. Trong số đó có một ngôi đền gọi là Kaaba, nằm ở trung tâm thành phố. Nó mang lại cho bộ lạc Quraysh rất nhiều lợi lộc từ những người dân ở các bộ tộc khác đến đây thờ cúng. Thêm nữa, trong thời đại của Mohammed, vùng Cận Đông là bãi chiến trường của sự đối đầu về chính trị, kinh tế và tư tưởng giữa ba siêu cường thời đó: đế chế Byzantine và đế chế Ethiopia theo Thiên Chúa giáo, còn đế chế Ba Tư theo đạo Zoroastria (đạo Thiện cách tân) nhưng cũng chứa chấp các nhóm thiểu số có thế lực theo Do thái giáo và Thiên Chúa giáo không chính thống. Đế chế Byzantine và đế chế Ba Tư là kẻ thù truyền kiếp của nhau, giữa họ luôn có những cuộc chiến tranh liên miên không dứt, lâu lâu lại có một cuộc đình chiến tạm thời. Ở trong một tình thế như vậy, xứ Arập không tránh khỏi trở thành một vùng xoáy tranh giành ảnh hưởng giữa các thế lực ngoại bang. Nhưng đó vẫn là một vùng đất không liên kết, không phe phái nằm giữa các siêu cường này. Ở Arập cũng có những người Thiên Chúa giáo và Do thái giáo ủng hộ Byzantine hay Ba Tư. Nhưng các thương nhân ở Mecca và Yathrib buôn bán với những thành phố của các đế chế này hiểu rõ các sự kiện đang diễn ra xung quanh mình, và hiểu được rằng sự giàu có của họ đòi hỏi họ không được phụ thuộc quá nhiều vào bất cứ một phe nào. Và nhiều người còn hiểu rõ một điều là tôn giáo của các siêu cường này “ưu việt” hơn tôn giáo đa thần của họ. Tín ngưỡng về một vị thần độc tôn, dù đó là Đức Chúa trời của Thiên Chúa giáo, hay Thiện thần Ahura Mazda của đạo Zoroastria, hay Thượng đế của Do Thái giáo, thì rõ ràng vẫn là những tín ngưỡng tiến bộ hơn, nó giúp đoàn kết được dân tộc và nhờ vậy mà họ xây dựng được các đế chế hùng cường như thế. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, những thương nhân Mecca có tinh thần dân tộc và năng nổ nhận thấy tình cảm thống nhất trong cùng dân tộc Arập có nguồn gốc từ xa xưa nay đang rạn nứt sâu sắc trong con người họ. Họ thấy cần có một học thuyết mới và một nền đạo đức mới, chúng phải vừa thỏa mãn được các giá trị vụ lợi, nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân và đề cao cá tính mà vẫn giữ được sự thống nhất trong dân tộc Arập. Tôn giáo độc thần của các cường quốc đáp ứng được yêu cầu đó. Vì thế giáo lý mới có thể được rút tỉa từ đạo Zoroastria, từ đạo Do Thái hay đạo Thiên Chúa, hay ít ra là cái gì đó tương tự như những tôn giáo này về phương diện một Thượng đế duy nhất và một lựa chọn đạo đức duy nhất. Nhưng tôn giáo mới của người Arập cũng cần phải độc lập về chính trị với các hệ tư tưởng kia. Một số người dân Mecca, gọi là những người Hanif, thực sự đã đi theo hướng này, dù không có tổ chức chặt chẽ cho lắm. Những người Arập ở miền bắc thì lại theo Thiên Chúa giáo. Nhưng dù vậy thì ở họ vẫn cứ thiếu một vị tiên tri là người Arập, một người có thể thể hiện những mối quan tâm về quốc gia cũng như về tinh thần chung của những người Arập. Khung cảnh đó rõ ràng đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Mohammed. KHẢI THỊ ĐẦU TIÊN Vào năm 611, Mohammed bắt đầu trải nghiệm một sự kiện khác thường khi đang một mình cô độc suy ngẫm trong một cái hang trên núi. Một đêm, đang miên man suy nghĩ, bỗng nhiên ông thấy như mình được Thượng đế triệu gọi để trở thành một tiên tri của Ngài. Một bóng tối thần bí bao trùm lên ông, rồi hình bóng lấp lánh của thượng đẳng thiên thần Gabriel hiện ra trước mắt và đọc cho ông nghe những lời lẽ mà ông vẫn nhớ rất rõ ràng trong đầu. Mohammed kể rằng thiên thần Gabriel hiện lên trước mặt ông, và ra lệnh cho ông phải nói lại những lời của Thượng đế cho người Arập bằng ngôn ngữ của chính họ. Khi ông hỏi thiên thần xem mình phải nói gì, thì thiên thần đáp, “Hãy nói: Nhân danh Thượng đế của các ngươi, Đấng đã sáng tạo ra con người từ một cục máu. Hãy nói: Thượng đế của các người là Đấng khoan dung nhất, người đã dạy bằng ngòi bút, dạy con người điều mà nó không biết.” Những lời nói đó của thiên thần sẽ là những lời đầu tiên hình thành nên kinh Koran, cuốn sách về sau trở thành nền tảng giáo lý của đạo Hồi. Những lời lẽ này trước hết là nói về sự duy nhất của Thượng đế – rằng không có chúa trời nào khác ngoài một Thượng đế duy nhất, “Vị Chúa tể của các Thế giới,” Ngài ghét cay ghét đắng việc thờ thần tượng và sẽ đến ngày Ngài sẽ phán xét thế giới với ngọn lửa và nỗi sợ hãi; vị Thượng đế này kêu gọi toàn thể loài người hãy tuân phục và chấp nhận sự ngự trị tuyệt đối của Ngài. Mohammed còn được thần khải nhiều lần nữa trong suốt những năm còn lại của cuộc đời ông. THUYẾT GIẢNG Thoạt đầu Mohammed không tin vào những gì đã xảy ra với ông. Nhưng vợ ông là Khadijah và anh họ ông là Waraqah, một người cũng thuộc nhóm Hanif, đã cổ vũ ông tin vào những thần khải này. Trong vài năm sau lần khải thị đầu tiên, Mohammed vẫn còn chưa công khai nói về tôn giáo mới của ông mà chỉ truyền lại cho những người thân và bạn bè ông. Nhưng sau đó, khi ông bắt đầu thuyết giảng trong công chúng, thì một số người đã tin theo. Ông rao giảng những tư tưởng về sự bình đẳng và lòng nhân từ, phê phán việc thờ phụng thần tượng. Ông cũng phát biểu chống lại cung cách kiếm tiền bằng cách cho vay lấy lãi đối với những người nghèo khó, hoạn nạn. Trong mười năm từ năm 611 đến năm 621, Mohammed đã kêu gọi người dân thành Mecca hãy nghe theo lời dạy của Thượng đế, hãy chấp nhận một Thượng đế độc tôn, nhưng những cố gắng của ông không mấy thành công. Với nhiều người, những thông điệp nhiệt thành của Mohammed có vẻ như một mối đe dọa đối với việc thờ thần tượng đang rất sinh lợi của họ, vì thế họ căm ghét ông. Thực ra lúc Mohammed mới rao giảng những lời của Thượng đế thì đa số những người có thế lực ở Mecca hoàn toàn thờ ơ đối với hoạt động giảng đạo của ông. Nhưng sau này họ bắt đầu chống đối ra mặt. Đặc biệt là những họ hàng giàu có của Mohammed và bạn bè của họ rất tức giận. Họ không thích những bài giảng nhân danh Allah của Mohammed chống lại các tượng thần của họ, và họ không ưa lời cảnh cáo của ông về ngày phán xét cuối cùng và về địa ngục đang chờ họ. Họ từ chối làm ăn với những người tin theo ông. Mohammed đã vài lần thử thỏa hiệp với họ. Chẳng hạn, ông công nhận ba nữ thần đa thần giáo được thờ phụng ở Mecca là “các con gái của Allah”. Nhưng những mưu kế như thế không thể đánh lừa được ai, và chính Mohammed chẳng bao lâu sau cũng bác bỏ “những gợi ý của quỷ Satan” này. Đến năm 621 thì những lời tiên tri của Mohammed có vẻ im ắng dần. Vì những khác biệt về quan điểm nẩy sinh trong những người theo ông, và vì những người Mecca khủng bố họ, nên Mohammed đã gửi khoảng tám mươi người đến Abyssinia (Etiopia) để lánh nạn. Sau đó Khadija, người vợ đầu tiên của ông chết, rồi chú ông abu-Talib cũng mất theo. Ông chú, người giữ vai trò thủ lĩnh thị tộc, lâu nay vẫn là tấm đệm ngăn cản bộ tộc Quryash làm những hành động bạo lực chống lại đứa cháu của mình. Ông chết đi, thế là Mohammed rơi vào tình cảnh không còn được bảo vệ. Những người thuộc bộ tộc Quryash thậm chí còn tìm cách sát hại ông. Trong lúc nguy nan, bỗng nhiên một cơ hội hết sức may mắn đến với ông. Hai bộ tộc Arập chính ở Medina (khi đó còn gọi là Yathrib), một thành phố ở phía bắc Mecca, đã thù địch và kình chống lẫn nhau từ nhiều năm nay. Một số người của hai bộ tộc này đã nghe Mohammed giảng đạo ở Mecca, và họ thấy ông là người có thể hòa giải những bất đồng của họ. Những dàn xếp bí mật được thực hiện để cho những người Muslim rời Mecca thành từng nhóm nhỏ, và cuối cùng chính Mohammed cũng trốn đến Medina. THỐNG NHẤT Ả-RẬP Cuộc hành trình đến Medina của ông, gọi là Hijra, tức là cuộc tị nạn, diễn ra vào năm 622; nó đánh dấu sự bắt đầu của những hoạt động vận động dân chúng trên quy mô lớn của Mohammed. Ở Medina, với tư cách một nhà tiên tri, Mohammed dần dần trở thành một nhà ngoại giao chuyên hòa giải những xung đột giữa các bộ lạc. Ông liên minh với những bộ lạc láng giềng để đem lại sự ổn định cho vùng này và thúc ép người dân chấp nhận giáo lý Hồi giáo. Người ta nghe ông và tin theo tín ngưỡng của ông. Dần dần ông đã thành lập nên một cộng đồng Hồi giáo với hệ thống chính quyền, luật pháp và các thể chế riêng. Trong khoảng thời gian đó, Mohammed còn được Thượng đế thần khải nhiều lần nữa, nhiều trong số những lần đó là về những luật lệ tổ chức xã hội của người Hồi giáo. Như thế là ở Yathrib, Mohammed dần dần đã trở thành một lãnh tụ tôn giáo và chính trị. Sau đó tên của thành phố này được đổi thành al-Madinah al-Munawwarah (thành phố Sáng láng) hay Madinat al-Nabi (thành phố của Tiên tri). Ngày nay nó được gọi là Medina. Chính ở Medina, Mohammed có điều kiện để củng cố tôn giáo của ông và phát triển nó lên rất nhanh. Khi những nỗ lực để thuyết phục những bộ lạc Arập láng giềng và các cộng đồng Do thái thất bại, ông liền áp dụng những biện pháp mạnh chống lại họ và ngày càng quay sang một đường lối dựa vào quân sự nhiều hơn. Và trong lĩnh vực này, ông cũng chứng tỏ mình là một thủ lĩnh có tài. Nhưng Mecca vẫn tiếp tục chống lại tôn giáo mới của Mohammed, và giữa hai thành phố đã xảy ra ra nhiều cuộc chiến. Mục tiêu sâu kín nhất của Mohammed là biến Mecca trở thành thủ đô thiêng liêng của đạo Hồi. Người của Mohammed đã thực hiện cuộc viễn chinh thành công chống lại thương đoàn lạc đà của Mecca ở Badr vào năm 624. Và năm 630, Mohammed cùng các tín đồ hành quân tiến chiếm Mecca. Ông vào Kaaba và đập bỏ hết các tượng thần được thờ phụng ở đó, biến nó thành đền thờ Thượng đế như thời Abraham đã xây nó lên. Những người Mecca cuối cùng cũng đồng ý chấp nhận đạo Hồi, và đền Kaaba trở thành trung tâm của sự thờ phụng Hồi giáo từ ngày đó. Với thành phố Mecca thần thánh làm hậu thuẫn, ông tiến hành công cuộc chinh phục các bộ tộc Arập, chẳng bao lâu sau những bộ tộc chính trong thế giới Arập đã cải theo đạo Hồi. Và lần đầu tiên trong lịch sử, các bộ tộc Arập được liên kết lại với nhau trong cùng một bổn phận với một tôn giáo và một Thượng đế. Đó chính là sự nghiệp mà Mohammed đã thực hiện trong mười năm cuối cùng của cuộc đời, và ông đã làm công việc đó giỏi đến mức những lời nói của ông đem lại một sức thuyết phục vượt ra ngoài biên giới của thế giới Arập. Trong khoảng thời gian trước cái chết của mình, xảy ra chẳng bao lâu sau cuộc