Tài liệu Tác động của thay đổi hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú đến trầm cảm và vai trò từ sự đồng cảm của người chồng

  • Số trang: 116 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Tham gia: 11/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH --------------- VÕ NGUYÊN KHÔI TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI HÌNH ẢNH CƠ THỂ Ở PHỤ NỮ UNG THƯ VÚ ĐẾN TRẦM CẢM VÀ VAI TRÒ TỪ SỰ ĐỒNG CẢM CỦA NGƯỜI CHỒNG Chuyên ngành: Kinh tế phát triển (QTSK) Mã ngành: 60310105 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là do bản thân tôi tự nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hoàng Bảo. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Nội dung của luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình trước đó. TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 11 năm 2016 Học viên Võ Nguyên Khôi MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ TÓM TẮT CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU...................................................................................... 1.1Lý do chọn đề tài ....................................... 1.2Mục tiêu nghiên cứu ................................. 1.2.1Câu hỏi ng 1.2.2Mục tiêu n 1.3Phương pháp nghiên cứu ......................... 1.4Phạm vi và đối tượng nghiên cứu............ 1.5Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ..................... 1.6Kết cấu của luận văn ................................ CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................ 2.1Lý thuyết liên quan ................................... 2.1.1Hình ảnh c 2.1.2Sự đồng cả 2.1.3 Trầm cảm 2.1.4 Cơ chế tác đến trầm cảm ................................................................................................... 2.2 Khảo lượt các tài liệu có liên quan ....................... 2.3 Khung nghiên cứu .................................................. 2.3.1 Khung ngh 2.3.2 Giả thuyết 2.3.3 Kỳ vọng dấ CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 3.1 Thiết kế nghiên cứu ................................................ 3.1.1 Quy trình n 3.1.2 Xây dựng b 3.1.3 Phương ph 3.1.4 Tiêu chuẩn 3.1.5 Cỡ mẫu .... 3.1.6 Công cụ ph 3.2 Mô hình và các biến số ............................................ 3.3 Đo lường các biến số ............................................... 3.3.1 Thang đo t 3.3.2 Thang đo h 3.3.3 Thang đo s 3.3.4 Thang đo c 3.4 Tóm tắt chương 3 .......................................................................................... CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 4.1Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu ..................................... 4.1.1Đặc điểm dân số mẫu ... 4.1.2Đặc điểm điều trị của đố 4.2Kiểm định thang đo .......................................................... 4.3Phân tích tương quan ....................................................... 4.4Phân tích hồi quy .............................................................. 4.4. 1 H của từng biến quan tâm .................................................................................. 4.4. 2 M 4.4. 3 Đ 4.4. 4 K 4.5 Tóm tắt chương bốn ................................. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ...................................................................................... 5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu ................. 5.2 Hàm ý chính sách ..................................... 