Tài liệu Tác động của sự khác biệt khuôn khổ kế toán tới kết quả đánh giá các ngân hàng thương mại theo hệ thống camels tại việt nam

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Tham gia: 11/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT CHU THỊ HOÀNG OANH TÁC ĐỘNG CỦA SỰ KHÁC BIỆT KHUÔN KHỔ KẾ TOÁN TỚI KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO HỆ THỐNG CAMELS TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT CHU THỊ HOÀNG OANH TÁC ĐỘNG CỦA SỰ KHÁC BIỆT KHUÔN KHỔ KẾ TOÁN TỚI KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO HỆ THỐNG CAMELS TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 60340402 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. TRẦN THỊ QUẾ GIANG Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016 -i- LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi thực hiện. Mọi trích dẫn và số liệu trong luận văn đều được dẫn nguồn với mức độ chính xác cao nhất có thể. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 07 năm 2016 Tác giả Chu Thị Hoàng Oanh -ii- LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Trần Thị Quế Giang, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Cô đã nhiệt tình đóng góp ý kiến chỉnh sửa, bổ sung để nội dung luận văn được phù hợp với yêu cầu của bài nghiên cứu chính sách công. Trong suốt hai năm học tập tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, tôi đã nhận được rất nhiều kiến thức bổ ích cũng như được cảm nhận phương pháp giảng dạy mang tính dân chủ, khuyến khích người học thể hiện quan điểm cá nhân một cách thoải mái. Vì vậy, qua đây tôi cũng mong muốn được bày tỏ lời cảm ơn tới các Thầy Cô giáo đã và đang tận tâm truyền đạt kiến thức cũng như kinh nghiệm cho các thế hệ học viên FETP. Cảm ơn các Anh Chị ở bộ phận Đào tạo, Thư viện và Phòng máy đã nhiệt tình hỗ trợ học viên trong suốt quá trình học tập tại Chương trình. Cảm ơn tập thể lớp MPP7, các Anh Chị Bạn Em đã sát cánh cùng tôi trong suốt hai năm vừa qua và chia sẻ, động viên nhau cùng nỗ lực vượt qua các trở ngại trong học tập cũng như trong cuộc sống. Cảm ơn các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ và tạo điều kiện cho tôi phát huy tối đa nguồn lực để hoàn thành luận văn này. Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 07 năm 2016 Tác giả Chu Thị Hoàng Oanh -iii- MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN................................................................................................................... i LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................ii MỤC LỤC............................................................................................................................iii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT....................................................................................... v DANH MỤC BẢNG...........................................................................................................vii DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ........................................................................................vii TÓM TẮT ĐỀ TÀI.............................................................................................................viii CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI......................................................................................1 1.1. Bối cảnh chính sách.....................................................................................................1 1.2. Mục tiêu và câu hỏi chính sách................................................................................... 3 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................... 