Tài liệu Thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư

  • Số trang: 110 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 351 |
  • Lượt tải: 2
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 LÊ THỊ CHINH THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM HÀ NỘI, 2013 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2. Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng dạytrong suốt khoá học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lý Hoài Thu, người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận văn có thể hoàn thành. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bèđã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn. Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2013 Học viên Lê Thị Chinh LỜI CAM ĐOAN Luận văn với đề tài: Thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tưđược hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS. TS Lý Hoài Thu. Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của cá nhân tôicó tham khảo ý kiến của những người đi trước. Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng khít với bất cứ công trình nghiên cứu của các tác giả nào đã được công bố trước đó. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Học viên Lê Thị Chinh MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lí do chọnđềtài .............................................................................................. 1 2. Lịchsửvấnđề .................................................................................................. 2 3. Mụcđíchnghiêncứu ........................................................................................ 9 4. Nhiệmvụnghiêncứu ..................................................................................... 10 5. Đốitượngvàphạmvinghiêncứu ..................................................................... 10 6. Phươngphápnghiêncứu................................................................................ 10 7. Giảthiếtkhoahọc .......................................................................................... 10 NỘI DUNG..................................................................................................... 12 CHƯƠNG 1.THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI ........... 12 1.1 Thânphậnngườiphụnữ qua sángtáccủanhàvănnữđươngđại....................... 12 1.2 TruyệnngắnNguyễnNgọcTưtrongbốicảnhvănxuôiđươngđại .................... 27 CHƯƠNG 2.THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ NHÌN TỪ QUAN HỆ XÃ HỘI VÀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH ............................................................. 35 2.1. Thânphậnngườiphụnữnhìntừquanhệxãhội ............................................... 35 2.1.1 Ngườiphụnữ - nạnnhâncủasựnghèođói, thiếuhiểubiết ................... 35 2.1.2 Ngườiphụnữgiàulòngyêuquêhương, mangnặngnghĩatìnhvớimảnhđất Nam Bộ ................................................ 39 2.1.3 Ngườiphụnữchânthànhnhânhậu ..................................................... 43 2.2 Thânphậnngườiphụnữnhìntừquanhệgiađình ............................................. 47 2.2.1 Ngườiphụnữbấthạnhtrongtìnhyêuvàhônnhân ................................. 47 2.2.2 Ngườiphụnữkhátkhaolàmmẹ .......................................................... 55 2.2.3 Ngườiphụnữkhátkhaotìnhyêuhạnhphúc ......................................... 58 2.2.4 Ngườiphụnữgiàuđức hi sinh, bao dung vịtha ................................. 63 CHƯƠNG 3.MỘT SỐ VẤN ĐỀ THUỘC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ ....................................................................................................... 67 3.1 Nghệthuậtxâydựngnhânvật ....................................................................... 