5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiê DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CDR Concern about Disease Recurrence (Lo lắng tái phát bệnh) SE Self-Esteem Scale (Cảm nhận giá trị bản thân) BIS Body Image Scale (Hình ảnh cơ thể) ODPT Other Dyadic Perspective-Taking (Sự đồng cảm của người chồng) CES-D The Centre for Epidemological Studies- Depression (Thang đo Trầm cảm) UTV Ung thư vú WHO World Health Organization (tổ chức y tế thế giới) SPSS Statistical Package for the Social Sciences DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Bảng mã hóa các biến số........................................................................... 34 Bảng 3.2 Nội dung câu hỏi trong thang đo Triệu chứng trầm cảm...........................36 Bảng 3.3 Nội dung câu hỏi trong thang đo Hình ảnh cơ thể..................................... 38 Bảng 3.4 Nội dung câu hỏi trong thang đo Sự đồng cảm của người chồng..............39 Bảng 3.5 Nội dung câu hỏi trong thang đo Tự cảm nhận giá trị bản thân................40 Bảng 4.1 Bảng đặc điểm dân số mẫu....................................................................... 42 Bảng 4.2 Đặc điểm điều trị của đối tượng khảo sát.................................................. 44 Bảng 4.3 Thống kê mô tả các thang đo.................................................................... 46 Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả kiểm định Cronbach Alpha.......................................... 48 Bảng 4.5 Ma trận tương quan,................................................................................. 50 Bảng 4.6 Kết quả Hồi quy thứ bậc........................................................................... 53 2 Bảng 4.7 .Kết quả kiểm định R ............................................................................... 55 Bảng 4.8 Kết quả phân tích Anova........................................................................... 55 Bảng 4.9 Phân tích đa cộng tuyến............................................................................ 56 Bảng 4.10 Thông số thống kê của từng biến trong mô hình..................................... 60 Bảng 4.11 Tổng kết kết quả kiểm định..................................................................... 62 DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2. 1 Phẫu thuật cắt Hình 2. 2 Hình ảnh sau k Hình 2.3 Khung phân tíc Hình 3.1 Quy trình nghi Hình 4.1 Biểu đồ phân b Hình 4.2 Đồ thị phân tán Hình 4.3 Biểu đồ phân p Hình 4.4 Biểu đồ xác su Hình 4.5 Kết quả mô hìn TÓM TẮT Với xu hướng nghiên cứu tập trung vào chất lượng sống của bệnh nhân trong lĩnh vực y tế ngày nay. Đề tài với mục đích đo lường mức độ ảnh hưởng giữa hình ảnh cơ thể ở phụ nữ Ung thư vú (UTV) và trầm cảm có tính đến các nhân tố về sự đồng cảm của người chồng, cảm nhận giá trị bản thân, mức độ lo lắng tái phát bệnh và các yếu tố đặc điểm cá nhân. Đồng thời xem xét tác động của biến điều tiết (sự đồng cảm của người chồng). Từ đó, có thể đưa ra các khuyến nghị cho các đối tượng liên quan. Phương pháp nghiên cứu cắt ngang, 182 mẫu được thu thập tại khoa tái khám của bệnh viện Ung bướu tp. Hồ Chí Minh, theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Tiêu chuẩn lựa chọn cơ bản là các đối tượng phụ nữ lập gia đình bị UTV đã phẫu thuật và hoàn tất điều trị cơ bản ít nhất 6 tháng. Sử dụng phân tích định lượng thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi. Cấu trúc bảng câu hỏi gồm các thang đo, đo lường các khái niệm về Hình ảnh cơ thế, Sự đồng cảm của người chồng, Cảm nhận giá trị bản thân, Mức độ lo lắng tái phát bệnh, Triệu chứng Trầm cảm. Thực hiện Hồi quy thứ bậc (Hierarchical Multiple Regression) nhằm kiểm soát các biến nhiễu, đo lường tác động của các biến quan tâm và lựa chọn được mô hình phù hợp. Kết quả nghiên cứu, các yếu tố tác động đến trầm cảm có ý nghĩa thống kê (p<0.05) gồm: Hình ảnh cơ thể (+), Sự đồng cảm của người chồng (-) giữ vai trò điều tiết và tác động, Cảm nhận giá trị bản thân (-), Mức độ lo lắng tái phát bệnh (+), mức thu nhập hộ gia đình (-). Bài nghiên cứu là cơ sở cho các đối tượng: các nhà quản trị hệ thống y tế (Bảo hiểm y tế), cộng đồng xã hội, truyền thông, bác sĩ điều trị và người chồng hiểu hơn về những vấn đề bệnh nhân UTV sống sót sau điều trị gặp phải và có biện pháp hỗ trợ thích hợp. 1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài Trầm cảm được xem là một một loại rối loạn khí sắc trầm mà bất cứ ai, ở bất cứ độ tuổi nào cũng có thể gặp phải. Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, chúng ta đã chuyển dần sự quan tâm "Con người chết như thế nào" sang mối quan tâm "Con người đang sống như thế nào", trước kia chúng ta chỉ quan tâm đến bệnh tật liên quan đến thể chất (Physical health) thì ngày ngày khoa học đã chứng minh những rối loạn về tâm thần sẽ biểu hiện thành bệnh lý (Metal health), chính vì thế tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã đánh giá lại định nghĩa sức khỏe: “Sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm trạng thái không bệnh, không tật". Từ năm 2008, WHO chọn ngày 10/10 là ngày sức khỏe tinh thần thế giới, với mục đích đưa vấn đề này lên hàng ưu tiên toàn cầu, nhắc nhở mọi người phải quan tâm đến sức khỏe tinh thần. Theo số liệu thống kê từ tổ chức y tế thế giới (WHO, 2012), Trầm cảm là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 350 triệu người mắc phải. Bệnh không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống cũng như là hiệu suất lao động ở nơi làm việc, trường học và trong gia đình mà còn có thể dẫn đến tự tử (Ước tính có hơn 800 000 người chết do tự tử mỗi năm). Tự tử là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây tử vong trong độ tuổi từ 15-29 tuổi. Trong mười loại bệnh gây thiệt hại nhiều nhất, trầm cảm đứng vị trí thứ tư, dự kiến trong năm 2030 trầm cảm sẽ chiếm vị trí thứ hai sau HIV/AIDS. Gánh nặng của trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác đang gia tăng trên toàn cầu. Một nghị quyết của hội đồng Y tế Thế giới thông qua năm 2013 đã kêu gọi một cách toàn diện để phối hợp và ứng phó với rối loạn tâm thần ở cấp quốc gia. 2 Hình ảnh cơ thể là hình ảnh chủ quan về hình thể của cá nhân được hình thành từ sự tự quan sát và bằng cách ghi nhận các phản hồi của những người xung quanh. Nhìn chung, phụ nữ thường có các mối quan tâm về ngoại hình, cân nặng và vóc dáng của mình (Helms, O’Hea, và Corso, 2008). Hình dáng cơ thể, màu sắc và chiều dài tóc, kích cỡ và hình dáng vú, và các đặc điểm trên khuôn mặt và một vài trong số các đặc tính hình thể đóng góp vào nhận thức của người phụ nữ về sức hấp dẫn và nữ tính. Những điều đề cập ở trên có thể tác động một cách tích cực hoặc tiêu cực đến trạng thái tinh thần và chất lượng cuộc sống. Nhiều phụ nữ tin rằng, nếu có được hình ảnh cơ thể lý tưởng họ sẽ có cuộc sống tốt hơn, nó gắn liền với sự tự tin, sự thành công trong công việc, các mối quan hệ lãng mạn và hôn nhân. Đối với những phụ nữ Bắc Mỹ, vú không chỉ được xem là một phần cơ thể. Nó gắn liền với bản sắc nữ giới, tình dục, nữ tính, sức hấp dẫn, nuôi dưỡng và làm mẹ (Levin, 2006; Pikler và Winterowd, 2003). Và vú thường được xem là “biểu tượng cao cấp” của tình dục nữ (Levin, 2006). Do đó, sự mất đi của bộ phận vú có ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh cơ thể và niềm tin bản thân người phụ nữ (Dahl và cộng sự, 2010). Ung thư vú và phương pháp điều trị liên quan ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của phụ nữ về nữ tính, hình ảnh cơ thể, tình dục và chất lượng cuộc sống nói chung (Hartl và cộng sự, 2003). Chẳng hạn như, điều trị UTV có thể dẫn đến giảm kích thước vú, sẹo, và có thể loại bỏ hoàn toàn 1 hoặc cả 2 vú. Ung thư vú được định nghĩa là sự gia tăng không kiểm soát của tế bào vú bất thường, những tế bào này có thể xâm nhập và lan sang các bộ phận khác qua mạch máu và hạch bạch huyết. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO, 2014; National Cancer Intitute, 2016), ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới. Trong năm 2012, đã có 1,67 triệu trường hợp được chuẩn đoán mắc mới trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, UTV cũng đứng đầu trong các ung thư ở nữ về tỷ lệ mắc, tỷ lệ mắc UTV ước tính khoảng 23/100.000 người. Theo số liệu của International Agency for Research 3 on Cancer (2012), Việt Nam có 11.067 phụ nữ mắc mới và 4.671 tử vong. May mắn thay, những tiến bộ trong chuẩn đoán sớm và điều trị đã làm giảm tỉ lệ từ vong do ung thư vú, mang lại tỷ lệ sống tối ưu (The American Cancer Society- hiệp hội ung thư Mỹ). Phương pháp điều trị bổ trợ, chẳng hạn như hóa trị và liệu pháp nội tiết, đã giúp cải thiện tỷ lệ sống của phụ nữ bị UTV (Henson, 2002; Kunkel, Chen, và Okunlola, 2002). Tuy nhiên, liệu pháp hóa trị có thể góp phần cho việc khởi phát sớm thời kỳ mãn kinh, rụng tóc, mệt mỏi và biến đổi nội tiết tố. Phẫu thuật có thể gây ra những vết sẹo và làm mất tính toàn vẹn về hình thể, có thể dẫn đến giảm nhận thức về sức hấp dẫn hình thể, nữ tính và diện mạo cơ thể nói chung (Fobair và cộng sự, 2006; Moriera & Canavarro, 2010). Có thể thấy, đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ sống sót, người phụ nữ phải chịu mặc cảm về hình thể để lại sau điều trị đến suốt quãng đời còn lại. Hiện nay, xu hướng các nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào vấn đề liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện vẫn còn rất ít nghiên cứu tập trung vào vấn đề này. Đặc biệt, hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh: “Tác động của thay đổi hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú đến trầm cảm và vai trò từ sự đồng cảm của người chồng”. Đó chính là lý do học viên thực hiện đề tài này, từ kết quả thu được có thể đề xuất những khuyến nghị nhất định nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho những đối tượng này đồng thời xem xét đến yếu tố kinh tế trong việc đánh đổi giữa chi phí xã hội bỏ ra (bảo hiểm y tế) để giảm gánh nặng bệnh tật gây ra cho cộng đồng. 4 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu Hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú, cảm nhận giá trị bản thân, sự đồng cảm của người chồng, mức độ lo lắng tái phát bệnh và các yếu tố đặc điểm cá nhân có tác động đến trầm cảm không? 1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu có 2 mục đích chính: Khám phá và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm ở bệnh nhân ung thư vú Từ kết quả phân tích, đề tài đưa ra những khuyến nghị cho các đối tượng sau: hệ thống chăm sóc sức khỏe (Bảo hiểm y tế Việt Nam), xã hội, truyền thông, bác sĩ điều trị và đặc biệt là người chồng của những bệnh nhân UTV. 1.3 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính nhằm xây dựng và hoàn thiện bảng câu hỏi phỏng vấn. Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, kiểm định mô hình bằng phương pháp Cronbach Alpha, phân tích tương quan, phân tích hồi quy. 1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Phụ nữ lập gia đình bị ung thư vú đã phẫu thuật và đã chấm dứt điều trị cơ bản (như hóa trị, xạ trị kèm theo) ít nhất 6 tháng, hiện đang 5 được theo dõi và tái khám tại bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện với kích thước N=182. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú trong mối quan hệ tác động đến trầm cảm và vai trò của sự đồng cảm từ người chồng trong mối quan hệ này. 1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào sự hiểu biết chung về tác động của thay đổi hình ảnh cơ thể ở phụ nữ UTV đến trầm cảm và vai trò từ sự đồng cảm của người chồng Ý nghĩa thực tiễn: Nếu đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời được câu hỏi nghiên cứu, thì kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý hệ thống chăm sóc sức khỏe đưa ra các chính sách y tế tốt hơn trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần cho bệnh nhân sống sót sau khi bị UTV nhằm nâng cao chất lượng sống và giảm gánh nặng bệnh tật (yếu tố kinh tế trong việc đánh đổi chi phí bỏ ra để làm giảm gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng). Kết quả này cũng góp phần giúp cho cộng đồng hiểu hơn về những khó khăn về tâm lý bệnh nhân phải trải qua và chịu đựng, cần có cái nhìn đúng đắn và tích cực đến từ phương diện truyền thông, bác sĩ điều trị cần chú ý hơn vấn đề này để tư vấn cho bệnh nhân cùng lúc với quá trình điều trị bệnh chính. Đặc biệt là giúp cho người chồng hiểu hơn và cần trang bị kĩ năng đồng cảm, thấu hiểu để giúp người vợ mình vượt qua được mặc cảm bệnh tật đã gây ra. 1.6 Kết cấu của luận văn Bài nghiên cứu được cấu trúc thành 5 phần: Phần 1 giới thiệu tổng quan về các vần đề trong bài nghiên cứu gồm: lí do chọn đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, 6 phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. Phần 2 trình bày cơ sở lý thuyết gồm tổng quan các tài liệu có liên quan đến hình ảnh cơ thể, ung thư vú, ảnh hưởng của điều trị và hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú, sự đồng cảm của người chồng, khái niệm và nguyên nhân của trầm cảm, tác động của hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú đến trầm cảm; đồng thời tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan tác động đến trầm cảm. Phần 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, gồm có thiết kế nghiên cứu, mô hình và các biến số, cách thức đo lường các biến số và công cụ phân tích định lượng. Chương 4 trình bày phương pháp phân tích và kết quả nghiên cứu, gồm có trình bày về kết quả thống kê mô tả, kiểm định hiệu lực của thang đo, trình bày kết quả phân tích tương quan và cuối cùng trình bày kết quả hồi quy. Chương 5 tóm tắt kết quả của nghiên cứu để đưa ra kết luận, đóng góp, hàm ý của nghiên cứu cũng như hạn chế của nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết liên quan 2.1.1 Hình ảnh cơ thể ở bệnh nhân ung thư vú 2.1.1.1 Hình ảnh cơ thể Hình ảnh cơ thể là hình ảnh chủ quan về hình thể của cả nhân được hình thành từ sự tự quan sát và bằng cách ghi nhận các phản hồi của những người xung quanh. Theo quan điểm của tâm lý và tâm thần học, hình ảnh cơ thể là sự cảm nhận của mỗi nguời về tính thẩm mỹ hay sự hấp dẫn tình dục ở cơ thể mình. Khái niệm hình ảnh cơ thể được sử dụng trong một số lĩnh vực như tâm lý học, phân tâm học, tâm thần học, y học, triết học, nghiên cứu văn hóa và bình quyền phụ nữ. Thuật ngữ này cũng thường được sử dụng trên các phương tiện truyền thông và cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất trên các lĩnh vực. Sự nhìn nhận về hình ảnh cơ thể của mỗi người thường là cảm giác bị chi phối bởi nhiều yếu tố liên quan tương tác từ những người xung quanh, những chuẩn mực văn hóa hay sự định hình từ phương tiện truyền thông. So với nam giới, phụ nữ thường có các mối quan tâm về ngoại hình, cân nặng và vóc dáng của mình (Helms, O’Hea, và Corso, 2008). Hình dáng cơ thể, màu sắc và chiều dài tóc, kích cỡ và hình dáng vú, và các đặc điểm trên khuôn mặt và một vài trong số các đặc tính hình thể đóng góp vào nhận thức của người phụ nữ về sức hấp dẫn và nữ tính. Những điều đề cập ở trên có thể tác động một cách tích cực hoặc tiêu cực đến trạng thái tinh thần và chất lượng cuộc sống. Đối với những phụ nữ Bắc Mỹ, Vú không chỉ được xem là một phần cơ thể. Nó gắn liền với bản sắc nữ giới, tình dục, nữ tính, sức hấp dẫn, nuôi dưỡng và làm mẹ (Levin, 2006; Pikler và Winterowd, 2003). Và vú thường được xem là “biểu tượng cao cấp” của tình dục nữ (Levin, 2006). 