3 1.4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................4 1.5. Bố cục luận văn........................................................................................................... 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ SỐ CAMELS VÀ KHUÔN KHỔ KẾ TOÁN VIỆT NAM SO VỚI CHUẨN MỰC QUỐC TẾ................................................5 2.1. Hệ thống chỉ số CAMELS...........................................................................................5 2.1.1. Giới thiệu về hệ thống chỉ số CAMELS............................................................... 5 2.1.2. Mục tiêu xây dựng hệ thống chỉ số CAMELS......................................................6 2.1.3. Các bộ phận cấu thành hệ thống chỉ số CAMELS................................................8 2.1.4. Áp dụng hệ thống chỉ số CAMELS ở Việt Nam.................................................11 2.2. Sự khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) so với hệ thống chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế (IFRS)................................................................ 16 2.2.1. Khái niệm và vai trò của hệ thống chuẩn mực kế toán....................................... 16 2.2.2. Kết quả đánh giá về IFRS của các nghiên cứu đi trước......................................17 -iv- 2.2.3. Tổng quan về sự khác biệt giữa VAS và IFRS................................................... 19 2.2.4. Một số khác biệt giữa VAS và IFRS ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính của NHTM trong hệ thống chỉ số CAMELS.......................................................................21 CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NHTM THEO HỆ THỐNG CAMELS DỰA TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƯỢC LẬP THEO VAS VÀ IFRS............................................................... 29 3.1. Ngân hàng A và tác động của sự can thiệp bằng văn bản đối với kết quả phân loại nợ theo VAS của NHNN....................................................................................................... 29 3.2. Ngân hàng B và tác động từ chính sách ưu tiên đối với các NHTM có vốn nhà nước của NHNN........................................................................................................................ 33 3.3. Ngân hàng C và việc duy trì tỷ lệ nợ xấu mục tiêu 3% theo yêu cầu của NHNN.....37 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ................................................................43 4.1. Kết luận......................................................................................................................43 4.2. Khuyến nghị.............................................................................................................. 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................... 47 PHỤ LỤC: PHÂN HẠNG KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CỦA TỪNG BỘ PHẬN CẤU THÀNH CAMELS THEO NCUA (2007) VÀ FIDC (2014).............................................................51 -v- DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt ABBank ACB ALM BaoVietBank BCTC BIDV CAR DaiABank DN Eximbank IAS IASB IASC ICSS IFRS IMF Habubank HDBank HĐQT KienLongBank LienVietPostBank MB MDBank MHB -vi- Từ viết tắt MSB NamABank NHNN NHTM NHTMNN OCB PGBank PVFC PVComBank Sacombank SeABank SCB SHB TCTD Techcombank TMCP VAMC VAS Vietcombank VCSH VIB Vietinbank VPBank WB -vii- DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Xếp hạng tổng quát của các TCTD theo hệ thống CAMELS Bảng 2.2: Xếp loại các ngân hàng TMCP theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN Bảng 2.3: Thang điểm các chỉ tiêu xếp loại theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN Bảng 2.4: Thực trạng áp dụng IFRS trên thế giới tính đến 30/06/2012 Bảng 2.5: Tình hình áp dụng IAS/IFRS trong khu vực Đông