hồi hương đắc thắng trở về Mecca của ông vào năm 630, thì những khải thị lạ lùng lại tiếp tục. TIÊN TRI CỦA THƯỢNG Đế Vào năm 632, năm Mohammed qua đời, tất cả những tư tưởng mà ông nói ra đã trở thành một tôn giáo mới đoàn kết toàn bộ dân tộc Arập lại với nhau. Trước lúc lên đường trở về Medina sau cuộc hành hương đắc thắng đến Mecca, Mohammed đọc một bài thuyết giảng từ biệt, và một thời gian ngắn sau đó ông chết. Ông được mọi người thương khóc, vậy là cái chết của ông đã đến vào một thời điểm tốt lành. Nhờ biết kết hợp tài ba giữa ngoại giao và quân sự, Mohammed đã thống nhất toàn bộ Arập dưới lá cờ đạo Hồi. Ông là một anh hùng có sức lôi cuốn của thời vận; ông chết trong những giờ khắc vinh quang chói lọi của mình. Sứ mệnh tôn giáo của ông đã hoàn thành; những khải thị mà ông ban bố được thu thập lại thành kinh Koran hai mươi năm sau khi ông mất. Không giống như những người sáng lập của các tôn giáo khác, Mohammed đã chết cái chết của một người anh hùng được ngưỡng mộ giữa những người của ông, như một nhà cai trị, một nhà ngoại giao thành công, một nhà chính trị, và một vị tướng soái. Ông là người có những viễn tượng bí ẩn, nhưng về bản thân ông thì không hề có điều gì siêu nhiên. Thay vì thế, với dân tộc Arập, ông là một con người bình thường nhưng có những phẩm chất vĩ đại: một con người có trái tim nhân hậu, hài hước vui vẻ, một nhà hoạch định kế sách nhiều mưu mẹo, một vị thống soái dấn thân vào chiến trận dẫn đầu các đoàn quân, và bằng nhân cách mạnh mẽ của mình đã giữ cho những người theo ông đoàn kết lại với nhau vào những lúc khó khăn đen tối nhất – vậy mà đó cũng chính là nhà tiên tri đắm mình trong cầu nguyện và ảo mộng một mình trong sa mạc, một con người kiên định với đức tin và nguyên tắc như đá tảng không hề lay chuyển, một con người đáng tin cậy và có bản tính đáng mến. KINH KORAN VÀ GIÁO LÝ ĐẠO HỒI Các tín đồ Hồi giáo tin rằng họ có bổn phận tuân phục và vâng theo ý chí của Thượng đế, và những gì Thượng đế muốn đối với loài người đã được Ngài thần khải qua Mohammed và được ghi lại toàn bộ trong Kinh Koran. Với người Hồi giáo, kinh Koran là kinh Thánh thiêng liêng của họ, và cùng với Hadith (Sách Tiên tri), chúng là nguồn gốc để đề ra các giáo luật và luật tục Hồi giáo. KINH KORAN Kinh Koran, cuốn Kinh thánh của đạo Hồi, được viết bằng tiếng Arập. Tiếng Arập koran hay qur’aan có nghĩa là “đọc lại”. Kinh Koran hình thành từ những gì mà Mohammed tuyên đọc hay đọc lại những lời của Thượng đế thần khải qua ông cho người của ông khi thuyết giảng về tôn giáo mới. Chúng được tập hợp lại thành sách hai mươi năm sau khi Mohammed chết. Không giống như kinh Thánh của đạo Do Thái hay đạo Thiên Chúa, kinh Koran không phải là một tập hợp các tư liệu lịch sử và khải thị đa dạng được góp nhặt lại trong suốt hàng ngàn năm. Toàn bộ nội dung của kinh Koran đều được hình thành trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, chỉ dài khoảng 20 năm (từ năm 611 cho đến 632, khi Mohammed chết), bởi một người được giao tiếp với Thượng đế qua một thiên sứ của Ngài. ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG Kinh Koran gồm 114 chương (gọi là surah), chia thành các tiết (gọi là ayah). Tiêu đề của các chương lấy từ các ayah trong chương đó, một số chương bắt đầu với một kết hợp bí ẩn của các chữ cái mà cho đến giờ người ta vẫn đang tìm hiểu ý nghĩa của chúng. Các chương trong kinh Koran có độ dài không tương xứng với nhau, có chương rất dài nhưng lại có những chương rất ngắn, vì chúng được Mohammed đọc ra dần dần trong một quãng thời gian hơn 20 năm. Trừ chương đầu tiên, còn lại các chương được sắp xếp theo độ dài, từ chương dài nhất cho đến chương ngắn nhất. Vì gần như tất cả những chương ngắn hơn lại được khải thị sớm hơn về thời gian, nên trật tự sắp xếp của cuốn kinh hầu như hoàn toàn ngược lại với trình tự thời gian mà Mohammed tuyên đọc chúng. Tuy vậy, các chương đều có thể đứng tách riêng một cách độc lập, và vì không hề có bất kỳ mối liên hệ nào trong nội dung giữa chúng với nhau, nên cách sắp xếp của các chương không được người Hồi giáo coi trọng cho lắm. Mohammed đã đọc các chương của kinh Koran trong khoảng 12 năm và thuyết giáo về một tôn giáo rất đơn giản. Ông nói về một vị Thượng đế đã tạo ra toàn bộ loài người, Đấng đã ban cho loài người những thứ tốt đẹp của thế giới này, Đấng đã thần khải về Ngài đầu tiên là qua các tiên tri Do thái và sau đó là qua Jesus, và Đấng muốn tưởng thưởng cho điều thiện và trừng phạt điều ác mà người ta đã làm trong đời. Mohammed tin rằng Thượng đế muốn qua ông để khẳng định tôn giáo của người Do thái và người Thiên Chúa giáo và thiết lập nó trong số những người Arập. Những chương kinh Koran ông đọc trong thời gian này phản ánh sự giản dị mộc mạc đó. Các chương đó đều ngắn và tương đối rõ ràng, trực tiếp. Chúng thường bắt đầu bằng một lời tuyên thệ, thề với “ánh sáng ban ngày “, hay với “cây vả và cây ô liu”, rồi kêu gọi con người trở về với Thượng đế tối cao, từ bỏ tục thờ thần tượng và những sự hủ bại đạo đức. Sau đó chúng liệt kê một vài ví dụ về những thứ xấu xa phải từ bỏ, những kẻ đồi bại cần phải chống lại (“những kẻ không muốn cho người nghèo có cái ăn”, “những kẻ gạt trẻ mồ côi sang vệ đường”, “những kẻ phù thủy yêu mị mê hoặc chuyên thả bùa chú”). Cuối cùng chúng kêu gọi loài người ăn năn hối lỗi, và vẽ ra những bức tranh đáng sợ về địa ngục (“những kẻ đồi bại sẽ phải ăn cành khô và uống nước sôi”). Khi Mohammed đến Medina, tính chất của các thần khải cũng như vai trò của bản thân ông cũng thay đổi. Các chương kinh bắt đầu liệt kê một danh sách rất dài các luật lệ và quy định áp dụng cho cộng đồng tín đồ đang phát triển của ông. Chế độ ly dị và đa thê được thiết lập. Những tục lệ Do thái, trong đó có việc quay mặt về một hướng trong khi cầu kinh, cấm ăn thịt lợn và cắt bì cho con trai cũng được nêu ra. Về sau, Mohammed thường gộp những câu chuyện từ Thánh kinh của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo vào trong các chương kinh Koran của ông. Ông kể về Adam và Eve, về Noê và Trận Đại Hồng thủy, về Abraham và các con trai Jacob, Joseph và những anh em của Moses, và về các tiên tri đến sau Abraham. Tất cả những câu chuyện này đều được kể theo một phong cách rất riêng của kinh Koran, và một vài câu chuyện trong số đó được sửa đổi đi để cho những người Arập có thể hiểu và thích thú với chúng. Mohammed tuyên bố con trai của Abraham - Ismael – chính là ông tổ của những người Arập. Ông công nhận Jesus là một tiên tri vĩ đại, nhưng phủ nhận chuyện Jesus là con trai của Thượng đế. Ông công nhận sách Phúc âm là do Thượng đế thần khải cho Jesus và được Jesus rao giảng cho người Thiên Chúa giáo, cũng giống như ông được Thượng đế thần khải và đang rao giảng kinh Koran. Bản chính thức đầu tiên của kinh Koran xuất hiện khoảng năm 650, gần hai mươi năm sau khi Mohammed chết, và một bản sao được gửi cho mọi giáo đường trong các thành phố chủ chốt của thế giới Hồi giáo. Kinh Koran có nhiều phần giống với những bản Kinh thánh đầu tiên không có phần Tân ước và Talmud. TUYÊN NGÔN CỦA THƯỢNG ĐẾ Các tín đồ Hồi giáo tin rằng kinh Koran là những lời từ chính miệng của Thượng đế nói ra. Họ nói Mohammed đọc lại kinh Koran y như nó đã được thiên thần Gabriel đọc cho ông nghe và sau đó ông lại đọc cho những người Arập, và họ ghi nhớ nó. Mặc dù có kể về Trận Đại Hồng thủy, về Adam, về Abraham, nhưng kinh Koran không phải là một cuốn sách về lịch sử của người Arập, về cuộc đời của Mohammed, hay về một luận thuyết triết học. Mà đó là cuốn sách của những lời tuyên ngôn: lời tuyên ngôn về sự duy nhất và sự ngự trị độc tôn của Thượng đế, về ngày phán xét sắp tới của Ngài. Đồng thời nó cũng trình bày quan điểm Hồi giáo về lịch sử các tôn giáo tiền thân của nó, nhất là về những vị tiên tri tới trước như Abraham, Moses và Jesus. Xen vào giữa những nội dung này, thỉnh thoảng nó lại đưa ra những lời kêu gọi lòng trung thành của các tín đồ. Kinh Koran bắt đầu bằng những lời sau đây, gọi là al-Fatihah, tức khổ thơ mở đầu, đó là một bản tóm lược khá đầy đủ về linh hồn và thông điệp cơ bản của nó: Nhân danh Allah, Đấng Nhân từ, Đấng Khoan dung Hãy dành sự tôn kính cho Allah, Vị Chúa Sáng thế Đấng Nhân từ, Đấng Khoan dung, vị Chúa tể của Ngày Phán xét! Chỉ mình Ngài là người chúng con thờ phụng, Và chỉ mình Ngài là người chúng con cầu xin sự giúp đỡ Để dẫn dắt chúng con theo con đường thẳng Con đường của những người được Ngài đoái thương Không phải của những kẻ phải chịu đựng cơn thịnh nộ của Ngài Không phải của những kẻ lầm đường lạc lối. Cuốn sách tiếp tục với sự mô tả về những kỳ công sáng thế của Thượng đế: Ngài đã tạo ra loài người bằng cách kết hợp giống đực và giống cái, từ những khối máu, và qua sự phát triển thần bí của bào thai. Thượng đế tạo ra người đàn ông dưới hình thức con người lý tưởng. Con người lý tưởng này thể hiện sự nhân từ khoan dung và sự kỳ diệu của Thượng đế chứ không xúi bẩy người ta phủ nhận Ngài. Và khi ngày phán xét đến, những ai phạm phải tội lỗi thì những tội lỗi đó sẽ hiện rõ trên mặt họ và Thượng đế không cần phải hỏi đến. Những ai phủ nhận phúc lành của Vị Chúa tể khi đó sẽ sa xuống địa ngục, còn những ai tôn kính sự uy nghi thần thánh của Ngài sẽ được lên thiên đàng như những người anh hùng, được vây quanh bởi những bông hoa đua nở, cây trái sum suê và những nàng trinh nữ mắt huyền. Thiên đường trong kinh Koran, cũng giống như trong hầu hết các tôn giáo khác, là một xứ sở tươi sáng rực rỡ, lấp lánh như châu ngọc, hoàn toàn khác hẳn với thiên đường trong những giấc mơ trần thế, trong thơ ca hay trong những khoái cảm nhục dục của niềm hạnh phúc thanh xuân. Kinh Koran cảnh báo về ngày phán xét sẽ đến. Vào ngày đó, loài người trên khắp trái đất sẽ nhìn thấy Allah sáng tạo ra một thế giới mới như thế nào. … Rồi Allah sẽ tiến hành một cuộc Sáng thế thứ hai. Allah có quyền năng với vạn vật; Ngài trừng phạt những ai Ngài muốn và tỏ lòng thương xót với ai làm Ngài vui lòng. Chẳng ai trốn tránh được sự phán xét đó: Ngươi sẽ được gọi đến trước mặt Ngài. Dù trên mặt đất hay trên bầu trời, ngươi cũng không thoát được sự truy tìm của Ngài; Cũng không ai khác ngoài Allah có thể che chở được cho