67 3.1.1 Nghệthuậtmiêutảngoạihình .............................................................. 67 3.1.2 Nghệ thuật miêu tả hành động ......................................................... 71 3.1.3 Biểuhiệnnộitâm ................................................................................ 72 3.2 Thờigianvàkhônggiannghệthuật ................................................................ 74 3.2.1 Thờigiannghệthuật ........................................................................... 75 3.2.2 Khônggiannghệthuật ........................................................................ 80 3.3 Ngônngữvàgiọngđiệu ................................................................................ 84 3.3.1 Ngônngữ .......................................................................................... 84 3.3.1.1 Ngônngữtrầnthuật ................................................................. 84 3.3.1.2 Ngônngữnhânvật ................................................................... 88 3.3.2. Giọngđiệu ....................................................................................... 91 3.3.2.1 Giọngđiệudândã, mộcmạc .................................................... 92 3.3.2.2 Giọngđiệutrữtìnhđằmthắm, sâulắng...................................... 94 3.2.2.3 Giọngsuytư, chiêmnghiệmmangmàusắctriếtlý ..................... 96 KẾT LUẬN .................................................................................................. 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 103 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1 Hiện nay trên văn đàn Việt Nam, trong số những gương mặt tiêu biểu của truyện ngắn đương đại, Nguyễn Ngọc Tư là một đại diện nổi bật. Tên tuổi của chị vang xa trên văn đàn Việt Nam và lan rộng ra nước ngoài. Với tài năng, tâm huyết của mình Nguyễn Ngọc Tư đã tạo dựng cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo và cho ra những tác phẩm đặc sắc mang đậm chất Nam Bộ. Người ta xem Nguyễn Ngọc Tư là “đặc sản” riêng của Nam Bộ, là một thứ duyên văn hấp dẫn bạn đọc đương đại. 1.2 Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ vừa mới xuất hiện trên bầu trời văn học trong những năm gần đây. Sự xuất hiện của chị đã mang đến cho truyện ngắn đương đại Việt Nam một luồng sinh khí mới. Qua các sáng tác của chị hình ảnh thiên nhiên dân dã và cuộc sống nơi miệt vườn cực Nam của tổ quốc hiện ra rõ nét. Cái tên Nguyễn Ngọc Tư đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng độc giả thông qua việc thể hiện hình ảnh con người trong tác phẩm. Ở đó thân phận người phụ nữ được tác giả tập trung chú ý hơn cả. Có thể thấy ở bất cứ thời đại nào vấn đề thân phận con người luôn được xem là vấn đề trọng tâm và chủyếu trong văn học. Đến nay vấn đề đó không phải là mới song dưới sự quan sát nhạy bén và tinh tế của mỗi nhà văn, thân phận con người đặc biệt là người phụ nữ lại hiện lên với nhiều diện mạo, sắc thái khác nhau. 1.3 Trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thân phận người phụ nữ vừa mang những nét chung của những người phụ nữ xưa nhưng cũng mang những nét rất riêng độc đáo, cá tính và đầy bản lĩnh. Cách khám phá thân phận người phụ nữ ở nhiều cung bậc, đa chiều, đa diện đã cho ta thấy một con người không toàn vẹn mà là con người với những vết trầy xước, bầm dập cả về thể xác lẫn tinh thần. Những người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn 2 Ngọc Tư có những số phận khác nhau, nhưng hầu như không một người phụ nữ nào của chị được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Mỗi người khổ một kiểu, mỗi người có một nỗi niềm riêng. Nhưng điều kì lạ là chúng ta không cảm thấy sự bi quan hay bóng tối bao trùm cuộc đời họ. Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt về thân phận những người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư so với các nhà văn trước đây và các nhà văn cùng thời. Đóng góp này cho thấy chân dung con người, đặc biệt là những người phụ nữ trong thời đại mới được hiện lên sâu sắc và đậm nét hơn. Với những lí do trên chúng tôi chọn đề tài Thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư làm đề tài luận văn cho mình. 2. Lịch sử vấn đề Nguyễn Ngọc Tư là cây bút nữ trẻ được biết đến nhiều trong thời gian khoảng một thập niên trở lại đây. Cho đến nay, chị đã có nhiều truyện ngắn và tập truyện ngắn được xuất bản như: Ngọn đèn không tắt (2000), Biển người mênh mông(2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ và 9 câuchuyện khác (2008) và gần đây nhất là tập Khói trời lỗng lẫy mới được ra mắt bạn đọc vào tháng 11/2010 vừa rồi cùng với sự kiện chuyển thể thành công bộ phim Cánh đồng bất tận từ tác phẩm cùng tên của mình. Mới đây, tập truyện ngắn mang tên Cánh đồng bất tận và truyện ngắn Cuối mùa nhan sắc do Hội Nhà văn Việt Nam đề cử, đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Hàn và nhận Giải thưởng văn học quốc tế ASEAN tại Thái Lan vào tháng 10/2008. Có thể nói, ngay từ khi ra mắt bạn đọc những tác phẩm đầu tay của mình, “ những đứa con tinh thần” của chị đã nhận được rất nhiều sự đánh giá, phê bình của độc giả. Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã được nghiên cứu và phê bình, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau. 3 Các nhà nghiên cứu cũng như độc giả đều thấy rằng có một khoảng cách rất rõ ở Nguyễn Ngọc Tư trong các truyện ngắn trước và sau Cánh đồng bất tận. Từ tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đến các tập Biển người mênh mông, Giao thừa và Nước chảy mây trôi, điểm dễ thấy là Nguyễn Ngọc Tư thường viết về những câu chuyện nhỏ nhẹ, man mác buồn. Những câu chuyện ấy đều được kể rất chân thành, giản dị với một văn phong hồn nhiên, thấm đẫm phương ngữ Nam Bộ. Chị được gọi là “Nhà văn của xóm bèo” (Quang Vinh), là “đặc sản Nam Bộ” (Trần Hữu Dũng), được đánh giá là người “điềm đạm mà thấu đáo” trên từng trang viết (Dạ Ngân). Các tác phẩm của chị gắn liền với ruộng đồng lam lũ, với cảnh sông nước Miền Tây và những con người thì hiền lành, thẳng thắn, bộc trực và đầy tình nghĩa. Về tập truyện ngắn Nước chảy mây trôi, Minh Phương nhận xét: “Những truyện ngắn này được tác giả khai thác nhẹ nhàng mà sâu sắc. Người viết không đặt vấn đề trong sự va đập gay gắt của hoàn cảnh và cũng không đẩy tới tận cùng những xung đột quyết liệt của tính cách mà đi sâu vào tâm trạng nhân vật làm nổi bật chủ đề và bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của con người” [28]. Trong một bài khác tác giả Dạ Ngân đánh giá: “Nguyễn Ngọc Tư giỏi ở chỗ cái tưởng không có gì mà Tư cũng viết được, lại viết rất có duyên, rất nhân hậu. Đọc cái nào xong cũng phải nhoẻn cười sung sướng, sung sướng mà lại ứa nước mắt”[24]. Tác giả Hoàng Thiên Nga qua bài báo đăng trên văn nghệ số 39, ngày 24/9/2005 đánh giá cao tài năng và phẩm chất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: “Truyện Nguyễn Ngọc Tư hấp dẫn từ đầu đến cuối, tới dấu chấm hết vẫn thấy ngòi bút tác giả bình thản như đôi chân vàng chưa đuối sức sau cuộc chạy maratong” [23]. 4 Kiệt Tấn là một trong những nhà nghiên cứu, đánh giá công phu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, qua hai bài viết: bài thứ nhất là “Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” đề cập đến các tác tác phẩm Ngọn đèn không tắt và Cánh đồng bất tận, bài thứ hai là “Sông nước Hậu Giang và Nguyễn Ngọc Tư” điểm tới các tác phẩm Giao thừa và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả đã đi vào tìm hiểu, cắt nghĩa và lí giải chiều sâu của tập truyện “Ngọn đèn không tắt” từ bối cảnh lịch sử - xã hội của đất nước ta từ những năm chống Pháp, chống Mỹ đến những ngày hòa bình với những đổi thay trong cuộc sống. Trên nền bối cảnh đó hình bóng con