Nam Á Bảng 3.1: Chi tiết kết quả xếp loại Ngân hàng A năm 201X-1 Bảng 3.2: Chi tiết kết quả xếp loại Ngân hàng B năm 2014 Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng C giai đoạn 2011-2013 Bảng 3.4: Chi tiết kết quả xếp loại Ngân hàng C năm 2014 DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ Hình 3.1: Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng A năm 201X-1 Hình 3.2: Tỷ lệ dự phòng trên dư nợ theo từng nhóm của Ngân hàng A năm 201X-1 Hình 3.3: Tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm 31/12/2014 của Ngân hàng B Hình 3.4: Một số chỉ tiêu tài chính tại thời điểm 31/12/2014 của Ngân hàng B Hình 3.5: Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng C giai đoạn 2011-2014 Hình 3.6: Dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng C giai đoạn 2011-2014 Sơ đồ 1: Quy trình trích lập dự phòng tín dụng của NHTM theo IAS/IFRS Sơ đồ 2: Tác động của sự khác biệt trong ghi nhận dữ liệu theo các hệ thống chuẩn mực tới kết quả đánh giá theo CAMELS -viii- TÓM TẮT ĐỀ TÀI Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tác động của sự khác biệt khuôn khổ kế toán áp dụng trong việc ghi nhận, lập các báo cáo tài chính (BCTC) tới tính chính xác trong kết quả đánh giá mức độ an toàn, vững mạnh tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) theo hệ thống CAMELS ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất những chính sách phù hợp để gia tăng mức độ hiệu quả hoạt động giám sát và đánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động, thực trạng của hệ thống các NHTM Việt Nam. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để phân tích kết quả đánh giá theo CAMELS dựa trên các bộ BCTC được lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của ba NHTM đại diện cho ba vấn đề chính còn tồn đọng trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay. Kết quả phân tích cho thấy, chênh lệch giữa kết quả đánh giá theo CAMELS của các NHTM khi sử dụng số liệu trên báo cáo tài chính được lập theo VAS và IFRS xuất phát từ những nguyên nhân chủ đạo gồm: (i) khác biệt trong khuôn khổ kế toán mà các NHTM đang áp dụng để lập, trình bày báo cáo tài chính, đặc biệt là vấn đề xác định giá trị hợp lý của danh mục tín dụng và danh mục đầu tư tài sản tài chính; (ii) sự can thiệp bằng văn bản chỉ đạo của các cơ quan hữu quan về một số ưu đãi trong phân loại nợ và trích lập dự phòng các khoản cho vay các đối tượng đặc biệt; (iii) chính sách duy trì tỷ lệ nợ xấu mục tiêu 3% (áp dụng đối với mọi NHTM) thông qua thúc đẩy các NHTM bán nợ xấu cho VAMC với những điều kiện ràng buộc trách nhiệm chịu rủi ro vẫn thuộc về các NHTM trong khi vẫn phê duyệt đề xuất nới hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng. Do vậy, luận văn đề xuất một số chính sách dưới đây. Thứ nhất, NHNN nên yêu cầu tất cả các NHTM lập song song hai bộ BCTC theo VAS và theo IFRS đồng thời nộp kết quả tự đánh giá theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN tương ứng số liệu được trình bày trong hai bộ báo cáo trên. Bên cạnh đó, NHNN cần nhanh chóng thiết lập lộ trình áp dụng hệ thống IFRS/IAS đối với việc ghi nhận, lập các báo cáo tài chính của các NHTM phù hợp thực trạng ở Việt Nam hiện nay và gắn liền với lộ trình triển khai Basel II để đạt được mục tiêu phát triển hệ thống NHTM lành mạnh, hoạt động an toàn, phù hợp thông lệ, chuẩn mực quốc tế vào năm 2020 như Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng ban hành kèm Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 03 năm 2012 đã đề ra. -ix- Thứ hai, NHNN và Chính phủ không nên tiếp tục ban hành các công văn chỉ đạo thể hiện sự ưu tiên đối với khối doanh nghiệp nhà nước hay bất kỳ đối tượng đặc biệt nào khác trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Thứ ba, NHNN nên yêu cầu các NHTM tự lựa chọn