Tài liệu Sự vận dụng tư tưởng hồ chí minh vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền việt nam

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 50 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ----*---- TRƢƠNG CHÚC QUỲNH SỰ VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Mã số: 60.38.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh HÀ NỘI - 2010 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội dung, kết quả trình bày trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tác phẩm nào khác. Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2010 Tác giả TRƢƠNG CHÚC QUỲNH 2 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh (Học viện Báo chí và Tuyên truyền Hà Nội), Thư viện Quốc gia, Thư viện Khoa học - xã hội và những cá nhân, cơ quan khác đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính mến và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp; người đã tận tâm hỗ trợ, định hướng cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học. Dù thực hiện luận văn với sự say mê, cố gắng nhưng do thời gian không nhiều và bản thân còn hạn chế nhất định trong kinh nghiệm thực tiễn nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Bởi vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến phê bình, đánh giá của Hội đồng chấm luận văn, của các thầy, cô giáo, đồng môn và đồng nghiệp để công trình nghiên cứu này được hoàn chỉnh hơn. Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2010 Tác giả TRƢƠNG CHÚC QUỲNH 3 MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 1.1. Tiểu sử bản thân và con đƣờng cách mạng 1.1.1. Giai đoạn trước năm 1911 1.1.2. Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920 1.1.3. Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930 1.1.4. Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945 1.1.5. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969 1.2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 1.2.1 Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc 1.2.2 Tinh hoa tư tưởng văn hóa nhân loại 1.2.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin 1.2.4. Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh 1.3. Những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc 1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1.3.3. Tư Tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại 4 1.3.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam; về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân 1.3.5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, nhân văn, văn hóa Chương 2: LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM 2.1. Lý luận về nhà nƣớc pháp quyền và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc pháp quyền 2.1.1. Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền 2.1.1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền 2.1.1.2. Các tiêu chí của nhà nước pháp quyền 2.1.1.3. Sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản 2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền 2.2. Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam 2.2.1. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 2.2.1.1. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giành chính quyền về tay nhân dân 2.2.1.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân 2.2.1.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bộ máy nhà nước 2.2.1.4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. 2.2.1.5. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức 5 2.2.2. Giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ mới 2.2.2.1. Yêu cầu khách quan và chủ quan của việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 2.2.2.2. Giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT - CNXH: Chủ nghĩa xã hội - XHCN: Xã hội chủ nghĩa - CCHC: Cải cách hành chính - CBCC: Cán bộ công chức - NNPQ: Nhà nước pháp quyền 7 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Thế kỷ XIX, chủ nghĩa đế quốc đã xác lập được sự thống trị của chúng trên một phạm vi rộng lớn. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, nước Nga Xô Viết ra đời. Quốc tế Cộng sản được thành lập. Cũng trong bối cảnh đó, sau khi xâm lược nước ta thực dân Pháp đã duy trì sự cai trị hà khắc của nhà nước thực dân phong kiến theo kiểu chuyên chế, không có luật pháp dân chủ. Nhân dân Việt Nam bị bao phủ trong đám mây đen của ách nô lệ. Một số nhà yêu nước tiêu biểu đã dương ngọn cờ khởi nghĩa song đều lần lượt thất bại. Giữa lúc này, Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Ái Quốc) - một người con của dân tộc Việt Nam đã không quản bao khó khăn, thử thách quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Người tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và lao động một số nước trên thế giới; học tập, nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các thể chế chính trị; tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau khi đã xác định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, đứng về phía Quốc tế Cộng sản, Người càng đi sâu tìm hiểu các học thuyết cách mạng trên thế giới, xây dựng lý luận về cách mạng thuộc địa, trước hết là lý luận cách mạng để giải phóng dân tộc Việt Nam, xây dựng các nhân tố cách mạng của dân tộc, tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi vì độc lập dân tộc, tự do của toàn dân. Những diễn biến của đất nước, xã hội cùng với cuộc đời hoạt động cách mạng không ngừng nghỉ của Hồ Chí Minh đã dần hình thành hệ thống lý luận của Người. Tư tưởng của Hồ Chí Minh hóa thân vào các ứng xử cả tầm chiến lược lẫn trong giao tiếp đời thường, được minh chứng qua các tác phẩm, bài viết của Người, qua thực tiễn cách mạng Việt Nam và thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “sản phẩm” được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ nghĩa yêu 8 nước, tắm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gạn lọc của các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời có nghĩa nghiên cứu về thời sự. Và một trong những nội dung có tính thời sự chính là vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đó phải là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trước hết là công cụ quyền lực của nhân dân lao động, phản ánh và bảo vệ lợi ích của nhân dân; được tổ chức trên cơ sở pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Ngay trong Cương lĩnh và Điều lệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) đã nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh: ”Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” [5, tr.127]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiếp tục được khẳng định với nội dung: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” [6, tr.45]. Thực hiện nội dung này, trên thực tế là tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền trong những điều kiện và yêu cầu phát triển mới của đất nước. 9 Như vậy, có thể nói, với những giá trị khoa học to lớn, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là cơ sở định hướng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, một nhiệm vụ mà Đảng ta xác định là trọng tâm của quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay. Đặc biệt khi một sự kiện trọng đại đối với đất nước là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng sắp diễn ra thì việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc góp phần động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, trong đó có mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với những lý do đã phân tích ở trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Sự vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Những quan điểm về nhà nước và pháp luật là một trong những nội dung chủ yếu trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm đó thể hiện các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Nhưng thực sự chỉ trong điều kiện đất nước đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta mới có đầy đủ điều kiện đi sâu nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống tư tưởng của Người. Đây là đề tài có nội dung rộng lớn và ý nghĩa quan trọng nên đã có nhiều công trình như: Nguyễn Đình Lộc (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, Viện Khoa học pháp lý; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1995; Hoàng Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - Sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Tế (1999), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Võ Nguyên Giáp (1970), Hồ Chủ tịch, nhà chiến lược thiên 10 tài, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà nội; Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, 1993; Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử sự nghiệp, Nxb Sự thật, 1975; Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng, Vàng trong lửa, Kỷ yếu hội nghị kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban KHXH Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, 1990; Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh một con người; Nguyễn Mạnh Tường (2005), Về những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn Trung (1994), Một số suy nghĩ về phương pháp luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Học viện chính trị quân sự; Trần Thị Lụa (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hoặp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Viện dinh dưỡng quốc gia; Phan Hữu Dật (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, Nxb Thanh niên; Nguyễn Minh Thuỳ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật;… Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí, trang tin điện tử, nhiều cuộc hội thảo khoa học về đạo đức và tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, trong đó có nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, các công trình, bài viết khoa học nói trên chưa có đề tài nào nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam qua những chặng đường lịch sử của đất nước, đặc biệt ý nghĩa của sự vận dụng đó trong giai đoạn hiện nay. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: 3.1. Mục đích nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống về nhà nước pháp quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn lịch sử Việt Nam. 11 Qua nghiên cứu, đề tài sẽ có những kết luận khoa học về tổng quan tư tưởng Hồ Chí Minh; về lý luận nhà nước pháp quyền và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. 3.2. Nhiệm vụ: Để đạt đuợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Tập trung nghiên cứu về sự hình thành và phát triển tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những chặng đường lịch sử; về những nhân tố ảnh hưởng đến tư tưởng của Người. - Làm rõ một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ yếu nghiên cứu vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân của Người. - Phân tích một số vấn đề lý luận về khái niệm nhà nước pháp quyền; sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền XHCN và nhà nước pháp quyền tư sản; mối quan hệ nhà nứơc - pháp luật trong nhà nước pháp quyền - Đặc biệt nêu bật lên thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đề cập đến những yêu cầu khách quan và chủ quan của việc nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó xác định một số giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ mới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm làm rõ một số nội dung cơ bản của tư tưởng ấy, khẳng định giá trị khoa học, ý nghĩa cách mạng của những luận điểm chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là nghiên cứu cách thức Người kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam để trên cơ sở đó, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay. Như vậy là luận văn này không 12 chỉ mô tả giản đơn các sự kiện, các biến cố lịch sử cụ thể, rời rạc về cuộc đời và hoạt động cách mạng của Người mà còn nghiên cứu nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển từng nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời chỉ ra những giá trị đương thời của tư tưởng ấy. Thời gian nghiên cứu khảo sát từ năm 1986 - 2009. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn: Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Phương pháp nghiên cứu là phương pháp luận của triết học Mác Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) và các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, … 6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn: Đề tài nghiên cứu “Sự vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam” là thực hiện một cách cụ thể Nghị quyết Đại hội IX, X của Đảng về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Đây là quá trình nghiên cứu chuyển từ lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh sang vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta để hoàn thiện sự hiểu biết, nâng cao trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên, giúp họ dễ dàng tiếp cận với tư tưởng của Người. Con đường xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam cũng như của một số nước khác trong khu vực đang đứng trước sự thử thách của hội nhập kinh tế, giao lưu chính trị và văn hóa, nghiên cứu này sẽ góp phần khẳng định nhân cách, tài năng của Hồ Chí Minh, tạo niềm tin thắng lợi vào hướng đi đúng đắn 13 mà Người đã xác định cho cuộc cách mạng đấu tranh và phát triển của nhân dân ta. Đề tài nghiên cứu không chỉ đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn nêu lên những kiến nghị giải pháp khả thi nhằm đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo quan điểm của Người trong thời kỳ đổi mới hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết. 14 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 1.1. Tiểu sử bản thân và con đƣờng cách mạng 1.1.1. Giai đoạn trước năm 1911: Theo lý lịch chính thức, Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tại quê ngoại ở làng Hoàng Trù và sống ở đây cho đến năm 1895. Năm 1907, Hồ Chí Minh vào học tại trường Quốc học Huế và tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Đầu năm 1910, Người vào đến Phan Thiết dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành. Năm 1911, Người nghỉ dạy và vào Sài Gòn theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Sau một thời gian Hồ Chí Minh quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài. Giai đoạn này Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân. Người sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp, băn khoăn trước những thất bại của các sĩ phu yêu nước chống Pháp. Người ham học hỏi, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hóa tiên tiến của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu, muốn đi ra nước ngoài xem họ làm gì để trở về giúp đồng bào thoát khỏi vòng nô lệ. Chính vào lúc đó Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại. 1.1.2. Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920: Năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, Hồ Chí Minh lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên một tàu buôn với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm, Người quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho 15 khách sạn. Cuối năm 1917, Người trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923. Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã mang tới Hội nghị Hòa bình Vec - xây bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị. Từ đây, Hồ Chí Minh công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó.. Năm 1920, Hồ Chí Minh đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê - nin, từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tua với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Giai đoạn này Hồ Chí Minh đi nhiều nơi với mục tiêu tìm đường cứu nước. Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng; từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành một chiến sĩ cộng sản Việt Nam. Đây là một bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". 1.1.3. Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930: Năm 1921, Hồ Chí Minh cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp do Người viết được xuất bản năm 1925 đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Năm 1925, Hồ Chí Minh thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá Mác-Lênin vào Việt Nam. và tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Năm 1930, tại Cửu Long thuộc Hương Cảng, Hồ Chí Minh thống 16 nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam"). Giai đoạn này Hồ Chí Minh đã có những hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi, phong phú ở Pháp, ở Liên Xô, ở Trung Quốc, ở Thái Lan, từ đó hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Những tác phẩm và những bài viết của Hồ Chí Minh đã thể hiện những quan điểm lớn và độc đáo, sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh trong những năm 20 của thế kỷ XX được truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào dân tộc và giai cấp ở nước ta trở thành một phong trào tự giác, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930, thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. 1.1.4. Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945: Năm 1931, Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Hồ Chí Minh trở về Việt Nam vào năm 1941, ở tại tỉnh Cao Bằng và mở các lớp huấn luyện cán bộ, cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày. Năm 1941, Hồ Chí Minh là chủ tọa hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt chẽ và hiệu quả hơn; trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính thống và chính quy là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 17 Giai đoạn này trên cơ sở tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản, Hồ Chí Minh kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là mốc lịch sử không chỉ đánh dấu kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự do, độc lập của các dân tộc trên thế giới. 1.1.5. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969 Năm 1945, Pháp tấn công Sài Gòn, quân dân Sài Gòn cấp tập chống cự. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Người trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước và chính phủ đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải thành viên Liên hiệp quốc, cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước cộng sản khác. Ngoài 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, còn có quân Anh và quân Pháp và khoảng 6 vạn quân Nhật. Về đối nội, "giặc đói, giặc dốt" và ngân quỹ trống rỗng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2, Hồ Chí Minh quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai trở lại với tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Người tuyên bố: "Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam" [18, tr.12]. Cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, khi người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ và dẫn đến Hiệp định Giơ - ne - vơ. Cuộc cải cách ruộng đất, phát động vào cuối năm 1953 và kéo dài cho tới cuối năm 1957, đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Từ tháng 2 năm 1956, công cuộc sửa sai được khởi sự, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm, Người khóc và nhận lỗi 18 trước hội nghị toàn quốc. Từ khoảng nửa đầu thập niên 1960, sức khỏe Hồ Chí Minh giảm sút, Người bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật năm 1965. Trong di chúc, Người có viết "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" [3, tr.2]. Hồ Chí Minh mất vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969. Giai đoạn này Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân (1945 - 1954) mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ; tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đây là thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh có bước phát triển mới, trong đó nổi bật là các nội dung lớn như sau: - Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc, tiến hành kháng chiến kết hợp với xây dựng chế độ dân chủ nhân dân; tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, đó là cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm một mục tiêu chung trước mắt là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. - Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. - Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. - Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền v.v.. Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, “là ngọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [7, tr.5]. 19 1.2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 1.2.1 Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc Nước Việt Nam với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành nên các giá trị truyền thống dân tộc phong phú, vững bền. Ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước, kiên cường, bất khuất đã tạo thành động lực mạnh mẽ của đất nước. Đó là tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng dân tộc; thủy chung, khoan dung, độ lượng; là thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú văn hóa dân tộc... Trong nguồn giá trị tinh thần truyền thống đó, chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, là dòng chảy chính của tư tưởng văn hóa truyền thống Việt Nam, xuyên suốt trường kỳ lịch sử, là động lực mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Sức mạnh truyền thống tư tưởng và văn hóa của dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm tòi, học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu cho tư tưởng cách mạng và văn hóa của Người. 1.2.2 Tinh hoa tư tưởng văn hóa nhân loại Tiếp thu tư tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây, Hồ Chí Minh đã làm giàu thêm vốn văn hóa của mình và vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông. Đó là tư tưởng Nho giáo với triết lý hành động, nhân nghĩa, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, thế giới đại đồng; về một triết lý nhân sinh, tu thân, tề gia; đề cao văn hóa trung hiếu "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" . Người nói: "Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học" [8, tr.46]. Người dẫn lời của V.I.Lênin: "Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại" [8, tr.46]. Về Phật giáo, Hồ Chí Minh đã 20
- Xem thêm -