người hiện lên với một nỗi buồn hiu hắt, tâm lý thất vọng não nề. Nhìn chung, đối với các tập truyện ra đời trước Cánh đồng bất tận, các ý kiến đánh giá còn có phần khiêm tốn, rải rác và lẻ tẻ. Người ta thấy văn Nguyễn Ngọc Tư toát lên vẻ đẹp của đồng quê nhẹ nhàng mà thấm thía, buồn man mác. Chị cần có sự làm mới mình, cần có cái gì đó dữ dội hơn, quyết liệt hơn. Chỉ một năm sau tác phẩm Nước chảy mây trôi, Cánh đồng bất tận ra đời. Đây là một đột phá, một sự làm mới mình mà không cầu kỳ, phức tạp. Cánhđồng bất tận chính là sự lớn dần, sự chuyển đổi tự nhiên trong tư tưởng của một Nguyễn Ngọc Tư tài năng và hồn hậu đã gắn bó máu thịt với ruộng đồng lam lũ, với mảnh đất mà chị hiểu sâu xa tường tận hơn cả so với bất kỳ vùng đất nào khác. Tập truyện này đã đặc biệt thu hút được sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Các ý kiến khen có, chê có, nhưng đa số thiên về khẳng định tài năng văn chương của Nguyễn Ngọc Tư. Một số ý kiến không đồng tình với lối viết mới của chị, như bài viết “Im lặng thở dài” của Đỗ Hồng Ngọc (báo Tuổi trẻ, 30/11/2005), hay bài “Nói nhỏ cho Tư nghe” của doanh nhân Lê Duy (báo Văn nghệ trẻ, 16/4/2006), đã tỏ ý xem nhẹ tài năng, thậm chí là trình độ học vấn của 5 Nguyễn Ngọc Tư. Hoặc trong bài “Bênh vực truyện đạo văn – đạo đức hay văn hóa” của Lý Nguyên Anh (báo Văn nghệ trẻ số 40, 1/10/2006) nhân việc dư luận xoay quanh hai truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Dòng sông tật nguyền của Phạm Thanh Khương có sự giống nhau, tác giả cho rằng: “dù vì lý do nào đi chăng nữa, dù ai hết lời tán dương đi chăng nữa, tôi cũng coi hai truyện ngắn đồng sàng dị mộng ấy là những tác phẩm hết sức tật nguyền”. Tác giả Bùi Việt Thắng trong “Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7/2006 nhận xét: “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn quá non nớt, chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật, và phải chăng chính Nguyễn Ngọc Tư quá sớm khi sống trong ánh hào quang do dư luận tạo nên… và đặc biệt Tư còn quá ít kinh nghiệm sống, một nền văn hóa cần thiết”. Về phương diện ngôn ngữ, Bùi Việt Thắng nhận xét: “văn viết Nguyễn Ngọc Tư rất gần với văn nói”. Từ những phân tích và nhận xét chủ quan của mình, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Ngọc Tư đang đi từ trong kênh rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức lao động nghệ thuật nhiều hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành tài sản quốc gia”. Ngược lại với những ý kiến trên, đa số các bài viết tập trung làm nổi bật vẻ đẹp, sự cuốn hút của tác phẩm từ cốt truyện, câu chữ, cho tới nội dung đầy tính nhân văn. Chẳng hạn Nguyên Ngọc qua bài “Không gian… của Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 1/2/2008 đã đánh giá rất cao về Cánh đồng bất tận. Ông coi đó là một trong số những tác phẩm hiếm hoi có thể đưa văn học ta ra với thế giới, bước vào hội nhập: “Để mà tính chuyện đi ra thế giới, tức là cái mà người ta gọi là mở rộng không gian văn học, […]. Với Cánh đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu hóa hôm nay một cách đường hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn cầu”. Trước đó trong một bài báo đăng trên http://www.vnexpress.net ngày 6 02/1/2005 với nhan đề “Còn có rất nhiềungười cầm bút có tư cách”, nhà văn Nguyên Ngọc đã khen ngợi Nguyễn Ngọc Tư và cho rằng chị đã “đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước” [25]. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư còn được tiếp cận và lý giải từ nhiều khía cạnh khác nhau. Ở phương diện nội dung, có rất nhiều bài viết đi sâu phân tích, tìm hiểu về nhân vật và nội dung hiện thực được phản ánh trong tác phẩm. Qua đó khẳng định giá trị và nhân cách, bản lĩnh của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư như giá trị nhân văn, tài phân tích tâm lý nhân vật, cái nhìn lạc quan về con người và cuộc sống… Bên cạnh đó, một số bài viết đã bước đầu tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ở kết cấu, ngôn ngữ, không gian, thời gian… nhưng phần lớn chỉ tập trung ở tác phẩm Cánh đồng bất tận. Bài viết “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật” của tác giả Đoàn Ánh Dương (Tạp chí văn học số 2, 2007) “là một cách tiếp cận truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ góc nhìn cấu trúc. [..]. Song dù với cách tiếp cận nào, vẫn có một điều luôn được khẳng định là nếu không có sự day dứt trước thân phận con người thì Ngọc Tư không thể viết được những trang văn thành thật như thế, chân chất như thế! Và phải chăng đây là bài học có thể rút ra từ Cánh đồng bất tận, bài học về nhân cách của tác giả, sự dũng cảm dấn thân hướng tới Chân – Thiện – Mĩ” [11]. Tác giả Hoàng Thiên Nga với bài “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” cũng đã cắt nghĩa sự hấp dẫn từ đầu đến cuối truyện ngắn này bằng lối viết “không cũ mòn, không nhàm chán, mạch văn liên kết bởi vô số chi tiết hình ảnh thú vị, cốt truyện hình thành theo dòng suy tưởng của nhân 7 vật xưng tôi, nhẫn nhịn, lặng lẽ mà thường xuyên mỗi lúc một sâu, phơi mở tận đáy tâm hồn, tính cách số phận con người” [23]. Trong bài “Thời gian huyền thoại trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư”, tác giả Mai Hồng đã đi sâu phân tích tìm hiểu về không gian, thời gian như là một điểm “làm mới” trong chặng đường sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư: “Cánh đồng bất tậnviết về thời gian của kiếp người du mục qua những miền nhân cách, tính cách, số phận con người. Không gian trong truyện không có gì mờ ảo, vì nó là một không gian mà sự sống phủ lớp áo bàng bạc bất tận. Nhưng thời gian trong truyện đã được ảo hoá một cách thông minh và tự nhiên / ngẫu nhiên. Màu sắc huyền thoại của thời gian cộng với ý nghĩa phổ quát của cốt truyện, nhân vật làm cho tác phẩm chuyển tải được một hiện thực vĩnh cửu của con người. Đó là vấn đề về ánh sáng và tình thương trong cuộc sống con người, những hằng số nghệ thuật của mọi thời đại” [16]. Trong thời gian gần đây, tác giả Hoàng Đăng Khoa có bài viết “Cánh đồng bất tận – từ góc nhìn nữ quyền luận”, Vănvn.net,14/3/2012. Dưới góc nhìn này tác giả cho rằng tác phẩm là khúc bi ca về thân kiếp đàn bà và là khúc tụng ca nhân vật nữ chính tận thiện tận mỹ và khẳng định rằng: “Đau đớn thay phận đàn bà. Thân em vừa trắng lại vừa tròn, thân em như tấm lụa đào nhưngphận sao phận bạc như vôi… Những khúc than thân, khúc phản kháng kiểu này tưởng đã là chuyện của ngày xửa ngày xưa nhưng tận những năm đầu thế kỷ XXI vẫn cứ vang ngân khắc khoải hôi hổi tính thời sự. Từ góc nhìn nữ quyền luận, chúng ta thêm nhận diện đầy đủ tính hiện đại của Cánh đồng bất tận” [19]. Sau Cánh đồng bất tận, ngày 12/9/2008 sau khi được đăng tải nhiều kỳ trên báo Sài Gòn Tiếp Thị, Nhà xuất bản Trẻ chính thức phát hành tập truyện ngắn Gió lẻ và 9 câu chuyện khác. Tập truyện ngắn này cũng được dư 8 luận quan tâm với nhiều cảm nhận khác nhau. Nhưng phần lớn tác phẩm này được đặt trong tương quan so sánh với “cái bóng” của Cánh đồng bất tận. Qua đó cho thấy có hai Nguyễn Ngọc Tư khác nhau ở hai tập truyện “Có người không đồng tình cho rằng qua Gió lẻ Tư không còn là “đặc sản” của một vùng đất đã làm nên Nguyễn Ngọc Tư. Từ phong cách, ngôn ngữ, chi tiết… đã mất đi bóng dáng của Cánh đồng bất tận” (Võ Đắc Thanh, “Nguyễn Ngọc Tư: Tôi như kẻ đẽo cày giữa đường”, Người Đô Thị, số 35). Người quen với Nguyễn Ngọc Tư chân quê dung dị, cho rằng Gió lẻ khác chị xưa quá “như cô gái chân quê một bước đi ra thành thị, với câu chữ làm duyên, làm dáng”. Và gần đây nhất trong hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư ra mắt bạn đọc tác phẩm tiếp theo với tựa đề Khói trời lộng