ngươi. Cả phương Đông lẫn phương Tây đều thuộc về Allah. Dù ngươi rẽ sang hướng nào thì cũng sẽ phải đối mặt với Allah. Ngài có mặt ở khắp mọi nơi và Ngài thấu hiểu mọi sự. THẾ GIỚI HỒI GIÁO (PHẦN 3) ZAKAT - BỐ THÍ CHO NGƯỜI NGHÈO Trừ phi quá nghèo túng, còn không thì các tín đồ Hồi giáo phải cho đi một phần của cải của mình để giúp đỡ những người nghèo khó. Con số thông thường là 2,5 phần trăm thu hoạch hàng năm, hay 10 phần trăm lợi tức từ mùa màng hay kinh doanh của họ. Những người giàu có được khuyến khích cho nhiều hơn. Những ai cho nhiều hơn số lượng theo quy định được coi là một sadagah, tức là người thiện tâm. Khoản đóng góp bắt buộc này, thực ra chỉ chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong số của cải của các tín đồ dành cho những người nghèo khổ trong cộng đồng Hồi giáo; nhưng hiểu rộng ra, nó còn bao gồm các công việc từ thiện và thái độ tương trợ thân hữu nói chung, sẵn sàng chìa tay giúp đỡ và đối xử thân thiện với những người trong cùng cộng đồng. Cột trụ đức tin này một lần nữa khẳng định khía cạnh xã hội và luân thường đạo lý của đạo Hồi. Những tín đồ Hồi giáo luôn cố ghi nhớ rằng mình thuộc một cộng đồng của những người tuân phục và phục vụ Thượng đế, phụng sự cho một thế giới hợp lẽ phải hơn là cho con đường cứu rỗi của cá nhân mình. Nói một cách nghiêm khắc thì việc bố thí cần phải được thực hiện vì một cam kết về mặt tôn giáo hơn là một sự bắt buộc (mặc dù trong một số quốc gia Hồi giáo chính thống, khoản bố thí này có thể được nhà nước thu trực tiếp từ các công dân giống như một khoản thuế trực thu). Trong nhiều thế kỷ, hầu hết món tiền zakat của mỗi nước được dùng để cung cấp những khoản chu cấp đặc biệt (gọi là waqf) cho các trường học và bệnh viện, để giúp người nghèo, để sửa chữa các thánh đường và để tài trợ cho các hoạt động từ thiện khác. Trong những năm gần đây, một số chính phủ ở các nước Hồi giáo đã đưa khoản zakat này vào hệ thống thuế của mình, và khoản lợi tức này vẫn còn được dùng cho các chương trình phúc lợi xã hội. Một số nhà cải cách hiện đại tìm thấy trong nguyên tắc bố thí cho người nghèo một sự biện minh khi nó liên quan đến các chương trình phúc lợi xã hội, coi như một cách vận dụng lý tưởng cộng đồng của đạo Hồi trong điều kiện xã hội hiện đại. SAWM – NHỊN ĂN Tất cả các tín đồ Hồi giáo, chỉ trừ trẻ em, phụ nữ có bầu và những người ốm, đều phải nhịn ăn từ lúc rạng sáng cho đến khi mặt trời lặn mỗi ngày trong tháng chay Ramadan. Trong khoảng thời gian đó, họ không được phép ăn hay uống bất kỳ thứ gì, kể cả nước. Trẻ em Hồi giáo thường bắt đầu tập nhịn ăn trong tháng Ramadan từ lúc lên bảy tuổi. Khi đó chúng thường nhịn nửa ngày. Vào độ tuổi lên chín hay lên mười thì chúng đã có thể nhịn ăn suốt cả ngày. Tháng Ramadan là tháng Chín theo lịch Hồi giáo, một thứ Âm lịch, mỗi tháng có 29 hay 30 ngày. Vào buổi chiều ngày 29 tháng Tám, các tín đồ Hồi giáo nhìn về bầu trời đằng tây để tìm trăng non mới mọc. Nếu nhìn thấy mặt trăng thì việc ăn chay sẽ bắt đầu ngay khi mặt trời lặn. Còn nếu không thấy mặt trăng thì Ramadan sẽ bắt đầu vào ngày hôm sau. Nhiều tín đồ Hồi giáo giữ chay trong tháng Ramadan nghiêm ngặt đến mức thậm chí không nuốt cả nước bọt. Cả ngày họ tập trung vào các công việc tôn giáo và cầu nguyện. Vào buổi tối, thông thường gia đình và bạn bè sẽ quây quần lại cùng nhau để ăn bữa tối ngay sau giờ xả chay. Thường thì bữa ăn có kèm việc đọc to một số đoạn trong kinh Koran và cầu nguyện, và cứ như thế kéo dài cho đến tận khuya. Những giờ ban ngày thường dùng để nghỉ ngơi và cầu nguyện thêm. Vào ngày chấm dứt tháng chay Ramadan, theo thông lệ, sẽ có lễ hội xả chay khi mảnh trăng lưỡi liềm đầu tiên của một kỳ trăng mới xuất hiện trên bầu trời, báo hiệu tháng ăn chay chấm dứt và một tháng mới bắt đầu. Bởi vì lịch của người Hồi giáo là một loại âm lịch, nên tháng Ramadan cứ sau mỗi năm lại sớm lên một chút. Nếu tháng chay đến vào những ngày mùa đông lạnh và ngắn thì việc nhịn ăn uống sẽ tương đối dễ dàng hơn, nhưng vào giữa những ngày hè dài nóng nực, thời tiết khô khan mà không ăn thậm chí không uống lấy một ngụm nước nhỏ, thì đó quả là một thử thách khắc nghiệt đối với đức tin Hồi giáo. Vì thế gần đây, nhiều người đã cố gắng diễn giải lại những quy định của tháng chay Ramadan, xét nó trong điều kiện nhịp sống gấp rút của một xã hội hiện đại, và họ ít nhiều đã thành công. Tuy vậy, với phần đông các tín đồ Hồi giáo thì tháng Ramadan vẫn là một thử thách về lòng tin, và sự khắc nghiệt của nó được giảm bớt đi phần nào nhờ có hậu thuẫn của toàn bộ nền văn hóa và tập tục, và nhờ tình cảm “cùng hội cùng thuyền” của cộng đồng những người tuân phục Thượng đế trong một xã hội Hồi giáo. Với nhiều người, tháng chay Ramadan cũng là một cơ hội để sống cuộc sống mộ đạo và nghiền ngẫm kinh Koran thêm sâu sắc hơn, và vì thế họ vui mừng chào đón nó. HAJJ – HÀNH HƯƠNG ĐẾN MECCA Hành hương đến Mecca là sự kiện mà bất cứ ai từng nghe nói về đạo Hồi cũng đều biết đến. Mecca, thành phố thiêng liêng bất tử, quê hương của Mohammed, là trung tâm của thế giới Hồi giáo. Cũng giống như các tia nắng tỏa ra từ cùng một mặt trời, những người Hồi giáo trên khắp thế giới khi cầu nguyện đều hướng về nơi ốc đảo trên sa mạc Arập này. Và ít nhất một lần trong đời, những bước chân hành hương sẽ đưa họ theo con đường của những tia nắng để đến với mặt trời thiêng liêng của họ. Mỗi năm có gần hai triệu tín đồ Hồi giáo thuộc tất cả các chủng tộc, quốc gia và các nhóm dân tộc tụ tập về Mecca vào tháng hành hương. Cuộc tụ hội này đem lại không gì khác hơn là một cảm giác thống nhất và đồng nhất mà nhờ đó đạo Hồi mới trở nên nổi tiếng đến như thế. Tất nhiên không phải người Hồi giáo nào cũng có thể hành hương đến Mecca. Những người nhỏ tuổi, người già, người ốm yếu và những người không có đủ điều kiện tiền bạc là những người được miễn cái nghĩa vụ bắt buộc này. Còn với những ai thực hiện được cuộc hành hương, thì sự tưởng thưởng sẽ rất lớn, đó không chỉ là được thỏa mãn về tinh thần, mà còn là uy tín và sự kính trọng trong xã hội Hồi giáo. Trở lại với cộng đồng quê hương, một nơi nào đó giữa Mauritania ở Bắc Phi và Inđônêxia ở Đông Nam Á, những người hành hương từ Mecca trở về sẽ được thêm danh hiệu hajji vào tên tuổi của mình nếu là đàn ông, còn phụ nữ sẽ được gọi là hajjah, (những tên gọi này có nghĩa là người đã hoàn thành bổn phận hajj), họ sẽ được người ta được chào đón với những nghi lễ long trọng và được tôn kính đặc biệt. Việc hành hương phải được thực hiện vào tháng Dhu-al-Hijjah, tháng cuối cùng của lịch Hồi giáo. Đó là vào dịp lễ Id al-Adha, tức Lễ Hiến tế, một ngày lễ quan trọng trong đạo Hồi. Lễ này để kỷ niệm sự kiện tiên tri Abraham tình nguyện hiến tế con trai mình làm lễ vật dâng Thượng đế. Cuộc hành hương vì vậy là một sự hội tụ của những đoạn kết thiêng liêng – một sự quay trở về chính cái nơi mà lịch sử đạo Hồi được khai sinh ngay trước lúc bắt đầu một năm mới. Đức tin của người Hồi giáo về Mecca và về cuộc hành hương hajj gắn liền với vai trò của thành phố này trước kỷ nguyên Hồi giáo, khi đó nó đã là một trung tâm thần thánh, một địa điểm tôn nghiêm đối với các bộ tộc đang đánh lẫn nhau, và là một nơi thờ phụng của tôn giáo đa thần. Theo đức tin Hồi giáo thì Mecca chính là trung tâm của thế giới, là cái nơi khởi đầu của sự sáng thế. Abraham, vị tiên tri đầu tiên của tôn giáo độc thần đích thực, đã được Chúa trời triệu gọi để đi từ Palestine đến chính cái thung lũng này, nơi mà ngày nay là Mecca. Và ông cùng con trai Ishmael đã xây dựng ở đây một ngôi đền thờ Thượng đế theo hình một khối lập phương, đó là Kaaba. Kaaba ngày nay nằm ở trung tâm của ngôi Đại Thánh đường Hồi giáo ở Mecca, và cũng là trung tâm điểm của tất cả các buổi cầu nguyện. Tất cả các thánh đường Hồi giáo trên thế giới đều có cái hốc nhỏ ẩn trong tường để chỉ hướng cho các tín đồ quay mặt về Mecca. Chỉ riêng thánh đường này, vì nó nằm ở điểm trung tâm bao quanh Kaaba, hay Ngôi đền Thiêng, đứng ở ngay chính giữa, cho nên nó không có cái hốc nào cả. Kaaba được che phủ bằng những tấm vải màu đen và vàng, và có cửa ra vào dát vàng rất hiếm khi được mở ra. Bao quanh Kaaba là cái sàn bằng đá cẩm thạch, dành cho những người hành hương đi vòng quanh ngôi đền, còn phía ngoài sàn là cái sân rộng cho các tín đồ cầu nguyện. Vào thời của Mohammed, tôn giáo của Abraham đã suy tàn, và trong Kaaba có tới 360 pho tượng của các vị thần ngoại đạo. Nhưng khi tái hồi Mecca, Mohammed đã phá hủy những tượng thần này. Hiện nay trong Kaaba không có một thứ đồ vật gì khác ngoài một vài ngọn đèn. Nhưng với những người Hồi giáo thì ngôi đền lại càng trở nên thiêng liêng hơn bởi sự trống trải của nó. Người ta nói Kaaba được làm theo hình mẫu Ngôi nhà của Thượng đế ở trên Thiên đàng, bao quanh ngôi nhà đó là các thiên thần giống như các tín đồ trên mặt đất vây quanh Kaaba. Truyền thuyết đạo Hồi nói rằng Mecca nằm gần Thiên đàng hơn bất kỳ một nơi nào khác trên mặt đất, vì vậy Thượng đế ở trên Thiên đàng có thể nghe thấy rất rõ những lời cầu nguyện của các tín đồ tại đây. Không có gì được chắn giữa Kaaba và nơi ở của Allah; máy bay không được phép bay ngang qua vùng trời này, thậm chí người ta còn bảo là ngay cả chim chóc cũng không bay trên Ngôi nhà của Thượng đế. Gần đó là zamzam, cái giếng của Hagar và Ishmael, người ta đồn là nước giếng này có phép, có thể chữa được bệnh tật. Đáng lưu ý là Mohammed đã thuyết giảng về cuộc hành hương trở về Mecca trong thời gian ông còn ở Medina, khi đó rõ ràng là ông mong ước sẽ có ngày được hòa hợp trở lại với thành phố quê hương. Tất nhiên là bài thuyết giảng này có thể có những mục đích chính trị, nhằm để thỏa hiệp với những người bà con họ hàng của ông ở đó. Nhưng dẫu sao thì nó cũng đã gán cho thành Mecca một tính chất giống như những địa điểm hành hương khác, tức là “trung tâm của thế giới” – một nơi nằm cách xa chỗ người ta hiện đang sinh sống, nhưng là nơi xuất phát của những nguồn cội tận cùng và điểm đến của những mục đích cuối cùng. Quá trình hành hương được quy định bằng những nghi lễ rất tỷ mỷ. Khi người hành hương đến được thành phố thiêng liêng này, có thể từ một hải cảng hay từ sân bay Jaddah trên bờ biển, họ sẽ dừng lại để tách