8 Hình ảnh cơ thể phụ nữ, qua các thời đại khác nhau cũng có những thay đổi về tiêu chuẩn. Theo Elle MacPherson and Claudia Schiffer, ý niệm về hình thể phụ nữ lý tưởng là người phụ nữ có vóc dáng thon gọn nhưng bộ ngực căng đầy. Theo Bordo (2003) một hình thể đẹp cũng cần sự săn chắc. Xét về khía cạnh vóc dáng lý tưởng, được các nhà tâm lý nghiên cứu và nhận định rằng: trãi qua các thập kỉ, xu hướng vóc dáng ngày càng yêu cầu thon gọn hơn. Ở những thập niên 1950 hình ảnh “thân hình đầy đặn” với một ít mỡ ở phần hông và eo để có được sự tỷ lệ thuận với bộ ngực to tròn của mình (như Marilyn Monroe), cơ thể lý tường càng mỏng hơn qua các năm 1970,1980 và đến nay.Ngày nay, truyền thông xây dựng nên một hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ có mái tóc dài, lông mi dài, đôi môi căng mọng, bộ ngực lớn, một vòng eo nhỏ, bộ mông tròn đầy và đôi chân dài. Dần dần, những phụ nữ trẻ càng thể hiện phong cách ăn mặc càng gợi cảm, họ chú ý trong cách ăn mặc nhằm tôn lên, phơi bày hoặc muốn thu hút sự chú ý vào các bộ phận tính dục. Chẳng hạn như, phụ nữ có thể mặc một chiếc áo được cắt ngắn để lộ phần eo và mang giày cao gót để tôn đôi chân dài. Nắm bắt được tâm lý này đã có hàng loạt các sản phẩm ra đều nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng hình ảnh cơ thể lý tưởng, một ngành công nghiệp làm đẹp, bao gồm việc sử dụng mỹ phẩm trang điểm và các sản phẩm về tóc, thời trang quần áo tập trung làm tôn lên hình dáng cơ thể phụ nữ (như nhãn hiệu đồ lót Victoria’s Secret, áo độn vú, độn mông,…) và các hoạt động nổ lực nhằm vào việc hình thành và duy trì thân hình thon gọn. Mặc dù những chuẩn mực về hình thể có thay đổi theo thời gian thì phụ nữ luôn được khuyến khích để thay đổi hình dáng cơ thể và trọng lượng của mình để phù hợp với xu hướng hiện đại. Vì thế, phụ nữ đã trãi qua nổi đau và việc tập luyện để phù hợp với ý niệm về vẻ đẹp hình thể chẳng hạn như tục bó chân, áo nịt bụng và vú kèm theo đó là sự chịu đựng cảm giác khó chịu và bất động khi sử dụng. Trong thời đại ngày nay, có các hình thức làm đẹp thay thế bằng cách thực hiện chế độ ăn 9 kiên nghiêm ngặt (có thể làm cơ thể suy kiệt và mệt mỏi – hành vi tự hủy hoại) hay phẫu thuật thẩm mỹ (khi đó phụ nữ phải trải qua các tiểu phẩu hoặc phẫu thuật với cảm giác đau đớn và có thể nguy hiểm đến tính mạng) để cố gằng đạt được chuẩn mực hình thể đẹp theo quan niệm hiện thời, tính hấp dẫn, hình dáng cơ thể thon thả. Theo nghiên cứu của Charles and Kerr (1986), hầu hết phụ nữ khó kiểm soát việc chấp nhận hình thể hiện tại của mình. Những bộ phận cơ thể mà những phụ nữ này cảm thầy không hài lòng nhất tập trung vào bộ ngực (vú quá nhỏ hay quá lớn, cặp đùi (quá mập hay quá ốm), mông (quá nhão hay quá nhỏ) và bụng (không đủ phẳng). Ngày nay, các chuyên gia dự đoán rằng phụ nữ sẽ giành nhiều thời gian, sức lực và tiền bạc trong việc theo đuổi sự hoàn hảo của cơ thể. Nhiều người trong số đó tin rằng, nếu họ có được hình ảnh cơ thể lý tưởng họ sẽ có cuộc sống tốt hơn, nó gắn liền với sự tự tin, sự thành công trong công việc, các mối quan hệ lãng mạn và hôn nhân. 2.1.1.2 Ung thư vú Ung thư vú được định nghĩa là sự gia tăng không kiểm soát của tế bào vú bất thường, những tế bào này có thể xâm nhập và lan sang các bộ phận khác qua mạch máu và hạch bạch huyết. Nó có thể xảy ra ở cả hai giới nhưng không phổ biến ở nam giới. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO, 2014), ung thư vú là loại ung thư đứng hàng đầu trên thế giới (xét chung cả hai giới) và là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới. Trong năm 2012, đã có 1,67 triệu trường hợp được chuẩn đoán mắc mới trên toàn thế giới. Tương tự tại Mỹ, theo viện ung thư quốc gia (National Cancer Intitute, 2016), ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới, ước tính trường hợp mắc mới là 246.660 trường hợp và tử vong là 40.450 trường hợp. Tại Việt Nam, UTV cũng đứng đầu trong các ung thư ở nữ về tỷ lệ mắc, tỷ lệ mắc UTV