lẫy. Đây là tập truyện nhận được rất nhiều sự quan tâm của độc giả cũng như của các nhà phê bình. Tác giả Nguyễn Khôi Nguyên qua bài viết “Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật tập truyện Khói trời lộng lẫy” đã khẳng định rằng “ Tập truyện Khói trời lộng lẫycó ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Tác phẩm vừa khẳng định vị trí, vai trò của nhà văn trên văn đàn, vừa thể hiện quan niệm và cái nhìn tinh tế về những vấn đề mà không phải ai cũng nhận thấy, hoặc nhận thấy nhưng hời hợt. So với Cánh đồng bất tận hay Gió lẻ và chín câu chuyện khác, tập Khói trời lộng lẫy tuy mỏng về dung lượng nhưng dày về dụng công. Nói như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “sách mỏng mà hay như thế này ngày nay cực hiếm”. Và cũng cần nói thêm, mỗi câu chuyện trong tập truyện có thể bâng quơ, mỏng manh nhưng có khả năng gây cay mắt và choáng ngợp như khói”. Hay trong bài “Viết cái mình thích là công bằng với chính mình” đăng trên trang www.cand.com.vn, tác giả bài viết chia sẻ ý kiến của Trần Hữu Tá 9 về tập truyện Khói trời lộng lẫy: “Khói trời lộng lẫy”, bao gồm 10 truyện ngắn, “gói ghém” trong một trăm bảy mươi lăm trang sách là một dung lượng vừa phải cho người đọc trong thời điểm xã hội đang “sôi sùng sục” về nhiều vấn đề thời sự khác như giá vàng, giá đô la hay bô xit… Những vấn đề đó gắn với hiện thực cuộc sống và được Nguyễn Ngọc Tư chuyển tải đến người đọc một cách chân thực và sống động hơn bao giờ hết. Với những bài viết trên, phần đa các tác giả - dù ít dù nhiều đều đề cập đến vấn đề thân phận người con người ở một số bình diện như: Hình tượng người nghệ sĩ, nông dân, số phận người phụ nữ,…Riêng vấn đề thân phận người phụ nữcho đến nay, theo tư liệu chúng tôi có được thì những bài nghiên cứu trên đều dừng lại khảo sát ở một vài truyện ngắn, một vài luận điểm nhỏ lẽ chứ chưa nghiên cứu một cách thấu triệt và có tính hệ thống. Tuy nhiên, tất cả những bài viết ấy là những gợi mở quý giá giúp ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi cố gắng lĩnh hội các quan điểm, ý tưởng từ các bài viết của các tác giả đã đề cập, đồng thời mạnh dạn đưa ra những ý kiến, những cảm nhận riêng để có một cách nhìn hệ thống hơn về thân phận người phụ nữtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhằm góp thêm một cách nhìn mới về những giá trị trong truyện ngắn của tác giả. 3. Mục đích nghiên cứu Đề tài luận văn chúng tôi hướng tới các mục đích sau: Tìm hiểu, phân tích các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, qua đó làm rõ thân phận người phụ nữ được phản ánh trong tác phẩm. Tìm hiểu một số vấn đề thuộc nghệ thuật biểu hiện thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. 10 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu về thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư , từ đó chỉ ra những nét mới trong cách nhìn nhận, khám phá về thân phận người phụ nữ trong thời đại ngày nay. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề Thân phận người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. - Phạm vi nghiên cứu Chúng tôi tập trung khảo sát các tập truyện sau: Ngọn đèn không tắt (2000),Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005),Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008), Khói trời lộng lẫy (2010). Quá trình nghiên cứu người viết còn khảo sát thêm một số truyện ngắn của các tác giả khác để so sánh, đối chiếu. 