mình ra khỏi thế giới thường nhật bằng cách làm lễ tắm gội, giống như trước khi cầu nguyện thường ngày. Rồi người hành hương mặc một bộ quần áo đặc biệt màu trắng; kể từ lúc đó trở đi cho đến khi tất cả các lễ nghi được hoàn tất, người hành hương phải kiêng không được giết người, giết thú vật hay nhổ hái cây cỏ, không được gần phụ nữ, và không được cắt tóc hay cắt móng tay. Khi đến được địa điểm thiêng liêng này rồi, người hành hương phải hôn Hòn đá Đen linh thiêng, hay nếu không làm được như thế vì quá đông người thì phải sờ tay vào nó. Sau đó, người hành hương phải đi vòng quanh Kaaba bảy lần. Tiếp theo người hành hương phải đi lên đi xuống bảy lần qua một dãy cột ở giữa hai quả đồi cách đó chừng nửa cây số. Nghi lễ này là để tưởng nhớ đến việc Hagar phải chạy vòng quanh để đi tìm nước cho Ishmael. Sau đó người hành hương sẽ ra khỏi Mecca để đến Mina, ở đó họ có thể tìm được một góc nhỏ trong cái thành phố lều khổng lồ với dân số tạm thời chừng hơn một triệu người; việc một lượng người đông đảo như thế tập hợp nhau lại đây tự nó sẽ cho người hành hương một trải nghiệm hết sức sâu sắc và kỳ lạ về sức mạnh và sự thống nhất của thế giới Hồi giáo. Ngày hôm sau, họ tiến về núi Arafat, họ sẽ đứng ở đó từ giữa trưa cho đến lúc mặt trời lặn. Chính nơi đây, ngồi trên lưng một con lạc đà, Mohammed đã đọc bài thuyết giảng vĩnh biệt trong cuộc hành hương cuối cùng của ông đến Mecca. “Điểm dừng ở Arafat” này là màn hoạt động cao điểm của cuộc hành hương và không thể bỏ qua. Đó là sự diễn lại cuộc hội họp nguyên thủy của các tín đồ như một đội quân thống nhất, hợp thành từ những con dân của tất cả các chủng tộc và các ngôn ngữ trong sự tuân phục Thượng đế. Người ta bảo làm như thế để các tín đồ nhớ đến cuộc tập hợp của tất cả nhân loại trên thế gian trong cuộc phán xét vào ngày Tận thế, và cũng là để kỷ niệm lần tập hợp tín đồ đầu tiên do chính Mohammed chỉ huy một cách vô cùng oanh liệt. Sau khi đã lên đồi Arafat, những nghi lễ cuối cùng tái hiện một đám rước Thánh tích. Trở về Mina, những người hành hương ném đá vào ba cây trụ đá được coi là thể hiện cho ma quỉ, nghi thức này nhắc lại việc quỉ Satan ba lần cố làm cho Ishmael đổi ý nhưng đã bị cự tuyệt. Vào ngày cuối cùng của cuộc hành hương, người hành hương sẽ hiến tế một con cừu hay một con dê trên một cánh đồng nào đó; một phần thịt sẽ dành cho người nghèo. Cùng trong ngày đó, trong khắp thế giới Hồi giáo, người ta cũng thực hiện những nghi lễ hiến tế tương tự. Đầu con vật hiến tế được đặt quay về hướng Mecca, và khi một người Hồi giáo cắt cổ con vật, ông ta sẽ nói “Nhân danh Thượng đế”. Việc làm này là để nhắc lại con cừu đã được dùng để thay cho Ismael trong lễ hiến tế của Abraham. Tiếp theo, ở Mecca, người hành hương sẽ cắt tóc. Mái tóc, tự nó là một bằng chứng, sẽ được để lại như dấu hiệu dâng hiến của người hành hương. Anh ta sẽ đi vòng quanh Kaaba một lần cuối cùng. Hầu hết những người hành hương sau đó sẽ đi đến Medina, mặc dù điều này không phải là bắt buộc. Tại đây, nơi thành phố thiêng liêng thứ hai của đạo Hồi, họ đến viếng thăm ngôi thánh đường và lăng mộ của Mohammed. Nhiều người Hồi giáo mong muốn đến Medina để chết và được chôn ở đây cùng với vị tiên tri và gia đình của ngài. Như vậy, cuộc hành hương bao gồm một loạt các hoạt động truyền thống đa dạng. Một số dường như mang nhiều ý nghĩa và đậm chất Hồi giáo, một số khác thì khá nguyên thủy và kỳ dị, như chạy đi tìm nước và ném đá vào “quỷ dữ”. Vậy mà những người Hồi giáo vẫn thấy chúng tràn đầy ý nghĩa tinh thần, dù chẳng có ai làm như thế nữa sau khi hành hương trở về. Những tín đồ Hồi giáo theo chi phái Sufi nhìn thấy một ý nghĩa tâm linh sâu sắc trong tất cả những tục lệ này; việc ném đá vào các cây cột, chẳng hạn, chính là thể hiện việc đánh bật những ước muốn tội lỗi từ bên trong bản thân mình. Có lẽ cách giải thích hay nhất về cuộc hành hương là của nhà thần học vĩ đại thời trung cổ alGhazali. Ông chỉ ra rằng việc hành hương là một hành động tối thượng của đạo Hồi, của sự tuân phục và xả thân. Việc hành hương không phải là một chuyến du lịch hấp dẫn hay để thỏa mãn những nhu cầu mang tính lý tính, mà là để tôi luyện tình cảm, để có thể tẩy trừ được sự ích kỷ thường còn rơi rớt lại trong trái tim một người vẫn tự coi là đã trừ bỏ được tội lỗi. Hành hương là một hành động dâng hiến tuyệt đối, là một sự đồng nhất tuyệt đối với trí tuệ không thể thâm nhập vào được của Thượng đế và với truyền thống của đạo Hồi. Nó khẳng định rằng, tại trung tâm của tôn giáo tối cao này, con người hữu hạn đến đây để đối mặt với cái bí ẩn vô hạn của Thượng đế, chứ không phải là để thỏa mãn những sở thích tầm thường của loài người. CÁC PHÁI HỒI GIÁO Chẳng bao lâu sau cái chết của Mohammed, trong nội bộ thế giới Hồi giáo đã nẩy sinh một sự phân liệt quan trọng kéo dài tới tận ngày nay. Hình thành từ một sự bất đồng chính trị, phái Shi’i trở thành khởi nguồn cho một loạt các chi phái, tuy ít ỏi về số lượng các tín đồ nhưng để lại những dấu ấn đậm nét trong thế giới Hồi giáo, cả về phương diện chính trị, văn hóa cũng như về phương diện thần học. Một biến thể khác là Mật tông Sufi đã làm cho thế giới không phải Hồi giáo biết đến một bộ mặt khác của đạo Hồi, thần bí hơn, nhiều màu sắc hơn và cũng kỳ lạ hơn. BẤT ĐỒNG TRONG VIỆC CHỌN CALIPH Mohammed chết mà không chỉ định người kế vị ông. Sau khi Mohammed chết, theo truyền thống bàn bạc và đồng thuận các vấn đề giáo sự gọi là sunna, các tín đồ Hồi giáo đã bầu Abu Bakr, cộng sự thân cận nhất và là cha vợ (Aisha) của Mohammed, lên làm lãnh tụ của họ. Ông ta được nhận tước hiệu caliph, có nghĩa là “người kế vị”. Tuy vậy, caliph là người kế vị của Mohammed chỉ với tư cách là người lãnh đạo các tín đồ, chứ không phải là một tiên tri. Người Hồi giáo coi Mohammed là tiên tri cuối cùng. Lòng tin của một số tín đồ Hồi giáo bị lung lay dữ dội cùng với cái chết của vị Tiên tri. Một số bộ tộc thậm chí còn từ bỏ đạo Hồi. Tuy vậy, Abu Bakr có đủ tài để khôi phục địa vị thống trị của tôn giáo này trong thế giới Arập. Abu Bakr chết sau đó có hai năm (634), các lãnh tụ Hồi giáo lại bầu Umar Ibn al-Khattab lên làm caliph. Dưới sự chỉ huy của Umar, đạo Hồi đã được lan truyền khắp xứ Arập và sang Bắc Phi, những hình dáng của một đế chế Hồi giáo bắt đầu hình thành. Nhưng Umar lại bị ám sát vào năm 656. Lần này giữa các lãnh tụ đạo Hồi đã xảy ra bất đồng về việc chọn người kế vị. Đa số bầu chọn Uthman Ibn Affan, một lãnh tụ Hồi giáo cao tuổi, xuất thân từ một gia đình giàu có và thế lực, lên làm caliph theo truyền thống sunna. Nhưng một số khác lại muốn đưa Ali, con trai của Abu Talib, một người cháu và là con rể của Mohammed lên kế nhiệm chức vị này, vì họ cho rằng người nắm chức vị caliph phải là một người thuộc dòng dõi của Tiên tri. Mặc dù Ali là một tín đồ Hồi giáo khôn ngoan, nghiêm khắc và mộ đạo, nhưng đa số các lãnh tụ có thế lực lại không thích ông ta làm caliph, thay vì thế họ chọn Uthman. Ali phải chấp nhận quyết định này, nhưng những người ủng hộ ông ta thì không cam chịu. Mười hai năm sau, một người trong số họ đã ám sát Uthman. Sau khi Uthman chết, Ali kế vị ông ta làm caliph. Tuy vậy, họ hàng và những người ủng hộ Uthman nổi dậy chống lại Ali. Nhân vật có thế lực mạnh nhất kình chống lại Ali là Mu’awiyah, tổng trấn xứ Damacus. Mu’awiyah cố đánh bại Ali trên chiến trường nhưng không thành công. Ali cai trị trong 5 năm rồi đến lượt chính ông bị ám sát. Sau khi Ali chết, Mu’awiyah nhanh chóng tập hợp được đủ hậu thuẫn để tự tuyên bố mình là caliph mới. Với tư cách là caliph, ông ta biến Damacus thành thủ đô của đế quốc Hồi giáo và đàn áp tất cả những người chống đối. Khi ông ta chết vào năm 680, con trai ông là Yazid được chỉ định làm caliph kế vị cha. Từ đó trở đi, chức vị caliph trở thành một tước vị cha truyền con nối, mang ý nghĩa như một vị quốc vương Hồi giáo. Dòng họ của Mu’awiyah, bộ tộc Omayyad, trở thành dòng họ cai trị. SỰ PHÂN LIỆT Khi Yazid thừa kế chức vị caliph, thì sự phân liệt đã xảy ra trong nội bộ thế giới Hồi giáo. Nhóm tín đồ vốn ủng hộ Ali từ chối không công nhận quyền lực của Yazid. Họ cho rằng người nắm chức vị caliph phải là một người thuộc dòng dõi của Mohammed, và người đó là phải con trai của Ali là Husain. Những người này tự gọi mình là Shi’i – tiếng Arập có nghĩa là “phe đảng” (ủng hộ Ali), để tự phân biệt mình với đa số các tín đồ khác tuân theo sunna trong vấn đề kế vị, gọi là những phái Sunni. Theo phe Shi’i thì Mohammed đã chỉ định Ali làm người lên thay ngài trước khi chết. Nhưng trong lúc Ali còn đang mải than khóc cái chết của vị Tiên tri và trước khi ông kịp nắm lấy vai trò lãnh đạo thực sự, thì một nhóm trong cộng đồng thân hữu của vị Tiên tri đã đề cử Abu Bakr già lão lên đứng đầu. Phe của Ali buộc phải chấp nhận ông ta, dù biết là trái với ý nguyện cuối cùng của Mohammed, chỉ cốt để ngăn chặn sự tan rã của đạo Hồi trong một thời điểm khủng hoảng như vậy. Nỗi cay đắng của phe Ali lại càng tăng thêm bởi sự công kích do Mu’awiyah sắp đặt nhắm vào Ali khi ông đã lên làm caliph. Mu’awiyah là người có nhiều khả năng lên làm caliph với chiêu bài đa số trong khi quyền lực của Ali lại tỏ ra suy yếu và bấp bênh, và kết quả là Ali bị ám sát. Phe Ali giành được cảm tình và sự ủng hộ từ những người Hồi giáo bất mãn, nhất là từ các bộ lạc người Bedouin, do những đòi hỏi về công bằng xã hội và sự chống đối của họ với lối sống ngày càng xa hoa của tầng lớp quí tộc trong đế quốc. Vì thế sau cái chết của Ali, phe Shi’i không tan rã mà vẫn tiếp tục tồn tại như một phái phân liệt trong thế giới Hồi giáo. Tinh thần chống đối của phe Shi’i lại càng sâu sắc thêm khi con trai của Ali là Husain bị chặt đầu vào năm 680, vì nổi dậy chống lại dòng họ Omayyad bằng một đội quân nhỏ, trang bị nghèo nàn nhưng anh dũng. Phe Shi’i cũng có được sự ủng hộ nhờ sự đối kháng từ xa xưa của người Arập vùng miền nam và những đồng minh hùng mạnh của họ ở Irắc và Iran, nơi Ali được ủng hộ, chống lại lực lượng Mecca-Medina ở miền bắc và miền trung Arập vốn là cơ sở cho sự bành trướng nền cai trị Hồi giáo trong thời đại của các caliph. HỒI GIÁO SUNNI Sunna, có nghĩa là “con đường quen đi”, ý muốn nói đến sự thống nhất giữa luật lệ với thực tiễn xã hội, cũng như nói đến việc quyết định các vấn đề giáo sự dựa trên tập quán bàn bạc và đồng thuận. Với phái Sunni thì quyền lực xuất phát từ imja, tức là sự “nhất trí” của cộng đồng. Đó là một truyền thống được hình thành để hòa giải những khác biệt và sai lệch bên trong cộng đồng Hồi giáo, mà những lời nói của Mohammed thường được các tín đồ dẫn ra như một tiền lệ: “Những khác biệt về ý kiến trong cộng đồng của ta là điều nên khoan dung”. Từ khi những người Shi’i tự tách mình ra khỏi đa số trong vấn đề kế vị thì nhóm đa số tán thành bầu người kế vị, tức theo truyền thống sunna, được gọi là phái Sunni. Phái Sunni chấp nhận trật tự lịch sử của các caliph và những lãnh tụ tôn giáo được bầu khác như một trình tự thực tế và đúng đắn. Ngày nay, phái Sunni chiếm đại đa số (khoảng 80-85%) trong số một tỷ ba trăm triệu tín đồ Hồi giáo trên thế giới. Hiện nay, tuy không có một tổ chức hay một quyền lực trung tâm nào cả, nhưng họ vẫn duy trì được tính đồng nhất rõ rệt trong đức tin và nghi lễ thờ phụng. Mặc dù có một số người vẫn còn luyến tiếc chế độ các caliph trong quá khứ, nhưng Hồi giáo Sunni ngày nay mang tính chất tự trị trong từng quốc gia Hồi giáo. Còn quốc vương của Arập Xêút có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ những thành phố thánh Mecca và Medina, một chức năng thuộc về các caliph ngày xưa. Với sunna, thẩm quyền cao nhất là luật Hồi giáo theo chỉ dẫn của kinh Koran. Luật này không phải do một cá nhân nào đó diễn giải, mà từ sự nhất trí của những người có học vấn, những người đưa ra các phán quyết của họ dựa trên chỉ dẫn của kinh Koran và hadith (Sách Tiên tri), và bằng phép loại suy (so sánh những trường hợp tương tự). Mặc dù Đại học al-Azhar ở Cairo từ lâu vẫn được coi là nơi lưu giữ có thẩm quyền những tri thức về luật trong toàn bộ thế giới Hồi giáo, nhưng việc diễn giải luật ở phái Sunni vẫn mang tính phi tập trung. Tinh thần chung của luật Hồi giáo theo phái Sunni là nhấn mạnh đến Năm Cột trụ của Đức tin Hồi giáo và một nghi thức thờ phụng khá coi trọng hình thức. Luật lệ của phái Sunni có xu hướng nhấn mạnh vào việc đặt toàn bộ cuộc sống của tín đồ dưới ý chí của Thượng đế và những chỉ dẫn trong kinh Koran. Bên trong nội bộ Hồi giáo Sunni cũng có nhiều trường phái diễn giải luật khác nhau, nhưng không tìm cách loại trừ nhau mà vẫn chấp nhận những cách giải thích khác. Hồi giáo Sunni cũng chứa đựng trong lòng nó vài chi phái, mà một trong số đó là phái Wahhabi có ảnh hưởng lớn ở Arập Xêút. Đó là một trào lưu cải cách bảo thủ, khắt khe ra đời vào thế kỷ 18. HỒI GIÁO SHI’I Phái Shi’i chủ trương kế vị Mohammed phải là những người thuộc dòng dõi của Tiên tri. Đó là các Imam, tức là những chủ tế hay thầy giảng có thẩm quyền và được thánh chỉ của đạo Hồi để dẫn dắt các tín đồ. Imam đầu tiên là Ali, con rể của Mohammed, và sau ông là Hassan, con trai trưởng của Ali, sau Hassan là Husain, con trai thứ hai. Rồi sau đó là chín vị khác cũng thuộc giòng dõi của Tiên tri Mohammed. Tất cả những Imam này, trừ người cuối cùng, đều chết một cách bí ẩn, và phái Shi’i cho rằng họ bị giết khi nổi dậy chống lại vương quyền của các caliph. Theo cách nhìn của phái Shi’i thì các caliph của phái Sunni đại diện cho các thế lực tiếm quyền hắc ám, luôn tìm mọi cách để tiêu diệt những phát ngôn viên chân chính ở từng thế hệ trong dòng họ Tiên tri của Thượng đế. Phái Shi’i dành cho Ali và những hậu duệ của ông một vị trí đặc biệt trong tín ngưỡng của họ. Họ tin rằng Ali và mười một vị imam sau đó là những người đặc biệt thích hợp để diễn giải những khải thị của Mohammed và dẫn dắt cộng đồng Hồi giáo, vì họ là hậu duệ của Tiên tri. Còn vị Imam thứ mười ba, Imam Zamah tức Mandi, được những người Shi’i coi là Imam của mọi thời đại. Vị này đã mất tích khoảng năm 873, và phái Shi’i tin rằng Thượng đế đã giấu ông ta đi không cho loài người nhìn thấy. Rồi một ngày nào đó ông ta sẽ quay lại để dẫn dắt cộng đồng Hồi giáo và mang sự công bằng trả về cho thế giới. Vì thế cũng dễ hiểu là trong lịch sử đạo Hồi cứ lâu lâu lại xuất hiện những người tự xưng mình là Mandi, vị Imam thứ mười ba, với những tuyên bố đủ kiểu đủ vẻ. Những người Shi’i chính thống tin rằng nhờ ân sủng thánh linh nên vị Imam không hề lầm lỗi, có trí tuệ và quyền năng siêu phàm, và có thể diễn giải kinh Koran tuyệt đối không chút sai lầm. Tuy vậy, do vị Imam cuối cùng hiện đang “ẩn thân”, nên những quyền năng kỳ lạ này được ông ta thực thi thông qua những lãnh tụ tinh thần hiện thân của các chi phái hay các quốc gia Hồi giáo Shi’i, gọi là ayatollah, những người được chia xẻ, theo một cách nào đó, những quyền năng đặc biệt của vị Imam. Quan niệm của phái Shi’i về vị Imam làm cho nhân vật này trở thành một tước vị thần linh độc đáo và được tôn sùng gần như thần thánh. Nhưng khi làm như vậy thì họ đã xa rời tư tưởng chính thống của đạo Hồi, theo đó vị imam chỉ là một caliph (người kế vị) không hơn không kém, để đến với những thần thuyết cực đoan nhất coi ông ta thực chất như một hóa thân hay một hiện thân của chính Thượng đế trên mặt đất, và vì thế ông ta thậm chí còn vĩ đại hơn cả Mohammed nữa. Những tín đồ phái Shi’i cũng đặc biệt nhấn mạnh đến Husain, vị Imam thứ ba, cũng là nhân vật nổi bật và bi kịch nhất trong tất cả các Imam. Vào năm thứ 61 theo lịch Hồi giáo, ông và những người theo ông đã bị quân đội của caliph Yazid giết chết trong một trận đánh lớn ở Karbala miền nam Irắc. Cái chết của vị anh hùng trẻ tuổi tài ba này được phái Shi’i nâng lên thành một sự kiện thần thánh, đòi hỏi một sự báo đền vĩnh viễn bằng cách than khóc và diễn lại bi kịch này. Đền thánh của Husain ở Karbala là một địa điểm hành hương rất đông đúc. Bầu không khí của Hồi giáo Shi’i, được thể hiện trong lễ Muharram than khóc tưởng niệm Husain và trong đức tin về những vị Imam tử đạo hay ẩn mình, rõ ràng là mang sắc thái rất khác với Hồi giáo Sunni. Thế giới của các tín đồ Shi’i hoàn toàn không phải là nơi mà đức tin vào Allah luôn kiên định và ngày càng đắc thắng, mà là một vũ trụ tăm tối hơn nhiều. Ở đó sự phản bội, dối trá và tàn bạo dường như đang thắng thế. Những anh hùng và những tiên tri đích thực của Thượng đế phải chịu khổ sở và chết trong đọa đày, còn những kẻ mạo danh tàn nhẫn lại chễm chệ trên ngai vàng; những người mộ đạo chân chính thật ít ỏi so với những kẻ lầm đường lạc lối; và người ta nhận ra họ chủ yếu qua sự khóc than đau khổ của họ vì cái ác đang thắng thế trong thế giới hà khắc này, và họ chỉ còn biết cay đắng hy vọng vào những xếp đặt bí ẩn vô hình của Thượng đế. Ngày nay phái Shi’i chiếm khoảng 15 đến 20% các tín đồ, và trải ra trong toàn bộ thế giới Hồi giáo. Các tín đồ Shi’i tập trung nhiều nhất ở Iran, ở đây họ chiếm đa số trong cộng đồng Hồi giáo. Người Shi’i xếp loại các nhà lãnh đạo tôn giáo của họ, hay các mullah (giáo sĩ) theo học vấn về tôn giáo, theo lòng mộ đạo và khả năng lãnh đạo. Cấp bậc lãnh đạo cao nhất là ayatollah. Những nhà lãnh đạo Shi’i có uy tín rất lớn đối với các tín đồ, và phán quyết của họ có ý nghĩa như luật pháp. Như vậy sự khác biệt cơ bản giữa những phái Shi’i với đa số tín đồ tuân theo Sunna là trên vấn đề thừa kế quyền lực: với Hồi giáo Sunni thì quyền lực cũng như việc quyết định các vấn đề giáo sự là theo đường lối thỏa thuận và nhất trí trong cộng đồng; với Hồi giáo Shi’ite thì quyền lực hoàn toàn nằm trong tay các vị Imam thuộc dòng dõi Tiên tri, hay người được ủy quyền của Imam, một tín đồ sùng đạo biết lắng nghe và biết tuân lệnh. Phái Sunni mang màu sắc dân chủ hơn và các lãnh tụ Sunni cũng có ít quyền lực với các tín đồ hơn so với các lãnh tụ Shi’i. Nhưng kết quả cuối cùng lại có cái gì đó nghịch lý. Phái Sunni, tuân theo nguyên tắc bàn bạc nhất trí, lại có khuynh hướng bám chặt vào truyền thống và dựa vào những luật lệ đã có sẵn. Trong khi những người Shi’i, thường là nhóm thiểu số bị áp bức, lại có khuynh hướng đi theo những lãnh tụ có tính chất á thánh để sẵn sàng chấp nhận một sự cách tân cấp tiến nếu họ tin rằng điều đó đã được thần khải đặc biệt thông qua vị Imam hay người đại diện của ông ta. Họ có thể được dẫn dắt để bất mãn và đôi khi chống đối lại chính phủ, và có khuynh hướng kết thành bè phái dưới sự lãnh đạo của những lãnh tụ mà họ tin là thế thân của Imam, hay là đại diện hoặc tín sứ của các vị này. Tuy vậy, dù giữa phái Sunni và Shi’i cũng có một số luật lệ khác nhau, nhưng phái Shi’i và phái Sunni vẫn đồng ý với nhau trên hầu hết các vấn đề chính yếu của đức tin và thực hành tín ngưỡng. CÁC CHI PHÁI SHI’I Khi phong trào Shi’i bắt đầu, nó xuất hiện trên bề mặt như một phong trào vì những động cơ chính trị hơn là tôn giáo. Trạng thái tinh thần những người Shi’i bị chi phối bởi nhiều thế kỷ phải đóng vai là nhóm thiểu số bị chèn ép trong đạo Hồi, vì thế không có gì ngạc nhiên khi hầu hết các phong trào bè phái trong nội bộ đạo Hồi đều là phong trào Shi’i. Đại đa số những người Hồi giáo Shi’i chấp nhận danh sách tiêu chuẩn về mười hai vị Imam đến trước vị Imam “ẩn thân” thứ mười ba, và vì thế mà họ được gọi là phái “Mười hai”, hay Ashariyah. Đó là những người Shi’i ở Iran, họ giữ lập trường “ôn hòa” đối với các Imam nói trên. Nhưng một chi phái nhỏ hơn, được gọi là Ismaili, đôi khi còn được gọi là phái “Bảy vị”, vì họ chỉ chấp nhận bảy vị Imam đầu tiên và không công nhận tư cách Imam của những vị còn lại. Phái “Mười hai” cho rằng con trai út của vị Imam thứ sáu được thừa kế chức vị của cha vì con cả Ismail đã phạm tội uống rượu. Nhưng phái Ismaili khẳng định rằng quyền kế vị đã được chuyển cho Ismail, và tuyên bố ông ta là vị Imam hiện thân cuối cùng, nhưng con trai ông ta là Muhammad at-Tamm sẽ trở lại với tư cách là Mahdi, vị Imam hiện đang ẩn thân. Phái Ismaili có cách nhìn lịch sử theo kiểu chu kỳ, và họ coi tất cả những tôn giáo đại chúng đang tồn tại đều có liên hệ với nhau. Lịch sử Ismaili rất đáng quan tâm, vì nó chứng tỏ một thái độ xã hội cực đoan sinh ra từ phái Shi’i có thể chuyển từ chủ nghĩa lý tưởng sang chủ nghĩa cuồng tín, và từ chủ nghĩa vô chính phủ sang chủ nghĩa chuyên chế dễ dàng như thế nào. Vào thế kỷ thứ chín một nhóm tín đồ Ismaili gọi là những người Qarmati xuất hiện ở miền nam Irắc và Bahrain. Những người