mức tỷ lệ nợ xấu mục tiêu phù hợp với tình trạng hiện tại của họ để tránh áp lực che giấu nợ xấu đồng thời báo cáo các phương án, tiến độ phối hợp cùng VAMC làm việc với doanh nghiệp nhằm thu hồi càng sớm càng tốt các khoản nợ quá hạn. Thời gian áp dụng chính sách này cần được cân nhắc để phù hợp với lộ trình áp dụng IFRS cho toàn hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, NHNN cần giám sát chặt chẽ việc phân loại nợ theo Thông tư 02 đồng thời yêu cầu các NHTM báo cáo số liệu phân loại nợ của danh mục tín dụng bao gồm cả các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC và tiến hành thanh tra, rà soát thực địa thường xuyên./. -1- CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1. Bối cảnh chính sách Ngày 13/02/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành chỉ thị số 01/CTNHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn hiệu quả năm 2012. Trong đó, nhằm mục tiêu ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo khả năng thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD) đồng thời kiểm soát tốc độ tăng trưởng phương tiện thanh toán khoảng 14-16% và tín dụng khoảng 15-17%, đảm bảo an toàn cho toàn bộ thị trường tài chính, Điều 2.3 đã nêu rõ đơn vị chức năng trực thuộc NHNN phải tiến hành xếp hạng các TCTD thành 4 nhóm dựa trên tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng của mỗi đơn vị để xác định chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng tương ứng. Cụ thể, các ngân hàng thương mại (NHTM) được xếp vào Nhóm 1 là tổ chức có chất lượng tài sản đảm bảo và khả năng quản trị rủi ro tốt sẽ được tăng trưởng tín dụng tối đa 17% trong khi các tổ chức thuộc Nhóm 2 có tình hình tài chính kém hơn một chút sẽ chỉ được tăng trưởng tối đa 15%. Cách biệt với hai nhóm trên, Nhóm 3 bao gồm những NHTM bị đánh giá yếu kém về mức độ an toàn và vững mạnh tài chính chỉ được tăng trưởng tín dụng tối đa 8% còn nhóm các tổ chức tín dụng bị phân loại vào Nhóm 4 là những đơn vị đã/đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, thuộc diện bị kiểm soát đặc biệt hoặc đang trong quá trình tái cơ cấu theo đúng nội dung của Đề án tái cấu trúc do NHNN ban hành sẽ không được phép tăng trưởng tín dụng trong suốt năm 2012. Tuy nhiên, NHNN lại không công khai danh sách phân nhóm các TCTD cũng như tiêu chí đánh giá xếp hạng tình hình tài chính của các NHTM mà chỉ gửi văn bản xếp loại tới từng TCTD. Do đó, các nhà đầu tư nói riêng và người dân nói chung chỉ có thể suy luận thông qua kế hoạch tăng trưởng tín dụng do các NHTM tự công bố rộng rãi vào cuối tháng 2, đầu tháng 3/2012. Cụ thể, các ngân hàng được dự đoán thuộc Nhóm 1 gồm Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Techcombank, ACB, MB, MSB, VIB, VPBank, SeABank, MHB, Sacombank. Nhóm 2 được dự đoán gồm các ngân hàng như BaoViet Bank, OCB, NamA Bank, DaiABank, NamViet Bank, KienLongBank, ABBank, SHB, LienVietPostBank. Các ngân hàng còn lại đều không lên tiếng và NHNN cũng không công bố cụ thể số lượng của từng nhóm phân hạng. Điều này dẫn đến một hệ quả quan trọng là các tổ chức thuộc Nhóm 1 và Nhóm 2 chủ động công khai để đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển trong khi các NHTM thuộc Nhóm 3, đặc biệt là Nhóm 4 lại -2- chủ động không lộ diện khiến cho thông tin trên thị trường tài chính tồn tại nhiều khoảng tối, không rõ ràng. Tình trạng bất cân xứng thông tin do vậy diễn ra theo hướng ngày càng trầm trọng, người dân dễ bị rơi vào tâm lý hoang mang khi không biết nên gửi tiền vào ngân hàng nào để đảm bảo chắc chắn không bị thiệt hại. Trong khi thông tin về các TCTD yếu kém chưa được minh bạch, chiều ngày 12/07/2012, Ngân hàng Nhà nước đã công bố tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng tính đến ngày 31/3/2012 được xác định theo hệ thống giám sát từ xa là 