6. Phương pháp nghiên cứu Trong bài viết này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tác phẩm. Phương pháp khảo sát, thống kê. Phương pháp so sánh. Phương pháp tổng phân hợp. Phương pháp liên ngành văn hóa–văn học. 7. Giả thiết khoa học. Hiện nay những nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trên các phương diện nội dung, nghệ thuật ngày càng được mở rộng.Thông qua bài viết này, ngoài mục đích hiểu rõ thêm về Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn của chị, chúng tôi hi vọng có thể đóng góp một phần nào nghiên cứu của mình vào việc nghiên cứu chung truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trên 11 phương diện thân phận người phụ nữ trong các tác phẩm. Hi vọng, bài viết nhỏ bé này sẽ được dùng như một tài liệu hữu ích cho các bạn sinh viên yêu thích tác giả Nguyễn Ngọc Tư và mong muốn tìm hiểu các truyện ngắn của chị. NỘI DUNG CHƯƠNG 1. THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Thân phận người phụ nữ qua sáng tác của nhà văn nữ đương đại. Có thể thấy, ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại và dân tộc nào, người ta cũng nhận thấy người phụ nữ luôn là tâm điểm của văn chương, là nguồn cảm hứng bất tận trong sáng tạo nghệ thuật. Qua hình tượng này người đọc các thế hệ sau thấy được các giá trị của con người qua các thời đại, thấy cả số phận của những “phận đàn bà”, của con người nhân loại. Trong văn họcViệt Nam, đặc biệt từ văn học dân gian, người phụ nữ thường là những nhân vật đại diện cho lý tưởng của nhân dân, cho lẽ phải, cho điều thiện trong xã hội. Thế nhưng, họ lại là người chịu nhiều thiệt thòi, có số phận kém may mắn, họ là những con người “thấp cổ bé họng”. Người phụ nữ đại diện cho lý tưởng và khát vọng về tự do và hạnh phúc công bằng xã hội bao giờ cũng là người có những phẩm chất thương người, biết làm tròn bổn phận, biết thực hiện lời hứa, tuân theo những chuẩn mực đạo đức truyền thống của nhân dân. Họ thường là những con người có lòng bao dung, nhân hậu. Chẳng hạn như cô Út lấy Sọ Dừa, Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử… những người phụ nữ như vậy thường được tác giả dân gian nâng niu, trân trọng. Họ có thể gặp rất nhiều bất trắc, nguy hiểm trong cuộc sống song cuối cùng họ cũng đều vượt qua và có một cuộc sống êm ấm, hạnh phúc. 12 Qua những câu ca dao dân ca, đặc biệt là cao dao than thân, thân phận người phụ nữ hiện lên đậm nét hơn với những hình ảnh đầy ẩn dụ: 13 “Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”. Hay: “Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”. … Có biết bao nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ về vật chất “Ngày ngày hai buổi trèo non”, “Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương”. Nhưng nỗi khổ lớn nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thân phận mỏng manh, bạc bẽo. Thân phận của họ chỉ được ví như “hạt mưa sa”, “giếng giữa đàng”…. cả cuộc đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ là một hằng số chung cho tất cả. Người phụ nữ trong ca dao hiện lên với những vẻ đẹp thuần khiết, trong trẻo tràn đầy sức sống nhưng lại chịu số phận éo le bởi trong xã hội phong kiến bấy giờ mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Đa phần họ phải sống phụ thuộc và không có quyền quyết định số phận của mình. Nhưng từ đau khổ, bất hạnh đó tâm hồn nhân hậu, thủy chung của người phụ nữ vẫn vươn lên tỏa sáng. Họ như những viên ngọc thô mà thời gian bất hạnh và khổ đau là chất xúc tác mài giũa ngày càng lấp lánh. Đến văn học trung đại, các nhà văn vẫn hướng ngòi bút về phía người phụ nữ với tiếng nói xót xa, thương cảm cho thân phận của họ bị chà đạp, vùi dập trong xã hội phong kiến. Ở Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều là số phận bạc bẽo của người cung nữ, tác phẩm là tiếng kêu than, là sự đau đớn, tấm tức và tâm trạng bế tắc của nàng cung nữ. Còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du lại là tiếng kêu thương đến đứt ruột, tiếng kêu xé lòng cho thân phận chìm nổi lênh đênh trong kiếp đoạn trường của nàng Kiều và cho “phận đàn bà” nói chung. 