Qarmati sống cuộc sống theo kiểu công xã, mọi thứ đều là của chung và mỗi người vì mọi người. Nhưng họ cũng chống đối các caliph, và sử dụng bạo lực chống những người mà họ coi là kẻ thù. Và họ cũng đã lập được những kỳ công lạ thường, chẳng hạn vào năm 930, họ tấn công vào Mecca và thậm chí đã có lúc mang cả tảng Đá Đen ra khỏi Kaaba. Những người Qarmati còn mở đường cho một sự kiện thậm chí còn vĩ đại hơn: sự xuất hiện của triều đại Fatimid thuộc phái Ismaili. Dòng họ này nhận thức sứ mạng của mình ở một cấp độ rất cao về hệ tư tưởng. Người cai trị triều đại này coi mình như vị Mahdi á thánh hay gần như một Imam, và sứ mệnh của ông ta là tiêu diệt chế độ caliph tiếm quyền đáng ghét ở Baghdad, cải đạo những người Hồi giáo Sunni theo đức tin chân chính Shi’i, và thiết lập một đế chế toàn cầu dưới quyền một hoàng đế tối cao. Xuất xứ từ Bắc Phi (mặc dù họ vẫn tuyên bố thuộc dòng dõi của Fatimah, con gái Mohammed), dòng họ Fatimid xâm chiếm Ai Cập năm 969, tại đây họ biến Cairo thành thủ đô, xây dựng một trường đại học và một thánh đường vĩ đại. Ngoài việc dùng quân đội để tăng cường sức ép với Baghdad, những người Fatimid còn cử các thừa sai đi để tổ chức lật đổ, cũng như để tiến hành cải đạo trong các vùng đất của kẻ thù. Nhưng sau khi đạt đến đỉnh cao vào năm 1059, lúc họ chiếm đóng Baghdad trong vòng một năm, những người Fatimid bắt đầu xuống dốc. Họ không chỉ bị các caliph cũng đang suy tàn cướp phá, mà còn bị cả thế lực Thổ Nhĩ Kỳ đang trỗi dậy và các cuộc Thập tự chinh Thiên Chúa giáo tấn công. Bản thân chế độ của họ rốt cuộc cũng không thể đứng vững được vì thực tế là đa số những người Hồi giáo không chấp nhận tín ngưỡng Ismaili hay không công nhận tính hợp pháp trong yêu sách về ngôi vị Imam của Fatimid. Ngay cả những tín đồ Ismaili cũng mất lòng tin vào họ, và triều đại này kết thúc vào năm 1171. Tuy vậy chi phái này để lại một nhóm gọi là Nizaris, rất phát triển trong các cộng đồng Hồi giáo miền núi, và dưới hình thức những hội kín ở các thành phố tại Irắc, Iran và những vùng xung quanh trong khoảng thời gian từ năm 1099 cho đến 1266. Được thành lập bởi một thừa sai Ismaili nhiệt thành, một người từng đòi quyền thừa kế ngai vàng Fatimid nhưng bị bác bỏ, những người Nazaris sinh sống bằng cướp bóc và khủng bố, và tin rằng việc giết những người bị coi là kẻ thù là một bổn phận tôn giáo. Người ta nói họ dùng cây gai dầu (hashish – một loại ma túy) tôi luyện thân mình để thực hiện những hành động đẫm máu của họ. Họ cuối cùng cũng bị tiêu diệt bởi cuộc xâm lược của người Mông Cổ, những người đã chiếm Baghdad vào năm 1258, kết thúc triều đại Caliphate ở đây và gián tiếp tạo điều kiện cho nền văn hóa Hồi giáo đơm hoa kết quả thêm nữa ở các nơi khác – ở Ba Tư, Ấn Độ, Ai Cập và sau này là Thổ Nhĩ Kỳ. Phái Ismaili ngày nay vẫn còn tồn tại dưới hình thức nhiều nhóm nhỏ. Nhóm Druze, một nhóm tín đồ bí ẩn và theo chế độ kết nạp tập trung ở miền nam Syria. Các tín đồ Druze không để lộ giáo lý của họ cho những người ngoài chi phái biết. Họ tuyên bố rằng phái của họ được thành lập bởi alHakim, thủ lĩnh đời thứ sáu của dòng họ Fatimid, ông này vào năm 1017 đã tuyên bố mình là hóa thân của Thượng đế. Năm 1021 ông ta biến mất. Dù người ta cho rằng ông ta bị mất trí và bị giết chết, nhưng phái Druze từ ngày đó đã coi ông là vị Imam ẩn thân. Những môn phái Ismaili khác tập trung ở Ấn Độ và Yemen. Nổi tiếng nhất, với số tín đồ đông tới hàng triệu, là phong trào Hocca mà lãnh tụ tinh thần là Aga Khan. Aga Khan III (1877-1957) được tán tụng rất nhiều trong thế kỷ vừa qua như một người hoạt động nhân đạo, một nhà thể thao và một nhà hoạt động nhà nước Ấn Độ. Mặc dù có nguồn gốc đa dạng và phân tán về mặt chính trị, nhưng rõ ràng là không phải tình cờ mà Hồi giáo Shi’i lại cắm rễ lâu đời trong vùng bình nguyên Lưỡng Hà, nơi những ngày lễ Tết Năm mới cổ xưa bao gồm cả nghi lễ về trận chiến của anh hùng Marduk với sự Hỗn mang, và nghi lễ than khóc cho cái chết của Tammuz, một cách gợi nhắc tới trận chiến của Husain và than khóc cho cái chết của ông. Phái Shi’i cũng rất mạnh tại Iran vốn thuộc đạo Zoroastria (đạo Thiện cách tân), với đức tin vào một trận chiến ở tầm mức vũ trụ giữa cái Thiện và cái Ác, vào một vị tiên tri ẩn thân sắp xuất hiện, và một sự đảo ngược có tính chất khải huyền cái hiện trạng mà các tín đồ đang phải chịu đựng. Những ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo và đạo Mani (Bái hỏa giáo) đối với phái Shi’i cũng không thể loại trừ, vì về mặt tinh thần, Husain đối với người Hồi giáo Shi’i có gì đó giống như một vị chúa cứu thế. HỒI GIÁO MẬT TÔNG (SUFISM) Bức tranh về đạo Hồi sẽ rất thiếu sót nếu ta chỉ nói đến những phe phái chính thức, đến lịch sử và luật tục thờ phụng chính thống, mà bỏ qua khía cạnh tu tâm thần bí là cái thường đem lại cho tín ngưỡng của Mohammed một bộ mặt khác hẳn, nhiều màu sắc hơn và cũng nổi tiếng hơn với những người không theo đạo Hồi. Truyền thống này được thế giới không phải Hồi giáo biết đến với cái tên Sufism, và những người đi theo nó gọi là các sufi. Thượng đế của các sufi cũng là Thượng đế của người Hồi giáo trong kinh Koran. Nguồn gốc của cái tên Sufi còn chưa rõ, nhưng nhiều người gán nó cho một từ Arập, suf, có nghĩa là len thô, chỉ những người tu hành khổ hạnh đi tìm kiếm một con đường nội tâm mặc quần áo bằng len thô, chứ không hẳn là chỉ cách ăn mặc như một biểu tượng của họ để tự phân biệt với những tín đồ bình thường tự bằng lòng với sự tuân thủ bề mặt với lý tưởng Hồi giáo. Các sufi không chỉ tuân phục ý chí và luật lệ của Thượng đế “ở bề ngoài” như các tín đồ bình thường mà họ còn làm hơn thế nữa. Họ cố gắng để tiếp cận với Thượng đế một cách gần gụi hơn, và nhắm tới việc hợp nhất bản thân mình với sự tồn tại của Thượng đế. Họ làm điều đó bằng những bí pháp và những phép mật tu. Và xung quanh việc tìm kiếm bí thuật Sufi đã hình thành nên rất nhiều các tập tục thờ phụng với những vẻ đẹp lạ thường: những bậc thầy tâm linh, những câu chuyện ngụ ngôn, những câu cách ngôn hoa mỹ và những câu chuyện thông thái, sự thông linh, những trường phái thiền định, và những bí thuật để xuất hồn hay tham thiền nhập định qua múa hát và đọc thần chú. Các sufi tin rằng phép tu của họ có nguồn gốc từ những trải nghiệm tâm linh của chính Mohammed. Vị Tiên tri rõ ràng đã nhập định rất thâm sâu và hiểu biết Thượng đế rất gần gũi, thậm chí đã từng trải nghiệm trạng thái xuất hồn và lên đồng. Một số đoạn thơ trong kinh Koran cũng biện minh cho việc có thể gặp được Thượng đế ở khắp mọi nơi: “Phương Đông và phương Tây đều thuộc Allah. Ngươi quay hướng nào cũng giáp mặt Allah”. Những đoạn khác gợi đến khía cạnh bí truyền: kinh Koran kể rằng Allah trong lần cuối cùng đã đưa bề tôi của Ngài là Mohammed đến một thánh đường thiêng liêng để thần khải những ký dấu thần thánh nào đó. Theo một vài truyền thuyết thì chuyện này là nói đến việc Thượng đế dùng phép màu đưa Mohammed đi từ Mecca đến Jerusalem trong vòng một đêm, và sau đó mang ông lên trời để chỉ cho ông thấy những cảnh tượng mà những người chết không được nhìn thấy. Như vậy các sufi không chỉ tin rằng con đường của họ chính là con đường của Mohammed, mà nhiều người còn tin rằng Mật tông Sufi mới thực sự là con đường ngắn nhất để đi đến sự giác ngộ – đúng như ý nghĩa trong tuyên bố nổi tiếng của Mohammed nói rằng Hồi giáo không phải gì khác mà là một sự trở lại với đức tin nguyên thủy thực sự về Abraham và về vườn Địa đàng. Về phương diện lịch sử, Mật tông Sufi tồn tại song hành với các tín ngưỡng tự nhiên thần giáo (shaman) châu Á, thuyết Platon mới, phép tu Thiên Chúa giáo và những triết học của Ấn giáo và Phật giáo, và vì thế chắc chắn có những ảnh hưởng không thể tránh khỏi giữa chúng. Nhưng trong lịch sử Hồi giáo, Mật tông Sufi đã hình thành như một trào lưu khoảng một thế kỷ sau cái chết của Mohammed. Giống như phái Shi’i nhưng theo một cách khác, Mật tông Sufi là một phản ứng chống lại sự xa hoa hủ bại, chống lại việc từ bỏ giá trị nguyên thủy của đức tin giản dị và thuần khiết của đạo Hồi, điều mà những tín đồ bình dị nhìn thấy qua sự phô trương đắc thắng của các caliph. Con đường hướng vào nội tâm của Mật tông Sufi dành tầm quan trọng tối cao cho thái độ cá nhân của tín đồ với đức tin và tình yêu với Thượng đế, một tình yêu mà tự nó đã là sự đền bù. Những người theo Mật tông Sufi hoàn toàn đắm mình trong tình yêu Thượng đế, một tình yêu dâng hiến trọn vẹn và tuyệt đối đến mức không còn trên ý niệm mà là có thể diễn đạt bằng những lời lẽ của tình yêu thể xác. Không ai thể hiện điều này thuyết phục hơn nàng Rabi’a alAdawiya thần bí của xứ Basra, vốn là một nữ nô được dạy dỗ để làm người thổi sáo. Đêm đêm nàng thường cầu nguyện Thượng đế như sau: Ôi vị Chúa tể của thiếp, những ngôi sao trên trời lấp lánh, và đôi mắt của những người đàn ông đã khép lại, các ông vua đã đóng cửa cung điện, những người tình đã ở bên người thương của họ, còn ở đây thiếp một mình bên Ngài. Nàng còn nói: Thiếp gặp Tiên tri trong mộng và Ngài nói với thiếp: “Ôi Rabi’a yêu dấu, sao nàng không yêu ta?”