8,6%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 4,47% tính đến ngày 31/5/2012 được xác định theo hệ thống thống kê. Tình trạng này hoàn toàn phù hợp với nhận định trong báo cáo đầu năm 2012 của Fitch Ratings về vấn đề tỷ lệ nợ xấu thực sự của Việt Nam trong nhiều năm cao hơn 3-4 lần so với mức được trình bày trong báo cáo chính thức của các cơ quan quản lý. Tiếp đó, ngày 28/09/2012, Moody’s một trong các tổ chức đánh giá xếp hạng tín nhiệm uy tín thế giới - đã công bố quyết định hạ bậc xếp hạng tín nhiệm của 8 NHTM bao gồm ACB, BIDV, VCB, Vietinbank, MB, SHB, Sacombank, Techcombank, VIB và khẳng định nhu cầu hỗ trợ từ bên ngoài của các ngân hàng này đang ngày càng tăng (Moody’s, 2012). Các TCTD được nêu tên trong quyết định này đều được NHNN xếp loại vào Nhóm 1 và Nhóm 2, nhóm các NHTM có tình hình tài chính vững mạnh và thanh khoản tốt, trong đợt phân loại giữa tháng 2/2012. Trong báo cáo chi tiết của mình, Moody’s phân tích một trong những nguyên nhân dẫn đến sự việc này là do việc không tuân thủ các chuẩn mực kế toán cũng như quy chuẩn giám sát quốc tế đã tác động không nhỏ tới mức độ minh bạch về thực trạng tình hình tài chính của các tổ chức tài chính ở Việt Nam. Theo quan điểm đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) được trình bày trong Báo cáo đánh giá khu vực tài chính Việt Nam tháng 6/2014, kết quả hoạt động cũng như chất lượng tài sản của khu vực ngân hàng có xu hướng ngày càng xấu đi trong giai đoạn 2007-2012 và có lẽ tình trạng thực sự còn kém hơn nhiều so với số liệu phản ánh trên các báo cáo gửi tới cơ quan giám sát. Nhận định này cũng khá phù hợp với đánh giá của một số tổ chức quốc tế có uy tín về mức độ tín nhiệm đối với các NHTM Việt Nam đang thay đổi theo chiều hướng kém dần. Một trong những nguyên nhân quan trọng được các tổ chức này đề cập đến chính là từ sự khác biệt không nhỏ giữa khuôn khổ kế toán đang được áp dụng tại Việt Nam so với hệ thống chuẩn mực và thông lệ quốc tế khiến cho mức độ tin cậy cũng như độ hữu dụng cho mục đích đầu tư, quản lý, kiểm soát dựa trên báo cáo tài chính được các NHTM công -3- bố còn ở mức thấp. Cụ thể, hệ thống chuẩn mực kế toán và các quy định hiện hành của Việt Nam có xu hướng giúp cho các NHTM dễ dàng che giấu mức độ rủi ro thực sự của khối tài sản mà họ đang nắm giữ trong khi hệ thống kiểm toán mới phát triển ở giai đoạn ban đầu, văn hoá minh bạch, công khai thông tin tài chính và trách nhiệm giải trình còn chưa phổ biến. Theo đó, việc sử dụng thông tin tài chính lấy từ các báo cáo tài chính được lập theo hệ thống chuẩn mực kế toán và quy định hiện hành của Việt Nam dễ dẫn đến tình trạng các cơ quan thanh tra giám sát đưa ra những nhận định không hoàn toàn chính xác so với tình trạng thực tế của các TCTD khi căn cứ vào những chỉ tiêu tài chính trong khung khổ hệ thống CAMELS. Do vậy, đề tài “Tác động của sự khác biệt khuôn khổ kế toán tới kết quả đánh giá các NHTM theo hệ thống CAMELS tại Việt Nam” đã được lựa chọn thực hiện. 1.2. Mục tiêu và câu hỏi chính sách Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tác động của sự khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán đã và đang được áp dụng tại Việt Nam với hệ thống chuẩn mực quốc tế tới tính chính xác trong kết quả đánh giá mức độ an toàn, tính vững mạnh của các NHTM tại Việt Nam. Từ đó, đề xuất những giải pháp chính sách cần thực hiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát thông tin tài chính của NHNN cũng như nâng cao tính minh bạch thông tin trên thị trường tài chính. Do vậy, nội dung luận văn tập trung vào trả lời các câu hỏi chính sách như sau: (i) Những điểm khác biệt chính giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) so với hệ thống chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế (IFRS/IAS) liên quan đến soạn lập và trình bày báo cáo tài chính của NHTM là gì? (ii) Việc không tuân thủ các chuẩn mực quốc tế ảnh hưởng như thế nào đến tính chính xác trong kết quả đánh giá tình hình tài chính của NHTM tại Việt Nam? (iii) Nên hay không nên tuân thủ các chuẩn mực quốc tế và những chính sách cần thực hiện để nâng cao tính minh bạch thông tin đối với hệ thống NHTM là gì? 