14 Hay thân phận cô đơn, lẻ bóng trong thơ Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, đặc biệt là thơ Hồ Xuân Hương. Thơ bà đầy phá cách và nhằm trực diện vào chế độ phong kiến, vào chế độ nam quyền nơi mà thân phận người phụ nữ chỉ như con ong, cái kiến, bị phân biệt và rẻ rúng. Thơ bà khẳng định vị thế mới của người phụ nữ trong xã hội. Có thể coi Hồ Xuân Hương là người phụ nữ đầu tiên trong văn học dám khẳng định những khát khao, ước mơ của người phụ nữ về tình yêu, hạnh phúc, đồng thời công khai lên án lễ giáo phong kiến hà khắc đối với người phụ nữ. Bà không ngần ngại tuyên bố: “Không chồng mà chửa mới ngoan. Có chồng mà chửa thế gian chuyện thường?”. Bà không đồng tình với kiếp lấy chồng chung, với kiếp làm lẽ: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”. Đồng thời, Hồ Xuân Hương cũng cất lên tiếng nói ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ: “Yếm đào trễ xuống dưới nương long. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm. Một lạch đào nguyên suối chửa thông” (Thiếu nữ ngủ ngày). Tác giả Trần Nho Thìn đã có nhận xét khá xác đáng rằng: “Trong bối cảnh xã hội nam quyền theo Tống nho nơi người phụ nữ vẫn được khuyến khích cam chịu thân phận, an phận thủ thường thì tiếng nói của một nhà thơ nữ như Hồ Xuân Hương đề cập đến quyền sống phụ nữ xét về đời sống bản năng có ý nghĩa bênh vực nữ quyền thực sự. Bởi vì so với nam giới, người phụ nữ chịu nhiều bất công, thiệt thòi nhất trong đời sống bản năng” [33]. Văn học giai đoạn 30 – 45 tiếp tục khai thác về đề tài người phụ nữ. Mở đầu giai đoạn này là sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn, họ đã xây dựng hình ảnh người phụ nữ mới, đòi quyền tự do cho yêu đương, vượt qua mọi lễ giáo phong kiến của xã hội bấy giờ. Văn học hiện thực phê phán giai đoạn này lại đi sâu tìm hiểu những bi kịch khác nhau trong cuộc đời người phụ nữ. Đó là cuộc đời cơ cực, đắng cay của Chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Tám Bính trong Bỉ Vỏ của 15 Nguyên Hồng… Trong bức tranh hiện thực đó người phụ nữ hiện lên như một biểu tượng trong văn học về nỗi khổ đau, bất hạnh chồng chất của kiếp người và cuộc đời họ bao giờ cũng kết thúc trong sự tuyệt vọng, bế tắc. Đến văn học giai đoạn 45 – 75, người phụ nữ tiếp tục được phản ánh và được làm nổi bật trong mối quan hệ với những vấn đề chung của thời đại. Tắm mình trong bầu không khí hào hùng của dân tộc, người phụ nữ góp phần không nhỏ làm nên những chiến thắng vẻ vang, đó là chị út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi,Chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức, Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừngcủa Nguyễn Minh Châu, …. người phụ nữ trong giai đoạn này là con người của cộng đồng, của xã hội gắn với cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, được soi dọi dưới cái nhìn lý tưởng mang tính sử thi. Sau 1975, văn học có xu hướng trở về cái đời thường muôn mặt, cảm hứng thế sự đời tư chiếm vị trí chủ đạo. Cái mà tác giả quan tâm tới là con người của cuộc sống đời thường với những lo toan rất nữ, người phụ nữ hiện lên với tư cách con người cá nhân, những mảnh đời riêng lẻ. Thân phận của họ được đi sâu khám phá ở nhiều góc độ, tầng bậc khác nhau cho thấy sự đa dạng trong nhân cách và bản thể của con người. Đó là người phụ nữ đặt trong mối quan hệ đa dạng đầy phức tạp, với những nỗi cô đơn, ngang trái, bất hạnh cả trong cuộc sống lẫn trong tình yêu. Đặc biệt, với sự lên ngôi của các cây bút nữ vừa đông đảo về số lượng vừa đa dạng về tiềm năng xuất hiện từ sau đổi mới đã đem đến cho văn học Việt Nam một luồng gió mới, như tác giả Bùi Việt Thắng nhận xét: “Văn học đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm” [31, 205]. Một loạt các cây bút nữ trẻ như: Y Ban, Phạm Thị Hoài, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Hoàng Diệu,… xuất hiện đã làm thay đổi diện mạo của văn học đương đại. Sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ không chỉ đem lại cho
- Xem thêm -