năm 2012 ước 10 tính khoảng 23/100.000 người. Theo số liệu của International Agency for Research on Cancer (2012), Việt Nam có 11.067 phụ nữ mắc mới và 4.671 tử vong. Điều trị ung thư vú Phác đồ điều trị UTV hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị tại chổ như phẫu thuật, xạ trị và biện pháp điều trị toàn thân như liệu pháp hóa trị, nội tiết. Việc điều trị như thế nào phụ thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh. Với mục tiêu, phát hiện sớm và điều trị hết bệnh, ngăn chặn bệnh diễn tiến nặng hơn, làm tăng thời gian sống không bệnh (Nguyễn Bá Đức và cộng sự, 2012). Phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị UTV chính yếu nhất, đặc biệt là phù hợp cho các trường hợp ung thư giai đoạn sớm và trường hợp chưa có di căn. Có 3 loại phẫu thuật cơ bản gồm Phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách. Hiện nay, đây là biện pháp phẫu thuật chuẩn đối với UTV ở giai đoạn bệnh còn khu trú. Lấy bỏ hạch nách vừa để điều trị vừa để chẩn đoán giai đoạn bệnh. Ưu điểm là biện pháp đáng tin cậy và hiệu quả nhất để xử lý khối U tại chỗ và giải quyết triệt để nguy cơ phát triển các khối U nguyên phát mới. Nhược điểm là khuyết hổng ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ. Phẫu thật bảo tồn tuyến vú. Chỉ định cho UTV giai đoạn sớm, bao gồm cắt một phần tuyến vú và xạ trị. Ưu điểm là ít di chứng, thẩm mỹ cao, cải thiện chất lượng cuộc sống và tâm lý bệnh nhân sau điều trị. Nhược điểm là tổ chức tuyến vú còn lại có thể bị Ung thư tái phát hoặc phát triển UTV nguyên phát mới. Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ tuyến vú ngay sau cắt bỏ. Ưu điểm của kỹ thuật này đem lại cho bệnh nhân ung thư vú chất lượng sống tốt hơn cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, bệnh nhân phải tốn thêm một khoảng chi phí lớn để 11 chi trả cho vấn đề thẩm mỹ và chưa được bảo hiểm y tế chi trả cho loại hình này ở Việt Nam. 2.1.1.3 Ảnh hưởng của việc điều trị đến hình ảnh cơ thể bệnh nhân Cùng với sự phát triển không ngừng của y học hiện đại những năm gần đây, việc áp dụng nhiều phương pháp điều trị hiện đại cho bệnh nhân UTV đã chứng tỏ được hiệu quả trong điều trị, không những đã giúp gia tăng thời gian sống còn của bệnh nhân mà còn cải thiện được chất lượng cuộc sống của các đối tượng này. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về tỉ lệ sống còn thì ở những phụ nữ này phải chịu sự thay đổi về hình dáng cơ thể do phẫu thuật cắt bỏ vú, tác dụng phụ của xạ trị và tác dụng ngoại ý của thuốc hóa trị, làm ảnh hưởng rất nhiều đến diện mạo bề ngoài và sự nữ tính của phụ nữ. Cụ thể như: Mặc dù phẫu thuật là phương pháp điều trị UTV cơ bản nhất nhưng cũng để lại hậu quả nặng nề trên hình thể phụ nữ. Chẳng hạn như phẫu thuật bảo tồn vú tuy không phải đoạn nhũ nhưng làm mất cân đối về kích cỡ của hai vú, đoạn nhũ một bên hoặc hai bên đều để lại những sẹo dài trên cơ thể phụ nữ, trong đó đoạn nhũ một bên thường ảnh hưởng về tính thẩm mỹ và tâm lý hơn nên các bệnh nhân lựa chọn giải pháp tái tạo vú sau phẫu thuật nhiều hơn so với các phụ nữ phẫu thuật bảo tồn vú (theo hiệp hội UTV Canada). Trong các nghiên cứu về động cơ để phẫu thuật lựa chọn tái tạo lại vú, các tác giả đã tổng hợp được các lý do được đa số phụ nữ lựa chọn như sau: để cảm giác còn nữ tính lần nữa, không muốn bị mất tuyến vú, để cảm giác tự tin hơn, để duy trì tính hấp dẫn trong quan hệ tình dục với chồng- bạn tình, không muốn mang vật liệu giả tuyến vú (túi độn vú), để có thể mặc áo ngực thuận tiện hơn, để loại bỏ cảm giác bị ung thư. Theo nghiên cứu của các giả Moriera và Canavarro, (2010); Helms và cộng sự, 2008; phẫu thuật có thể gây ra những vết sẹo và làm mất tính toàn vẹn về hình thể, có thể dẫn đến giảm nhận thức về sức hấp dẫn hình thể, nữ tính và diện mạo cơ thể nói chung.
- Xem thêm -