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là số liệu tài chính của các NHTM được lập theo khuôn khổ kế toán áp dụng tại Việt Nam (VAS) và khuôn khổ kế toán, thông lệ quốc tế (IFRS/IAS). Phạm vi -4- nghiên cứu là báo cáo tài chính đã kiểm toán theo VAS và IFRS của một số NHTM cụ thể được thu thập từ các nguồn thông tin đáng tin cậy. 1 1.4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp định tính để phân tích những điểm khác biệt giữa hệ thống các tiêu chuẩn kế toán do Việt Nam và các cơ quan quốc tế (Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế - IASB, Uỷ ban Basel) ban hành. Các chỉ tiêu định lượng trong khung khổ hệ thống CAMELS sẽ được tính toán dựa trên hai bộ báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực khác nhau và so sánh kết quả, phân tích nguyên nhân để đưa ra nhận định làm cơ sở đề xuất chính sách. Các NHTM được lựa chọn gồm những tổ chức là đối tượng bị tái cơ cấu trong thời gian vừa qua hoặc NHTM lớn đại diện cho các vấn đề còn tồn đọng trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay. 1.5. Bố cục luận văn Luận văn bao gồm 4 chương với các nội dung chính như sau. Chương 1: Giới thiệu tổng quan về bối cảnh chính sách, câu hỏi chính sách, mục tiêu và đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Sau khi trình bày tổng quan về hệ thống chỉ số CAMELS, chương 2 tập trung phân tích những điểm khác biệt cơ bản giữa yêu cầu ghi nhận vào sổ sách kế toán và soạn lập, trình bày báo cáo tài chính của các NHTM theo VAS so với IFRS/IAS có ảnh hưởng đến kết quả tính toán các chỉ số tài chính CAMELS nói trên. Chương 3: So sánh và phân tích kết quả đánh giá các yếu tố định lượng theo hệ thống CAMELS dựa trên báo cáo tài chính của một số NHTM được lập, trình bày theo chuẩn mực kế toán Việt Nam với số liệu được trình bày theo chuẩn mực quốc tế. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị. 1 Do tính chất bảo mật thông tin, tên các NHTM sẽ không được công bố rõ ràng. -5- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ SỐ CAMELS VÀ KHUÔN KHỔ KẾ TOÁN VIỆT NAM SO VỚI CHUẨN MỰC QUỐC TẾ 2.1. Hệ thống chỉ số CAMELS 2.1.1. Giới thiệu về hệ thống chỉ số CAMELS Hệ thống chỉ số CAMELS được Cục quản lý hiệp hội tín dụng Hoa Kỳ (National Credit Union Administration - NCUA) chấp nhận lần đầu vào tháng 10/1987 và đưa ra trong đạo luật Federal Deposit Insurance Corporation Improvement Act (FDICIA) năm 1991 nhằm mục đích kiểm tra, giám sát mức độ an toàn và vững mạnh tài chính của các tổ chức tài chính nói chung, các NHTM nói riêng. Sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) khuyến nghị các quốc gia bị khủng hoảng nghiên cứu áp dụng để bổ sung vào các giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại do nguy cơ đổ vỡ và tái thiết hệ thống tài chính tại đất nước mình. Theo đó, trong những năm gần đây, hệ thống CAMELS không chỉ áp dụng cho mọi ngân hàng, tổ chức tín dụng ở Hoa Kỳ mà còn được mở rộng ra áp dụng tại rất nhiều quốc gia trên thế giới. Tên gọi CAMELS được hình thành từ sự kết hợp các chữ cái đầu tiên của các bộ phận cấu thành nên hệ thống giám sát này, bao gồm: (i) Capital - Các chỉ số về vốn; (ii) Asset - Các chỉ số về chất lượng tài sản; (iii) Management - Các chỉ số về năng lực quản lý; (iv) Earning - Các chỉ số về lợi nhuận; (v) Liquidity - Các chỉ số về khả năng thanh khoản; và (vi) Sensitivity - Các chỉ số về độ nhạy cảm với rủi ro thị trường. 