. Còn thiếp bảo: “Ôi Tiên tri của Thượng đế, có ai là người lại không yêu Ngài? Nhưng tình yêu Thượng đế đã chiếm trọn lòng thiếp đến mức thiếp không còn chút tình yêu hay ghét hận nào nữa để dành cho Ngài.” Và nữa: Nếu có ai thờ phụng Thượng đế chỉ vì sợ hãi hay vì muốn được đền đáp thì đó là một kẻ tồi tệ… Cho dù Thiên đàng và Địa ngục đều là hư ảo, thì chẳng lẽ thiếp lại không vâng thuận Ngài hay sao?” Đó chính là tinh thần Sufi thuần túy vang vọng qua nhiều thời đại. Khi thời gian trôi đi, tình yêu dâng hiến trọn vẹn cho Thượng đế của các sufi ngày càng trở nên có tổ chức hơn, với những nghi thức, những học thuyết và những hội đoàn cụ thể, chúng định hình cuộc sống của những người dấn thân theo con đường này. Chẳng hạn, Abu Yazid al-Bistami đã mô tả những giai đoạn của đời sống tâm linh để dẫn đến trạng thái fana, tức là hoàn toàn vượt qua cái tôi cá nhân để nhập vào với Thượng đế. Trạng thái fana này được thể hiện trong sự ngây ngất xuất thần: khi đó al-Bistami không biết là ông hay Thượng đế trong ông đang nói, và ông không hề e dè với cả những lời lẽ như “Ta là Thượng đế của con”, “Hãy dành sự tôn kính cho ta, ta oai nghi đường bệ biết bao”, hay “Tên hiệu của ta còn vĩ đại hơn cả Mohammed”. Những tín đồ Hồi giáo chính thống sẽ bị sốc khi nghe những lời lẽ như vậy. Vào năm 922, al-Hallaj, một người từng được Thượng đế nhập vào mình trong trạng thái xuất thần, đã bị hành quyết ở Baghdad vì dám nói “Ta là Chân lý” – vì “Chân lý” là một phẩm chất chỉ dành cho Allah. Al-Hallaj đã lấy Jesus, một mẫu người của bí thuật nội tâm trong đạo Hồi, để làm gương Thượng đế hóa thân cho mình. Và ông ta bị hành hình theo cùng một cách với Jesus: bị đóng đinh câu rút. Cũng vào thời gian đó, một sự kiện có lợi cho Mật tông Sufi đã xảy ra. Caliph Junayd xứ Baghdad tuyên bố rằng không được phép đặt những mật pháp bí thuật trong phép tu sufi lên trên những quy định về đạo đức và tập quán theo luật Hồi giáo, và rằng bản chất của tình yêu tôn giáo đòi hỏi phải phân biệt giữa người tu hành và Thượng đế, kể cả lúc các sufi đang trong trạng thái “hòa nhập” với Đấng Tối cao. Tuyên bố đó đã gián tiếp công nhận tính thích đáng của con đường Mật tông Sufi. Al-Ghazali vĩ đại, người đã từng là một học giả Hồi giáo bình thường, mãi cho đến khi chính ông ta trải nghiệm trạng thái xuất hồn, rồi sau đó nỗ lực tìm hiểu con đường Mật tông, đã làm cho Mật tông Sufi trở thành một chi phái được kính trọng trong thế giới đạo Hồi. Ông diễn giải phép tu tâm của Mật tông Sufi như một thái độ tâm linh gắn liền với những hoạt động bộc lộ ra bên ngoài và được ứng dụng vào cuộc sống tôn giáo, như chúng ta đã thấy trong sự luận bàn của ông về hành hương hajj. Con đường Mật tông Sufi có liên quan đến các vị sheikh, tức những bậc thầy tâm linh, và các wali, tức các vị thánh. Thoạt đầu, theo truyền thống Shi’i, các sufi cũng nói về những vị thánh ẩn thân, về vị Mahdi sắp xuất hiện hay vị Imam cứu thế có tính chất khải huyền. Các vị thánh này trong Mật tông Sufi không giống như tiên tri Mohammed, nhưng theo cách nào đó họ cũng vĩ đại gần như ông. Với sufi, tu hành để đạt đến wilaya, tức là đạt đến hàng thánh hay “bạn của Thượng đế”, là một mục tiêu tâm lý cũng cao cả y như tuân phục ý chí của Thượng đế là mục tiêu biểu kiến của đạo Hồi. Rồi vào khoảng thế kỷ thứ 10 và 11 xuất hiện mục tiêu song hành về tuân phục và đạt được linh thánh đi liền với nhau trong người tu hành, đó là khi quan niệm được lưu truyền trong giới sufi cho rằng các tín đồ cần được chỉ dẫn bởi sheikh, tức là người dẫn dắt tâm linh cho mình. Vị sheikh, ở Ấn Độ gọi là pir hay murshid, là một người Hồi giáo nhưng ít nhiều cũng là một guru (tu sĩ) Ấn giáo. Sự phó thác đến quên bản thân mình cho sự điều khiển của ông ta, “như xác chết nằm trong tay người tẩm liệm”, là một trải nghiệm rất kỳ lạ về sự xả kỷ và nhằm phát triển tâm linh của người tu hành. Từ sau khi có sự diễn giải của al-Ghazali, những gì mà các bậc thầy sufi thực hiện đã trở thành chuẩn mực cho sự mộ đạo Hồi giáo, trong đó việc rèn luyện nội tâm cũng được chú ý đặc biệt như những hoạt động tôn giáo bề ngoài. Nhưng ngoài việc chú ý đến nội tâm, thì Mật tông Sufi còn có những bí pháp xuất hồn đặc biệt để nhận biết được Thượng đế, được các vị sheikh chỉ dạy: những lễ nghi giống như dhikr (hay wird), tức là đọc to những cái tên bí mật của Thượng đế, hay nhảy múa theo các điệu nhảy bí thuật… Những bí thuật như thế được phát triển nhờ những bậc Sufi vĩ đại hiện diện khắp thế giới Hồi giáo sau thế kỷ thứ 10. Và bước sang thế kỷ 20, họ vẫn còn tồn tại dù ảnh hưởng đã giảm đi nhiều. Đa số các sufi hiện giờ không còn là những thầy tu khổ hạnh sống nơi heo hút như trước nữa, cho dù mức độ tu hành thâm sâu của họ có lẽ cũng chẳng kém gì các nhà sư hay tu sĩ ở các tôn giáo khác. Nhưng với đa số các tín đồ bình thường thì các sufi này giống với những thành viên hội kín hơn là các nhà tu hành: người ta có thể được một vị sheikh hay vị pir khai tâm bằng cách mật truyền cho một bí pháp hay một câu thần chú, và sau đó có thể tự mình thực hành việc tu luyện. Một vài câu thần chú khai tâm sufi, nhất là ở đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) trước kia còn hàm ý chính trị và cách mạng. Cũng vì thế mà nhiều sufi bị các chính phủ Hồi giáo hiện đại đàn áp, vì những người chủ trương hiện đại hóa coi thái độ của họ gợi lại tâm lý trung cổ, mê tín và phi sản xuất. Các sufi với những bậc thánh sư của họ đã và đang là một lực lượng thu phục nhân tâm mạnh mẽ trong thế giới Hồi giáo. Đạo Hồi được du nhập vào Ấn Độ và Inđônêxia thoạt đầu chính là dưới hình thức thần bí này; dễ thấy là nếu không có những vị thánh bí ẩn với vẻ ngoài mê hoặc như vậy thì đạo Hồi có lẽ sẽ khó có thể bám rễ vào được những nền văn hóa có khuynh hướng rất khác với văn hóa Arập này. Ngày nay, các tu sĩ sufi đang rất thành công trong việc truyền bá đạo Hồi ở châu Phi. Các tín đồ Hồi giáo biết rất rõ về đức hạnh và linh thánh của những vị thánh trên trần thế này. Người ta kéo nhau đến những nơi các vị đang tu hành, và nếu họ đã chết, thì đến mộ của họ. Trong thời kỳ hoàng kim của Mật tông Sufi, từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 19, những truyền thuyết về các vị thánh được lan truyền rất rộng rãi, và con số những người hành hương đến các đền thánh cũng nhiều chẳng kém gì số người đến Mecca. Nhiều đền thánh ngày nay vẫn được người ta thường xuyên lui tới. Trong những vùng Hồi giáo Shi’i, đền thờ các Imam, như đền thờ Husain ở Karbala (Irắc) lúc nào cũng đông nghẹt người. Trong vô số thánh đường ở các làng mạc, có những thánh đường nằm ngay bên lăng mộ của các vị thánh địa phương, tuy không được trang trí bằng các họa tiết arabesque hay lát bằng gạch men, nhưng chúng rất nổi tiếng và có thể nhận ra ngay qua hình dáng của ngôi mộ, những dòng chữ ghi trên mộ, và những lá cờ nhiều màu treo trên lăng. Đạo Hồi nói chung tin rằng các vị thánh và các tiên tri có quyền năng làm các phép lạ. Mohammed không làm ra các phép lạ, trừ phép lạ về kinh Koran. Nhưng các vị thánh có một sứ mệnh khác với sứ mệnh của Mohammed. Mohammed là vị Sứ giả của Thượng đế, một người vừa bí ẩn và hấp dẫn hơn lại vừa gần gũi và đại chúng hơn. Còn các vị thánh thì cần phải làm những phép lạ để chứng minh sự thỏa mãn tâm linh siêu việt hơn sự thỏa mãn vật chất, và phải làm những việc cứu nhân độ thế để giúp giữ thế giới này gắn kết lại với nhau. Họ là những bậc thầy trong việc tạo ra cho đại chúng tín đồ những hình mẫu lý tưởng và những giấc mơ nằm bên dưới vòm trời của Thượng đế nhưng vượt cao hẳn lên trên thế giới trần tục. Baraka, tức phép lạ và quyền lực bí ẩn của các vị thánh vĩnh viễn nằm lại cùng ngôi mộ và di hài của họ, và vì thế mà những người hành hương kéo đến đó để cầu xin ân huệ và chữa trị bệnh tật. ĐẠO HỒI TRONG LỊCH SỬ Năm Mohammed rút khỏi Mecca đến Medina (622), được chọn làm năm bắt đầu của kỷ nguyên Hồi giáo. Đó là một lựa chọn xác đáng bởi vì Medina chính là nơi Mohammed đã biến đức tin của ông thành một tôn giáo, một nhà nước hùng mạnh, và cuối cùng thành một đế chế thế giới. Được khích lệ bởi những hồi ức còn mới mẻ lan truyền khắp xứ Arập về vị Tiên tri, vào thời điểm Mohammed qua đời, những người Arập đã sẵn sàng để đưa đạo Hồi vượt ra ngoài tổ quốc của ông. Và họ đã làm điều đó với một tốc độ nhanh chưa từng có khiến thế giới phải choáng váng. Các caliph, những người kế vị của Mohammed, chỉ trong vòng một thế kỷ đã thống trị cả một vùng đất từ Tây Ban Nha và Marốc ở phía tây trải dài cho đến tận Indus (Ấn Độ) ở phía đông. Đế chế Byzantine kiệt quệ quay cuồng trước ảnh hưởng của họ và mất đi phần lớn các vùng đất của mình. Đế quốc Ba Tư hoàn toàn sụp đổ, phải chuyển sang đức tin và sự thống trị Hồi giáo. Những người Hồi giáo chinh phục Bắc Phi và tiến vào châu Âu. Mặc dù bước tiến của họ vào châu Âu cuối cùng đã bị chặn đường, nhưng một phần Tây Ban Nha vẫn bị người Hồi giáo tiếp tục thống trị dưới triều đại của caliph Cordova. ĐẾ CHẾ UMAYYAD VÀ ABBASID Khi Abu Bark chết, Umar Ibn al-Khattab lên làm caliph. Umar là nhà tổ chức thực sự của đế quốc Arập. Dưới sự chỉ huy của Umar, những người Hồi giáo Arập đã xâm chiếm Syria, khi đó còn là lãnh thổ của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo. Người Hồi giáo đánh bại các đạo quân Byzantine ở đó, chiếm luôn đế quốc của họ và tiếp tục tiến lên miền bắc cho đến khi họ phải dừng lại ở miền nam Anatolia (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Năm 642, những đạo quân Hồi giáo cũng tiến về phía tây, chiếm Ai Cập khi đó cũng là lãnh thổ của đế quốc Byzantine. Những cuộc xâm chiếm và chinh phục này là một phần của cuộc jihad, tức là Thánh chiến Hồi giáo để bành trướng ảnh hưởng của đạo Hồi. Năm 656, Umar bị ám sát. Lần này các lãnh tụ đạo Hồi chọn Uthman Ibn Affan lên làm caliph. Mười hai năm sau, Uthman bị những người ủng hộ Ali ám sát. Sau khi Uthman chết, Ali lên kế vị ông ta làm caliph. Nhưng tổng trấn xứ Damacus là Mu’awiyah công khai chống lại Ali. Kết quả là Ali bị ám sát sau 5 năm cầm quyền. Lần này các bộ tộc Arập tranh giành quyền hành chính trị và tôn giáo xoay ra đánh lẫn nhau. Mu’awiyah là thủ lĩnh của bộ tộc Omayyad, bộ tộc mạnh nhất ở xứ Arập, và hầu hết người dân của bộ tộc này đã cải theo đạo Hồi. Bộ tộc Omayyad dưới sự chỉ huy của Mu’awiyah chiếm Damascus vào năm 636, và ông ta trở thành tổng trấn của Damascus. Sau khi Ali bị ám sát, Mu’awiyah tự tuyên bố mình là caliph mới. Ông biến Damacus thành kinh đô của đế quốc Hồi giáo Arập và dùng nó làm căn cứ để đàn áp tất cả những bộ tộc chống đối. Khi Mu’awiyah chết vào năm 680, ông ta đã chỉ định cho con trai là Yazid làm caliph. Bắt đầu từ đó trở đi, chức vị caliph trở thành một chức vị cha truyền con nối của dòng họ cai trị đế quốc. Dưới triều đại các caliph Omayyad, bằng những cuộc chinh phục, người Hồi giáo đã mở thêm rộng rất nhiều vùng lãnh thổ được cai trị theo đạo Hồi. Năm 711, Omayyad tiến về phía Tây chiếm xứ Morroco ở Bắc Phi để làm bàn đạp quay lên phía bắc tiến sang châu Âu theo ngả Tây Ban Nha. Họ vượt qua eo Gibraltar, xâm chiếm vương quốc Visigothic ở Tây Ban Nha. Đã có lúc người ta tin rằng người Hồi giáo đã sắp sửa chiếm được toàn bộ châu Âu Thiên Chúa giáo. Nhưng khi các đoàn quân Hồi giáo tiến vào đến trung tâm nước Pháp thì họ bị người Franks