2 2 Nhóm chỉ số này mới được bổ sung từ sau năm 1997 và đang được NCUA gộp chung với Nhóm chỉ số L - Liquidity . -6- 2.1.2. Mục tiêu xây dựng hệ thống chỉ số CAMELS Hệ thống chỉ số CAMELS được thiết lập nhằm mục tiêu đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản của các TCTD nói chung, các NHTM nói riêng. Cụ thể, mức độ an toàn của một TCTD được đánh giá thông qua các nhóm chỉ tiêu về tiềm lực vốn đủ bù đắp mọi chi phí phát sinh và thực hiện các nghĩa vụ khác (C), nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng các khoản cho vay (A) và nhóm chỉ số phản ánh chất lượng quản lý (M). Theo đó, dựa trên việc phân tích các chỉ số tài chính theo CAMELS, các cơ quan giám sát có để xếp hạng được cho từng TCTD đồng thời đánh giá một cách tổng quan về hệ thống tài chính nói chung, xác định những vấn đề rủi ro tiềm tàng mà hệ thống đang/có thể sẽ gặp phải trong tương lai. Thông qua đó, các biện pháp ngăn ngừa và điều chỉnh phù hợp sẽ được tiến hành từ sớm để đảm bảo độ vững mạnh cho hệ thống tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế. Thông thường, việc đánh giá các TCTD theo CAMELS được thực hiện thông qua các cuộc kiểm tra, thanh tra tại chỗ bởi các cơ quan chức năng có liên quan kết hợp với hệ thống thu thập dữ liệu giám sát từ xa của các cơ quan giám sát. Kết quả đánh giá không được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng luôn được thông báo tới Ban quản lý cấp cao của các TCTD bị tụt hạng để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa khả năng đổ vỡ dây chuyền do dân chúng rút tiền ồ ạt. Các TCTD có kết quả xếp hạng CAMELS kém và/hoặc có dấu hiệu suy giảm sẽ bị tăng cường giám sát một cách chặt chẽ đồng thời các biện pháp nhằm bảo vệ người gửi tiền nhỏ lẻ cũng sẽ được chuẩn bị sẵn sàng thực hiện ngay khi có hiện tượng mất thanh khoản. Dựa trên kết quả đánh giá của từng bộ phận cấu thành CAMELS, các TCTD sẽ được phân nhóm vào các hạng cụ thể từ 1 (tốt nhất) tới 5 (kém nhất), cụ thể xem Bảng 2.1. -7- Bảng 2.1: Xếp hạng tổng quát của các TCTD theo hệ thống CAMELS Hạng Hạng 1 - Điểm của các yếu tố cấu thành nằm trong khoảng 1-2 - Hoạt động hiệu quả, tuân thủ tốt các quy định và đảm bảo an toàn, hệ thống quản trị rủi ro nội bộ mạnh. - Ban lãnh đạo xác định được tất cả các rủi ro tiềm tàng và có các biện pháp ngăn chặn kịp thời. Dữ liệu lịch sử và các chỉ số ước tính về hiệu quả hoạt động trong tương lai đều thể hiện các dấu hiệu tích cực, có khả năng chống đỡ với những thay đổi bất lợi của môi trường kinh doanh bên ngoài. - Các điểm yếu là không đáng kể và có thể được giải quyết bằng các hoạt động quản lý thường xuyên của Ban lãnh đạo. Hạng 2 - Hoạt động tương đối hiệu quả, tuân thủ các quy định và hệ thống quản trị rủi ro đủ đáp ứng yêu cầu đảm bảo mức độ an toàn của hoạt động kinh doanh. - Ban lãnh đạo xác định được hầu hết các rủi ro và mức độ thiệt hại tương ứng. Các chỉ số trong quá khứ và ước tính cho tương lai đều có tính tích cực với các trường hợp ngoại lệ không ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ an toàn của hoạt động kinh doanh. - Hoạt động ổn định và khả năng ứng phó với các biến động của môi trường kinh doanh bên ngoài khá tốt nhưng một số điểm yếu có thể phát triển thành những vấn đề đáng quan ngại. Tuy nhiên, Ban lãnh đạo có khả năng và sẵn sàng sửa chữa những điểm yếu này. Hạng 3 - Hiệu suất chưa cao, có lỗ hổng ở một mức độ nhất định và có dấu hiệu cần giám sát kỹ hơn. Hệ thống quản trị rủi ro hoạt động kém hiệu quả hơn mức yêu cầu ở các mặt liên quan đến quy mô TCTD, mức độ phức tạp và những rủi ro đặc trưng. TCTD có thể không tuân thủ một số quy định quan trọng và Ban lãnh đạo có thể thiếu khả năng cũng như sự sẵn sàng trong việc giải quyết các vấn đề yếu kém trong khung thời gian thích hợp. - Ban lãnh đạo có thể không xác định được và hạn chế một số rủi ro trọng yếu. Các chỉ số trong quá khứ và ước tính cho tương lai giữ nguyên hoặc có dấu hiệu tiêu cực đến mức có thể ảnh hưởng xấu đến mức độ an toàn của hoạt động -8- Hạng kinh doanh. T kiện bất lợi t - Cần sự giám Hạng 4 - Hiệu suất h trị rủi ro khô tạp và các rủi dấu hiệu tiêu khả năng tiếp - TCTD có th không giải q Hạng 5 - Hiệu suất h tục hoạt đông triển khai các - Quy mô và kiểm soát củ bị thanh lý h biện pháp hỗ 2.1.3. Các bộ phận cấu thành hệ thống chỉ số CAMELS Để đánh giá tổng quát về mức độ an toàn, vững mạnh tài chính của một TCTD theo hệ thống chỉ số CAMELS, các cơ quan giám sát cần tiến hành đánh giá và cho điểm từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) đối với từng bộ chỉ tiêu cấu thành. 2.1.3.1. Các chỉ số về vốn (C-Capital) Các chỉ số về vốn phản ánh mức độ an toàn vốn hay khả năng cân đối nguồn vốn để tài trợ cho các khoản chi hoạt động kinh doanh thường xuyên của các TCTD. Việc đánh giá mức độ an toàn vốn được bắt đầu từ việc đánh giá chất lượng của những biến quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình tài chính tổng thể của TCTD, bao gồm cả việc đánh giá tiềm lực vốn trong một/các năm tiếp theo dựa trên kế hoạch kinh doanh được TCTD đó công bố và một số giả định cơ bản. Vốn có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động quản trị rủi ro nên tiếp -9- theo đó, các cơ quan giám sát sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng tới tình trạng vốn hiện tại cũng như tương lai của các yếu tố như hoạt động cho vay, lãi suất, tính thanh khoản, tính tuân thủ, chiến lược kinh doanh và rủi ro danh tiếng,... Cuối cùng, các cơ quan giám sát sẽ phân loại tình trạng vốn của các TCTD vào các hạng từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) và những TCTD bị xếp từ bậc 3 trở lên sẽ phải tuân thủ kế hoạch khôi phục vốn nhất định đã được phê duyệt. 2.1.3.2. Các chỉ số về chất lượng tài sản (A-Assets) Xếp hạng về chất lượng tài sản phản ánh mức rủi ro tín dụng hiện tại và tiềm ẩn trong tương lai liên quan đến các khoản vay, danh mục đầu tư, bất động sản đang nắm giữ và các tài sản khác cũng như các giao dịch ngoại bảng. Bên cạnh đó, việc đánh giá chất lượng tài sản cũng phản ánh khả năng của Ban lãnh đạo TCTD trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng đồng thời cho biết thực trạng cũng như khả năng suy thoái hay cải thiện trong tương lai dựa trên các điều kiện kinh tế hiện tại và xu hướng phát triển chung. Do đó, để xếp hạng chất lượng tài sản cho từng TCTD, các cơ quan giám sát thường tập trung đánh giá mức dự phòng rủi ro tổn thất phát sinh từ các khoản cho vay hay cho thuê tài chính, mức độ rủi ro của các đối tác phát hành giấy tờ có giá hay người đi vay cũng như các rủi ro khác có thể ảnh hưởng đến giá trị thị trường của khối tài sản mà TCTD sở hữu. 2.1.3.3. Các chỉ số về quản trị (M-Management) Xếp hạng về chất lượng quản trị của TCTD phản ánh năng lực của Ban lãnh đạo trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát các rủi ro hoạt động và đảm bảo tính an toàn, hiệu quả của các hoạt động thường xuyên tuân theo các quy định pháp luật hiện hành. Năng lực này thể hiện qua việc xây dựng các chính sách, thủ tục, thông lệ tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với tính chất, phạm vi hoạt động của TCTD nhằm duy trì rủi ro tổn thất ở mức chấp nhận được nhất định. Do vậy, khi đánh giá chất lượng quản trị ở từng TCTD, các cơ quan giám sát thường xem xét nhiều yếu tố, bao gồm nhưng không giới hạn ở: các hoạt động chủ động giám sát của Ban lãnh đạo/Ban Điều hành; các quy trình kiểm soát được thiết lập kết hợp với mạng lưới phân quyền cho các cấp bậc quản lý; các chương trình kiểm toán định kỳ và môi trường kiểm soát nội bộ phù hợp với quy mô cũng như độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh của TCTD;
- Xem thêm -