dưới sự chỉ huy của Charles Martel đánh bại trong trận chiến nổi tiếng ở thành Tours năm 732. Mặc dù sự bành trướng lên phía bắc bị chặn lại và người Hồi giáo buộc phải rút lui khỏi châu Âu, nhưng họ đã lập nên ở Tây Ban Nha một vương quốc Hồi giáo của caliph Cordova, và tiếp tục thống trị miền nam Tây Ban Nha thêm 7 thế kỷ nữa. Như vậy, sau gần một thế kỷ chiến đấu, những người Hồi giáo, được khích lệ bởi những lời giáo huấn của vị Tiên tri, đã tiến hành công cuộc chinh phục đất đai và bành trướng đạo Hồi của mình bằng lưỡi gươm và đã tạo nên một đế quốc trải dài từ biên giới Ấn Độ cho đến tận bờ biển Đại tây dương – một đế quốc lớn nhất cho đến thời bấy giờ. Và ở bất kỳ đâu mà các đạo quân Hồi giáo đặt chân đến thì đều diễn ra sự cải đạo trên quy mô lớn của các cư dân ở đó sang đạo Hồi. Khi đế chế Omayyad hình thành vào thế kỷ thứ 8, tiếng Arập được họ sử dụng như ngôn ngữ chung trong toàn bộ đế quốc. Mặc dù những người Thiên Chúa giáo vẫn còn trụ lại được ở các vùng núi phía tây Syria, nhưng tôn giáo duy nhất có thể giữ được tính đồng nhất toàn vẹn trong đế chế là đạo Hồi. Và đạo Hồi thực sự đã có một ảnh hưởng quyết định đối với sự bành trướng mở rộng cũng như hướng mục tiêu chinh phục của đế chế Omayyad. Triều đại Omayyad đã xây dựng nhiều đường sá, thành lập các nhà thương và khuyến khích phát triển giáo dục. Các học giả từ khắp các miền đất trong và ngoài Arập kéo đến Damascus, họ lập ra những trường phái y học mới và nghiên cứu các tư tưởng triết học. Đế chế Omayyad được coi là đỉnh cao của nền văn minh Hồi giáo sơ kỳ và cũng là người mở đầu cho truyền thống biến các thành phố lớn thành các trung tâm phát triển văn hóa trong thế giới Hồi giáo. Tuy nhiên, triều đại Omayyad chỉ tập trung phát triển hành chính, giáo dục, mở mang học vấn và các lĩnh vực khác của đời sống tại các đô thị, trong khi đó những vùng nông thôn rộng lớn thì hầu như bị bỏ rơi. Điều đó gây ra sự xung đột giữa các cư dân nông thôn chiếm đa số trong vùng Trung Đông bấy giờ với các cư dân thành thị. Sự xung đột đó kết hợp với những tranh chấp giữa phái Sunni và Shi’i, là phái giành được sự ủng hộ của các tầng lớp dân nghèo trong đế chế, cũng như xung đột giữa các bộ tộc Arập cuối cùng đã làm sụp đổ đế chế Omayyad. Vào năm 750, triều đại Umayyad bị lật đổ bởi người Abbasid (ở Babylone) vốn là những người Hồi giáo Shi’i, bộ tộc có nguồn gốc từ Abbas, một trong những người chú của Mohammed. Người Abbasid chuyển thủ đô của đế quốc Hồi giáo về Baghdad, một thành phố mà họ mới xây dựng trên bờ sông Tigris. Ngày nay Baghdad là thủ đô của Irắc. Những thế kỷ của triều đại caliph Omayyad và caliph Baghdad (680-1258) cũng như triều đại caliph Cordova ở Tây Ban Nha (755-1236) là Thời đại Vinh quang của nền văn minh Hồi giáo sơ kỳ. Những thế kỷ này cũng đồng thời là Thời đại Đen tối của châu Âu. CÁC QUỐC GIA HỒI GIÁO ĐỘC LẬP Với sự sụp đổ của triều đại Omayyad, những người Hồi giáo ở Tây Ban Nha thành lập nên một quốc gia độc lập và tách khỏi đế quốc Hồi giáo phương Đông. Đó là triều đại caliph Cordova (755-1236). Bắt đầu từ năm 800, các vùng đất khác của đế quốc Omayyad thực chất cũng trở thành các vương quốc Hồi giáo độc lập dưới quyền kiểm soát của các bộ tộc có thế lực địa phương. Nhưng sau các cuộc chiến tranh mà châu Âu Thiên Chúa giáo gọi là các cuộc Thập tự chinh, những cuộc chiến đã gây ra bao cảm giác cay đắng và những sự hiểu lầm giữa hai tôn giáo cho đến giờ vẫn còn chưa lành hẳn, thì triều đại của các caliph Baghdad sụp đổ, đế chế Hồi giáo chia ra thành nhiều nhóm các quốc gia Hồi giáo nhỏ hơn. Khi các quốc gia Hồi giáo độc lập xuất hiện, sự cố kết trong đế quốc Hồi giáo đã giảm đi rất nhiều. Nhưng người Hồi giáo vẫn còn tiếp tục kiểm soát một vùng lãnh thổ rất rộng lớn trên thế giới. Xa hơn về phía đông, đế quốc Ba Tư và đế quốc Moghul ở Ấn Độ đã phát triển thành những nền văn minh Hồi giáo huy hoàng. Họ nắm quyền hành mãi cho đến khi người Anh chiếm Ấn Độ vào năm 1700. ĐẾ CHẾ MARỐC Đế chế Marốc ở Bắc Phi là sự phát triển kế thừa đế chế Omayyad. Vào khoảng năm 680, khi sự bành trướng của đế quốc Hồi giáo theo hướng bắc và đông tạm thời bị chặn đứng, những đạo quân Hồi giáo thiện chiến của đế quốc Omayyad từ bán đảo Arập tràn sang phía tây vào Bắc Phi. Ngoài việc xâm chiếm lãnh thổ, những cuộc chinh phục của họ còn nhằm mở rộng đạo Hồi. Mục tiêu lâu dài là sử dụng Marốc như một bàn đạp cho sự xâm lược và cải đạo đất nước Tây Ban Nha. Do gặp phải sự chống đối của các bộ lạc địa phương, các caliph Omayyad chỉ kiểm soát được vùng đồng bằng, các cảng biển và khu vực quanh các thành phố Fès, Marrakech, Rabat và Meknes – được gọi là ”những thành phố của đế chế”. Còn bên ngoài các thành phố này, những cư dân sinh sống tại miền núi Rif và Atlas và các vùng sa mạc hẻo lánh ít khi chấp nhận sự cai trị của các caliph Omayyad. Bộ tộc Arập đầu tiên xác lập được quyền cai trị thực sự trên vùng đất này là người Idrissids do Moulay Idriss chỉ huy, họ đến Marốc vào cuối thế kỷ thứ 8. Idriss khá thành công trong việc cải đạo Hồi cho những người Berber, và nhờ đó đã thiết lập được quyền lực ở vùng này, ít nhất cũng ở miền Bắc Marốc. Từ đó Idriss đã dựng nên một vương quốc Hồi giáo Arập. Triều đại Idriss tồn tại trong một thời gian gần ba thế kỷ và cuối cùng bị các quốc vương người Berber cũng là Hồi giáo – đó là dòng họ Almoravids - lật đổ vào thế kỷ thứ 11. Người Almoravids lật đổ triều đại Idriss dưới danh nghĩa là để giải phóng những người Hồi giáo Marốc khỏi những sự đồi bại đang nẩy nở lan tràn trong vương quốc Hồi giáo Marốc. Họ đã xây dựng nên thành phố Marrakech. THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 5 ) ĐẾ CHẾ OTTOMAN Do sự mở rộng của các đế chế Hồi giáo Omayyad và Abbasid, đế chế Byzantine Thiên Chúa giáo cổ xưa đã mất đi phần lãnh thổ của mình ở Trung Đông, bán đảo Arập và Bắc Phi. Nhưng con đường phát triển lên miền bắc của các đế chế Hồi giáo này bị ngừng lại, chủ yếu là do những xung đột trong nội bộ những bộ tộc Arập. Năm 1071, các bộ lạc người Thổ theo đạo Hồi đánh bại người Byzantine trong trận chiến Malazgirt ở miền đông Anatolia. Vùng đất còn lại ở miền bắc của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo dần dần bị co hẹp. Người Thổ phát triển đạo Hồi trên các vùng lãnh thổ miền bắc của đế quốc Byzantine trước kia. Họ cũng du nhập vào xứ sở này tinh thần buôn bán, mà kết quả là hình thành nên các tuyến đường lạc đà đi ngang qua Thổ Nhĩ Kỳ để vào Trung Đông. Dọc các tuyến đường này họ xây dựng những khu thành quách rất ấn tượng để cho thương nhân có thể dừng lại nghỉ ngơi. Một số tuyến đường lạc đà từ thế kỷ 12 này vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay. Sự trỗi dậy của thế lực Thổ Nhĩ Kỳ và sự tiêu vong của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo khiến cho các cường quốc châu Âu thời đó phải e ngại. Việc người Thổ Nhĩ Kỳ cải đạo các tín đồ Thiên Chúa giáo sang đạo Hồi đã khiến Giáo hoàng Urban đệ Nhị phải hứa hẹn ban thưởng cho những ai sẵn sàng đi chiến đấu với người Thổ dưới lá cờ Thiên Chúa giáo. Từ đó mà cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất chống lại người Thổ được phát động. Về sau, tiếp tục còn có ba cuộc Thập tự chinh nữa, gây ra rất nhiều xung đột và máu đổ, nhưng đồng thời cũng đẩy mạnh những giao tiếp thương mại và văn hóa giữa người Thiên Chúa giáo và người Hồi giáo. Trong khi phần phía tây của Anatolia, dọc theo bờ Hắc hải và Địa trung hải, vẫn còn là lãnh thổ Byzantine, thì đế chế Seljuk Thổ Nhĩ Kỳ phát triển nền văn hóa Hồi giáo của mình ở miền trung Anatolia. Đế chế Seljuk diệt vong vào thế kỷ 13, sau khi bị các lực lượng xâm lăng người Mông Cổ tiến đánh. Đế chế Byzantine đang ngắc ngoải nên khoảng trống quyền lực do người Seljuk để lại chỉ được lấp đầy khi có sự trỗi dậy của đế chế Ottoman, một thế lực Thổ Nhĩ Kỳ mạnh hơn đế chế Seljuk rất nhiều. Đế chế Ottoman, lấy tên từ Osman - thủ lĩnh của một vùng đất nhỏ ở Anatolia, đã phát triển thành một trong những đế quốc lớn nhất trên thế giới. Vào thời đỉnh cao của nó, đế chế Ottoman kiểm soát hầu hết Bắc Phi, Irắc và một vùng rộng lớn lãnh thổ Đông Âu. Cho đến giữa thế kỷ 15, nhờ sự hậu thuẫn của các nước châu Âu, Constantinople, thủ đô của đế chế Byzantine vẫn còn đứng vững mặc dù bị bao vây bốn bề bởi đế chế Ottoman. Mehmed II, sultan của đế quốc Ottoman, lên kế thừa ngai vàng năm 1451 đã quyết định chiếm lấy nó. Thành phố lẫy lừng này cuối cùng phải đầu hàng sau khi bị vây hãm suốt bảy tuần lễ, chấm dứt cái chết kéo dài của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo vào năm 1453. Sau đó thành phố được đổi tên thành Istambul. Sự bành trướng về phía tây của đế chế Ottoman bị chặn lại vào năm 1529, khi các đạo quân Thổ Nhĩ Kỳ thất bại trong việc đánh chiếm thành Vienna, thủ đô của đế chế Hapsburg. Tham vọng bành trướng xa hơn về phía tây của đế chế Ottoman lại bị thất vọng thêm một lần nữa khi mưu toan chiếm Vienna lần thứ hai bị thất bại vào năm 1683. Thất bại lần thứ hai này phải trả bằng cái giá là mất phần lớn lãnh thổ Hung ga ri. Đế chế Ottoman là một đế chế hiếu chiến, vì thế các nước Thiên Chúa giáo ở Tây Âu coi nó như một mối đe dọa, và họ tổ chức các liên minh nhằm đánh lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Từ thế kỷ 17 về sau, đế chế Ottoman dần dần sa vào chỗ trì trệ và suy sụp, và cuối cùng nó tan rã vào năm 1918, sau khi Chiến tranh Thế giới thứ I kết thúc. Đế chế Ottoman đã tồn tại trong hơn 600 năm. GIAI ĐOẠN THOÁI TRÀO Từ cuối thế kỷ thứ 12 cho thế kỷ 14, các nước Thiên Chúa giáo châu Âu tổ chức những cuộc chiến tranh với người Hồi giáo để khôi phục đất thánh và chiếm lấy đất đai của cải ở vùng Trung Đông. Những cuộc xâm lược này ngày nay được gọi dưới cái tên là các cuộc Thập tự chinh. Vào thế kỷ 13, những người Hồi giáo đã đánh đuổi được các đoàn quân Thập tự chinh Thiên Chúa giáo khỏi các vùng đất Arập. Nhưng ở những vùng đất khác thì người Hồi giáo không được thành công cho lắm. Ở phía tây của đế chế Hồi giáo, những người Thiên Chúa giáo Tây Ban Nha dần dần giành lại đất đai từ tay người Hồi giáo, vương triều của caliph Cordova sụp đổ. Vào cuối thế kỷ 15 việc tái chiếm lại đất
- Xem thêm -